1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp kỹ thuật có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp thì sẽ được cấp bằng độc quyền sáng chế khi có đơn yêu cầu được nộp

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp kỹ thuật có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp thì sẽ được cấp bằng độc quyền sáng chế khi có đơn yêu cầu được nộp
Tác giả Nhóm thành viên, Bùi Minh Thành, Lê Trọng Nghĩa, Thới Thị Minh Thư, Nguyễn Xuân Thùy, Phạm Trần Phi Tiến, Đoàn Thị Mỹ Thi
Người hướng dẫn Đặng Nguyễn Phương Uyên
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại Thảo luận ở lớp
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 32,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA Môn Luật Sở Hữu Trí Tuệ Giảng viên Đặng Nguyễn Phương Uyên Lớp DS44B1 Danh sách thành viên nhóm 7 STT HỌ VÀ TÊN MSSV 1[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA

Môn: Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Giảng viên: Đặng Nguyễn Phương Uyên

Lớp: DS44B1

Danh sách thành viên nhóm 7 :

1 Bùi Minh Thành ( Nhóm Trưởng ) 1953801012245

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 3 năm 2022

Trang 2

A Nội dung thảo luận tại lớp

A.1 Lý thuyết:

1 Nhận định ĐÚNG, SAI, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn:

a/ Giải pháp kỹ thuật có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp thì sẽ được cấp Bằng độc quyền sáng chế khi có đơn yêu cầu được nộp.

Trả lời:

Nhận định Sai

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Căn cứ pháp lý tại khoản 1 điều 58 luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009 thì sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng được ba điều kiện Đầu tiên sáng chế phải có tính mới được quy định tại điều 60 Luật sở hữu trí tuệ

2005 Thứ hai trình độ sáng tạo của sáng chế được quy định tại điều 61 Luật sở hữu trí tuệ 2005 Thứ

ba, sáng chế phải có khả năng áp dụng kiểu dáng công nghiệp theo quy định tại điều 62 Luật sở hữu trí tuệ 2005 Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp đáp ứng đủ ba điều kiện này đều được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu sáng chế thuộc trường hợp các đối tượng không được bảo hộ sáng chế được quy định tại điều 59 luật sở hữu trí tuệ 2005 thì sẽ không được cấp bằng độc quyền sáng chế khi có yêu cầu độc lập

b/ Bằng độc quyền sáng chế được gia hạn hiệu lực khi chủ văn bằng nộp lệ phí gia hạn hiệu lực.

Trả lời:

Nhận định Sai

Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 93, khoản 1 Điều 94 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019, Khoản 19 Điều

1 Thông tư 16/2016/TT-BKHCN

Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn

và không được gia hạn Nhưng được duy trì hiệu lực nếu chủ văn bảng bảo hộ nộp lệ phí duy trì hiệu lực cho văn bằng Vì vậy, bằng độc quyền sáng chế chỉ được duy trì hiệu lực khi chủ văn bằng nộp lệ phí duy trì hiệu lực cho văn bằng

c/ Đơn đăng ký sáng chế không được thẩm định nội dung đơn nếu không có yêu cầu từ người nộp đơn.

Trả lời:

Nhận định đúng

Cơ sở pháp lý Điều 113 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019

Việc xét nghiệm nội dung đơn chỉ được tiến hành khi trong thời hạn bốn mươi hai tháng kể từ ngày nộp đơn hoặc kể từ ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên có yêu cầu xét

Trang 3

nghiệm nội dung của người nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc bất kỳ người thứ ba nào đều có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thẩm định nội dung đơn với điều kiện phải nộp phí thẩm định nội dung đơn Quá thời hạn trên, nếu không có yêu cầu xét nghiệm nội dung, thì đơn coi như không nộp

d/ Tính mới của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ là tính mới tuyệt đối.

Trả lời:

Nhận định đúng

CSPL: Điều 65 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Tính mới trên phạm vi toàn thế giới tương đồng với cách gọi khác là tính mới tuyệt đối Điều đó có nghĩa là kiểu dáng công nghiệp muốn được đăng ký phải hoàn toàn mới so với những kiểu dáng công nghiệp khác đã tồn tại tại bất kỳ địa điểm nào khác trên thế giới vào những thời gian trước đó Phạm vi bộc lộ thông tin về kiểu dáng công nghiệp không bị giới hạn bởi phạm vi một quốc gia mà được mở ra trên phạm vi toàn thế giới

2 Phân tích nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc về quyền ưu tiên Các nguyên tắc này được

áp dụng cho những đối tượng nào?

Trả lời:

a Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên:

* CSPL: Điều 90 Luật SHTT 2005 Sửa đổi bổ sung 2009 Nguyên tắc này bao gồm các nguyên tắc sau: Thứ nhất, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ

Thứ hai, trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ

Thứ ba, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký trong hai trường hợp trên cùng đáp ứng các điều kiện

để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ

* Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên là nguyên tắc được dùng để bảo hộ cho quyền sở hữu công nghiệp bao gồm:

Trang 4

- Sáng chế.

- Kiểu dáng công nghiệp

- Thiết kế, bố trí mạch tích hợp bán dẫn

- Nhãn hiệu

- Tên thương mại

- Chỉ dẫn địa lý

- Bí mật kinh doanh

b Nguyên tắc về quyền ưu tiên:

* CSPL: Điều 91 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019

Nguyên tắc ưu tiên bảo hộ sáng chế của chủ thể có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký bảo hộ cùng một đối tượng là sáng chế, nếu đáp ứng được các điều kiện:

Thứ nhất, đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên hoặc có thỏa thuận

áp dụng quy định như vậy với Việt Nam

Thứ hai, chủ thể nộp đơn là công dân Việt Nam, công dân nước khác cư trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước khác là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền

ưu tiên mà Việt Nam cũng là thành viên của điều ước này hoặc có thỏa thuận áp dụng quy định như vậy với Việt Nam

Thứ ba, đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế phải thể hiện rõ nội dung yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và

có nộp bản sao đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn yêu cầu đầu tiên (như Cục Sở hữu trí tuệ)

* Nguyên tắc quyền ưu tiên cho các nhóm đối tượng là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, còn các đối tượng khác không được hưởng quyền ưu tiên trong sở hữu trí tuệ Và quyền ưu tiên trong sở hữu trí tuệ chỉ được áp dụng dựa trên cơ sở của đơn đăng ký bảo hộ hợp lệ đầu tiên Đơn đăng ký bảo hộ này phải được nộp tại một quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế quy định về quyền ưu tiên Sau đó một khoảng thời gian theo quy định của luật; tổ chức, cá nhân này lại tiến hành yêu cầu xin bảo hộ cho cùng đối tượng đó tại một hoặc một số quốc gia khác là thành viên của điều ước quốc tế đó Và đơn nộp sau này được coi như là đã được nộp cùng ngày với đơn yêu cầu bảo hộ đầu tiên

3 Vẽ sơ đồ tóm tắt các bước trong quy trình tiếp nhận đơn, xử lý đơn và cấp Bằng độc quyền sáng chế.

Trả lời:

Trang 5

(Điều 108)

Thẩm định hình thức đơn 1 tháng tính từ ngày nộp đơn

( Điều 109 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 )

Công bố đơn Tháng thứ 19 tính từ ngày nộp đơn hoặc Ngày ưu tiên (Điều 110 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 )

Yêu cầu thẩm định nội

dung đơnTrong thời hạn 42 tháng tính từ ngày nộp đơn Hoặc ngày ưu tiên (Điều 113 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019)

12 từ ngày nhận được

Thẩm định nội dung

( Điều 114 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019)

Cấp hoặc từ chối cấp bằng đọc quyền sáng

bổ sung 2019)

( Điều 117,118 LSHTT 2005 sửa đổi

Trang 6

Công bố đơn

A.2 Bài tập:

1 Ông A là chuyên viên thiết kế nội thất trong công ty M Giữa ông A và công ty M có ký kết hợp đồng lao động thỏa thuận về phạm vi công việc, mức lương và các nội dung khác Trong quá trình làm việc, ông A được công ty giao nhiệm vụ thiết kế một bộ bàn ghế (có đầu tư về kinh phí,

cơ sở vật chất) Bộ bàn ghế này sau đó được đăng ký bảo hộ và được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp.

Câu hỏi:

a) Xác định tác giả và chủ sở hữu của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ trên Chủ thể nào có quyền đăng ký đối với kiểu dáng công nghiệp này? Giải thích và nêu cơ sở pháp lý.

Trả lời:

Tác giả là ông A vì theo điều 122 khoản 1 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 có quy định :

“Tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là người trực tiếp sáng tạo ra đối tượng

sở hữu công nghiệp “ Như vậy, ta thấy ông A là người trực tiếp thiết kế ra bộ bàn ghế vì có đầu

tư về kinh phí , cơ sở vật chất, trí tuệ do đó ông A là tác giả của kiểu dáng công nghiệp trên Theo khoản 1 điều 121 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 quy định : “ Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng.” Và điểm b khoản 1 điều 86 luật SHTT 2005 quy định : “Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản 2 Điều này thì có quyền đăng kí kiểu dáng công nghiệp ”Do

đó chủ sở hữu có thể là ông A và công ty M

Theo khoản 1 điều 86 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 quy định :

“1 Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí: a) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình;

b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản

2 Điều này.” Do đó , cả ông A và công ty M đều có thể có quyền đăng kí đối với kiểu dáng công nghiệp này

b) Ông A và công ty M có những quyền gì đối với kiểu dáng công nghiệp trên? Trả lời:

Quyền chung của ông A và công ty M :

- Quyền đăng kí kiểu dáng công nghiệp trên ( Điều 86 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 )

và rút đơn đăng kí ( Điều 116 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2019 )

Quyền của ông A :

- Quyền nhân thân ( điều 122 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 ) bao gồm :

“a) Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;

Trang 7

b) Được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.”

- Quyền tài sản ( điều 135 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 ) quy định ông A sẽ được trả thù lao

Quyền công ty M :

- Quyền tài sản ( điều 123 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 ) bao gồm :

“a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều

124 và Chương X của Luật này;

b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 125 của Luật này;

c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật này.”

c) Trong những trường hợp nào chủ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp bộ bàn ghế trên không có quyền ngăn cấm các tổ chức, cá nhân khác sử dụng kiểu dáng công nghiệp do mình sở hữu?

Trả lời:

Theo điều 125 luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 thì những trường hợp sau chủ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp bộ bàn ghế trên không có quyền ngăn cấm các tổ chức, cá nhân khác sử dụng kiểu dáng công nghiệp do mình sở hữu:

“a) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm;

b) Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài;

c) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trong lãnh thổ Việt Nam; d) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp do người có quyền sử dụng trước thực hiện theo quy định tại Điều 134 của Luật này;

đ) Sử dụng sáng chế do người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của Luật này;

e) Sử dụng thiết kế bố trí khi không biết hoặc không có nghĩa vụ phải biết thiết kế bố trí đó được bảo hộ;

g) Sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu nhãn hiệu đó đã đạt được sự bảo hộ một cách trung thực trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý đó;

h) Sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.”

2 Nghiên cứu Bản án số 9 “Bảo vệ quyền đối với sáng chế” (Bản án số 96/2010/KDTM-PT ngày 03/6/2010 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt

Nam và trả lời câu hỏi:

a) Sáng chế và kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” do ai tạo ra? Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp này đã được đăng ký bảo hộ chưa?

Trả lời:

Trang 8

Ông Đỗ Thành Đồng sáng chế ra “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” Ngày 01-7-2004, Công ty Thành Đồng đăng ký bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp đối với sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” tại Cục sở hữu trí tuệ

b) Việc Công ty Thành Đồng đã đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đối với “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” thì Cơ sở Ngọc Thanh có biết hay không? Đoạn nào trong bản án thể hiện điều này?

Trả lời:

Việc Công ty Thành Đồng đã đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đối với “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” thì Cơ sở Ngọc Thanh có biết

Tại phần Xét thấy của Bản án, ông Ninh Ngọc Thanh và luật sư bảo vệ quyền lợi cho Cơ sở sản xuất Ngọc Thanh đều thừa nhận việc Cơ sở sản xuất Ngọc Thanh sản xuất và lưu hành trên thị trường loại “bạt chắn nắng mưa tự cuốn” là vi phạm bản quyền của Công ty Thành Đồng đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền sáng chế và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp

c) Cơ sở Ngọc Thanh khi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn”

có được Công ty Thành Đồng đồng ý hay không? Đoạn nào của bản án thể hiện điều này?

Trả lời:

Việc cơ sở Ngọc Thanh khi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” không có được sự đồng ý của Công ty Thành Đồng

Tại phần xét thấy của Bản án, sản phẩm “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” đang có tranh chấp đã được Cục sở hữu trí tuệ - Bộ khoa học và công nghệ cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 8595 ngày 29/9/2005 và Bằng độc quyền sáng chế số 5633 ngày 09/5/2006 cho Công ty Thành Đồng, sản phẩm này được bảo hộ độc quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam Việc thẩm định và cấp bằng độc quyền, Cục sở hữu trí tuệ đã tiến hành đúng và đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật, chính cơ sở Ngọc Thành có biết nhưng không khiếu nại gì Tuy nhiên cơ sở Ngọc Thanh vẫn sản xuất và lưu hành trên thị trường loại bạt chắn nắng mưa tự cuốn trong thời hạn có hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế công nghiệp và Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp mà không được sự đồng

ý của Công ty Thành Đồng và khi có tranh chấp không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ nào thể hiện việc sản xuất kinh doanh loại sản phẩm này là hợp pháp

d) Cơ sở Ngọc Thanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” có thỏa mãn các điều kiện của quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay không?

Trả lời:

Trang 9

Việc sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” của cơ sở Ngọc Thanh thỏa mãn các điều kiện của quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 vì việc sản xuất, kinh doanh bạt chắn nắng mưa tự cuốn đã được cơ sở Ngọc Thanh thực hiện từ năm 2002 nhưng đến ngày 01/07/2004 thì ông Đỗ Thành Đồng mới nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đối với sáng chế này

e) Hành vi của cơ sở Ngọc Thanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp “bạt chắn nắng mưa tự cuốn” có vi phạm Luật SHTT không? Cơ sở pháp lý.

Trả lời:

Việc sử dụng “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” của cơ sở Ngọc Thanh là hành vi vi phạm Luật sở hữu trí tuệ cụ thể là hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 126, khoản 3 Điều 131 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019 Theo đó, cơ sở Ngọc Thanh đã tiếp tục sản xuất và kinh doanh sáng chế “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” sau khi ông Đồng được cấp bằng độc quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, tại thời điểm đó cơ sở Ngọc Thanh đã hết điều kiện về quyền sử dụng trước đối với “Bạt chắn nắng mưa tự cuốn” nhưng không có hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, không đền bù khoản tiền tương ứng với thời gian sử dụng sáng chế

B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp:

Đọc, nghiên cứu Bản án số 12 “Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp” Chương 3 (Bản án số

03/2006/HC-PT ngày 01/3/2006 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM) (gồm cả phần tình huống và bình

luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:

1/ Phân tích các điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.

Trả lời:

Căn cứ Điều 63 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019, các điều kiện bảo hộ kiểu dáng công

nghiệp bao gồm:

- Có tính mới: có sự khác biệt đáng kể, chưa bị bộc lộ, công khai và có thể phân biệt được với các kiểu dáng công nghiệp đã được công khai khác

- Có tính sáng tạo: không thể tạo ra dễ dàng đối với người hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng

- Có khả năng áp dụng công nghiệp: có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt kiểu dáng tương tự bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp Chế tạo một cách lặp đi lặp lại và thu được kết quả ổn định

2/ Kiểu dáng công nghiệp hộp đèn taxi của Công ty Mai Linh có được pháp luật bảo hộ không? Vì sao?

Trả lời:

Trang 10

CSPL: Điều 63,64,65,66,67 LSHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2019, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN.

Kiểu dáng công nghiệp hộp đèn taxi của Công ty Mai Linh được pháp luật SHTT bảo hộ Vì đảm bảo được điều kiện về tính sáng tạo, tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp, đồng thời không thuộc các trường hợp không được bảo hộ của Luật SHTT(Điều 64)

- Căn cứ theo Thông tư 01/2007/TT-BKHCN để được xem là có tính mới khi:

+ Không tìm thấy kiểu dáng công nghiệp đối chứng trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc; hoặc

+ Mặc dù có tìm thấy kiểu dáng công nghiệp đối chứng trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc nhưng kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn có ít nhất một đặc điểm tạo dáng cơ bản không

có mặt trong (không thuộc) tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đối chứng, hoặc

+ Kiểu dáng công nghiệp đối chứng chính là kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được công bố/bộc lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 65 của Luật Sở hữu trí tuệ

Ở đây, hộp đèn của Vinasun khác với Mai Linh về các điểm tạo dáng cơ bản, cũng như màu sắc là khác nhau

- Tính sáng tạo thì kiểu dáng công nghiệp này không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng

- Và hoàn toàn có khả năng áp dụng công nghiệp

3/ Trong tranh chấp trên, để xem xét hành vi của Công ty Ánh Dương (Vinasun) có xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp của Công ty Mai Linh hay không, Tòa án đã làm gì?

Trả lời:

Để xem xét hành vi của Công ty Ánh Dương (Vinasun) có xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp của Công ty Mai Linh hay không, Tòa án đã so sánh kiểu dáng công nghiệp của hộp đèn taxi của Vinasun với Mai Linh và từ đó đưa ra nhận xét là chúng khác nhau Cụ thể: “Về các điểm tạo dáng cơ bản như hình khối (độ dài, độ cao và độ cong); đường nét (mặt trước và mặt sau của hộp đèn bảo hộ có hình oovan để dán nhãn hiệu mà hộp đèn taxi Vinasun không có); cũng như màu sắc khác nhau(hộp đèn taxi Vinasun chỉ có một màu xanh đậm, cò hộp đèn taxi được bảo hộ có hai màu phía ngoài hình oovan có màu xanh lá cây nhạt, hình oovan màu xanh lá cây hơi đậm)” Ngoài ra, Tòa án còn so sánh kiểu dáng công nghiệp với các hãng xe khác trên thị trường và cho rằng các hộp đèn taxi là giống nhau đó là 1 tấm nhựa hình chữ nhật có bầu tròn ở 2 đầu (chỉ khác nhau kích thước, màu sắc,…) vì đây là đặc tính của mui xe nên phải có hình dáng như vậy Từ đó, Tòa án đã rút ra kết luận là Công ty Ánh Dương(Vinasun) không có xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp của Công ty Mai Linh

❖❖❖

Ngày đăng: 22/05/2023, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w