LỜI MỞ ĐẦU Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với con người, vì nó đem lại giá trị to lớn và lâu dài cho người sở hữu, người sử dụng nếu đất đai được khai thác sử dụng hợp lý và hiệu quả Do đất[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với con người, vì nó đem lại giá trị
to lớn và lâu dài cho người sở hữu, người sử dụng nếu đất đai được khai thác sử dụng hợp lý và hiệu quả Do đất đai mang lại giá trị lớn và bền vững nên người sở hữu, người sử dụng cần có những biện pháp quản lý nguồn thu, nguồn lợi nhuận sinh ra từ đất đai
Hiện nay, công tác quản lý sử dụng đất đai ngày càng được quan tâm chú trọng của Đảng, Nhà nước và các đối tượng sử dụng, có nhu cầu sử dụng đất đai Việc quản lý và sử dụng đất đai đã có nhiều chuyển biến và thay đổi theo hướng tích cực, từng bước thực hiện sao cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó chính sách quản
lý và sử dụng đất vẫn còn một số tồn tại cần được giải quyết.Mới chỉ nghe về đất thì ta tưởng chừng như đây là vấn đề của nông nghiệp nhưng thực tế hoàn toàn khác Đây là một trong những vấn đề quan trọng trong dự án phát triển kinh tế sau này, thuê đất ở đâu để kinh doanh, tiền thuê đất như thế nào, hay khi kinh doanh nông nghiệp thì tiền sử dụng đất là bao nhiêu, nghĩa vụ như thế nào,… ? Để hiểu rõ
về vấn đề này ta cần phân tích và có những hiểu biết rõ ràng về địa tô - một vấn đề không thể không nhắc đến khi nghiên cứu về quản lý đất đai
Ở bài tiểu luận này, nhóm sẽ nghiên cứu làm rõ về bản chất, nguồn gốc của địa tô, các loại địa tô thường thấy qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
Chương 1: Khái quát về địa tô qua một số thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội Chương 2: Phân loại địa tô, bản chất, nguồn gốc, biểu hiện của một số loại
địa tô ở Việt Nam hiện nay
Trang 2Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA TÔ
I Khái niệm và bản chất của địa tô
1, Bản chất
Địa tô là giá trị phần sản phẩm thặng dư (lợi nhuận dôi ra) do người sử dụng đất tạo ra và nộp cho người sở hữu ruộng đất
ĐT gắn liền với sự ra đời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất.Đã từng tồn tại trong các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cả trong thời kì đầu của chủ nghĩa xã hội.Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, địa tô là do lao động của nô lệ và những người chiếm hữu ruộng đất nhỏ tự do tạo ra Trong chế độ phong kiến, địa tô là phần sản phẩm thặng dư do nông nô tạo ra và bị chúa phong kiến chiếm đoạt, có khi còn bao gồm cả một phần sản phẩm tất yếu Trong chủ nghĩa tư bản, do còn chế độ tư hữu về ruộng đất trong nông nghiệp nên vẫn tồn tại địa tô Về thực chất, địa tô tư bản chủ nghĩa chính là phần giá trị thặng dư thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân và do nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp trả cho địa chủ Nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa vẫn là do lao động thặng dư của công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra
Một câu hỏi đặt ra là: “Tại sao khi có chế độ chiếm hữu nô lệ thì mới xuất hiện địa tô?” Chúng ta cùng quay ngược thời gian để trở về thời công xã nguyên thủy, lúc này, mọi thứ kể cả đất đai đều được chia sẻ cho tất cả mọi người, người nguyên thủy cùng nhau đi săn bắt, hái lượm, san sẻ thành qủa lao động trên mảnh đất mà họ cùng canh tác Vào thời điểm này chưa có sự tư hữu về ruộng đất, nên chưa có sự tách biệt giữa người sở hữu và người sử dụng Cho đến thời kì chiếm hữu nô lệ, những chủ nô lệ giàu có nắm nhiều ruộng đất trong tay nhưng không đủ khả năng canh tác hết nên đã mua hoặc thuê nô lệ về sản xuất, canh tác Người sử dụng đất ở đây là nô lệ còn người sở hữu đất chính là chủ nô, nô lệ phải nộp toàn
Trang 3bộ sản phẩm thu được cho chủ nô sau khi thu hoạch Địa tô vào thời kì này là địa
tô là do lao động của nô lệ và những người chiếm hữu ruộng đất nhỏ tự do tạo ra Tiếp đến là giai đoạn phong kiến, tại giai đoạn này sự tách biệt giữa người sở hữu và người sử dụng càng rõ ràng hơn Địa chủ với hàng nghìn mẫu đất trong tay trong khi đó người nông dân lại không có đất để sản xuất, vì thế họ phải làm thuê, làm khoán cho địa chủ Sau đó, nông dân phải nộp một số lượng sản phẩm nhất định cho địa chủ Thông thường, địa chủ sẽ yêu cầu lấy hết toàn bộ phần sản phẩm thặng dư do nông dân tạo ra, có khi còn bao gồm cả một phần sản phẩm thiết yếu
Vì vậy, địa tô xuất hiện khi có sự tách rời giữa sở hữu và sử dụng.
Trong tư bản chủ nghĩa, do vẫn tồn tại quyền tư hữu về ruộng đất nên vẫn còn địa tô nhưng nó có sự khác biết với địa tô phong kiến Tại sao lại có sự khác biết này, đó là do sự xuất hiện của nhà tư bản Nhà tư bảntiến hành kinh doanh trên đất đaicũng chiếm đoạt một số giá trị thặng dư do công nhân mà họ thuê mướn tạo ra.Tất nhiên họ không thể chiếm đoạt toàn bộ giá trị thặng dư đó mà phải cắt một phần để nộp tô cho địa chủ.Là nhà tư bản kinh doanh trớc hết họ phải đảm bảo thuđược lợi nhuận bình quân cho tư bản của họ bỏ ra Và do đó để nộp tô cho địa chủ, họ còn phải bảo đảm thu được một số giá trị thặng dư vượt ra ngoài lợi nhuận bình quân đó, một lợi nhuận siêu ngạch, khoản lợi nhuận siêu ngạch này phải được bảo đảm thờng xuyên và tương đối ổn định Và bộ phận siêu ngạch này là do công nhân tạo ra, nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất Có khi địa chủ không cho thuê ruộng đất mà tự mình thuê công nhân để khai thác ruộng đất của mình.Trong trường hợp này địa chủ hưởng cả địa tô lẫn lợi nhuận.Để làm rõ bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa, ta cần làm rõ sự giống và khác nhau giữa địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến
Sự giống nhau
Trước hết là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế đồng
Trang 4thời cả hai loại địa tô này đều là kết quả của sự bóc lột đối với những người lao động
Sự khác nhau
Địa tô phong kiến gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư do nông dân tạo ra,có khi còn lan sang cả sản phẩm cần thiết Còn địa tô tư bản chủ nghĩa chỉ là một phần giá trị thặng dư ngoài lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất
Địa tô phong kiến phản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp: địa chủ và nông dân Trong đó giai cấp địa chủ trực tiếp bóc lột nông dân
Còn địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ,
tư bản kinh doanh ruộng đất và công nhân làm thuê Trong đó địa chủ gián tiếp bóc lột công nhân thông qua tư bản hoạt động Mối quan hệ kinh tế giữa tư bản và địa chủ được thể hiện qua hình thức thuê đất và tiền thuê này chính là địa tô mà nhà tư bản (người sử dụng) phải trả cho địa chủ (người sở hữu)
Do vậy, địa tô xuất hiện khi có tư bản trong nông nghiệp (tư bản kinh doanh ruộng đất).
2, Khái niệm
Từ bản chất của địa tô, ta có thể hiểu địa tô chính là giá trị phần sản phẩm thặng dư (phần lợi nhuận dôi ra) do người sử dụng đất tạo ra và nộp cho người
sở hữu ruộng đất Địa tô xuất hiện khi có sự hiện hữu của chế độ tư hữu về ruộng
đất, dẫn đến sự tách biệt gữa người sở hữu và người sử dụng, làm phát sinh mối quan hệ kinh tế ràng buộc giữa hai bên
II Vai trò của địa tô
- Địa tô khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm mà hiệu quả: Để có địa tô nộp cho người sở hữu đất, người sử dụng đất phải sử dụng đất sao cho với diện tích đất nhỏ
Trang 5nhất nhưng lại cho năng suất cao nhất để thu được phần lợi nhuận vượt qua địa tô phải nộp cho người sở hữu đất
- Địa tô cũng giúp người sử dụng sử dụng đất một cách hợp lý: sử dụng đất vào đúng mục đích, phù hợp với chất đất, nhằm lợi dụng ưu thế tự nhiên vốn có của đất để tạo ra lợi nhuận cao
- Địa tô ngoài ra cũng khuyến khích các nhà tư bản đẩy mạnh đầu tư nhằm gia tăng giá trị mà đất tạo ra, đạt lợi nhuận vượt qua mức địa tô phải nộp cho người sở hữu
- Ngoài ra, địa tô cũng gây ra mẫu thuẫn về mặt lợi ích phân phối giữa người
sở hữu và người sử dụng: Những điều kiện vốn có của đất đai thuộc về người sở hữu đất đai tuy nhiên khi có sự tham gia đầu tư của người sử dụng đất đai làm tăng giá trị của đất đai lên dẫn đến mâu thuẫn về phân chia lợi nhuận, dẫn đến hệ lụy là
sử dụng đất không hiệu quả Người sở hữu sẽ tăng phần địa tô phải nộp của người
sử dụng do người sở hữu cho rằng lợi nhuận mà người sử dụng thu được là nhờ giá trị đất vốn có của họ, tuy nhiên người sử dụng lại không cho là như vậy, người sử dụng không muốn nộp thêm địa tô vì cho rằng giá trị tăng thêm mà mình thu được
là do ban đầu họ đã bỏ công đầu tư cải tạo làm tăng khả năng sản xuất của đất và giá trị đó người sử dụng hoàn toàn được hưởng mà không phải một ai khác
- Địa tô cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến đất đai: Để tạo ra lợi nhuận lớn hơn địa tô, người sử dụng phải khai thác tối đa khả năng sản suất của đất đai, đồng thời người sở hữu muốn có thật nhiều thu nhập từ địa tô nên không cần biết người
sử dụng sử dụng đất vào mục đích gì, sử dụng như thế nào Do đó có thể làm giảm sức sản xuất của đất đai
III Phân loại địa tô
Trang 6Các hình thức của địa tô được biểu hiện rõ nhất tại thời kì tư bản chủ nghĩa, bao gồm:
Địa tô chênh lệch
Địa tô tuyệt đối
Địa tô độc quyền
Trong chủ nghĩa xã hội, khi ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không còn là tư hữu của địa chủ hay nhà tư bản, thì những cơ sở kinh tế để hình thành địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền cũng bị xoá bỏ, nhưng vẫn tồn lại địa tô chênh lệch, song
nó thuộc sở hữu của nhà nước và khác về bản chất với địa tô chênh lệch dưới chủ nghĩa tư bản Ở Việt Nam, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông nghiệp, lâm nghiệp, không gì thay thế được, và là tài nguyên quý giá của quốc gia Nhà nước chuyển quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, và người sử dụng đất phải nộp thuế sử dụng đất; cho người nước ngoài thuê đất để lập doanh nghiệp hay để xây dựng trụ sở cơ quan ngoại giao; cho phép các tổ chức, cá nhân người Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh với người nước ngoài được góp vốn pháp định bằng giá trị đất sử dụng Tuy hình thức địa tô tuyệt đối không còn, nhưng ruộng đất vẫn là một tư liệu sản xuất có giá trị và người sử dụng vẫn phải trả giá như là một loại địa tô
IV Biểu hiện của địa tô trong quản lý Nhà nước về đất đai tại Việt Nam hiện nay
Trong chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, khi ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không còn là tư hữu của địa chủ hay nhà tư bản, thì những cơ sở kinh tế để hình thành địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền cũng bị xoá bỏ, nhưng vẫn tồn lại địa tô chênh lệch, song nó thuộc sở hữu của nhà nước và khác về bản chất với địa tô chênh lệch dưới chủ nghĩa tư bản
Trang 7Ngày nay, khi đất nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơ sở lí luận về đia tô được Nhà nước vận dụng trong thực tiễn quản lý tài chính về đất đai Địa tô là cơ sở để Nhà nước xây dựng chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan đến đất đai nhằm kích thích phát triển nông nghiệp cũng như các ngành khác trong nền kinh tế
Ở Việt Nam, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông nghiệp, lâm nghiệp, không gì thay thế được, và là tài nguyên quý giá của quốc gia Nhà nước chuyển quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, và người sử dụng đất phải nộp thuế sử dụng đất; cho người nước ngoài thuê đất để lập doanh nghiệp hay để xây dựng trụ sở cơ quan ngoại giao; cho phép các tổ chức, cá nhân người Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh với người nước ngoài được góp vốn pháp định bằng giá trị đất sử dụng Tuy hình thức địa tô tuyệt đối không còn, nhưng ruộng đất vẫn là một tư liệu sản xuất có giá trị và người sử dụng vẫn phải trả giá như là một loại địa tô
1, Biểu hiện trong luật đất đai
Đất đai là một ài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng Ngày nay, đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất, rừng cho các tổ chức kinh tế hay các đơn vị vũ trang để sử dụng Để bổ sung cho nguồn ngân sách và thông qua ngân sách thực hiện một số chính sách phát triển kinh tế đất, những người thuê đất phải đóng thuế cho Nhà nước Thuế này khác xa với địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến vì nó tập trung vào ngân sách đem lại lợi ích cho toàn dân, nó không mang bản chất bóc lột của địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa
Trang 8Ở mỗi chế độ, đất đai lại thuộc về mỗi giai cấp khác nhau như: sở hữu của địa chủ, quan lại quý tộc phong kiến, tư hữu của thực dân pháp,… Các Mác từng cho rằng: “mỗi bước tiến của nông nghiệp tư bản chủ nghĩa là một bước tiến không những trong nghệ thuật bóc lột người lao động mà còn là bước tiến về mặt làm cho đất đai bị kiệt quệ mà sự bóc lột đó được thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó
có địa tô
Nhà nước ban hành Luật đất đai 2013 để quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người dân theo những điều khoản
Chương 2: CÁC HÌNH THỨC CỦA ĐỊA TÔ, BIỂU HIỆN CỦA MỘT SỐ LOẠI
ĐỊA TÔ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
I Địa tô chênh lệch
1 Khái niệm
Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân, thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình
2 Phân loại
Địa tô chênh lệch có hai loại: địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II
Địa tô chênh lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất điều kiện tự
nhiên thuận lợi Chẳng hạn, có độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt) và
có vị trí địa lý gần nơi tiêu thụ hay gần đường giao thông
Địa tô chênh lệch II là loại địa tô thu được gắn liền với thâm canh tăng năng
suất, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng một đơn vị diện tích
3 So sánh 2 loại địa tô chênh lệch:
Giống nhau:
Trang 9- Đều thu lợi nhuận trên ruộng đất.
Khác nhau:
- Địa tô chênh lệch I gắn liền với mức độ tốt xấu khác nhau của ruộng đất, với mức xa hay gần của ruộng đất đối với thị trờng nơi tiêu thụ
Địa tô chênh lệch I gắn liền với vị trí khác nhau của ruộng đất Do kinh doanh trên những ruộng đất có vị trí thuận lợi, nên nhà tư bản sẽ tiết kiệm được phần lớn chi phí lưu thông Nhưng khi bán hàng thì bán cùng một giá, nên chi phí vận
chuyển ít hơn, đương nhiên sẽ thu đc lợi nhuận siêu ngạch so với những người phải chi phí vận chuyển lớn hơn, do đó thu được địa tô chênh lệch
Địa tô chênh lệch I là phần giá trị thặng dư ngoài lợi nhuận bình quân mà chủ đất thu được gián tiếp, được hình thành trên ruộng đất màu mỡ và vị trí gần nơi tiêu thụ, là sự chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung (được quyết định bởi giá cả sản xuất trên ruộng đất xấu nhất)
- Địa tô chênh lệch II là phần giá trị thặng dư ngoài lợi nhuận bình quân gắn liền với đầu tư thâm canh trong nông nghiệp Thâm canh ruộng đất là đầu tư thêm
tư bản trong cùng một đơn vị diện tích để nâng cao chất lượng canh tác, nhằm tăng
độ màu mỡ trên mảnh ruộng đó;
nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích Nhờ đó mà có lợi nhuận siêu ngạch làm thành địa tô chênh lệch II
Nhng khi hết hạn hợp đồng, chủ ruộng sẽ tìm cách nâng mức địa tô để chiếm lấy số lợi nhuận siêu ngạch đó, tức là biến lợi nhuận lợi nhuận siêu ngạch thành địa
tô chênh lệch
Vì lẽ đó mà chủ ruộng đất chỉ muốn cho thuê ruộng trong thời gian ngắn, còn nhà tư bản kinh doanh thì muốn thuê dài hơn Cũng vì lẽ đó mà nhà tư bản kinh doanh không muốn đầu tư vốn để cải tiến kỹ thuật, cải tạo đất, vì làm nh vậy phải
Trang 10mất thời gian dài mới thu hồi đợc vốn đã bỏ ra, nh thế chủ ruộng sẽ hởng những lợi ích do việc cải tiến đó đem lại Như vậy, trong thời gian thuê đất, nhà tư bản kinh doanh sẽ tìm mọi cách tận dụng độ màu mỡ của đất để thu được lợi nhuận nhiều hơn Điều này giúp ta khẳng định là đất đai trong điều kiện canh tác theo lối tư bản chủ nghĩa thì độ màu mỡ ngày càng giảm
4 Bản chất của địa tô chênh lệch
Trong nông nghiệp giá cả hay giá trị sản xuất của nông phẩm do những điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định Đó là vì nếu chỉ canh tác ở ruộng đất tốt và trung bình thì không đủ nông phẩm để thỏa mãn nhu cầu của xã hội nên cũng phải canh tác ở những ruộng đất xấu và do đó cũng phải đảm bảo nhà tư bản đầu tư trên ruộng đất này có lợi nhuận bình quân Như vậy, giá cả sản xuất của nông phẩm được sản xuất trên ruộng đất có điều kiện xấu là giá cả sản xuất chung của xã hội nên nhà tư bản kinh doanh trên ruộng đất trung bình cũng sẽ được lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận trung bình Thực chất của địa tô chênh lệch là một hình thức chuyển hóa của giá trị thặng dư siêu ngạch hay lợi nhuận siêu ngạch
5 Biểu hiện tại Việt Nam
Từ việc nghiên cứu địa tô chênh lệch nhà nước đã ban hành
a luật đất đai
b thu thuế nông nghiệp
Căn cứ vào điều 84 của hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Đảng và nhà nước ta đã đưa ra quy địng về việc sử dụng đất nông
nghiệp: II Địa tô tuyệt đối
1 Khái niệm