Đề bài Phân tích những nhận thức mới của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị thời kì đổi mới Đề bài Phân tích những nhận thức mới của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị thời kì đổi mới? Suy nghĩ bản[.]
Trang 1Đề bài: Phân tích những nhận thức mới của Đảng về xây dựng
hệ thống chính trị thời kì đổi mới? Suy nghĩ bản thân khi nghiên cứu những nhận thức trên của Đảng ta?
Bài làm:
Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng
lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách
thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam
Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới Khó khăn, thách thức còn nhiều nên Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy nhận thức về mọi mặt đời sống – kinh tế - chính trị - xã hội
I/ Cơ sở khoa học của nhận thức mới của Đảng
Trang 2Những cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những thực tiễn phong phú của cách mạng để Đảng đổi mới tư duy nhận thức gồm:
I Cơ sở lí luận
Trước hết, đổi mới trong nhận thức của Đảng ta dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Bởi vậy để đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công thì việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta trong thời kì quá độ, củng cố và tăng cường sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị cũng như những thành tố của nó là một nội dung chính trị quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh là người đầu tiên ở nước ta chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Người xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế Nước ta cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh đó, Đảng ta còn dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề giai cấp và vai trò của cuộc đấu tranh giai cấp trong sự phát triển của xã hội có phân hóa thành đối kháng giai cấp để dổi mới nhận thức Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử đấu tranh giai cấp giữ vai trò là một trong những phương thức, động lực của sự tiến bộ, phát triển xã hội
Trang 3II Cơ sở thực tiễn:
Những nhận thức không thể tách rời thực tiễn, nên không chỉ dựa trên cơ sở
lý luận Đảng ta còn dựa trên cơ sở thực tiễn cách mạng phong phú trong nước và trên thế giới
Trước năm 1986, Đảng sử dụng khái niệm hệ thống chuyên chính vô sản với
cơ sở kinh tế là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Đó là một
mô hình kinh tế hướng tới mục tiêu xóa bỏ nhanh chóng và hoàn toàn chế độ tư hữu đối với tư liệu sản xuất, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức: sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, loại bỏ triệt để cơ chế thị trường, thiết lập cơ chế quản lí kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Tuy nhiên, việc sử dụng chuyên chính vô sản dẫn tới nhiều chủ trương tả khuynh, duy ý chí trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Bộ máy nhà nước cồng kềnh và kém hiệu quả mà cơ chế quản lí tập trung quan liêu, bao cấp là nguyên nhân trực tiếp Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm với nhiệm vụ của giai đoạn mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết nhiều vấn đề kinh tế- xã hội cơ bản và cấp bách Thêm vào
đó, hệ thống chuyên chính vô sản có biểu hiện bảo thủ, trì trệ, chậm đổi mới so với những đột phá mới trong cơ chế kinh tế đang diễn ra ở các địa phương, các cơ sở trong toàn quốc Do đó, trong thực tế hệ thống chuyên chính vô sản đã cản trở quá trình đổi mới kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội
Mặt khác, trong giai đoạn này, đất nước ta xuất hiện những yêu cầu của công cuộc đổi mới, cụ thể là:
- Yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế: Chuyển đổi từ thể chế kinh tế
kế hoạch hóa tập trung sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, xã hội, mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trang 4- Yêu cầu mở rộng đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Yêu cầu khắc phục những yếu kém của hệ thống chính trị nước ta thời
kì đổi mới
Những hạn chế, sai lầm trên đây cùng những yêu cầu của công cuộc đổi mới,
đã thúc đẩy chúng ta phải chấm dứt hệ thống chuyên chính vô sản để chuyển sang
hệ thống chính trị trong thời kì mới
Quá trình đổi mới nhận thức tư duy của Đảng trong giai đoạn này được đánh dấu bằng sự kiện: Tháng 3 năm 1989, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa VI của Đảng, Đảng đã chính thức sử dụng khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các
tổ chức, các thiết chế có quan hệ có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị
Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ( Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam…),
và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống
II Nội dung nhận thức mới của Đảng ta về xây dựng hệ thống chính trị thời kì đổi mới:
Quá trình đổi mối tư duy về hệ thống chính trị của Đảng ta được thể hiện ở các vấn đề như:
1 Nhận thức mới về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị
Trang 5- Nhận thức: Đổi mới là một quá trình Quá trình này bắt đầu từ đổi mới kinh
tế, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, đồng thời, từng bước đổi mới hệ thống chính trị
- Đổi mới thành công về kinh tế sẽ tạo điều kiện cơ bản để tiến hành đổi mới
hệ thống chính trị thuận lợi Hệ thống chính trị được đổi mới kịp thời, phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để thúc đẩy đổi mới và phát triển kinh tế Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy
đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Phát triển kinh tế thị trường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội, điều kiện phát triển Phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh
Trang 6tế, định hướng phát triển, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế
2.Nhận thức mới về mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) khẳng định: “Trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân ”
Báo cáo Chính trị (Đại hội VII) chỉ rõ: thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới
Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối
và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước đi thích hợp Tích cực,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng
Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ
tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng thời xây
Trang 7dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ
chức Thật sự phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải
pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội
3 Nhận thức mới về đấu tranh giai cấp và về động lực chủ yếu phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam: “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, vị trí, tính chất của các giai cấp trong xã hội đã có nhiều thay đổi cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội Mối quan hệ giữa các
Trang 8giai cấp, tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công,…”
Động lực chủ yếu phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội
4 Nhận thức mới về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị ở nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý; trong đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có chức năng thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng
trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây
Trang 9dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân
và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo,
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò quan trọng trong việc phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại diện; đồng thời, làm chủ trực tiếp ở cơ sở thông qua cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; làm chủ thông qua hình thức tự quản
5 Nhận thức mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị
Thuật ngữ về “xây dựng nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VII
Các Hội nghị và Đại hội Đảng sau đó tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và làm rõ thêm nội dung của nó:
+ Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật
+ Pháp luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
+ Người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng, sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội để cử tri lựa chọn và bầu những người thực
Trang 10sự tiêu biểu vào Quốc hội Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách; có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri Cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội, chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội và
đoàn đại biểu Quốc hội Nghiên cứu, giao quyền chất vấn cho Hội đồng Dân tộc và
các uỷ ban của Quốc hội Tiếp tục phát huy dân chủ, tính công khai, đối thoại trong thảo luận, hoạt động chất vấn tại diễn đàn Quốc hội
6 Nhận thức mới về vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị
Nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hệ thống chính trị Đảng Cộng sản cầm quyền là Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước Đảng quan tâm xây dựng, củng cố Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, phát huy vai trò của các thành tố này trong quản lý, điều hành xã hội Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng
bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các