1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập hiến pháp

19 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương Ôn tập Hiến pháp
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 743,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1 Hiến pháp là đạo luật cơ bản của quốc gia “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến phá.

Trang 1

Câu 1: Hiến pháp là đạo luật cơ bản của quốc gia

“Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.” Điều 119 Hiến pháp 2013

 Hiến pháp là văn bản duy nhất quy định về chủ quyền nhân dân, tổ chức quyền lực nhà nước; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; là hình thức pháp lý thể hiện tập trung nhất hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc; ở từng giai đoạn phát triển, Hiến pháp còn là văn bản, là phương tiện pháp lý thực hiện tư tưởng, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới hình thức những quy phạm pháp luật

 Về nội dung: đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, đó là những quan hệ xã hội cơ bản liên quan đến các lợi ích cơ bản của mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi công dân trong xã hội, như: chế độ chính trị; quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; chế độ kinh tế,

xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường; quyền con người; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

 Về mặt pháp lý: Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, phản ánh sâu sắc nhất quyền của Nhân dân và mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân; Hiến pháp là nguồn, là căn cứ để ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết và các văn bản khác thuộc hệ thống pháp luật: Tất cả các văn bản khác không được trái với Hiến pháp mà phải phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp, được ban hành trên cơ sở quy định của Hiến pháp và để thi hành Hiến pháp Các điều ước quốc tế mà Nhà nước tham gia không được mâu thuẫn, đối lập với quy định của Hiến pháp; khi có mâu thuẫn, đối lập với Hiến pháp thì cơ quan nhà nước

có thẩm quyền không được tham gia ký kết, không phê chuẩn hoặc bản lưu đối với từng điều Ngoài ra, tất cả các cơ quan nhà nước phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo Hiến pháp, sử dụng đầy đủ các quyền hạn, làm

tròn các nghĩa vụ mà Hiến pháp quy định “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước

và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định” Điều 119 Hiến pháp 2013.

Tất cả các công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, nghiêm

chỉnh chấp hành các quy định của Hiến pháp; “Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đặc biệt,

việc xây dựng, thông qua, ban hành, sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo trình tự đặc biệt được quy định trong Hiến pháp

Trang 3

Câu 2: Mô hình chính quyền đương đại? So sánh thế giới đối với bộ máy chính quyền VN về phân quyền ngang dọc?

Phân quyền dọc

Cấu trúc đơn nhất và cấu trúc liên bang đều xác lập ở nhà nước có chủ quyền quốc gia, tức quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế

Cả hai đều có một hệ thống cơ quan nhà nước và một hệ thống pháp luật áp dụng chung trên toàn bộ lãnh thổ

Công dân ở mỗi cấu trúc nhà nước đều có quốc tịch chung của nhà nước đó

Nhà nước đơn nhất Nhà nước liên bang

Hệ thống

chính

quyền

Chủ quyền quốc gia chung, chỉ có 1 chủ thể duy nhất có quyền quyết định những vấn đề đối nội

và đối ngoại của đất nước

Hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý chung, thống nhất từ trung ương đến địa phương

Chính quyền nhà nước đơn nhất gồm hai cấp chính là trung ương và địa phương Mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với chính quyền trung ương là quan hệ địa phương là quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới

Nhà nước liên bang có chủ quyền chung nhưng mỗi nhà nước thành viên có chủ quyền riêng về lãnh thổ, văn hóa, dân tộc

Có chính phủ riêng, có Hiến pháp quy định về cấu trúc, hình thái nhà nước

Chính quyền của nhà nước liên bang bao gồm ba cấp chính là liên bang, bang và địa phương Sự phân chia quyền lực giữa nhà nước liên bang với các nhà nước thành viên được thể hiện rõ trong

cả ba lĩnh vực là lập pháp, hành pháp và tư pháp

Hệ thống

pháp luật HTPL thống nhất điềuchỉnh các quan hệ xã hội,

thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Mỗi bang sẽ có hệ thống pháp luật, cơ quan nhà nước riêng Trong đó, một hệ thống là chung cho

Cấu trúc nhà nước

Nhà nước đơn nhất

(2 chủ quyền)

Trang 4

toàn liên bang, có thẩm quyền tối cao trên toàn lãnh thổ, mỗi bang thành viên lại có một hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi bang đó

Tư cách

công dân Có 1 quốc tịch

Một nhà nước liên bang phải có hai quốc tịch Một quốc tịch liên bang, một quốc tịch nước thành viên

Phân quyền ngang

Chính thể quân chủ Chính thể cộng hòa

Khái niệm

Là chính thể mà toàn bộ hoặc một phần quyền lực tối cao của nhà nước được trao cho một cá nhân (vua, quốc vương ) theo phương thức chủ yếu là cha truyền con nối (thế tập)

Là chính thể mà quyền lực tối cao của nhà nước được trao cho một hoặc một số cơ quan theo phương thức chủ yếu là bầu cử

Chủ thể

nắm giữ

quyền lực

Chủ thể nắm giữ quyền lực tối cao của nhà nước

là một cá nhân (vua, hoàng đế, quốc vương )

Chủ thể nắm giữ quyền lực tối cao của nhà nước

là một cơ quan (ví dụ: Quốc hội của Việt Nam) hoặc một số cơ quan (ví dụ: Nghị viện, Tổng thống và Tòa án tối cao ở Mỹ)

Phương

thức trao Phương thức trao quyềnlực tối cao cho nhà vua Phương thức trao quyềnlực cho cơ quan quyền

Chính thể

Đại nghị Hạn chế

(Lập hiến)

(Bán tổng thống)

Trang 5

chủ yếu là cha truyền con nối, ngoài ra, có thể bằng chỉ định, suy tôn, tự xưng, được phong vương, bầu cử hoặc tiếm quyền

lực tối cao là bằng bầu

cử (ví dụ ở Việt Nam) hoặc chủ yếu bằng bầu

cử (ví dụ ở Mỹ)

Thời gian

nắm

quyền

Thời gian nắm giữ quyền lực tối cao là suốt đời và

có thể truyền ngôi cho đời sau

Thời gian nắm giữ quyền lực tối cao là chỉ trong một thời gian nhất định (theo nhiệm kỳ) và không thể truyền lại chức

vụ cho đời sau

Quyền

của nhân

dân

Nhân dân không được tham gia vào việc lựa chọn nhà vua cũng như giám sát hoạt động của nhà vua

Nhân dân được tham gia bầu cử và ứng cử vào cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước cũng như giám sát hoạt động của

cơ quan này

Trang 6

Hình thức cấu trúc lãnh thổ của nhà nước Việt Nam là nhà nước đơn nhất, có chủ quyền độc lập và tự chủ trong việc thực hiện các chức năng của mình trong nước và trên các quan hệ quốc tế được hiến pháp quy định tại điều đầu tiên của chương I – chế độ chính trị:

“Nước CHXHCNVN là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền các hải đảo, vùng biển và vùng trời”

Chủ quyền nhà nước CHXHCNVN được thể hiện dưới thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, trước hết là của Quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ và của các cơ quan nhà nước Về nguyên tắc tất cả các

cơ quan trong bộ máy nhà nước đều được phân giao thực hiện thẩm quyền của nhà nước Quyền hạn này nhiều ít phụ thuộc vào tính chất, vị trí, vai trò của từng cơ quan trong hệ thống thống nhất bộ máy nhà nước

Nhà nước đơn nhất VN là nhà nước quyền lực tập trung có một hiến pháp, một hệ thống PL, một hệ thống bộ máy nhà nước, một quốc tịch

Nhà nước VN là 1 nhà nước thống nhất không phân chia thành các nhà nước tiểu bang hay cộng hòa tự trị là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ VN

Nhà nước CHXHCNVN theo chính thể cộng hòa điều này được thể hiện Điều 1 Hiến pháp năm 1946 “Nước Việt Nam là nước Dân chủ cộng hòa”

Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo là kiểu Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở:

 Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Việt Nam thông qua quyết định các chủ trương, đường lối và thông qua việc đưa đảng viên của mình vào nắm giữ các chức danh quan trọng của Nhà nước Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng lên Nhà nước và xã hội

Cũng là Nhà nước pháp quyền, nên Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang các bản chất chung của Nhà nước pháp quyền, đó là:

 Các cơ quan Nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở pháp luật Bản thân Nhà nước đặt mình trong khuôn khổ pháp luật Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có quy định rõ địa vị pháp

lý, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước bao gồm Quốc hội – chủ thể nắm giữ quyền lực tối cao của nhà nước (chương V Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội Việt Nam), Chủ tịch nước (chương VI Hiến pháp), Chính phủ (chương VII Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ), Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân (chương VIII Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân), Chính quyền

Trang 7

địa phương (chương IX Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân

dân và Ủy ban nhân dân), Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm

toán nhà nước Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực

thuộc Chính phủ, ban quản lý các khu kinh tế, thì có các Nghị

định của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn và cơ cấu tổ chức của họ

Các bản chất khác của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam là:

 Dân chủ tập trung

 Không có sự phân chia giữa 3 ngành lập pháp, hành pháp, và

tư pháp, mà là sự thống nhất, phân công, phối hợp, kiểm soát

giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền này

Nguyên tắc này được thể hiện ở khoản 3 Điều 2 Hiến pháp

năm 2013: “3.Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân

công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong

việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”

 Là Nhà nước đơn nhất và tập quyền: Ở Việt Nam chỉ có một

Hiến pháp chung Các địa phương không có quyền lập hiến và

lập pháp mà ban hành các VBQPPL theo luật định

So sánh

Cấu trúc

nhà nước

Nhà nước đơn nhất được Hiến pháp 2013 quy định tại điều 1:

“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo,

Nhà nước liên bang thừa nhận hai đảng phái chính trị hoạt động chủ yếu là Đảng dân chủ

và Đảng Cộng hòa

Trang 8

vùng biển và vùng trời.”

Hình

thức

chính

thể

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa t hông qua nguyên tắc bầu cử bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín, nhân dân đã bỏ phiếu bầu ra cơ quan đại diện của mình (Quốc hội, HĐND các cấp) Quyền lực Nhà nước tối cao thuộc về Quốc hội

Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.

Tổ chức phân công, phối hợp kiểm soát.

Gồm 3 cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

 Lập pháp là quyền thuộc về toàn thể nhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân là Quốc hội.

Nhiệm kỳ mỗi khóa quốc hội là 5 năm.

 Đại diện cho hành pháp sẽ là Chính phủ, người đứng đầu là Chủ tịch nước.

 Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Cộng hòa Tổng thống: Tổng thống vừa là người đứng đầu quốc gia vừa là người đứng đầu chính phủ, trong bộ máy nhà nước không

có chức vụ thủ tướng Tổng thống có quyền lực rất lớn, vừa là trung tâm của bộ máy nhà nước, vừa là trung tâm quyết sách của chính phủ Tổng thống được bầu bởi các Đại cử tri (Elector) của các bang chứ không phải do dân bầu trực tiếp.

Hiếp pháp thực hiện chế độ chính trị tam quyền phân lập – phân chia quyền lực thành

ba nhánh: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

 Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội với chế độ lưỡng viện gồm Thượng viện (Viện nghị sĩ) và Hạ viện (Viện dân biểu) T hượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ 2 năm.

 Quyền hành pháp thuộc về Tổng thống được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ

4 năm

 Quyền tư pháp thuộc về Toà án tối cao đứng đầu là thẩm phán.

Câu 3: Khái niệm quyền con người, những đặc tính của nhân

quyền, những nguyên tắc hiến pháp về nhân quyền?

Khái niệm quyền con người

Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa về “quyền con người”, theo

văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc thì: “quyền con người

là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân

và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn

hại đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người”

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa định nghĩa về nhân quyền, tuy

nhiên Hiếp pháp năm 2013 đã nêu rõ chủ thể và nội dung về quyền

con người (nhân quyền), quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Hiến pháp năm 2013 đã công nhận quyền con người là một quyền

độc lập tách khỏi quyền công dân Với tính chất là văn bản pháp lý

có hiệu lực tối cao, Hiến pháp là bức tường chắn quan trọng nhất để

ngăn ngừa những hành vi lạm dụng, xâm phạm quyền con người,

quyền công dân, cũng như là nguồn tham chiếu đầu tiên mà người

dân thường nghĩ đến khi các quyền của mình bị vi phạm Hiệu lực

bảo vệ quyền con người, quyền công dân của hiến pháp còn được

phát huy qua việc hiến định các cơ chế, thiết chế bảo vệ quyền, cụ

thể như thông qua hệ thống toà án tư pháp, các cơ quan nhân

quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội hay toà án hiến pháp

Muốn đảm bảo quyền con người, quyền công dân thì trước hết nhà

nước phải ghi nhận những quyền đó, nếu không có sự ghi nhận thì

Trang 9

sẽ không có sự bảo vệ và thúc đẩy việc hiện thực hóa những quyền này Việc ghi nhận quyền con người trong hiến pháp cũng là cách

để một quốc gia tuyên bố với thế giới về tình trạng nhân quyền của nước mình

Quyền con người không những được nhìn nhận trên quan điểm các quyền tự nhiên (natural rights) mà nó còn được nhìn nhận trên quan điểm các quyền pháp lý (legal right) Theo đó “quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cả nhân và các nhóm chổng lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự

do cơ bản của con người

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980,

1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người như Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm

1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ

nữ năm 1979, Công ước về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 v.v… và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, to lớn, góp phần xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung vì mục tiêu hòa bình và tiến bộ xã hội của toàn nhân loại Tiếp tục kế thừa và phát triển những quy định của các bản Hiến pháp trước đây về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 đã có những đổi mới căn bản, quan trọng cả về cơ cấu, bố cục, cách viết và nội dung

Đặc tính của nhân quyền

Quyền con người được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc

tế như Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyển con người, Công ước quốc tế về các quyển dân sự, chính trị năm

1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoả, xã hội năm 1966

Ở nước ta, quyền con người được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ tuật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình, các luật về bầu cử, Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 10

Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính chất cơ bản là: tính phổ biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, cụ thể như sau:

Tính phổ biến (universal) Tính phổ biến của nhân quyền thể

hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người Ở đây, mọi thành viên của nhân loại đều có được công nhận có các quyền con người, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực của cá nhân từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… mà người đó đang sống

Tính không thể tước bỏ (inalienable) Tính không thể tước

bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Ở đây, khía cạnh “tuỳ tiện” nói đến giới hạn của vấn đề Nó cho thấy không phải lúc nào nhân quyền cũng “không thể bị tước bỏ” Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống

Tính không thể phân chia (indivisible) Tính không thể

phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền con người đều cần phải được chú

ý quan tâm với mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàn cảnh Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất định, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của các quyền đó Ví dụ, trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế; còn trong bối cảnh nạn đói, quyền được ưu tiên phải là quyền về lương thực, thực phẩm Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ

bị tổn thương trong khi vẫn tôn trọng quyền của tất cả các

Ngày đăng: 23/05/2023, 14:02

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w