1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều kiện bảo hộ của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có điểm gì khác biệt so với điều kiện bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp giải thích

11 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều kiện bảo hộ của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có điểm gì khác biệt so với điều kiện bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp
Người hướng dẫn Đặng Nguyễn Phương Uyên
Trường học Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại thứa luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 163,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM Môn Luật Sở Hữu Trí Tuệ Giảng viên Đặng Nguyễn Phương Uyên Lớp DS44B1 Danh sách thành viên nhóm 7 STT HỌ VÀ TÊN MSSV 1[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM

Môn: Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Giảng viên: Đặng Nguyễn Phương Uyên

Lớp: DS44B1

Danh sách thành viên nhóm 7 :

1 Bùi Minh Thành ( Nhóm Trưởng ) 1953801012245

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 4 năm 2022

Trang 2

A Nội dung thảo luận tại lớp A.1 Lý thuyết:

1 Điều kiện bảo hộ của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có điểm gì khác biệt so với điều kiện bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp? Giải thích.

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn Sáng chế Kiểu dáng công nghiệp

Cơ sở pháp lí Điều 68 LSHTT

2005 Điều 58 LSHTT 2005 Điều 63 LSHTT 2005 Điều kiện bảo hộ - Có tính nguyên gốc

- Có tính mới thương mại

- Có tính mới;

- Có tính sáng tạo;

- Có khả năng áp dụng công nghiệp

- Có tính mới;

- Có tính sáng tạo;

- Có khả năng áp dụng công nghiệp Giải thích Sự phát triển của

công nghệ dẫn đến tình trạng các cá nhân, tổ chức muốn

sử dụng các thiết kế

đó trong quá trình hoạt động thương mại nhưng không xin phép người chủ tại ra sản phẩm

2 Hiện nay tại Việt Nam có bao nhiêu chỉ dẫn địa lý được bảo hộ? Tìm hai ví dụ về chỉ dẫn địa lý của Việt Nam bị xâm phạm và cho biết hành vi xâm phạm theo bạn là hành

vi nào? (Dựa trên quy định pháp luật hiện hành).

Hiện nay tại Việt Nam tính đến tháng 10/2021 có 110 chỉ dẫn địa lý được bảo hộ

Ví dụ 1 : Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Buôn Ma Thuột" cho sản phẩm cà phê tại Việt Nam Sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Buôn Ma Thuột" là cà phê nhân, có màu xanh xám, xanh lục hoặc xám lục nhạt, kích thước hạt cà phê có độ dài từ 10 – 11 mm, độ rộng từ 6 -7 mm và

độ dày từ 3 - 4 mm Khi rang đến độ chín thích hợp, cà phê có hương thơm đặc trưng Loại

cà phê này có vị đẳng dịu, nhẹ, không chát và có hàm lượng cà phê in từ 2,0 đến 2,2 % Cà phê Buôn Ma Thuột bị Công ty Guangzhou Buon Ma Thuột Coffee Co Ltd, có trụ sở tại

Trang 3

Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông đăng ký bảo hộ và được cấp văn bằng bảo hộ tại Trung Quốc với 2 nhãn hiệu số: 7611986 và 7970830

Ví dụ 2 : Một hãng bia nổi tiếng A được sản xuất tại nhà máy bia ở Hà Nội có in hình lá cờ Đức lên sản phẩm của mình Từ ví dụ có thể thấy việc Một hãng bia nổi tiếng A được sản xuất tại nhà máy bia ở Hà Nội có in hình lá cờ Đức lên sản phẩm của mình đã xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật Có thể thấy ảnh hưởng của bao bì sản phẩm tác động đến thị hiếu của người tiêu dùng đó là khi nhà máy sản xuất loại bia nổi tiếng A này đã sử dụng dấu hiệu là “lá cờ Đức” bảo hộ cho sản phẩm lại sản xuất tại Hà nội làm người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm bia này có nguồn gốc từ Đức và điều đó ảnh hưởng tới danh tiếng cũng như hiểu lầm về sản phẩm của người tiêu dùng khi lựa chọn hành hóa Như vậy đây được xem là trường hợp vi phạm quy định của pháp luật về chỉ dẫn địa lý

=> Căn cứ điểm c khoản 3 điều 129 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009 , cả hai hành vi xâm phạm trong hai ví dụ trên đều là hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa

lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó

3 Khái niệm “tên gọi xuất xứ hàng hóa” là gì? Thuật ngữ này và “chỉ dẫn địa lý” có giống nhau không? Vì sao?

Tên gọi xuất xứ hàng hóa : là tên địa lý của một nước, một khu vực, một địa phương nơi xuất

xứ của sản phẩm mà chất lượng và các tính chất đặc thù cơ bản của sản phẩm do môi trường địa lý của khu vực đó quyết định, kể cả yếu tố tự nhiên và con người”

Thuật ngữ này và “chỉ dẫn địa lý” không giống nhau Vì

Chỉ dẫn địa lí Tên gọi xuất xứ hàng hóa Hình thức thể hiện Các dấu hiệu, gồm: từ, ngữ,

hình ảnh, ký hiệu Từ ngữ Mối quan hệ giữa hàng hóa

và xuất xứ địa lý Có mối quan hệ chủ yếu, nghĩa là: một hoặc một số

hoặc toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa được thực hiện ở một vùng địa lý đó

Có mối quan hệ dựa trên, nghĩa là: toàn bộ quá trình sản xuất phải được thực hiện tại vùng địa lý đăng ký bảo hộ

Khái niệm Từ ngữ, biểu tượng, hình

ảnh, … chỉ rõ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia

mà đặc trưng về chất lượng,

uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này chủ yếu là do nguồn

Là tên địa lý của nước, địa phương nhằm để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó và các mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và

ưu việt bao gồm các yếu tố

Trang 4

gốc địa lý tạo nên tự nhiên, con người hoặc cả

2 yếu tố đó

A.2 Bài tập:

1 Đọc, nghiên cứu Bản án số 65/2009/KDTM-PT ngày 13/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và trả lời các câu hỏi sau:

a) Tên thương mại trong tên gọi của nguyên đơn và bị đơn là gì? Tên thương mại giữa hai chủ thể này giống, tương tự hay khác nhau? Vì sao?

Tên thương mại trong tên gọi của nguyên đơn và bị đơn là kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam Tên thương mại giữa hai chủ thể này là giống nhau , vì đều là “ kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam”

b) Lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn và bị đơn là gì?

Hai chủ thể có cùng lĩnh vực kinh doanh không, vì sao? Lưu ý: với câu hỏi này sinh viên phải trả lời ở hai góc độ: theo Tòa án (bản án xác định thế nào) và theo bảng Danh mục phân loại ngành, nghề kinh doanh của chủ thể kinh doanh hiện hành (sinh viên tự tìm và đối chiếu để xác định).

Lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn: Sản xuất kinh doanh trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ gạo, bột mì và các loại nông sản khác

Lĩnh vực kinh doanh của bị đơn: Kinh doanh chế biến lương thực, thực phẩm trong đó có sản xuất các sản phẩm tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột

Theo Tòa án xác định thì nguyên đơn và bị đơn có cùng lĩnh vực kinh doanh Trong đó, nguyên đơn hoạt động với nhiều ngành nghề kinh doanh, có sản xuất kinh doanh trong nước

và xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ gạo, bột mì và các loại nông sản khác và bị đơn kinh doanh chế biến lương thực, thực phẩm trong đó có sản xuất các sản phẩm tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột Tòa án đã xác định rõ nguyên đơn và bị đơn là các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực (đoạn “Như vậy, nguyên đơn và bị đơn là các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực…Khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng hoặc danh tiếng”)

Theo bảng Danh mục phân loại ngành, nghề kinh doanh của chủ thể kinh doanh hiện hành: Theo Quyết định ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam thì lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn và bị đơn là sản xuất tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mã ngành 10620

c) Theo bạn, nguyên đơn và bị đơn có cùng khu vực kinh doanh không? Dựa vào tiêu chí nào để xác định? Giải thích tại sao.

- Theo ý kiến nhóm em, nguyên đơn và bị đơn có cùng khu vực kinh doanh Điều này được xác định dựa vào:

Trang 5

+ Hoạt động kinh doanh của nguyên đơn có trụ sở chính tại Tân Phú, TP.HCM và được đăng

kí hoạt động tại TP.HCM Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, nguyên đơn có làm việc, phân phối hàng hóa kết hợp với công ty khác ở khu vực Hà Nội Thậm chí, tiếng tăm của nguyên đơn thông qua việc kinh doanh các sản phẩm của mình được biết đến trên phạm vi cả nước Điều này thể hiện qua việc sản phẩm của công ty nguyên đơn được người tiêu dùng đánh giá “hàng Việt Nam chất lượng cao” trong suốt 11 năm liền, chứng tỏ là lượng khách hàng không hề nhỏ Ngoài ra, công ty này còn thực hiện nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trên phạm vi cả nước

+ Về phía bị đơn có trụ sở chính quận Hoàng Mai, Hà Nội; hoạt động nghành hàng, đăng kí hoạt động chủ yếu ở Hà Nội

+ Trên cơ sở xác định khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc là danh tiếng (Khoản 21 Điều 4 LSHTT)

→ Từ những cơ sở lý luận trên có thể nhận xét rằng nguyên đơn và bị đơn có phần nào đó có cùng khu vực kinh doanh

d) Với những phân tích trên, bị đơn có hành vi xâm phạm tên thương mại của nguyên đơn không? Nêu cơ sở pháp lý và phân tích.

Theo điểm b khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, quyền SHCN đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tương ứng với khu vực và lĩnh vực kinh doanh mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký Tuy nhiên bản thân việc sử dụngmột dấu hiệu trên thực

tế chưa đủ để xác lập một tên thương mại được bảo hộ mà cần thỏa điều kiện Điều 76, 77, 78 Luật SHTT về khả năng phân biệt với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Theo khoản 2 Điều 129 Luật SHTT: “Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mạitrùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đóđều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.” Như vậy, để xác định bị đơn có hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại của nguyên đơn không cần xem xét hai điều kiện:

1) “chỉ dẫn thương mại” của bị đơn có trùng hoặc tương tự với tên thương mại của nguyên đơn không;

2) Sản phẩm, dịch vụ mà bị đơn kinh doanh có cùng loại hoặc tương tự với sản phẩm, dịch

vụ mà nguyên đơn kinh doanh đến mức gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh không

Đối với điều kiện đầu tiên, cần xác định “chỉ dẫn thương mại” của bị đơn có trùng hoặc tương tự với tên thương mại của nguyên đơn không Theo khoản 2 Điều130 Luật SHTT,

“Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu,thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hoá“

Có thể thấy tên thương mại của nguyên đơn là “Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam” được cấp GCNĐKKD do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/01/2004 Tiền thân của nguyên đơn là công ty kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam được thành

Trang 6

lập do Bộ công nghiệp nhẹ cấp ngày 29/4/1993 Trong khi đó, bị đơn là “Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam” được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp GCNĐKKD ngày 29/05/2007 Theo đó, bị đơn được thành lập sau nguyên đơn và sử dụng tên thương mại trùng hoàn toàn với tên của nguyên đơn Bị đơn sử dụng “chỉ dẫn thương mại” liên quan đến tên thương mại được bảo hộ của nguyên đơn thông qua việc sử dụng tên thương mại của bị đơn

Đối với điều kiện thứ hai, lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn có sản xuất kinh doanh trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ gạo, bột mì Trong khi đó GCNĐKKD bị đơn được Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp với nhiều ngành nghề kinh doanh chế biến lương thực, thực phẩm trong đó có sản xuất các sản phẩm tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột Vì vậy có căn cứ xác định nguyên đơn và bị đơn là các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực Như vậy, với những phân tích ở trên, có đủ căn cứ để xác định bị đơn có hành vi xâm phạm tên thương mại của nguyên đơn

2 Nghiên cứu tình huống sau:

Bà P là nhân viên làm việc tại công ty M Trước đây, bà P đã gửi e-mail cho bà L (chị của

bà P) với nội dung “ Chị ơi, đây là danh mục hàng áo khoác và quần của công ty M kèm theo danh mục” Công ty cho rằng bà P có hành vi vi phạm nội quy lao động, cụ thể là tiết

lộ bí mật kinh doanh của công ty theo phần 4 Điều 4.1 Nội quy công ty Điều 4.1 Nội quy công ty có quy định: “trong quá trình làm việc cho công ty M, nhân viên có thể có được tài liệu hoặc biết được thông tin về công ty Những thông tin hay tài liệu này nếu tiết lộ cho những cá nhân không có liên quan có thể gây hại về vật chất cũng như ảnh hưởng không tốt cho công ty Hành động tiết lộ đó dù cố tình hay sơ suất đều có thể xem như vi phạm hợp đồng và phải chịu biện pháp kỷ luật kể cả việc sa thải” Trên cơ sở đó, công ty trên đã thực hiện sa thải bà P.

Câu hỏi:

a) Nêu căn cứ xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh Những thông tin trong e-mail

mà bà P đã gửi có được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ không?

Căn cứ xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh

Theo điểm c khoản 3 Điều 6 Luật SHTT thì “quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó.”

Còn theo quy định tại khoản 4 Điều 6 nghị định 103/2006/NĐ-CP thì “quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất kỳ cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin và bảo mật thông tin tạo thành bí mật kinh doanh đó mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký.”

Trang 7

=>Như vậy quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ theo nguyên tắc tự động

Những thông tin trong email mà bà P đã gửi có được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh không theo Luật Sở hữu trí tuệ không?

- Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

+ Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó

+ Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được

+ Không thuộc các đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh

Xem xét thông tin mà bà P tiết lộ có thỏa mãn hết các điều kiện trên hay không:

+ Đầu tiên, thông tin mà bà P gửi đi đã được chủ sở hữu sử dụng biện pháp để bảo mật bằng cách quy định trong nội quy của công ty

+ Thứ hai, thông tin này cũng không thuộc đối tượng không được bảo hộ theo Điều 85 Luật SHTT

+ Thứ ba, danh mục hàng áo khoác và quần của công ty chỉ là những thông tin bình thường của công ty, do đó không thỏa điều kiện “không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được”

+ Thư tư, do thông tin trên chỉ là thông tin thông thường nên khi sử dụng trong kinh doanh sẽ không tạo cho cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó

Như vậy thông tin bà P gửi cho chị mình không phải là bí mật kinh doanh được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ

b) Hành vi của bà P trong tình huống trên có xâm phạm bí mật kinh doanh của công ty không?

Căn cứ khoản 23 Điều 4 Luật SHTT có thể thấy rằng thông tin mà bà P cung cấp cho bà L không phải là bí mật kinh doanh bởi đó chỉ là danh mục những mặt hàng mà công ty M sản xuất, kinh doanh, không đủ điều kiện để được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh Vì vậy, hành vi của bà P không xâm phạm bí mật kinh doanh của công ty nhưng đã vi phạm quy định của công ty

B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Đọc, nghiên cứu Bản án số 30 và 31 “Tên miền và mối liên hệ với quyền sở hữu trí tuệ” (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

và trả lời các câu hỏi sau đây:

1/ Tên miền là gì? Tên miền có là một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ không?

- Tên miền là địa chỉ của một trang thông tin điện tử (website), là một đường dẫn để người dùng có thể truy cập vào website của tổ chức, cá nhân sở hữu trên mạng internet

- Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành cụ thể là tại Điều 3 Luật SHTT thì tên miền không phải là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

2/ Hiện nay, việc khai thác, sử dụng tên miền được điều chỉnh bởi những văn bản nào?

Hiện nay, việc khau thác, sử dụng tên miền được điều chỉnh bởi các văn bản:

-Luật Công nghệ thông tin 2006 (Khoản 1 và 3, Điều 12; Khoản 2, Điều 23; Điều 68; Điều 76)

-Nghị định số 97/2008/NĐ-CP Về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet (Khoản 6, Điều 4 và Điều 17)

-Thông tư 10/2008/TT-BTTTT Quy định về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam

-Thông tư số 189/2010/TT-BTC Quy định về phí, lệ phí tên miền quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí tên miền quốc gia và địa chỉ Internet của Việt Nam -Nghị định số 72/2013/ NĐ-CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng (Khoản 8, Điều 3; Điều 12 đến Điều 16; Điều 19)

-Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT Quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet

-Thông tư số 16/2016/TT-BTTTT Hướng dẫn về chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền Internet được cấp không thông qua đấu giá

3/ Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp lý nào để thu hồi các tên miền

đã được đăng ký?

Trong Bản án số 30 (Bản án số 52/2011/KDTM-PT), Toàn án đã dựa trên quy định của Luật

Sở hữu trí tuệ (Điều 76), Nghị định 97/2008/NĐ-CP (Khoản 5, Điều 17) và Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT (Điều 4, phần II; phần III; phần IV) để thu hồi các tên miền đã được đăng ký

Trong Bản án số 31 (Bản án số 05/2014/KDTM-ST), Toàn án đã dựa trên quy định của Luật

Sở hữu trí tuệ (Điểm d, Khoản 1, Điều 130), Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT (Mục IV) để thu hồi các tên miền đã được đăng ký

4/ Pháp luật các quốc gia khác quy định như thế nào về trường hợp tên miền trùng hay tương tự với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ?

Trang 9

Căn cứ vào Khoản 2, Điều L.45-2, Bộ luật Bưu chính và Viễn Thông Pháp năm 1952 (Code des postes et des communications électroniques 1952):

“Tuân thủ các nguyên tắc nêu tại Điều L 45-1, việc đăng ký hoặc gia hạn tên miền có thể bị từ chối hoặc tên miền bị xóa:“

”Dễ bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc riêng tư, trừ khi người nộp đơn biện minh cho rằng đó là quyền lợi hợp pháp và hành động không nhằm mục đích xấu; Việc từ chối đăng ký hoặc gia hạn hoặc xóa tên miền chỉ thực hiện nếu một trong những lý do được đề cập như trên, chỉ sau khi Cơ quan Đăng ký đưa việc nộp đơn vào vị trí để xem xét và, nếu cần thiết, để thường xuyên theo dõi tình hình của tên miền đó”

Theo quy định của pháp luật Pháp, nếu một người đăng kí có tên miền trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên miền đã đăng kí thì cơ quan có thẩm quyền phải từ chối đăng

kí hoặc gia hạn đăng kí hoặc xoá tên miền đó nếu nó xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ hoặc riêng tư của người khác

Tuy nhiên, có một ngoại lệ là nếu người nộp đơn chứng minh được cho rằng đó là quyền lợi hợp pháp và hành động không nhằm mục đích xấu

- Pháp luật Hoa Kỳ:

Căn cứ vào Mục (ii) (d) (1) (A), Điều 11254, Chương 22: Nhãn hiệu (Trademarks), Bộ luật Kinh tế và Thương mại Hoa Kỳ 1946 (U.S Code: Title 15 - COMMERCE AND TRADE) được sửa đổi, bổ sung bằng Đạo luật chống việc đăng ký tên miền (Anticybersquatting

Consumer Protection Act - ACPA) năm 19995:

“(d) (1) (A) Một người sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự với chủ sở hữu nhãn hiệu, baogồm tên cá nhân nổi tiếng được bảo vệ theo phần này, nếu không liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ của các bên, khi người đó:

(ii) Đăng ký, giao dịch hoặc sử dụng tên miền:

(I) Trong trường hợp đã có một nhãn hiệu khác tại thời điểm đăng ký tên miền, trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đó;

(II) Trong trường hợp của một nhãn hiệu nổi tiếng mà nổi tiếng tại thời điểm đăng ký tên miền, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đó; hoặc là

(III) Nhãn hiệu, từ ngữ hoặc tên được bảo vệ theo Mục 706, Phần 18, Bộ luật Hoa

Kỳ hoặc Mục 220506, Phần 36, Bộ luật Hoa Kỳ”

Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, nếu một người đăng kí nhãn hiệu có tên miền trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu khác đã đăng kí tên miền thì phải chịu trách nhiệm dân sự với chủ sở hữu nhãn hiệu đó

- Pháp luật Anh:

Trang 10

Anh chưa có quy định cụ thể về tên miền mà quy định nó thông qua việc quy định đối với nhãn hiệu

Căn cứ vào Khoản (1) và (2), Điều 10, Đạo luật Thương mại Anh 1994 (Trade Marks Act 1994) về Vi phạm nhãn hiệu đã đăng kí:

“(1) Một người vi phạm nhãn hiệu đã đăng ký nếu người đó sử dụng một dấu hiệu trùng với nhãn hiệu liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ giống hệt với nhãn hiệu đã đăng ký

(2) Một người vi phạm nhãn hiệu đã đăng ký nếu anh ta sử dụng một dấu hiệu, khi:

(a) Dấu hiệu trùng với nhãn hiệu và được sử dụng có liên quan đến hàng hóa hoặc dịch

vụ tương tự như nhãn hiệu được đăng ký trước đó, hoặc

(b) Dấu hiệu tương tự như nhãn hiệu và được sử dụng có liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ trùng hoặc tương tự như nhãn hiệu được đăng ký”

Giống với nhãn hiệu đã đăng ký nghĩa là để đăng ký được, tên miền được đề cập phải trùng với nhãn hiệu Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc thực hiện tuân thủ theo nguyên tắc là như nhau không nhất thiết có nghĩa là hoàn toàn giống nhau Áp dụng quy định này cho tranh chấp tên miền dựa trên nhãn hiệu thì để xác định có vi phạm liên quan đến tên miền thì phải xem xét: + Tên miền trùng hay tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký

+ Tên miền phải được sử dụng trong quá trình thương mại

+ Xem xét liệu hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp dưới tên miền có trùng hay tương tự những cam kết được quy định trong đăng ký nhãn hiệu hay không Nếu không, sẽ không có

vi phạm Nếu sự có giống nhau, thì kiểm tra xem có sự nhầm lẫn hay không

- Pháp luật Nga:

Căn cứ quy định Khoản 1, Khoản 2.5, và Khoản 3, Điều 1484, Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga về Quyền độc quyền đối với nhãn hiệu:

“1 Người có nhãn hiệu đã được đăng ký (chủ quyền) có độc quyền sử dụng nhãn hiệu theo Điều 1229 của Bộ luật hiện hành dưới bất kỳ hình thức nào và không mâu thuẫn với pháp luật (độc quyền đối với nhãn hiệu), bao gồm các trường hợp được quy định tại khoản 2 điều này Chủ sở hữu có quyền quyết định độc quyền nhãn hiệu

2 Quyền độc quyền đối với nhãn hiệu có thể được thiết lập đối với hàng hóa, công trình hoặc dịch vụ đã đăng ký nhãn hiệu, bằng cách đặt nhãn hiệu:

5) trên Internet, bao gồm tên miền hoặc trong các địa chỉ theo cách thức khác

3 Không chủ thể nào có quyền nếu không có sự cho phép của chủ sở hữu trong việc sử dụng nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu hàng hóa mà chủ thể khác đã đăng ký nhãn hiệu hoặc hàng hóa tương tự nếu việc sử dụng đó gây nhầm lẫn” Theo quy định trên, Bộ luật Dân sự Nga đã bảo hộ tên miền thông qua việc bảo hộ Nhãn hiệu Bộ luật cũng thừa nhận quyền độc

Ngày đăng: 22/05/2023, 18:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w