1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất việc vận dụng quy luật này ở việt nam hiện nay

23 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất việc vận dụng quy luật này ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nhóm 12
Người hướng dẫn An Thị Ngọc Trinh
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Với mục đích có thể hiểu và vận dụng vào thực tiễn quy luật này, đặc biệt là đối với các sinh viên, lực lượng lao động trong tương lai, nhóm em đã chọn đề tài “Quy luật về sự phù hợp c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH

LỚP L04 - NHÓM 12 - HK 201

NGÀY NỘP: 24/11/2020Giảng viên hướng dẫn: An Thị Ngọc Trinh

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 3

B PHẦN NỘI DUNG 4

I BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT 4

1 Phương thức sản xuất 4

1.1 Lực lượng sản xuất: 4

1.2 Quan hệ sản xuất 6

2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 8

2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất 8

2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất 9

2.3 Ý nghĩa trong đời sống xã hội 11

II LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 11

1 Khái quát về kinh tế thị trường ở Việt Nam 11

2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay 13

2.1 Lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 13

2.2 Quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay 16

2.3 Tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay 20

III PHƯƠNG HƯỚNG ĐỂ TIẾP TỤC VẬN DỤNG TỐT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ SẢN XUẤT CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 20

IV KẾT LUẬN 21

V TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

2

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

- Triết học là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống xã hội của bất kỳ quốc gianào Triết học không chỉ tác động đến sự phát triển trong tư tưởng của con người mà

nó còn tham gia vào quá trình phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên Thế giới, trong

đó có Việt Nam Triết học là nền tảng, cơ sở của mọi đường lối quan điểm của Đảng

và chính sách của Nhà nước, ngay cả trong thời đại hội nhập ngày nay

- Một trong những vấn đề lớn của Triết học Mác – Lênin là quan hệ sản xuất, lựclượng sản xuất Chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cáchbiện chứng tạo thành quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất Hiểu được mối quan hệ biện chứng này sẽ giúp cho quá trình pháttriển của xã hội trở nên dễ dàng hơn

- Từ xưa đến nay, con người phải tiến hành sản xuất để có thể tồn tại và phát triển.Sản xuất là hoạt động không ngừng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của conngười Đó là hoạt động đặc trưng riêng của con người và xã hội loài người

- Muốn sản xuất đạt hiệu quả, chúng ta cần phải hiểu được các khái niệm, vấn đề vềlực lượng sản xuất và các mối quan hệ sản xuất và quy luật phù hợp giữa chúng rồi từ

đó có thể vận dụng chúng trong thực tiễn sản xuất

- Có thể thấy từ sau cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ tới trước thời kỳ đổi mới,Đảng, Nhà nước đã mắc sai lầm chưa nhận thức, chưa hiểu đúng quan hệ biện chứnggiữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, tách rời quan hệ sản xuất với lực lượngsản xuất, cường điệu quan hệ sản xuất mà coi nhẹ lực lượng sản xuất, dẫn đến sản xuấtlạc hậu, kinh tế kém phát triển

- Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang ngày càng đổi mới, phát triển, hiện đạihóa sản xuất, nhận thức đúng đắn những điều này có ý nghĩa quan trọng trong tư duykinh tế, vạch ra đường lối, hướng phát triển của lực lượng sản xuất phù hợp với cácquan hệ kinh tế ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay

- Với mục đích có thể hiểu và vận dụng vào thực tiễn quy luật này, đặc biệt là đối

với các sinh viên, lực lượng lao động trong tương lai, nhóm em đã chọn đề tài “Quy

luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Việc vận dụng quy luật này ở Việt Nam hiện nay”.Bài báo cáo của nhóm có thể

có những sai xót, rất mong nhận được lời nhận nhận xét từ cô

3

Trang 4

- Về mặt kết cấu, ta có thể công thức hóa như sau:

Lực lượng sản xuất + Quan hệ sản xuất => Phương thức sản xuất = Cách thức sản xuất vật chất.

- Phép “+” ở đây không phải là phép cộng giản đơn, mà là biểu thị mối quan hệ biện

chứng, gắn bó xoắn xuýt lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

- Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản xuấtbiểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạnlịch sử nhất định của xã hội loài người

- Đối với sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của mỗi xã hội

cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chấtcách mạng Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội… được chuyển sangmột chất mới Nhờ có phương thức sản xuất, ta có thể phân biệt được sự khác nhau củanhững thời đại kinh tế khác nhau

- Dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử, người ta hiểuthời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế – xã hội nào C Mác khẳng định:

“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là

ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”.

- Để hiểu rõ hơn về phương thức sản xuất, ta cần khảo sát 02 thành tố của nó là lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất Về bản chất, hai thành tố này là hai mặt của mộtmối quan hệ – đó là “quan hệ song trùng” của bản thân quá trình sản xuất xã hội

1.1 Lực lượng sản xuất:

- Là quan hệ kỹ thuật của con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất,

là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất vànăng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầunhất định của con người và xã hội

- Lực lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kỹ thuật (tưliệu sản xuất) và mặt kinh tế- xã hội (người lao động):

4

Trang 5

1.1.1 Người lao động: là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và

năng lực sáng tạo nhất trong quá trình sản xuất của xã hội trong lực lượng sản xuất,người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định Sở dĩ như vậy vì người laođộng là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động

1.1.2 Tư liệu sản xuất: là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm

tư liệu lao động và đối tượng lao động

- Đối tượng lao động: là những yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động con ngườidùng tư liệu lao động tác động lên nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sửdụng của con người

Ví dụ: Trong sản xuất nội thất, để sản xuất một cái bàn gỗ, ta dùng thiết bị máy

móc (tư liệu lao động) để cưa cắt khối gỗ thành hình và đóng lại thành một cáibàn Vậy gỗ là đối tượng lao động của sản xuất nội thất

- Tư liệu lao động: là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó

để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩmđáp ứng yêu cầu sản xuất của con người Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động

và phương tiện lao động:

+ Phương tiện lao động: là những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ

lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sảnxuất vật chất Ví dụ: kho chứa hàng, nhà máy, xe tải…

+ Công cụ lao động: là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng

để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng nhằm tạo ra của cải vật chất.Công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sảnphẩm

Ví dụ: Máy cày, máy gặt đập liên hợp, cái cày, cái cuốc… là công cụ lao động

của người nông dân để sản xuất lúa Cưa, dũa, máy dập, uốn… là công cụ đểsản xuất chi tiết máy Hay chiếc máy tính là công cụ cho lập trình viên viết raphần mềm… Về vai trò quyết định, một cái máy hiện đại, tốt có thể gia côngchi tiết chính xác hơn, một cái máy gặt đập liên hợp có thể thu hoạch nhanhhơn gấp nhiều lần so với sức người

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ Tínhchất của lực lượng sản xuất nói lên tính chất cá nhân hoặc tính chất xã hội hóa trongviệc sử dụng tư liệu sản xuất

- Trình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển của người lao động và công cụ laođộng, được thể hiện ở:

+ Trình độ của công cụ lao động

+ Trình độ tổ chức lao động xã hội

+ Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

5

Trang 6

+ Trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động

+ Trình độ phân công lao động trong xã hội

- Trong lực lượng sản xuất, công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất,

là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội trong lịch sử, là thước đo trình

độ tác động, cải biến tự nhiên của con người và là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đạikinh tế khác nhau

- Vì vậy có thể thấy công cụ lao động là nhân tố phản ánh rõ nhất trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất và thể hiện tiêu biểu trình độ con người chinh phục giới tựnhiên

Ví dụ: từ thời đồ đá với công cụ thô sơ tới đồ đồng, đồ sắt với công cụ tốt, bền,

hiệu quả hơn rồi lên tới máy móc như hiện nay, có thể thấy rõ trình độ của lựclượng sản xuất phát triển như thế nào Người lao động sáng tạo ra những công

cụ tốt hơn, hiệu quả hơn, tăng năng suất lao động

- Hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiệnđại, khoa học công đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

- Khoa học sản xuất ra của cải đặc biệt, hang hóa đặc biệt Đó là những phát minh,sáng chế, những bí mật công nghệ, trở thành nguyên nhân của mọi biến đổi trong lựclượng sản xuất Khoảng cách từ phát minh, sáng chế đến ứng dụng sản xuất đã đượcrút ngắn làm cho năng suất lao động, của cải xã hội tăng nhanh

- Khoa học kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu do sản xuất đặt ra,

có khả năng “vượt trước” và thâm nhập vào tất cả các yếu tố sản xuất, trở thành mắtkhâu bên trong của quá trình sản xuất

- Tri thức khoa học được kết tinh, “vật hóa” vào người lao động, người quản lý, công

cụ lao động và đối tượng lao động Sự phát triển của khoa học đã kích thích sự pháttriển năng lực và làm chủ sản xuất của con người

- Như vậy, trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất là không tách rời

nhau.

1.2 Quan hệ sản xuất

- Quan hệ sản xuất là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ mối quan

hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất

- Nếu như lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên –mặt thứ nhất của “mối quan hệ song trùng” trong quá trình sản xuất xã hội, thì quan hệsản xuất biểu thị mối quan hệ giữa những con người với nhau trong quá tình sản xuất

ấy – mặt thứ hai của nó

6

Trang 7

- Chính nhờ mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên tồn tại thống nhất với nhau mà quá trình sản xuất xã hội mới diễn

ra bình thường

Ví dụ: Trong quá trình khai thác mỏ than, nếu mỗi người chỉ làm việc một

cách tách biệt, không có sự phối hợp giữa các công nhân, những người côngnhân lại không nghe chỉ đạo của quản lý…, tức là không tồn tại mối quan hệgiữa những con người với nhau (“quan hệ sản xuất”), thì tập thể đó không thểkhai thác than hiệu quả

- Trong sản xuất, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thể hiện thành nhữngtrình độ, năng lực khác nhau của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, mối quan hệ đó đượcxây dựng trong và thông qua những quan hệ khác nhau giữa người với người, tức lànhững quan hệ sản xuất

- Như thế, dù muốn hay không, con người bắt buộc phải tạo dựng, duy trì nhữngmối quan hệ nhất định với nhau trong quá trình sản xuất để đảm bảo hoạt động sảnxuất diễn ra bình thường và ngày càng hiệu quả Những quan hệ này mang tính tất yếu

và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ ai

- Tuy do con người tạo ra, nhưng các mối quan hệ sản xuất đó tuân theo những quyluật xã hội tất yếu, khách quan của của đời sống xã hội

- Trong thực tế quá trình sản xuất, hệ thống các quan hệ sản xuất biểu hiện cụ thểtheo 03 mặt khác nhau như sau:

+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong

việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội, là quan hệ xuất phát, cơ bản, trungtâm luôn có vai trò quyết định các mối quan hệ khác Bởi lực lượng xã hội nào nắmphương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quátrình sản xuất và phân phối sản phẩm

Ví dụ: Chủ xí nghiệp (sở hữu nhà máy, thiết bị máy móc) với công nhân

(không có tư liệu sản xuất), địa chủ (sở hữu ruộng đất) và nông dân

+ Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong

việc tổ chức sản xuất và phân công lao động, có vai trò quyết định trực tiếp đến quy

mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất Có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự pháttriển của của nền sản xuất xã hội

Ví dụ: trong một công ty có giám đốc, các trưởng phòng, nhân viên Nếu sắp

xếp phân bổ mọi nhân viên hợp lý, phù hợp với năng lực từng cá nhân thì công

ty sẽ dễ phát triển

+ Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động: lả quan hệ giữa các tập đoàn người

trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cảivật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biết quantrọng, kích thích trực tiếp lợi ích của con người, là chất xúc tác kinh tế, thúc đẩy tốc

7

Trang 8

độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, hoặc ngượclại, làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất

Ví dụ: Quan hệ giữa ông chủ (người trả lương) và người lao động (người nhân

lương) là quan hệ về phân phối sản phẩm lao động Mức lương hợp lý kíchthích người lao động tăng năng suất, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh

- Các mặt quan hệ nêu trên là những quan hệ mang tính vật chất thuộc đời sống xãhội

- Những quan hệ đó là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở sâu xacủa đời sống tinh thần xã hội Các mặt quan hệ này luôn gắn bó với nhau, tạo thànhmột hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động không ngừng của lựclượng sản xuất

2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất quy định sựvận động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử

- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xuất là hai mặt của một phương thức sảnxuất có tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất,còn quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất C.Mác viết:

“ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ”.

- Nếu quan hệ sản xuất phụ hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thìthúc đẩy trình độ sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sựphát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và pháttriển của xã hội

2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất

- Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến đổi của lựclượng sản xuất

+ Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cáchmạng, thường xuyên vận động và phát triển

+ Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính ổn định tươngđối

8

Trang 9

- Trong sự vận động của mâu thuẫn biện chứng đó, lực lượng sản xuất quyết địnhquan hệ sản xuất Cơ sở khách quan quy định sự vận động, phát triển không ngừng củalực lượng sản xuất là do:

+ Biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người

+ Tính năng động và cách mạng của sự phát triển công cụ lao động

+ Vai trò của con người lao động là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàngđầu

+ Tính kế thừa khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất trong tiến trìnhlịch sử

- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làđòi hỏi khách quan của nền sản xuất

+ Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính

“đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất

+ Quan hệ sản xuất từ chỗ là “hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lựclượng sản xuất trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

- Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã hội là phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiếtlập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình của lực lượng sản xuất đã phát triển.C.Mác đã nêu tư tưởng về vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất đối với việc thayđổi các quan hệ xã hội:

“Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình,

và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiểm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, các cối xay chạy bằng nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp.”

- Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới tronglịch sử, quyết định đến nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất Con người bằngnăng lực nhận thức và thực tiễn, phát triển và giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phùhợp mới làm cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn

2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất

- Do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lậptương đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất Vai trò của quan hệsản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứnggiữa quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làđòi hỏi khách quan của nền sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượngsản xuất là một trạng thái trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực

9

Trang 10

lượng sản xuất và “tạo đại bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Sự phù hợp

bao gồm:

+ Sự kết hợp đúng đắn của các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất

+ Sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất

+ Sự kết hợp đúng đắn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất

- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất:

+ Quy định mục đích, xu hướng phát triển của nền sản xuất xã hội

+ Hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản xuất phát triển

+ Đem lại năng xuất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất

- Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều

hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

+ Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nền sản xuất phát triểnđúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu khoa học và công nghệđược áp dụng nhanh chóng; người lao động nhiệt tình hăng hái sản xuất, lợi ích củangười lao động được đảm bảo và thúc đấy sản xuất phát triển

+ Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượngsản xuất Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điềukiện nhất định

- Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ

sản xuất diễn ra là từ phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự phù hợp mới ở trình độ

cao hơn Con người bằng năng lực nhận thức và thực tiễn, phát hiện và giải quyết mâu

thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho quá trính sản xuất phát triển đạt tới một nấcthang cao hơn

- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làquy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại

10

Trang 11

- Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch

sử xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất, từ phươngthức sản xuất cộng nguyên thủy qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, phươngthức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và đang phát triểnđến phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

- Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, do những điều kiện khách quan và chủ quan, quyluật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có nhữngđặc điểm tác động riêng

- Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtđòi hỏi tất yếu thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu

- Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa dần dần loại trừ đối kháng xã hội Sự phùhợp không diễn ra “tự động”, đòi hỏi trình độ tự giác cao trong nhận thức và vận dụngquy luật

2.3 Ý nghĩa trong đời sống xã hội

- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng

- Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sảnxuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động

- Muốn xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn

cứ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải là kết quả của mệnh lệnhhành chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầukhách quan của quy luật kinh tế, chống tùy tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí

- Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa quan trọng trong quán triệt, vận dụngquan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự đổi mới

tư duy kinh tế của Đảng Cổng sản Việt Nam

- Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới toàn diệnđất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm hàng đầu đến việcnhận thức và vận dụng đúng đắn sáng tạo quy luật này, đã đem lại hiệu quả to lớntrong thực tiễn

- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát,

là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất trong phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay

11

Ngày đăng: 23/05/2023, 15:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w