1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NCKH cấp cơ sở - Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 theo phân loại của Robson tại bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh năm 2019

47 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề NCKH cấp cơ sở - Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 theo phân loại của Robson tại bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh năm 2019
Tác giả Nguyễn Văn Cường
Trường học Bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh
Chuyên ngành Y học Sản Nhi
Thể loại Nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 5,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1.TỔNG QUAN (0)
    • 1.1. Sơ lược về lịch sử mổ lấy thai (9)
    • 1.2. Các chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 theo phân loại Robson (10)
    • 1.3. Các phương pháp mổ lấy thai (12)
    • 1.4. Các phẫu thuật phối hợp khi mổ lấy thai (14)
    • 1.5. Các phương pháp vô cảm trong mổ lấy thai (16)
    • 1.6. Các biến chứng thường gặp trong mổ lấy thai (17)
    • 1.7. Tình hình mổ lấy thai trên Thế giới và Việt Nam (18)
    • 1.8. Thực tế tỷ lệ mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi (21)
    • 1.9. Phân loại 10 nhóm cua Robson (22)
    • 1.10. Chiến lược giảm tỷ lệ mổ lấy thai lần đầu (25)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (0)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (27)
      • 2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (27)
      • 2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ (27)
      • 2.2.3. Cỡ mẫu (27)
      • 2.2.4. Phương pháp chọn mẫu (28)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.3.2. Các biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn (28)
    • 2.4. Phương pháp thu thập thông tin và và xử lý số liệu (30)
    • 2.5. Đạo đức nghiên cứu (31)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (0)
  • KẾT LUẬN (42)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 theo phân loại của Robson tại bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh năm 2019

QUAN

Sơ lược về lịch sử mổ lấy thai

Mổ lấy thai là phẫu thuật nhằm lấy thai, rau, màng ối ra khỏi buồng tử cung qua đường rạch ở thành bụng và thành tử cung còn nguyên vẹn.

Phẫu thuật lấy thai đã có lịch sử từ hàng trăm năm trước Công Nguyên Vào khoảng năm 715 trước Công Nguyên, hoàng đế La Mã Numa Popilius đã ban hành một đạo luật yêu cầu các bà mẹ mang thai khi qua đời chỉ được chôn cất sau khi thai nhi được phẫu thuật lấy ra Điều này cho thấy rằng, trong thời kỳ đầu, phẫu thuật lấy thai chủ yếu được thực hiện trên những người đã chết.

Trong suốt thời gian dài, MLT không có nhiều tiến bộ Đến những năm 1610, vào đầu thế kỷ XVI, Jeremih Trantann (Ý) đã thực hiện ca mổ lấy thai đầu tiên trên người sống, tuy nhiên, người mẹ chỉ sống sót được một thời gian ngắn.

Sau 25 ngày phẫu thuật, vào năm 1794, ca phẫu thuật thành công đầu tiên đã cứu sống cả mẹ và con tại Virginia, Mỹ Phương pháp mổ lấy thai ban đầu chỉ thực hiện bằng cách rạch thân tử cung mà không khâu phục hồi, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao do chảy máu và nhiễm trùng, với tỷ lệ tử vong mẹ lên tới 85% ở Anh, 100% ở Áo và 95% ở Pháp vào năm 1865 Năm 1876, Eduardo Porro đã thực hiện thành công phẫu thuật cắt tử cung bán phần và khâu mỏm cắt vào thành bụng, với 50 ca thành công trong 4 năm sau đó, được gọi là “phẫu thuật Cesar tận gốc” Đến năm 1882, Mark Sanger đã giới thiệu phương pháp rạch dọc thân tử cung để lấy thai và khâu phục hồi, mang lại kết quả khả quan hơn, được biết đến ngày nay là MLT theo phương pháp cổ điển, mặc dù vẫn được áp dụng trong một số trường hợp khó khăn.

Vào năm 1805, Ossiander đã mô tả phẫu thuật rạch dọc đoạn dưới tử cung để lấy thai, nhưng đến năm 1906, Frank đã cải tiến phương pháp này William và Delee đã giúp phổ biến kỹ thuật, trong khi Frank là người đầu tiên so sánh mổ dọc thân tử cung với mổ dọc đoạn dưới tử cung Năm 1926, Keer đã đề xuất chuyển sang rạch ngang đoạn dưới tử cung, tạo ra bước tiến quan trọng trong phẫu thuật lấy thai, được áp dụng rộng rãi cho đến nay Tại Việt Nam, vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, mổ lấy thai lần đầu tiên được thực hiện tại khoa sản bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) theo phương pháp cổ điển, sau đó giáo sư Đinh Văn Thắng đã áp dụng mổ ngang đoạn dưới, hiện đang được sử dụng phổ biến trên toàn quốc.

Các chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 theo phân loại Robson

1.2.1 Các chỉ định mổ lấy thai trong chuyển dạ.

1.2.1.1 Nguyên nhân về phía mẹ:

- Cơn co cường tính, cơn co thưa yếu điều chỉnh không kết quả.

- Cổ tử cung không tiến triển, sẹo rách cổ tử cung.

- Cao huyết áp, tiền sản giật, sản giật.

- Bệnh tim và các bệnh nội khoa khác.

- Ung thư cổ tử cung tại chỗ hoặc xâm lấn.

1.2.1.2 Nguyên nhân về phía thai

- Thai suy cấp trong chuyển dạ.

- Nghiệm pháp lọt thất bại.

- Thai già tháng kèm theo yếu tố nguy cơ như: ối bẩn, hết ối hoặc theo dõi trên mornitoring có nhịp bất thường thì mổ lấy thai.

1.2.1.3 Chỉ định về phía phần phụ của thai

- Rau tiền đạo bán trung tâm: rau bám mép, bám thấp sau khi bấm ối mà vẫn chảy máu hoặc CTC không tiến triển thì MLT

- Rau bong non: mổ cấp cứu.

Dây rau là một tình huống cấp cứu trong sản khoa cần được xử lý ngay để tránh nguy cơ thai nhi bị chết Nếu tim thai đã ngừng đập, việc mổ không còn cần thiết do tính chất cấp cứu đã không còn.

+ Nếu thai còn sống, đủ điều kiện lấy thai bằng forceps

+ Nếu thai sống nhưng không đủ điều kiện đặt forceps thì MLT ngay

* Do ối: ối vỡ sớm hoặc ối giảm dưới 40mm, rỉ ối mà xé màng ối truyền đẻ chỉ huy cổ tử cung không tiến triển thì MLT.

Trong những trường hợp chuyển dạ kéo dài, ngôi chỏm chưa lọt hoặc còn cao trong tiểu khung, việc sử dụng oxytocin không đúng chỉ định hoặc quá liều có thể dẫn đến phình to đoạn dưới tử cung, dọa vỡ Nếu thai nhi bình thường hoặc đã suy mà không thể lấy thai qua thủ thuật đường ÂĐ, cần xem xét thực hiện MLT.

1.2.2 Lý do xã hội Đây là những chỉ định mà nguyên nhân không phải là các yếu tố về chuyên môn gây đẻ khó dẫn tới MLT mà xuất phát từ mong muốn, nguyện vọng của sản phụ và gia đình sản phụ [7] như:

- Mẹ nhiễm HIV, Hecpec sinh dục

- Thai nghén hiện tại là con trai

- Chồng là con trai duy nhất trong nhà

Các phương pháp mổ lấy thai

Mổ thân tử cung được chỉ định trong các trường hợp như phong huyết tử cung - rau, mẹ bị suy tim, hoặc khi có khối u tiền đạo lớn như u xơ to ở đoạn dưới Ngoài ra, mổ cũng cần thiết khi tử cung xơ hóa toàn bộ với nhiều u xơ không thể bảo tồn, hoặc khi không thể rạch ở đoạn dưới tử cung do các yếu tố cản trở như u xơ tử cung to ở mặt trước eo tử cung, và trong trường hợp xoắn tử cung mà không thể xoay về vị trí giải phẫu ban đầu.

Sau khi vào ổ bụng, tiến hành rạch dọc theo đường giữa phía trước thân tử cung dài từ 12-15cm Thai được lấy ra bằng cách kéo chân ra ngoài, sau đó bóc rau và màng rau, đồng thời lau sạch buồng tử cung bằng gạc Vết rạch tử cung được khâu bằng 2 lớp chỉ Vicryl 1.0, đảm bảo không có khoảng trống giữa hai lớp khâu Cuối cùng, đóng thành bụng sau khi kiểm tra vòi trứng và buồng trứng hai bên, đảm bảo không còn sót gạc hay dụng cụ trong ổ bụng.

Mổ thân tử cung có thể gặp phải một số biến chứng nghiêm trọng, bao gồm chảy máu nhiều, đờ tử cung sau phẫu thuật, nhiễm trùng, viêm phúc mạc vùng tiểu khung, viêm phúc mạc toàn thể, sót gạc tạo thành ổ mủ và dính ruột.

1.3.2 Mổ đoạn dưới tử cung lấy thai

Hình 1.1 Phương pháp mổ lấy thai ngang đoạn dưới tử cung

(Trích từ các kỹ thuật trong sản phụ khoa tập I,

Kỹ thuật mổ này được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế trên toàn quốc, với đường rạch bụng có thể theo đường giữa trên rốn hoặc ngang trên vệ Sau khi vào ổ bụng, cần kiểm tra tử cung và đưa về vị trí trung gian, thường lệch sang phải Tiến hành chèn gạc hai bên và mở phúc mạc ở mặt trước đoạn dưới tử cung, cách bàng quang khoảng 3 cm, sau đó bóc tách phúc mạc theo đường ngang cong lên trên dài khoảng 12-15 cm Rạch ngang đoạn dưới tử cung khoảng 4-5 cm, cần rạch nhẹ nhàng và kiểm tra để tránh cắt phải thai Đoạn dưới thường được mở rộng dài 12-15 cm để lấy thai, rau và nước ối, sau đó lau sạch buồng tử cung và khâu phục hồi lại đoạn dưới tử cung bằng chỉ vicryl 1.0, kiểm tra không chảy máu và có thể khâu phủ phúc mạc hoặc không bằng chỉ catgut nhỏ Cuối cùng, kiểm tra buồng trứng và vòi trứng hai bên để đảm bảo không còn sót gạc và dụng cụ trong ổ bụng trước khi đóng bụng.

1.3.3 Khâu phục hồi tử cung

Khâu phục hồi cơ tử cung có hai kỹ thuật.

- Khâu hai lớp có thể khâu mũi rời hoặc khâu mũi vắt, lớp khâu sau có nhiệm vụ vùi lớp khâu trước.

- Khâu một lớp có thể khâu mũi rời hoặc khâu mũi vắt.

- Mũi khâu ở hai góc nên khâu kiểu chữ X.

Khi thực hiện khâu phục hồi tử cung, cần lấy hết chiều dày của lớp cơ tử cung và chú ý đến mép dưới của cơ tử cung, vì mép này thường bị tụt xuống thấp và che lấp sau bàng quang Đồng thời, nên chừa lại lớp nội mạc tử cung để tránh tình trạng lạc nội mạc.

TC ở vết mổ sau này.

- Sau khi khâu xong lớp cơ tử cung phải kiểm tra cầm máu cẩn thận trước khi phủ phúc mạc.

- Phủ phúc mạc đoạn dưới bằng chỉ tiêu, mũi khâu vắt Ngày nay ít được các phẫu thuật viên sử dụng.

Các phẫu thuật phối hợp khi mổ lấy thai

1.4.1 Mổ lấy thai tiếp theo cắt tử cung

+ Đờ TC đã điều trị nội khoa thất bại.

+ Chảy máu diện rau bám trong rau tiền đạo không cầm máu được. + Rau bong non thể phong huyết tử cung rau có biểu hiện rối loạn đông máu.

+ Sản phụ bị các bệnh nội khoa mạn tính nặng, đặc biệt là bệnh tim.

Kỹ thuật cắt tử cung bán phần là lựa chọn ưu tiên Nếu sau khi thực hiện cắt tử cung bán phần mà vẫn có hiện tượng chảy máu do rau bám, cần tiến hành cắt tử cung hoàn toàn để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.

1.4.2 Mổ lấy thai và bóc u xơ tử cung, u nang buồng trứng

Chỉ thực hiện bóc tách u xơ tử cung và u nang buồng trứng khi có đủ điều kiện thuận lợi, bao gồm vị trí dễ bóc, không có dấu hiệu nhiễm khuẩn ối, và sự hỗ trợ của phẫu thuật viên có kinh nghiệm cùng với gây mê hồi sức tốt Nếu không đáp ứng đủ các yếu tố này, nên xem xét hoãn mổ để thực hiện sau.

1.4.3 Mổ lấy thai và thắt động mạch tử cung

- Mục đích làm giảm lưu lượng máu đến TC.

+ Chảy máu ở buồng TC do những nguyên nhân khác nhau.

+ Chảy máu ở vùng rau bám trong rau tiền đạo.

+ Mở phúc mạc đoạn dưới tử cung.

+ Bộc lộ động mạch tử cung.

+ Thắt động mạch tử cung.

+ Khâu phúc mạc rồi tiếp tục thắt động mạch tử cung bên đối diện

1.4.4 Mổ lấy thai và thắt động mạch hạ vị

- Mục đích làm giảm lưu lượng máu đến các cơ quan vùng tiểu khung tức thời.

- Chỉ định: rau tiền đạo, rách hoặc chấn thương đoạn dưới TC.

Rạch phúc mạc thành sau nằm tương đương với vị trí của động mạch hạ vị Để xác định điểm mốc, từ mỏm nhô ngang, di chuyển sang hai bên 3 cm Có thể sử dụng ngón tay trỏ để thăm dò động mạch chậu gốc bên phải và bên trái, dựa vào vị trí mạch đập, sau đó tiếp tục xuống đến chỗ phân nhánh của động mạch chậu ngoài và động mạch chậu trong.

+ Bộc lộ niệu quản và động mạch hạ vị.

+ Thắt động mạch hạ vị.

+ Khâu vết cắt phúc mạc thành sau

Các phương pháp vô cảm trong mổ lấy thai

1.5.1 Gây mê nội khí quản

- Chỉ định: cho mọi trường hợp MLT.

- Các bước tiến hành: chuẩn bị bệnh nhân, tiền mê, khởi mê, duy trì mê, thoát mê.

- Tai biến hay gặp: trào ngược dịch dạ dày vào phổi và đặt NKQ khó.

1.5.2 Gây tê tuỷ sống Đây là kỹ thuật vô cảm chủ yếu cho MLT trên thế giới cũng như ở Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây.

- Chống chỉ định trong các trường sau:

+ Sản phụ từ chối làm.

+ Bệnh của hệ thống đông máu vì nguy cơ chảy máu.

+ Đang điều trị chống đông máu.

+ Nhiễm trùng vùng lưng nơi gây tê.

+ Những trường hợp cần lấy thai nhanh.

+ Tăng áp lực nội sọ.

+ Nguy cơ hạ huyết áp.

+ Một số bệnh thần kinh.

+ Dị ứng với thuốc tê.

- Các biến chứng thường gặp: hạ áp, đau đầu sau gây tê, rét run, nôn - buồn nôn.

Hiện nay rất ít được sử dụng

Các biến chứng thường gặp trong mổ lấy thai

1.6.1 Biến chứng khi phẫu thuật

Chảy máu có thể xảy ra do tụt chỉ buộc các cuống mạch hoặc tại vết gỡ dính do can thiệp tại ổ bụng vì nguyên nhân không phải mổ lấy thai, như diện rau bám của rau tiền đạo, rối loạn đông máu trong các bệnh lý như rau bong non, tiền sản giật, đờ tử cung, tổn thương động mạch tử cung, và rách đoạn dưới Mặc dù phẫu thuật có thể diễn ra thuận lợi, lượng máu mất thường nhiều hơn so với cuộc đẻ thường Nghiên cứu của Robin Elise Weiss (Mỹ) cho thấy lượng máu mất trung bình trong mổ lấy thai gấp đôi so với đẻ đường âm đạo.

- Chấn thương ruột: Thường gặp trong phẫu thuật cũ ổ bụng có dính

Rạch vào bàng quang có thể xảy ra khi thực hiện rạch ngang đoạn dưới để bóc tách bàng quang hoặc trong quá trình lấy thai, dẫn đến việc bàng quang bị rách Nếu khâu không đúng cách, mép bàng quang có thể bị lộn vào vết mổ, gây ra tình trạng rò bàng quang tử cung hoặc rò bàng quang âm đạo.

- Cắt hoặc thắt vào niệu quản khi cặp động mạch tử cung hoặc khi khâu cầm máu ở hai mép cắt khi rách

- Các tai biến của gây mê: Hội chứng hít trong gây mê nội khí quản, tụt huyết áp, đau đầu, tê cứng gáy trong gây tê tủy sống.

1.6.2 Các biến chứng sau phẫu thuật: từ 12 giờ đầu trở đi

Với tiến bộ của y học và dược học thì những biến chứng sau mổ sẽ càng ngày càng ít dần đi

Nhiễm trùng hậu phẫu là một trong những biến chứng phổ biến, bao gồm viêm phúc mạc, viêm nội mạc tử cung, nhiễm trùng vết rạch, toác vết rạch và nhiễm trùng tiểu khung.

Chảy máu do nhiễm trùng tổn thương đến mạch máu vùng rạch là một biến chứng thường gặp sau phẫu thuật, xảy ra từ ngày thứ 20 đến 2 tháng sau Biến chứng này thường yêu cầu phẫu thuật cắt tử cung thấp ở dưới vết rạch ngang đoạn dưới tử cung.

- Nhiễm trùng tiết niệu: đái buốt, đái giắt, bí đái

- Tắc ống dẫn trứng gây vô sinh thứ phát.

- Lạc nội mạc tử cung.

- Thoát vị thành bụng: Hiếm gặp.

- Tử vong mẹ: Hiếm gặp.

Mổ lấy thai có thể làm tăng nguy cơ cho các lần sinh sau, bao gồm chửa vết mổ, rau cài răng lược và vỡ tử cung, đặc biệt là nguy cơ phải mổ lại rất cao Theo thống kê của Viện BVBMTSS năm 1997, tỷ lệ mổ lại ở những người có sẹo cũ lên tới 91,9%.

- Thai non tháng do không nhớ ngày dự kiến sinh hay kinh cuối cùng

- Ảnh hưởng của các phương pháp vô cảm khiến cho điểm Apgar của trẻ thấp hơn bình thường

- Có thể gặp sang chấn gãy xương chi khi lấy thai, rạch vào phần thai khi mở tử cung, xuất huyết não do sang chấn khi lấy thai

Mổ lấy thai mang lại lợi ích cho mẹ và thai nhi khi được chỉ định đúng và đủ điều kiện Tuy nhiên, phương pháp này cũng tiềm ẩn nguy cơ tai biến cho cả mẹ và con trong quá trình mổ, sau mổ, và trong các lần mang thai tiếp theo Với xu hướng chỉ định mổ ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các trường hợp sinh con so, tỷ lệ mổ lấy thai có thể tiếp tục tăng Do đó, cần nghiên cứu và điều chỉnh để giảm thiểu tối đa các tai biến và biến chứng cho mẹ và con.

Tình hình mổ lấy thai trên Thế giới và Việt Nam

Nghiên cứu của Theo Hyattsville MD và cộng sự chỉ ra rằng tỷ lệ mổ lấy thai tại Hoa Kỳ đã tăng nhanh chóng trong 20 năm qua, từ 21% vào năm 1996 lên 32.8% vào năm 2011 Đặc biệt, tỷ lệ mổ ở các lần sinh sau đạt 90%, góp phần làm gia tăng tỷ lệ mổ lấy thai chung từ 20,7% năm 1996 lên 29,1% vào năm 2004.

Tại Hy Lạp, nghiên cứu của Tampkoudis P và các cộng sự về tình hình mổ lấy thai tại bệnh viện Thessaloniki đã phân tích 34,575 sản phụ trong hai giai đoạn: 1977 - 1983 và 1994 - 2000 Kết quả cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai con so đã tăng nhanh từ 6,1% trong giai đoạn 1977 - 1983 lên 19% trong giai đoạn 1994 - 2000.

Chin-Yuan Hsu và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu trên 55,114 sản phụ đẻ con so tại Đài Loan vào năm 2000, cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai con so đạt 21% Các chỉ định chính cho mổ lấy thai bao gồm ngôi thai bất thường (34,7%), bất tương xứng thai - khung chậu (13,6%), chuyển dạ kéo dài (23,0%), và suy thai (10,1%), trong khi phần còn lại là do các nguyên nhân khác.

Bảng 1.1 Tình hình mổ lấy thai ở một số nước

Năm Tác giả Nước Tỷ lệ (%)

Tại Việt Nam, tỷ lệ mổ lấy thai đã tăng lên theo thời gian, với số liệu năm 2002 cho thấy tỷ lệ này đạt 9,9% Cụ thể, năm 1992, tỷ lệ mổ lấy thai tại viện BVBMTSS là 22,25%, trong khi tại khoa sản bệnh viện Bạch Mai chỉ là 7,0% Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhằm kiểm soát tỷ lệ mổ lấy thai, nhưng kết quả vẫn chưa đạt được như mong đợi.

Lê Thanh Bình đã tiến hành nghiên cứu về nguyên nhân chỉ định mổ lấy thai ở 246 sản phụ con so tại viện BVBMTSS trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 04 năm 1993 Kết quả cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm sản phụ này là 24,83%.

Các chỉ định chính cho việc can thiệp bao gồm suy thai (22,86%), đầu không lọt (15,53%), con so lớn tuổi ối vỡ sớm (11,74%), CTC không tiến triển (15,14%), và ngôi mông (8,7%) Các nguyên nhân khác chiếm tỷ lệ còn lại.

Vũ Công Khanh đã tiến hành nghiên cứu về tình hình chỉ định mổ lấy thai tại viện BVBMTSS năm 1997, cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai chung đạt 34,6%, cao hơn so với các năm trước Các chỉ định mổ lấy thai tương tự như các nghiên cứu trước nhưng được mở rộng, bao gồm cả yếu tố xã hội Trong đó, chỉ định mổ lấy thai do mổ đẻ cũ chiếm tỷ lệ cao nhất với 21,65% tổng số ca, tiếp theo là chỉ định do cổ tử cung không tiến triển và suy thai Đáng chú ý, tỷ lệ mổ lấy thai ở các bà mẹ mang thai trai cao hơn so với các bà mẹ mang thai gái.

Nghiên cứu của TouchBunlong về chỉ định mổ lấy thai ở sản phụ con so trong hai năm 1999 và 2000 tại BVBMTSS cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai con so chiếm 29% tổng số ca đẻ, với 2811 sản phụ được khảo sát Các chỉ định mổ được phân loại thành bốn nhóm chính: nguyên nhân thai, nguyên nhân đường sinh dục của mẹ, bệnh lý của mẹ, và phần phụ của thai Đặc biệt, nhóm chỉ định do nguyên nhân thai chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 63,36%.

Vương Tiến Hòa đã thực hiện nghiên cứu hồi cứu mô tả 1936 trường hợp mổ lấy thai (MLT) tại BVPSTƯ trong năm 2002, cho thấy tỷ lệ MLT ở sản phụ đẻ con so là 33,44% Nghiên cứu xác định 37 nhóm chỉ định MLT, được phân loại thành 4 nhóm chính: nguyên nhân do thai, phần phụ của thai, nguyên nhân từ mẹ, và nguyên nhân xã hội Đỗ Quang Mai cũng đã nghiên cứu tình hình mổ lấy thai ở sản phụ con so.

Tại BVPSTƯ, tỷ lệ chỉ định MLT con so trong các năm 1996 và 2006 lần lượt là 28,71% và 37,09% Các chỉ định này được chia thành 5 nhóm: nhóm do đường sinh dục, nhóm do bệnh lý của người mẹ, nhóm do thai, nhóm do phần phụ của thai, và nhóm do nguyên nhân xã hội.

Bùi Thị Thúy đã tiến hành nghiên cứu về tình hình mổ lấy thai ở sản phụ con so tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa trong khoảng thời gian 5 năm từ 2009 đến 2013 Trong tổng số 222 sản phụ được khảo sát, tỷ lệ mổ lấy thai đạt 20,80%.

Bảng 1.2 Tỷ lệ mổ lấy thai con so tại Việt Nam

Năm Bệnh viện Tỷ lệ (%)

Thực tế tỷ lệ mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi

Bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận sản phụ từ tỉnh và các tỉnh lân cận như Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương Theo thống kê, năm 2016 có 11.115 sản phụ, trong đó 4.256 ca mổ lấy thai (MLT) chiếm 38,3% Năm 2017, có 7.053 sản phụ, với 3.296 ca MLT (46,7%) Năm 2018, số ca đẻ là 8.253, trong đó 3.755 ca MLT (45,4%) Tỷ lệ mổ lấy thai đang gia tăng nhanh chóng theo thời gian.

Cho tới nay chưa có một số liệu cụ thể về tỷ lệ mổ lấy thai theo phân loại của Robson tại bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh.

Phân loại 10 nhóm cua Robson

Hệ thống phân loại 10 nhóm tuân thủ nguyên tắc chuẩn, giúp thu thập và sắp xếp dữ liệu từ hồ sơ bệnh án Bảng phân loại này cho phép so sánh tỷ lệ MLT giữa các đơn vị và thời điểm khác nhau, từ đó tìm ra giải pháp giảm tỷ lệ MLT Đồng thời, nó cũng hỗ trợ phát triển chăm sóc nhi sơ sinh bằng cách cân bằng giữa việc giảm tỷ lệ MLT và giảm tỷ lệ bệnh suất, tử suất chu sinh.

Các phân nhóm sản phụ được xác định dựa trên năm đặc điểm chính: ngôi thai, số lượng thai, tiền sử sản khoa, diễn biến của chuyển dạ đẻ và tuổi thai Những khái niệm này sẽ được trình bày chi tiết trong phần dưới đây.

+ Con dạ không có vết mổ cũ trước đó

+ Con dạ có vết mổ cũ trước đó

- Quá trình chuyển dạ và sinh:

+ Mổ lấy thai trước chuyển dạ

- Tuổi thai: tính bằng tuổi thai theo tuần ở thời điềm sinh

Bốn nhóm khái niệm giúp phân loại sản phụ theo bảng phân loại Robson, với các đặc tính dễ dàng thu thập và lưu trữ từ hồ sơ bệnh án Thông tin lâm sàng được thu thập chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nữ hộ sinh và bác sĩ sản khoa, phụ thuộc vào việc đánh giá thời điểm sản phụ vào chuyển dạ và phương thức sinh.

Các khái niệm đã được trình bày bởi nhiều tác giả trước Robson, trong đó có bảng phân loại 18 nhóm được mô tả và so sánh giữa các bệnh viện Các khái niệm sử dụng bao gồm nhóm sản phụ, tiền sử sản khoa và tuổi thai, mà không đề cập đến chuyển dạ hay sinh Thay vào đó, các tình trạng bệnh kèm theo như THA, Đái tháo đường, và các dấu hiệu cần nhập viện như sốt, rau bong non, thiểu ối, thai chậm tăng trưởng trong tử cung, và cân nặng thai lớn hơn 4500g được nhấn mạnh Tuy nhiên, việc xác định và thu thập các dữ liệu này gặp nhiều khó khăn và sai lệch khi chỉ dựa vào hồ sơ bệnh án, và 18 nhóm trong bảng phân loại có thể là quá nhiều để so sánh ở giai đoạn đầu.

Giai đoạn tiếp theo trong phát triển phân loại 10 nhóm là áp dụng 4 khái niệm sản khoa và các thông số mô tả để xây dựng các nhóm lâm sàng phù hợp Tác giả Robson đã đề xuất một bảng phân loại gồm 10 nhóm, trong đó mỗi sản phụ được phân loại dựa trên 5 đặc điểm: tiền sử sinh con, số lượng thai, tuổi thai, tiền sử mổ lấy thai, và phương thức chuyển dạ (tự nhiên hoặc mổ lấy thai trước chuyển dạ) Điều này đảm bảo rằng mỗi sản phụ chỉ được xếp vào một nhóm nhất định, không trùng lặp, giúp việc lưu trữ thông tin trở nên dễ dàng hơn.

Bảng 1.3 phân loại 10 nhóm MLT theo Robson[1 ]

1 Con so, đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, chuyển dạ tự nhiên

2 Con so, đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, khởi phát chuyển dạ / MLT chủ động

3 Con rạ (không có VMC), đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, CD tự nhiên

4 Con rạ (không có VMC), đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần, khởi phát chuyển dạ / MLT trước khi có chuyển dạ

5 VMC, đơn thai, ngôi đầu, ≥ 37 tuần

6 Tất cả các trường hợp con so, ngôi ngược

7 Tất cả các trường hợp con rạ, ngôi ngược (bao gồm có VMC)

8 Tất cả các trường hợp đa thai (bao gồm có VMC)

9 Tất cả các trường hợp ngôi bất thường (bao gồm có VMC)

10 Tất cả các trường hợp đơn thai, ngôi đầu, ≤ 36 (gồm có VMC)

Sau khi phân loại sản phụ thành 10 nhóm, tác giả Robson đã tính toán tỷ lệ MLT cho từng nhóm, kích cỡ của từng nhóm và sự đóng góp của từng nhóm vào tỷ lệ MLT chung, với kết quả được trình bày trong bảng 1.2.

Bảng 1.4 bảng phân loại MLT theo Robson [6], [ 8 ]

Nhóm Số MLT Tần số Tỷ lệ

Tỉ lệ kích cỡ nhóm (%) Đóng góp vào tỷ lệ MLT chung (%) 1

Cấu trúc và cách trình bày bảng phân loại đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính chặt chẽ và chuẩn mực cho việc phân tích kết quả Việc phân tích một nhóm cụ thể trong bảng phân loại của Robson chỉ khả thi sau khi đã xem xét các khác biệt liên quan đến 9 nhóm còn lại.

Nhóm được mô tả trong cột đầu tiên, với thứ tự và mối quan hệ giữa các nhóm trong bảng phân loại rất quan trọng để phân tích dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác, nhằm tránh sai sót Hiện nay, tỉ lệ khởi phát chuyển dạ và MLT chủ động đang gia tăng mạnh mẽ trong 10 nhóm sản phụ, dẫn đến một số nhà nghiên cứu đề xuất chia nhỏ các nhóm chính của bảng phân loại Robson để thuận tiện cho việc so sánh tỉ lệ Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ phân loại theo nguyên bản của Robson.

Bảng phân loại 10 nhóm ở bệnh viện phụ sản mang lại lợi thế lớn nhờ vào tính dễ thực hiện WHO khuyến khích sử dụng bảng phân loại của Robson vì chỉ cần một nguồn lực nhỏ như hệ thống máy tính, mọi cơ sở y tế có thể phân loại MLT mà không cần đến máy móc hay công nghệ chuyên biệt.

Chiến lược giảm tỷ lệ mổ lấy thai lần đầu

Dựa vào phân tích bảng phân loại của Robson, nhóm số 1 bao gồm sản phụ con so, đơn thai, ngôi đầu, tuổi thai ≥ 37 tuần, có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ MLT hiện tại và tương lai Việc phân tích và đánh giá các yếu tố liên quan đến chỉ định MLT của nhóm này là cần thiết để giảm tỷ lệ MLT Các tác động cụ thể tới chỉ định và các yếu tố liên quan sẽ giúp cải thiện tình hình sức khỏe cho nhóm sản phụ này.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 bao gồm tâm lý sợ đau của sản phụ khi sinh thường, mong muốn sinh con vào ngày giờ đẹp để con có cuộc sống may mắn Văn hóa truyền thống ở một số vùng yêu cầu sinh con trai, kết hợp với chính sách khống chế số lần sinh, khiến sản phụ có tâm lý an toàn hơn khi xin mổ lấy thai, đặc biệt là những người có chồng là con trưởng Nghiên cứu cho thấy sản phụ có bảo hiểm y tế có xu hướng xin mổ nhiều hơn, và nhóm sản phụ có đời sống kinh tế khá, đặc biệt là công chức, cũng có tỷ lệ xin mổ cao hơn Ngoài ra, những sản phụ có tiền sử sản khoa nặng nề như khó mang thai hay thai lưu nhiều lần thường có tâm lý xin mổ, mặc dù chưa có chỉ định Tâm lý lo sợ rủi ro khi sinh thường và yêu cầu an toàn ngày càng cao từ phía người dân cũng khiến bác sĩ sản khoa nghiêng về mổ lấy thai hơn khi có yêu cầu từ sản phụ.

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh

- Thời gian: từ 12 tháng 3 năm 2019 đến 30 tháng 06 năm 2019.

Tất cả các sản phụ mang thai lần đầu, đơn thai, ngôi đầu, và có tuổi thai từ 37 tuần trở lên, khi chuyển dạ tự nhiên đều được đẻ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh trong vòng 12 tháng qua.

Những sản phụ có tinh thần không ổn định hoặc gặp rối loạn hành vi sẽ gặp khó khăn trong việc cung cấp thông tin cá nhân chính xác, cũng như tiền sử và bệnh sử của họ.

- Mổ lấy thai hoặc sau sinh từ nơi khác chuyển đến điều trị tại bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh.

Xácđịnh cỡ mẫu cho nghiên cứu theo công thức n =Z 2 1- α/2 p (1 - p) d²

Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu.

Z: Giới hạn tin cậy tương ứng với α= 0,05 -> Z1-α/2 = 1,96 p = 26,95% (là tỷ lệ mổ lấy thai nhóm 1 trong nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hoa tại bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Đắc Lắc 2018) p = 1- 0,2695= 0,7305 d: Sai số ước lượng, chọn d = 0,05. Áp dụng công thức (1) ta có: n = 1,96 2 x 0,2695 (1- 0,2695)/ 0,05 2 = 303

Do đó, cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu là 303 đối tượng.

Trên thực tế trong thời gian nghiên cứu có 351 đối tượng tham gia nghiên cứu.

Tại Bệnh Viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi tiếp nhận toàn bộ sản phụ là con so, mang thai đơn, ngôi đầu, và có tuổi thai từ 37 tuần trở lên, trong trường hợp chuyển dạ tự nhiên từ tháng 01.

03 năm 2019 đến khi đủ số liệu nghiên cứu.

2.3.2 Các biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn.

Các biến số nền và đặc điểm thai kỳ của sản phụ, bao gồm tuổi thai, phương pháp sinh và lý do mổ lấy thai, được thu thập từ toàn bộ dân số nghiên cứu Điều này nhằm phân nhóm sản phụ và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mổ lấy thai chung.

Các sản phụ nhóm 1 sẽ được thu thập thông tin sinh trắc và các dữ liệu liên quan đến quá trình chuyển dạ, bao gồm chiều cao, tình trạng chuyển dạ khi nhập viện, thể tích nước ối, thời gian vỡ ối, thời gian nằm trong phòng đẻ, việc sử dụng oxytoxin, kiểu thế thai, và phương pháp giảm đau Những số liệu này sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ MLT của nhóm 1.

Bảng 2.1 các biến số dùng trong nghiên cứu

Biến số Loại biến Giá trị Lý giải

Hiệu số giữa năm hiện hành và năm sinh

Nơi ở Nhị danh 1 Thành phố, thị xã Dựa vào địa chỉ

2 Không phải thành phố, thị xã thường trú của sản phụ

Nghề nghiệp Định danh 1 Nội trợ

Ghi nhận theo nghề nghiệp hiện tại của sản phụ

Nhị giá 1 Sống chung với chồng

2 Không sống chung với chồng

Dựa vào hồ sơ bệnh án, khai thác tiền sử hoàn cảnh gia đình

Tiền sử mang thai Định danh 1 IUI

Dựa vò hồ sơ bệnh án, khai thác tiền sử

Giới tính thai Nhị giá 1 con trai

2 con gái dựa vào giới tính sau sinh

Chiều cao Nhị giá 1 ≤ 145cm

Dựa vào hồ sơn bệnh án

Cân nặng Định danh Tính theo kg Dựa vào hồ sơ bệnh án

Cách sinh Nhị giá 1 Sinh đường âm đạo

Dựa vào hồ sơ bệnh án

Tuổi thai Nhị giá 1 ≥ 42 tuần

2 Từ 37 tuần đến nhỏ hơn 42 tuần

Tính theo KCC với vòng kinh đều không dài, tính theo siêu âm 3 tháng đầu đến thời điềm sinh

Tình trạng ối Định danh 1 Chưa vỡ

Tính từ lúc vỡ ối đến khi sinh hoặc mổ

Thể tích nước ối Định danh 1 Bình thường

Dựa vào kết quả siêu âm tại viện không quá 3 ngày Màu sắc nước ối Định danh 1 Trong

Xác định khi vỡ ối, khi đẻ, hay khi mổ lấy thai

Kiểu thế thai Định danh 1 Trước

3 Sau Được xác định do nhs, bác sỹ khám

Dựa vào hồ sơ bệnh án

Dùng oxytoxin trong chuyển dạ

Sử dụng oxytoxin trước khi đẻ

Dựa vào hồ sơ bênh án

Chỉ định mổ lấy thai Định danh ICD Dựa vào hồ sơ bệnh án

2.4 Phương pháp thu thập thông tin và và xử lý số liệu

- Kỹ thuật thu thập thông tin là ghi lại số liệu có sẵn trong hồ sơ bệnh án.

- Thiết kế phiếu thu thập thông tin (phụ lục).

- Thu thập hồ sơ bệnh án sinh trong thời gian nghiên cứu

- Điền số liệu theo các biến số nghiên cứu từ hồ sơ bệnh án vào phiếu nghiên cứu.

- Nhập số liệu bằng phần mềm EpiData

- Lập bảng thống kê, vẽ biểu đồ

- Tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình

- Kiểm định bằng các thuật toán thống kê

Các kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý bằng phương pháp thống kê y học trên phần mềm EPIINFO 6.04 và SPSS 16.0, đảm bảo tuân thủ các quy định trong nghiên cứu y sinh học Giá trị p được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

2.5 Đạo đức nghiên cứu Đây là nghiên cứu mô tả sử dụng các thông tin trên bệnh án, các theo dõi lâm sàng, không can thiệp trực tiếp đến đối tượng Mọi thông tin nghiên cứu đều được đảm bảo giữ bí mật nên không có vấn đề vi phạm về đạo đức trong nghiên cứu này. Đề cương nghiên cứu đã được thông qua Hội Đồng Khoa Học bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh và Hội đồng xét duyệt đề cương nghiên cứu khoa học của Sở Y tế Được Sở Y tế phê duyệt triển khai.

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm n %

Khác (Lao động tự do, sinh viên,,,) 60 17,1

Không sống chung với chồng 4 1,1

Tốt nghiệp THPT trở lên 345 98,3

Tiền sử hỗ trợ sinh sản

Bảng 3.2 Đặc điểm tình trạng nhập viện và kết quả chuyển dạ của sản phụ nhóm 1 Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

3.2 CÁC CHỈ ĐỊNH MLT NHÓM I

Bảng 3.3 phân bố MLT nhóm I

Bảng 3.4 Tỷ lệ MLT nhóm I do đường sinh dục của mẹ

Bảng 3.5 Tỷ lệ MLT nhóm I nguyên nhân do thai

Suy thai 25 23,81 Đầu không lọt 9 8,57

Cổ tử cung không tiến triển 9 8,57

Bảng 3.6 Nhóm nguyên nhân do phần phụ của thai

Bảng 3.7 tỷ lệ MLT nhóm I do bệnh lý của mẹ

Bệnh khác (vỡ xương chậu) 1 0,95

Bảng 3.8 nhóm nguyên nhân do yếu tố xã hội

Xin mổ 2 1,9 Để chỉ huy không kết quả 2 1,9

3.3 MÔ TẢ KẾT QUẢ VÀ BIẾN CHỨNG MLT NHÓM I

Bảng 3.9 tỷ lệ đừng rạnh thành bụng

Chỉ định n % Đường rạch ngang 105 100 Đường rạch dọc 0 0

Bảng 3.10 Tỷ lệ đường rạch tử cung

Rạch dọc thân tử cung 0 0

Bảng 3.11 T ỷ lệ phẫu thuật phối hợp

Bảng 3.12 T ỷ lệ các phương pháp vô cảm

Gây mê nội khí quản 0 0

Bảng 3.13 phân bố trọng lượng thai

Bảng 3.14 tỷ lệ biến chứng sau mổ

Viêm nội mạc tử cung 0 0

Bảng 3.15 lượng máu truyền trong MLT

Số đơn vị máu truyền n %

Bảng 3.16 phối hợp kháng sinh sau mổ

3.4 MỐI LIÊN QUAN CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN TỶ LỆ MLT NHÓM 1

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số thông tin chung của bà mẹ và MLT nhóm 1

Không phải công chức – viên chức 80 76.2 187 76

Tốt nghiệp THPT trở lên 104 99 241 98

Tiền sử hỗ trợ sinh sản

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tình trạng nhập viện, kết quả chuyển dạ và

Nghiên cứu bàn luận các vấn đề dựa trên kết quả nghiên cứu thu thập được:

4.1 BÀN LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU

4.1.1 Lý do chọn nghiên cứu

4.1.3 Hạn chế của nghiên cứu

4.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.3 CÁC CHỈ ĐỊNH MỔ LẤY THAI NHÓM I

4.4 KẾT QUẢ VÀ BIẾN CHỨNG MLT NHÓM I

4.5 MỐI LIÊN QUAN CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN TỶ LỆ MLT NHÓM I 4.5.1 Tuổi của mẹ

4.5.4 Trình độ học vấn của mẹ

4.3.8 Đặc điểm gia đình của chồng sản phụ

4.5.9 Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế của sản phụ 4.5.10 Giảm đau trong đẻ

4.5.11 Sử dụng oxytocin trong chuyển dạ

Dựa vào kết quả nghiên cứu và bạn luận, nghiên cứu đưa ra kết luận:

- Thông tin về đối tượng nghiên cứu

- Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ MLT nhóm 1

Dựa vào kết quả, bàn luận, kết luận, nghiên cứu đưa ra một số nhóm yếu tố khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệ MLT nhóm 1

1 Alexandre Dumont (2009), "Y tế toàn cầu cho mẹ và bé: Tiến triển của mổ lấy thai?", Tài liệu Hội nghị sản phụ khoa Việt Pháp

2 Nguyễn Hồng Hoa, Nguyễn Tiến Công (2018), "tỷ lệ mổ lấy thai nhóm 1 theo nhóm phân loại của Robson tại bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Đăklak", Tài liệu Hội nghị khoa học lần thứ 35, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

3 Đỗ Quang Mai (2007), Nghiên cứu tình hình mổ lấy thai ở sản phụ con so tại bệnh viện phụ sản trung ương trong 2 năm 1996 và 2006.

4 Phan Hồng Ngọc (2015), "Chiến lược giảm thiểu tỉ lệ mổ lấy thai", truy cập ngày 10/01/2019 tại http://bvdkquangnam.vn/ao-to-nckh/tp-san-y-hc/ 1638-chin-lc-gim-thiu-t-l-m-ly-thai? tmpl=component&print=1&layoutault&page5 Vũ Thị Nhung (2014), "Lợi ích và nguy cơ của mổ lấy thai”, Tạp chí Thời sự y học 8/2014, tr.23-25

6 Michael Robson (2015), "Chiến lược giảm thiêu mổ lấy thai", Tài liệu Hội nghị Sản Phụ Khoa Việt Pháp.

7 Huỳnh Thị Thu Thủy (2014), "Sanh mổ thực trạng và các yếu tố liên quan".

8 Mohammed Walid Zimmo, Katariina Laine, Sahar Hassan, at al

(2018), "Caesarean section in Palestine using the Robson Ten GroupClassification System: apopulation-based birth cohort study", BMJ Open, pp.1-8

SỞ Y TẾ BẮC NINH BỆNH VIỆN SẢN NHI

PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU

Phục lục nghiên cứu: “Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 theo phân loại của Robson tại khoa Sản 2, bệnh viện

Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh năm 2019”

1 Thành phố, thị xã☐ 2 Không phải thành phố, thị xã☐

5 Khác (Học sinh, sinh viên) ……… ☐

2.Chưa Tốt nghiệp tiểu học

6.Tốt nghiệp Đại học/Cao đẳng/THCN

7.Tốt nghiệp sau Đại học

10 Tiền sử hỗ trợ sinh sản

III Tình trạng sản phụ lúc nhập viện

1 Bình thường☐ 2 Thiểu ối☐ 3 Đa ối☐

IV Quá trình chuyển dạ

18 Thời gian nằm phòng đẻ: ………… phút (tính từ lúc vào phòng đẻ đến khi khâu xong tầng sinh môn)

1 Đẻ đường âm đạo☐ 2 Mổ lấy thai trong chuyển dạ☐

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các sản phụ mang thai lần đầu, đơn thai, ngôi đầu, có tuổi thai từ 37 tuần trở lên, khi chuyển dạ tự nhiên đều được đón tiếp và sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh trong vòng 12 tháng qua.

Những sản phụ có tinh thần không ổn định hoặc gặp rối loạn hành vi sẽ gặp khó khăn trong việc cung cấp thông tin cá nhân chính xác, cũng như tiền sử và bệnh sử của họ.

- Mổ lấy thai hoặc sau sinh từ nơi khác chuyển đến điều trị tại bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh.

Xácđịnh cỡ mẫu cho nghiên cứu theo công thức n =Z 2 1- α/2 p (1 - p) d²

Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu.

Z: Giới hạn tin cậy tương ứng với α= 0,05 -> Z1-α/2 = 1,96 p = 26,95% (là tỷ lệ mổ lấy thai nhóm 1 trong nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hoa tại bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Đắc Lắc 2018) p = 1- 0,2695= 0,7305 d: Sai số ước lượng, chọn d = 0,05. Áp dụng công thức (1) ta có: n = 1,96 2 x 0,2695 (1- 0,2695)/ 0,05 2 = 303

Do đó, cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu là 303 đối tượng.

Trên thực tế trong thời gian nghiên cứu có 351 đối tượng tham gia nghiên cứu.

Tại Bệnh Viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi tiếp nhận toàn bộ sản phụ là con so, mang thai đơn, ngôi đầu, với tuổi thai từ 37 tuần trở lên, và đang trong quá trình chuyển dạ tự nhiên từ tháng 01.

03 năm 2019 đến khi đủ số liệu nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

2.3.2 Các biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn.

Các biến số nền và đặc điểm thai kỳ của sản phụ, bao gồm tuổi thai, phương pháp sinh và lý do mổ lấy thai, được thu thập từ toàn bộ dân số nghiên cứu Điều này nhằm phân nhóm sản phụ và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mổ lấy thai chung.

Các sản phụ nhóm 1 sẽ được thu thập thông tin sinh trắc và các dữ liệu liên quan đến quá trình chuyển dạ, bao gồm chiều cao, tình trạng chuyển dạ khi nhập viện, thể tích nước ối, thời gian vỡ ối, thời gian nằm trong phòng đẻ, việc sử dụng oxytoxin, kiểu thế thai, và phương pháp giảm đau Những số liệu này sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ MLT của nhóm 1.

Bảng 2.1 các biến số dùng trong nghiên cứu

Biến số Loại biến Giá trị Lý giải

Hiệu số giữa năm hiện hành và năm sinh

Nơi ở Nhị danh 1 Thành phố, thị xã Dựa vào địa chỉ

2 Không phải thành phố, thị xã thường trú của sản phụ

Nghề nghiệp Định danh 1 Nội trợ

Ghi nhận theo nghề nghiệp hiện tại của sản phụ

Nhị giá 1 Sống chung với chồng

2 Không sống chung với chồng

Dựa vào hồ sơ bệnh án, khai thác tiền sử hoàn cảnh gia đình

Tiền sử mang thai Định danh 1 IUI

Dựa vò hồ sơ bệnh án, khai thác tiền sử

Giới tính thai Nhị giá 1 con trai

2 con gái dựa vào giới tính sau sinh

Chiều cao Nhị giá 1 ≤ 145cm

Dựa vào hồ sơn bệnh án

Cân nặng Định danh Tính theo kg Dựa vào hồ sơ bệnh án

Cách sinh Nhị giá 1 Sinh đường âm đạo

Dựa vào hồ sơ bệnh án

Tuổi thai Nhị giá 1 ≥ 42 tuần

2 Từ 37 tuần đến nhỏ hơn 42 tuần

Tính theo KCC với vòng kinh đều không dài, tính theo siêu âm 3 tháng đầu đến thời điềm sinh

Tình trạng ối Định danh 1 Chưa vỡ

Tính từ lúc vỡ ối đến khi sinh hoặc mổ

Thể tích nước ối Định danh 1 Bình thường

Dựa vào kết quả siêu âm tại viện không quá 3 ngày Màu sắc nước ối Định danh 1 Trong

Xác định khi vỡ ối, khi đẻ, hay khi mổ lấy thai

Kiểu thế thai Định danh 1 Trước

3 Sau Được xác định do nhs, bác sỹ khám

Dựa vào hồ sơ bệnh án

Dùng oxytoxin trong chuyển dạ

Sử dụng oxytoxin trước khi đẻ

Dựa vào hồ sơ bênh án

Chỉ định mổ lấy thai Định danh ICD Dựa vào hồ sơ bệnh án

Phương pháp thu thập thông tin và và xử lý số liệu

- Kỹ thuật thu thập thông tin là ghi lại số liệu có sẵn trong hồ sơ bệnh án.

- Thiết kế phiếu thu thập thông tin (phụ lục).

- Thu thập hồ sơ bệnh án sinh trong thời gian nghiên cứu

- Điền số liệu theo các biến số nghiên cứu từ hồ sơ bệnh án vào phiếu nghiên cứu.

- Nhập số liệu bằng phần mềm EpiData

- Lập bảng thống kê, vẽ biểu đồ

- Tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình

- Kiểm định bằng các thuật toán thống kê

Các kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý bằng phương pháp thống kê y học trên phần mềm EPIINFO 6.04 và SPSS 16.0, đảm bảo tuân thủ các quy định trong nghiên cứu y sinh học Giá trị p được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này mô tả việc sử dụng thông tin từ bệnh án và theo dõi lâm sàng mà không can thiệp trực tiếp vào đối tượng Tất cả thông tin nghiên cứu được bảo mật, đảm bảo không vi phạm đạo đức Đề cương nghiên cứu đã được Hội Đồng Khoa Học bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh và Hội đồng xét duyệt của Sở Y tế phê duyệt để triển khai.

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm n %

Khác (Lao động tự do, sinh viên,,,) 60 17,1

Không sống chung với chồng 4 1,1

Tốt nghiệp THPT trở lên 345 98,3

Tiền sử hỗ trợ sinh sản

Bảng 3.2 Đặc điểm tình trạng nhập viện và kết quả chuyển dạ của sản phụ nhóm 1 Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

3.2 CÁC CHỈ ĐỊNH MLT NHÓM I

Bảng 3.3 phân bố MLT nhóm I

Bảng 3.4 Tỷ lệ MLT nhóm I do đường sinh dục của mẹ

Bảng 3.5 Tỷ lệ MLT nhóm I nguyên nhân do thai

Suy thai 25 23,81 Đầu không lọt 9 8,57

Cổ tử cung không tiến triển 9 8,57

Bảng 3.6 Nhóm nguyên nhân do phần phụ của thai

Bảng 3.7 tỷ lệ MLT nhóm I do bệnh lý của mẹ

Bệnh khác (vỡ xương chậu) 1 0,95

Bảng 3.8 nhóm nguyên nhân do yếu tố xã hội

Xin mổ 2 1,9 Để chỉ huy không kết quả 2 1,9

3.3 MÔ TẢ KẾT QUẢ VÀ BIẾN CHỨNG MLT NHÓM I

Bảng 3.9 tỷ lệ đừng rạnh thành bụng

Chỉ định n % Đường rạch ngang 105 100 Đường rạch dọc 0 0

Bảng 3.10 Tỷ lệ đường rạch tử cung

Rạch dọc thân tử cung 0 0

Bảng 3.11 T ỷ lệ phẫu thuật phối hợp

Bảng 3.12 T ỷ lệ các phương pháp vô cảm

Gây mê nội khí quản 0 0

Bảng 3.13 phân bố trọng lượng thai

Bảng 3.14 tỷ lệ biến chứng sau mổ

Viêm nội mạc tử cung 0 0

Bảng 3.15 lượng máu truyền trong MLT

Số đơn vị máu truyền n %

Bảng 3.16 phối hợp kháng sinh sau mổ

3.4 MỐI LIÊN QUAN CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN TỶ LỆ MLT NHÓM 1

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số thông tin chung của bà mẹ và MLT nhóm 1

Không phải công chức – viên chức 80 76.2 187 76

Tốt nghiệp THPT trở lên 104 99 241 98

Tiền sử hỗ trợ sinh sản

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tình trạng nhập viện, kết quả chuyển dạ và

Nghiên cứu bàn luận các vấn đề dựa trên kết quả nghiên cứu thu thập được:

4.1 BÀN LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU

4.1.1 Lý do chọn nghiên cứu

4.1.3 Hạn chế của nghiên cứu

4.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.3 CÁC CHỈ ĐỊNH MỔ LẤY THAI NHÓM I

4.4 KẾT QUẢ VÀ BIẾN CHỨNG MLT NHÓM I

4.5 MỐI LIÊN QUAN CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN TỶ LỆ MLT NHÓM I 4.5.1 Tuổi của mẹ

4.5.4 Trình độ học vấn của mẹ

4.3.8 Đặc điểm gia đình của chồng sản phụ

4.5.9 Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế của sản phụ 4.5.10 Giảm đau trong đẻ

4.5.11 Sử dụng oxytocin trong chuyển dạ

Dựa vào kết quả nghiên cứu và bạn luận, nghiên cứu đưa ra kết luận:

- Thông tin về đối tượng nghiên cứu

- Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ MLT nhóm 1

Dựa vào kết quả, bàn luận, kết luận, nghiên cứu đưa ra một số nhóm yếu tố khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệ MLT nhóm 1

1 Alexandre Dumont (2009), "Y tế toàn cầu cho mẹ và bé: Tiến triển của mổ lấy thai?", Tài liệu Hội nghị sản phụ khoa Việt Pháp

2 Nguyễn Hồng Hoa, Nguyễn Tiến Công (2018), "tỷ lệ mổ lấy thai nhóm 1 theo nhóm phân loại của Robson tại bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Đăklak", Tài liệu Hội nghị khoa học lần thứ 35, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

3 Đỗ Quang Mai (2007), Nghiên cứu tình hình mổ lấy thai ở sản phụ con so tại bệnh viện phụ sản trung ương trong 2 năm 1996 và 2006.

4 Phan Hồng Ngọc (2015), "Chiến lược giảm thiểu tỉ lệ mổ lấy thai", truy cập ngày 10/01/2019 tại http://bvdkquangnam.vn/ao-to-nckh/tp-san-y-hc/ 1638-chin-lc-gim-thiu-t-l-m-ly-thai? tmpl=component&print=1&layoutault&page5 Vũ Thị Nhung (2014), "Lợi ích và nguy cơ của mổ lấy thai”, Tạp chí Thời sự y học 8/2014, tr.23-25

6 Michael Robson (2015), "Chiến lược giảm thiêu mổ lấy thai", Tài liệu Hội nghị Sản Phụ Khoa Việt Pháp.

7 Huỳnh Thị Thu Thủy (2014), "Sanh mổ thực trạng và các yếu tố liên quan".

8 Mohammed Walid Zimmo, Katariina Laine, Sahar Hassan, at al

(2018), "Caesarean section in Palestine using the Robson Ten GroupClassification System: apopulation-based birth cohort study", BMJ Open, pp.1-8

SỞ Y TẾ BẮC NINH BỆNH VIỆN SẢN NHI

PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU

Phục lục nghiên cứu: “Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến chỉ định mổ lấy thai nhóm 1 theo phân loại của Robson tại khoa Sản 2, bệnh viện

Sản Nhi Tỉnh Bắc Ninh năm 2019”

1 Thành phố, thị xã☐ 2 Không phải thành phố, thị xã☐

5 Khác (Học sinh, sinh viên) ……… ☐

2.Chưa Tốt nghiệp tiểu học

6.Tốt nghiệp Đại học/Cao đẳng/THCN

7.Tốt nghiệp sau Đại học

10 Tiền sử hỗ trợ sinh sản

III Tình trạng sản phụ lúc nhập viện

1 Bình thường☐ 2 Thiểu ối☐ 3 Đa ối☐

IV Quá trình chuyển dạ

18 Thời gian nằm phòng đẻ: ………… phút (tính từ lúc vào phòng đẻ đến khi khâu xong tầng sinh môn)

1 Đẻ đường âm đạo☐ 2 Mổ lấy thai trong chuyển dạ☐

Ngày đăng: 23/05/2023, 11:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w