Sự thể nghiệm đầu tiên về mô hình công nghiệp hóa ở một nướcnông nghiệp lạc hậu 1960 - 1975 1.Mục tiêu cơ bản xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây
Trang 1Phân tích cơ sở lý luận triết học của đường lối CNH-HĐH ở nước ta
hiện nay <đường lối>
I Những đặc điểm ảnh hưởng đến đường lối công nghiệp hóa của
Đảng
1 Đất nước bị chia cắt, công nghiệp hóa chỉ diễn ra ở miền Bắc
Đường lối công nghiệp hóa đất nước đã được hình thành từ Đại hội III (tháng 9-1960) của Đảng Quá trình công nghiệp hóa của nước
ta diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và không thuận chiều Thực hiện công nghiệp hóa được 4 năm (1960 – 1964) thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc Đất nước phải trực tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng kinh tế, miền Nam thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc
2 Nền kinh tế nghèo nàn, nông nghiệp lạc hậucông nghiệp què quặt
Miên Bắc vừa phải xây dựng CNXH vừa phải chiến đấu chống
Mỹ Điểm xuất phát của Việt Nam khi bước vào thực hiện CNH rất thấp Năm 1960, công nghiệp chiếm tỷ trọng18,2% và 7% lao động
xã hội; tương ứng nông nghiệp chiếm tỷ trọng 42,3% và 83% Sản lượng lương thực/người dưới 300 kg; GDP/người dưới 100 USD Trong khi phân công lao động chưa phát triển và LLSX còn ở trình
độ thấp thì QHSX đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu ( đến năm 1960: 85,8% nông dân vào HTX; 100% hộ tư sản được cải tạo, gần 80% thợ thủ công cá thể vào HTX tiểu thủ công nghiệp).
3 Nhận được sự giúp đỡ có hiệu quả của các nước XHCN anh em
Trang 2II Sự thể nghiệm đầu tiên về mô hình công nghiệp hóa ở một nước
nông nghiệp lạc hậu (1960 - 1975)
1.Mục tiêu cơ bản
xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều
giai đoạn
+ Về cơ cấu kinh tế, Đảng xác định: kết hợp công nghiệp với nông
nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng (Tỷ trọng giá trị công
nghiệp tăng từ 18,2% /1960 lên 22,2%/1965; 26,6%/1971; 28,7%/1975)
+ Về chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, Hội nghị TW lần thứ 7 (khóa
III) nêu phương hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp là:
•Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý.
•Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp.
•Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng (Vốn đầu tư cho công nghiệp nặng trong thời kỳ
1960 - 1975 tăng 11,2 lần, cho công nghiệp nhẹ tăng 6,9 lần, nông nghiệp tăng 6 lần)
•Ra sức phát triển công nghiệp trung ương, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương (Hình thành các trung tâm công nghiệp như Hải Phòng, Quảng Ninh, Việt Trì, Thái Nguyên, Nam Định…)
=> Về thực chất, đây là sự lựa chọn mô hình chiến lược CNH thay thế nhập khẩu mà nhiều nước, cả nước XHCN và nước TBCN đã và đang thực hiện lúc đó Chiến lược này được duy trì trong suốt 15 năm ở miền
Trang 33.Thực hiện
- Về vốn
- Xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở kinh tế tư nhân, tập trung cho khu vực
công nghiệp quốc doanh
- Xây dựng và củng cố thị trường XHCN thống nhất.
- Tích cực đào tạo cán bộ KHKT và công nhân lành nghề
- Đẩy mạnh phong trào thi đua
4.Kết quả
Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới diễn ra trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, những tiền đề vật chất cần thiết cho công nghiệp hóa còn hết sức hạn chế và trong điều kiện có chiến tranh phá hoại Mặc dù vậy, quá trình công nghiệp hóa vẫn đạt được
những kết quả quan trọng.Một nền công nghiệp dân tộc đã hình
thành ở miền Bắc Việt Nam, điều không thể có dưới chế độ thực dân mà cái đinh, sợi chỉ cũng phải nhập Ngày nay, miền Bắc Việt Nam bắt đầu sản xuất một số công cụ và phần lớn hàng tiêu dùng thiết yếu Điều đáng ghi nhận là người ta cũng đã xây dựng một số ngành quan trọng của công nghiệp nặng.
Trang 4Bốn tháng sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, vào tháng 9-1975, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) triệu tập Hội nghị lần thứ 24 để quyết định nhiệm vụ cách mạng cả nước trong thời kì mới
Hội nghị nêu rõ cả nước có chung nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng trong thời kì đầu, do những đặc điểm riêng, cách mạng mỗi miền có những yêu cầu khác nhau Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta được Đảng chính thức đề ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV; sau đó tiếp tục được bổ sung, điều chỉnh và phát triển trong các Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc
1- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12-1976)
Đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng cả nước, Đảng ta quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976 tại thủ
đô Hà Nội
Trên cơ sở phân tích tình hình mọi mặt của đất nước, Báo cáo chính trị nêu lên 3 đặc điểm lớn:
-Một là, "Nước ta vẫn ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa" Đây là đặc điểm lớn nhất của nước ta trên bước đường đi lên chủ nghĩa xã hội Đặc điểm này đã quy định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để; đồng thời cũng quy định tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp của quá trình đó
- Hai là, cả nước hoà bình, độc lập và thống nhất đang tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh và các tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra
-Ba là, hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song cuộc đấu tranh "ai thắng ai" giữa cách mạng và phản cách mạng còn rất gay go và phức tạp
Trang 5Vì vậy, bản Báo cáo chính trị đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học-kĩ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học-kĩ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội"
-Đường lối kinh tế của nước ta trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là
"Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chu nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công-nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học, kĩ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc" Đảng ta chỉ rõ: Trong 5 năm (1976 - 1980), phải "tập trung cao độ sức của cả nước, của các ngành, các cấp tạo ra một bước phát triển vượt bậc về công nghiệp;
ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp; phát triển công nghiệp nhẹ và công
Trang 6nghiệp thực phẩm (bao gồm cả tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp) nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và một phần quan trọng hàng tiêu dùng, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, tạo tích luỹ cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa"
Kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 có vị trí hết sức quan trọng, bởi vì nó vừa phải giải quyết những hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh và của chủ nghĩa thực dân mới , vừa phải tổ chức lại nền kính tế vốn nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong cả nước, đặt cơ sở cho sự nghiệp công nghiệp hoá nước nhà
III- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng và kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981 - 1985)
1- Đại hội đại biểu toàn quốc tần thứ V của Đảng (3-1982)
Đại hội họp từ ngày 27 đến 3 1 -3- 1982 tại thủ đô Hà Nội Tham dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt hơn 1.727.000 đảng viên trong cả nước Đại hội đã thảo luận và nhất trí thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đại hội khẳng định: "Năm năm qua được ghi vào lịch sử dân tộc như một đoạn đường thắng lợi rất vẻ vang của cách mạng Việt Nam" :
Đại hội nêu rõ: " trong giai đoạn mới của cách mạng, toàn dân, toàn quân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải đoàn kết một lòng, ra sức phấn đấu làm hai nhiệm vụ chiến lược:
Một là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Hai là sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"
Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ do Đại hội lần thứ IV đề ra Đường lối chung và đường lối kinh tế chỉ đạo mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong cả thời kì quá độ
Tuy nhiên, đến Đại hội V, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kì quá
Trang 7độ bắt đầu có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển, cụ thể hoá cho cả nước, cũng như cho từng ngành, từng lĩnh vực, sát với những điều kiện lịch sử của đất nước, với những yêu cầu và khả năng của nhân dân ta trong từng chặng đường
Đại hội xác định thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải trải qua nhiều chặng đường Chặng đường trước mắt bao gồm 5 năm (1981 - 1985) và kéo dài cho đến năm 1990, là khoảng thời gian có tầm quan trọng đặc biệt Đây "là chặng đường tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải tạo xã hội chủ nghĩa, tăng cường hơn nữa sự nhất trí về chính trị và tinh thần của nhân dân, giảm bớt và khắc phục khó khăn, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, chặn đứng và loại trừ các biểu hiện tiêu cực, đạt những tiến bộ quan trọng trong mọi lĩnh vực, tạo ra thế cân đối mới của nền kinh tế, đồng thời chuẩn bị cho những bước tiến vững chắc và mạnh
mẽ hơn trong những chặng đường tiếp theo"
Căn cứ vào đường lối của Đảng và xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế quốc dân, Đại hội xác định những mục tiêu kinh tế - xã hội tổng quát của chặng đường đầu trong thời kì quá độ là: Đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu nhất, dần dần ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm, đáp ứng tết hơn những nhu cầu về mặc, học hành, chữa bệnh, về ở, đi lại về chăm sóc trẻ em và các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu khác Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng thêm trang bị kĩ thuật cho sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng trong chặng đường tiếp theo Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh miền Nam; tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nước Đáp ứng các nhu cầu của công cuộc phòng thủ đất nước, củng cố quốc phòng và giữ vững an ninh, trật tự
an toàn xã hội
Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 8(nội dung phát triển: đg lối CNH HĐH 3,4 từ đó thể hiện sự phát triển trg nhận thức, tính đúng đắn của đg lối đó tính đúng đắn suy ra lý luận thực tiễn)
Giai đoạn 1986-1996
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986)- Đại hộ được đánh dấu là bước ngoặt lịch sử trong việc đổi mới tư duy và đường lối phát triển đất nướckhẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học Đại hội nhận định: Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp Thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu do Đại hội thứ V đề ra, nhân dân ta đã anh dũng phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Đại hội cũng nhận rõ: Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân
Đại hội cũng nhận rõ: Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân
Về nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, Đại hội nhấn mạnh trong những năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước đã
có nhiều thiếu sót Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm “trong việc xác định mục tiêu
và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản
lý kinh tế” Đại hội thẳng thắn cho rằng: “Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến
Trang 9lược và tổ chức thực hiện”, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận
Từ thực tiễn, Đại hội nêu lên những bài học quan trọng:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng
“lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới
Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói rằng, trong tòan bộ sự đổi mới này, đổi mới tư duy kinh tế là nội dung trọng yếu, có vai trò đặc biệt quan trọng Với sự thay đổi nhận thức về cơ chế và phương thức vận hành nền kinh tế như vậy, nhận thức về công nghiệp hóa cũng có
sự thay đổi mạnh mẽ đặc biệt trong chính sách công nghiệp- công cụ chủ yếu để Chính phủ can thiệp và tiến trình công nghiệp hóa Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế: sản xuất lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu
Đại hội Đảng lần thứ VII(1991), với việc đưa ra cương lĩnh Phát triển đất nước (hội nghị Đại biểu Toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng), nhận thức về công nghiệp hóa có một bước tiến quan trọng: tư tưởng công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nêu rất hay cho cách đặt vấn đề CNH trước đây (không có mệnh đề hiện đại hóa) Hiện đại hóa được coi là bộ phận quan trọng của chiến lược CNH Tiếp đó, Hội nghị Trung ương VII khóa VII (7/1994) đã bước đầu cụ thể hóa ý tưởng CNH, HĐH để
đi tới chỗ hình thành đường lối CNH,HĐH; xác định quan điểm mục tiêu, các chủ trương và các chính sách, biệm pháp thực hiện CNH,HĐH; xác định quan điểm, mục tiêu, các chủ trương và chính sách, biệp pháp thực hiện CNH,HĐH
Trong văn kiện hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương khóa VII có viết
“Quá trình CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động
Trang 10kinh tế -xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng công nghệ và phương tiện hiện đại tạo ra năng suất cao Đối với nước ta đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ.Ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ mới.Như vậy CNH-HĐH không chỉ là một quá trình tất yếu khách quan đối với nước ta mà chúng ta có sẵn những cơ sở
lý luận vững chắc để áp dụng vào thực tế nền kinh tế nước ta
Nhận xét:
Sớm nhận thức được những biểu hiện chưa phù hợp của các chính sách kinh tế Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chủ trương mới nhằm khắc phục khiếm khuyết tiếp tục thúc đẩy sự CNH, HĐH của đất nước.Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quá trình CNH ở nước ta.Đại hội cũng là đại hội của thời kỳ đổi mới của đất nước đại hội nhận định đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là một thời kỳ lâu dài và gian khổ trải qua nhiều chặng đường và chúng ta hiện đang ở chặng đường đấu tiên của nhiệm vụ đề
ra là: “ổn định mọi mặt tình hình kinh tế- xã hội tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH trong chặng đường tiếp theo” Trong 5 năm trước mắt (1986-1990) cần tập sức người của thực hiện bằng được những mục tiêu của 3 chương trình kinh tế: lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu nội dung của chương trình kinh tế là sự cụ thể hóa nội dung chính của CNH-HĐH trong chặng đường đầu tiên Bước đầu ta đã đạt được thành tựu mới xây dựng mới: xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước phát triển quan điểm kinh tế của đại hội VI, Hội nghị ban chấp hành trung ương đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH Trong chính sách này chúng ta đã chuyển từ công tác kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch hóa định hướng là chủ yếu trong thời gian này đường lối mới của Đảng đề ra từ Đại hội VI đã thu được nhiều thành quả bước đầu rất quan trọng trước tiên trong kinh tế-xã hội đời sống nhân dân được cải thiện dần dần, ổn định sản lượng lương thực tăng nhanh đáp ứng nhu cầu trong nước hàng hóa đa dạng thị trường mở rộng, các cơ sở sản xuất gắn liền với nhu cầu thị trường phần bao cấp của nhà nước về vốn, giá, tiền lương giảm đáng kể lạm phát được kiềm chế mọt bước các cơ sở kinh tế có điều kiện hoạch toán kinh doanh, mọi mặt của đời sống được nâng lên