TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hợp đồng kinh doanh, thương mại trong pháp luật Việt Nam” Sinh viên thực hiện Mã số Ngu[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài: “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hợp đồng kinh doanh, thương mại trong
pháp luật Việt Nam”
Sinh viên thực hiện- Mã số Nguyễn Thị Thanh Mai - 11202470
Hoàng Phương Thảo - 11206919
Vũ Phương Linh - 11205928Nguyễn Thị Phương Thảo - 11203688Nguyễn Văn Quyết - 11203337
Nhữ Thu Hạnh - 11201377
Giảng viên giảng dạy: ThS Phạm Đức Chung
ThS NCS Nguyễn Thu Trang
Hà Nội, 12 tháng 01 năm 2022
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế, quá trình hoạt động kinh doanh nào cũng đều được thể hiệnthông qua hợp đồng Do vậy, hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý giúpcác cá nhân, tổ chức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu Hợp đồng đóng vai tròquan trọng trong việc vận hành nền kinh tế, là phương tiện giúp nhà nước quản lý cáchoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Thông qua việc ràng buộc pháp lý, cácchủ thể trong nền kinh tế phải có nghĩa vụ đối với nhau, là cơ sở thiết lập mối quan hệkinh doanh giữa các đối tác, khách hàng Hiện nay, có nhiều trường hợp các bên giaokết, ràng buộc hợp đồng với nhau xảy ra các tranh chấp kinh doanh đều xuất phát từnhững bất cập của hợp đồng thương mại Trong quá trình thực hiện hợp đồng thươngmại theo luật thương mại 2005 tới nay, tồn tại rất nhiều bất cập như chậm thanh toán,viphạm hợp đồng hay bị đình chỉ hợp đồng
Do đó, việc nắm vững kiến thức về pháp lý, hiểu rõ các quy định của pháp luậtthương mại sẽ giúp các chủ thể kinh doanh thuận lợi giao kết và thực hiện hợp đồngmột các hiệu quả Hiện nay, ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều thương nhân chưa nắm rõquy định trước khi ký kết các hợp đồng, dẫn đến tranh chấp, vi phạm đáng tiếc Vì vậy,trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều động lực tăng trưởng và để lạinhiều dấu ấn tích cực về thương mại quốc tế, việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồngthương mại, kinh doanh là cấp thiết Hơn thế nữa, việc tích lũy các kiến thức pháp luậtđối với sinh viên Kinh tế Quốc dân là một hành trang cho tương lai Do vậy, nhóm 6
chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hợp đồng kinh doanh, thương mại
trong pháp luật Việt Nam.”
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồngthương mại, thực trạng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, đưa ra các vấn đề còn tồn đọng
và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng thương mại
Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu đề tài cần phải giải quyết những nhiệm vụ chủyếu sau:
Trang 3Thứ nhất, xây dựng khái niệm, bản chất và các đặc điểm của hợp đồng, hợp đồng thương mại
Thứ hai, phân tích các quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng tại Việt Nam: những kết quả đạt được và những hạn chế của pháp luật
Thứ tư, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, đề xuất ý kiến xây dựng để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hiện hợp đồng thương mại
3 Bố cục của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về HĐTM
Chương 2: HĐTM theo pháp luật ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp và định hướng nâng cao hiệu quả khi thực hiện HĐTM
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN NỘI DUNG 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HĐTM 1
1.1 CÁC LÝ THUYẾT VỀ HĐTM 1
1.1.1 Hợp đồng 1
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng 1
1.1.1.2 Phân loại hợp đồng 1
1.1.1.3 Quy định của BLDS về hợp đồng 2
1.1.2 Khái quát về HĐTM 3
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm HĐTM 3
1.1.3 Các nguyên tắc thực hiện HĐTM 5
1.2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ THỰC HIỆN HĐTM 5
1.2.1 Quy định của pháp luật về đối tượng của hoạt động thương mại 6
1.2.2 Giá cả, phương thức thanh toán 7
1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại 7
1.2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa 8
1.2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ 11
1.2.4 Chế tài xử phạt 13
Chương 2 HĐTM THEO PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 16
2.1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN HĐTM 16
2.1.1 Yếu tố môi trường pháp lý 16
2.1.2 Yếu tố cơ chế quản lý hành chính nhà nước về thương mại 17
2.1.3 Yếu tố cơ chế giải quyết tranh chấp về thương mại 18
2.1.4 Yếu tố văn hóa kinh doanh trong thực hiện HĐTM 19
2.2 TÌNH HÌNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỰC HIỆN HĐTM 19
2.2.1 Quy định về đối tượng, quyền và nghĩa vụ các bên 19
Trang 52.2.1.1 Quy định về đối tượng 19
2.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ các bên 20
2.2.2 Đánh giá về thực trạng của hoạt động thương mại 22
2.2.3 Vi phạm hợp đồng kinh doanh, mua bán 25
2.2.3.1 Chế tài vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại 25
2.2.3.2 Mua bán hàng giả, hàng kém chất lượng khác so với bản hợp đồng đã ký, gây tổn thất và phải bồi thường (Điều 320 LTM 2005) 29
2.2.4 Quy định lãi chậm thanh toán (Điều 306 LTM 2005) 31
Chương 3 GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHI THỰC HIỆN HĐTM 32
3.1.MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HĐTM 32
3.1.1 Phù hợp với chủ trường, đường lối chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam 32
3.1.2 Đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế trong xu thế hội nhập 33
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HĐTM 33
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 33
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 38
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 LTM 2005: Luật Thương Mại 2005
2 BLDS 2015: Bộ Luật Dân Sự 2015
3 HĐTM: Hợp đồng thương mại
5 Cty: Công ty
Trang 6PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HĐTM
xã hội phong phú và đa dạng nhằm đạt được lợi ích và thỏa mãn nhu cầu vật chất cũngnhư nhu cầu tinh thần Trong các mối quan hệ pháp luật dân sự đó, hợp đồng là căn cứchủ yếu phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự Hiện nay ở nước ta, hợp đồng được hiểu làmột cam kết giữa các bên để thỏa thuận về việc buôn bán, trao đổi trong khuôn khổpháp luật
Theo BLDS 2015, khái niệm về hợp đồng được khái quát: “Hợp đồng là sự thỏathuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.(Điều 385 BLDS 2015)
Trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ giữa các bên là đặc trưng cơ bản của nghĩa
vụ dân sự và có tính chất tương ứng Quyền lợi của bên này chỉ đạt được khi bên kiathực hiện nghĩa vụ đã được các bên xác nhận trong hợp đồng Do vậy, mục đích củahợp đồng là để dung hòa và thỏa mãn lợi ích giữa các bên Hợp đồng là những giaodịch dân sự phổ biến, là căn cứ để phát sinh nghĩa vụ dân sự Vì vậy, những quy địnhcủa pháp luật dân sự về giao dịch dân sự và nghĩa vụ dân sự thì cũng được áp dụng đốivới quan hệ hợp đồng
1.1.1.2 Phân loại hợp đồng
Hợp đồng có thể chia thành nhiều loại theo những tiêu chí khác nhau
Trang 7Thứ nhất, theo lĩnh vực xã hội Hợp đồng không có tính chất kinh doanh hoặc hợp
đồng dân sự theo nghĩa hẹp giữa các hộ gia đình để thực hiện các giao dịch dân sựnhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt Có thể kể đến như hợp đồng điện nước, hợp đồngcho thuê nhà… Hợp đồng kinh doanh, thương mại là hợp đồng giữa các chủ thể đăng
ký kinh doanh mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại Hợp đồnglao động là hợp đồng giữa người lao động và người sử dụng lao động
Thứ hai, phân loại theo nội dung Hợp đồng theo nghĩa vụ các bên Theo cách phân
loại này, có thể chia theo sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có quyền và nghĩa vụtương ứng với nhau, trong khi hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ có một bên cónghĩa vụ Hợp đồng theo hình thức được chia thành nhiều dạng như hợp đồng bằng vănbản, hợp đồng bằng lời nói, hợp đồng bằng hành vi cụ thể, hợp đồng có công chứng vàhợp đồng phải đăng ký Hợp đồng theo hiệu lực là hợp đồng mà các bên xã định thờihạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
1.1.1.3 Quy định của BLDS về hợp đồng
Chế độ pháp lý về hợp đồng được chia theo các phần: Giao kết hợp đồng, thựchiện, thay đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng, trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụhợp đồng và giải quyết các tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng
Giao kết hợp đồng là quá trình thương lượng giữa các bên về các điều khoảntrong hợp đồng theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để đạt được thỏa thuậngiữa các bên
Xác lập giao kết hợp đồng qua 2 trình tự: Đề nghị giao kết hợp đồng và chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng Trong đó, đề nghị giao kết hợp đồng được quy định tạiĐiều 386 BLDS 2015, “là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràngbuộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới côngchúng” Sau đó, sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dungcủa đề nghị được gọi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, được quy định tại Điều
393 BLDS 2015, trong trường hợp bên được đề nghị chỉ đồng ý một phần của nội dung
Trang 8thì coi như bên được đề nghị muốn thay đổi, sửa đổi hoặc bổ sung nội dung đã đượcđưa ra Từ đó, quá trình đưa ra đề nghị và chấp nhận đề nghị được lặp đi lặp lại chođến khi cả hai bên chấp nhận toàn bộ điều khoản nội dung trong hợp đồng thì sẽ tiếnđến việc chính thức giao kết hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể dẫn đến việc hoàn cảnh thay đổi, thìcác bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng hoặc một bên có quyền hủy bỏ hợp đồngtheo Điều 423, BLDS 2015 Khi chủ thể vi phạm các quy định của pháp luật về việcgiao kết hợp đồng thì phải nhận trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng như bồithường thiệt hại, chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền Ngoài ra Điều 292BLDS 2015 cũng quy định rõ các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như ký cược,đặt cọc, bảo lãnh, thế chấp tài sản
1.1.2 Khái quát về HĐTM
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm HĐTM
Khái niệm HĐTM: HĐTM là một hành vi pháp lý, thể hiện ý chí của các bênchủ thể làm phát sinh quyền và nghĩa vụ được ghi nhận bằng các điều khoản hoặc camkết trong HĐTM Việc đàm phán, ký kết HĐTM là một quá trình, trong đó mục đích
cơ bản là mang lại lợi ích tối ưu cho các bên thực hiện hợp đồng Do đó có thể tómlược khái niệm HĐTM như sau: HĐTM là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xáclập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên dưới hình thức pháp lý của hành
vi thương mại
Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong đầu tư, sản xuất, trao đổi hànghóa, cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, từ đó làm phát sinhquyền và nghĩa vụ giữa thương nhân và các bên có liên quan
Đặc điểm của HĐTM: HĐTM có bản chất chung của một hợp đồng, đồng thờicũng có những điểm khác biệt đặc trưng so với các hợp đồng khác, thể hiện qua cácđặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể của HĐTM Chủ thể của HĐTM chủ yếu là thương nhân, HĐTM
nhằm mục đích sinh lợi nên chủ thể tham gia chủ yếu là các thương nhân Điều 6 LTM
2005, “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân
Trang 9HĐTMmột cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” HĐTM có thể cótất cả các bên đều có tư cách pháp nhân, ví dụ như hợp đồng cung cấp dịch vụ giữangân hàng TMCP đầu đầu tư và phát triển BIDV và cty cổ phần thanh toán quốc giaNAPAS hoặc một bên chủ thể là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và một bên có tưcách thương nhân, ví dụ như hợp đồng BOT.
Thứ hai, về đối tượng của HĐTM Đối tượng của HĐTM là hàng hóa, dịch vụ hoặc các
công việc hợp pháp luật công nhận và bảo hộ
Thứ ba, về nội dung của HĐTM HĐTM thể hiện sự thỏa thuận thương mại đi đến
thống nhất hoặc cam kết về quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Các điềukhoản trong HĐTM gồm các điều khoản như đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượnghàng hóa hoặc dịch vụ, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn hiệu lực hợp đồng,quyền của các bên, trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng hay những điều khoản khác nhưgiải quyết tranh chấp qua cơ quan nào, các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng
Thứ tư, về hình thức của HĐTM Phụ thuộc vào nội dung của hợp đồng, về nguyên tắc
chung thì hình thức của HĐTM có thể bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể LTM
2005 cũng cho phép thay thế hình thức văn bản bằng các hình thức tương đương nhưfax, điện báo và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Thứ năm, về mục đích của HĐTM Các chủ thể tham gia HĐTM hướng tới mục đích
sinh lợi, lợi nhuận các bên đạt được như vật chất, tài sản hay những lợi ích phi vật chấtnhư thương hiệu, uy tín doanh nghiệp hay niềm tin từ khách hàng Về nguyên tắc, mụcđích của HĐTM là lợi nhuận cả hai bên hướng tới hoặc ít nhất một bên hướng tới
Đặc điểm thực hiện HĐTM:
Thứ nhất, thực hiện HĐTM chủ yếu là thực hiện hợp đồng song vụ, theo Điều 410
BLDS 2015 Khi các bên thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thựchiện cho đến khi hết hạn hợp đồng Khi thực hiện HĐTM mỗi bên giao kết hợp đồngđều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên còn lại, đồng thời cũng là bên có quyền đòihỏi lợi ích mà bên kia phải thực hiện Việc thực hiện HĐTM vừa là quyền, vừa là lợiích của các bên trong hợp đồng hướng đến, theo Điều 415 BLDS 2015
Trang 10Thứ hai, quá trình thực hiện HĐTM với mục đích các bên chính là lợi nhuận Đây là
mục đích xuyên suốt từ khi các bên đề nghị giao kết hợp đồng cho đến khi thực hiệnxong các điều khoản đã thỏa thuận
Thứ ba, một trong những đặc trưng của việc thực hiện HĐTM đó là phương thức thanh
toán Khi thực hiện hợp đồng, bên có nghĩa vụ thanh toán phải chuyển giao cho bên kiatheo đúng thời hạn, phương thức đã thỏa thuận Việc lựa chọn phương thức thanh toánphụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở sự hiểu biết về khả năng tài chính
và tín nhiệm thương mại của các bên Các bên có thể thỏa thuận áp dụng phương thứcthanh toán mà theo mình là tiện lợi, dễ dàng và phù hợp với tính chất của hợp đồng
Thứ tư, việc thực hiện HĐTM dựa trên nguyên tắc nhất định Thực hiện đúng loại hợp
đồng, đúng đối tượng, số lượng, chủng loại, chất lượng, đúng thời hạn, phương thứcthanh toán và nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận khác Việc thực hiện đúng hợp đồng nhằmmang lại lợi ích kinh tế cho các bên Tuy nhiên, việc thực hiện hợp đồng không đượcxâm phạm đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân hay lợi ích của cộng đồng
Thứ năm, trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu một trong các bên vi phạm các điều
khoản đã thỏa thuận thì phải chịu trách nhiệm với những điều khoản đã thỏa thuận, sẽphải chịu các chế tài do pháp luật quy định, bao gồm những biện pháp như phạt viphạm, bồi thường thiệt hại, đình chỉ hợp đồng hoặc hủy hợp đồng
Trang 111.2.1 Quy định của pháp luật về đối tượng của hoạt động thương mại
Đối tượng của HĐTM chính là hàng hóa mà các bên sẽ mua bán với nhau hoặccông việc, dịch vụ mà một bên sẽ thực hiện, cung cấp cho bên còn lại Các bên sẽ nêu
cụ thể thông tin có liên quan của hàng hóa gồm chủng loại hàng hóa, nguồn gốc xuất
xứ, số lượng, khối lượng, chất lượng, đặc điểm kỹ thuật, tình trạng hàng hóa (mới hay
đã qua sử dụng), v.v
Đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật đã quy định: Thứ
nhất, về tính hợp pháp của hàng hóa: Hàng hóa trong mua bán phải thuộc quyền sở
hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng, quy định theo pháp luật dân sự; phải tuân theo những quy định của LTM về điều kiện đối với hàng hóa trong quan hệ mua bán Bên cạnh, chính phủ cũng quy định cụ thể danh mục hàng hóa cấm kinh doanh và các vấn đề bên cạnh trong NĐ số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của chính phủ quy định chi tiết thi hành LTM về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Ngoài ra, hàng hóa đang được lưu thông hợp pháp trong nước bị áp dụng một hoặc các biện pháp buộc phải thu hồi, cấm lưu thông, tạm ngừng lưu thông, lưu thông có điều kiện hoặc phải có giấy phép đối khi hàng hóa đó là nguồn gốc hoặc phương tiện lây truyền các loại dịch bệnh hoặc khi xảy
ra tình trạng khẩn cấp như để bảo vệ an ninh quốc gia và các lợi ích quốc gia khác phù
hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Thứ hai,
về nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Nhãn hàng
được quy định là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn lên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa Hàng hóa lưu thông trong nước, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải có nhãn hànghóa, trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật Nội dung cần ghi trên nhãn hàng hóa và trách nhiệm của thương nhân trong việc ghi nhãn hàng hóa quy định trong
NĐ số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/9/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa Đồng thời hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy chứng nhận xuất xứ trong các
Trang 12trường hợp hàng hóa được hưởng ưu đãi về thuế hoặc ưu đãi khác hoặc theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
1.2.2 Giá cả, phương thức thanh toán
Giá cả thường được xác định dựa trên những căn cứ như đơn giá, điều kiện cơ
sở tính giá, điều khoản bảo lưu về giá hàng hóa; theo nguyên tắc giá cả cần phải đượcquy định rõ, đúng và chính xác Giá do các bên thỏa thuận hoặc do bên thứ ba xác địnhtheo yêu cầu của các bên và được ghi vào hợp đồng
Phương thức thanh toán sẽ được các bên lựa chọn dựa vào mức độ tin cậy giữa
các bên, khả năng thanh toán, hoặc phụ thuộc đối tượng hàng hóa Đối với các doanhnghiệp nội địa, thường áp dụng phương thức chuyển khoản hoặc tiền mặt Nhữngphương thức này có thể áp dụng đối với những đơn hàng số lượng ít và giá trị hợpđồng không cao Tuy nhiên trong lĩnh vực ngoại thương, do sự khác biệt văn hóa, sựchênh lệch về khả năng tài chính, quy mô cũng như về đồng tiền thanh toán, các bên cóthể áp dụng phương thức mang tính chất chuyên nghiệp hơn và có sự hỗ trợ từ bên thứ
ba - thường là các tổ chức tín dụng, ngân hàng như: chuyển tiền bằng điện hay chuyểntiền bằng thư… Các bên cần thỏa thuận rõ ràng phương thức thanh toán điều màthường có sự liên hệ với thời điểm giao hàng, nhận các chứng từ
Có bốn khoảng thời gian thường được lựa chọn thanh toán, người mua có thểlựa chọn thanh toán trước/sau hoặc ngay khi người bán giao hàng hoặc thực hiện đơnhàng; người mua cũng có thể chia trị giá hợp đồng ra thành các mốc thời gian thanhtoán khác nhau, tùy theo thỏa thuận với bên bán
1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại
Quyền của các bên được quy định trong HĐTMvà nó chỉ được thực hiện bởibên còn lại thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia Do đó, trong HĐTM quyềnlợi và nghĩa vụ luôn đi song song với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia
và ngược lại, việc ghi rõ quyền và nghĩa vụ của các bên cho phép các bên thực hiệnđúng ý chí mà mình muốn khi giao kết HĐTM, tránh việc các bên hiểu sai hay lợi dụngviệc không rõ ràng trong các điều khoản về quyền và nghĩa vụ để làm sai lệch đi ý chí
Trang 13mà các bên muốn hướng tới khi giao kết hợp đồng, tránh các rắc rối về sau khi có tranhchấp về hợp đồng xảy ra.
1.2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Về giao nhận hàng và chứng từ liên quan đến hàng hóa: Bên bán phải giao hàng,chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói,bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theothỏa thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng Có bốnđiều cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, về địa điểm giao hàng: Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã
thỏa thuận, trong trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểmgiao hàng được xác định theo trong 4 trường hợp quy định rõ tại Điều 35, LTM
Thứ hai, vấn đề giao hàng liên quan đến người vận chuyển: Việc này được viết thành
ba trường hợp trong Điều 36, LTM, với trường hợp đầu tiên nói rằng hàng hóa đượcgiao cho người vận chuyển nhưng không được xác định rõ bằng ký mã hiệu trên hànghóa, chứng từ vận chuyển hoặc cách thức khác thì bên bán phải thông báo cho bên mua
về việc đã giao hàng cho người vận chuyển và phải xác định rõ tên và cách thức nhậnbiết hàng hóa được vận chuyển
Thứ ba, về thời hạn giao hàng: Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng
đã thỏa thuận trong hợp đồng Theo Điều 37, LTM, trong trường hợp chỉ có thỏa thuận
về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán cóquyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trướccho bên mua và trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phảigiao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng Còn lại, trường hợp bênbán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc khôngnhận hàng nếu các bên không có thỏa thuận khác
Thứ tư, khi hợp đồng không có quy định cụ thể: Trường hợp này, hàng hóa không phù
hợp với hợp đồng, không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hànghóa cùng chủng loại hay không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã
Trang 14cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng Trừ trườnghợp các bên có thỏa thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợpđồng được quy định rõ tại Điều 40 LTM 2005.
Thứ năm, về giao chứng từ liên quan đến hàng hóa: Pháp luật quy định rõ ràng tại
Điều 42 LTM 2005 gồm 4 trường hợp về thỏa thuận liên quan tới việc giao chứng từnhư thời gian, địa điểm, những thiếu sót của các chứng từ và các phương thức đã thỏathuận
Về kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng: 5 trường hợp đã được quy định rõràng tại Điều 44 LTM về thỏa thuận của bên mua và bên bán về tiến hành kiểm trahàng hóa trước khi giao hàng và các trách nhiệm của đôi bên
Về quyền sở hữu hàng hóa và thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa:
Thứ nhất, pháp luật quy định bên bán có nghĩa vụ bảo đảm ba điều Đầu tiên, quyền sở
hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba, tiếptheo, hàng hóa mua bán là hợp pháp và cuối cùng, việc chuyển giao hàng hóa là hợppháp
Thứ hai, trường hợp bên mua yêu cầu bên bán phải tuân theo bản vẽ kỹ thuật, thiết kế,
công thức hoặc những số liệu chi tiết do bên mua cung cấp thì bên mua phải chịu tráchnhiệm về các khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từviệc bên bán đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua Tuy nhiên, bên bán phải thôngbáo ngay cho bên mua về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hóa được giao sau khibên bán đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên mua đã biết hoặcphải biết về khiếu nại của bên thứ ba
Thứ ba, hàng hóa được bán là đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự thì bên bán phải thông báo cho bên mua về biện pháp bảo đảm và phải được sự đồng
ý của bên nhận bảo đảm về việc bán hàng hóa đó
Thứ tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác,
quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa đượcchuyển giao
Về xác định giá và thanh toán:
Trang 15Xác định giá: nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về giá hàng hóa, không có thỏa
thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giáthì giá của hàng hóa được xác định theo giá của loại hàng hóa đó trong các điều kiệntương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hóa, thị trường địa lý,phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá Trừ trường hợp
có thỏa thuận khác, nếu giá được xác định theo trọng lượng của hàng hóa thì trọnglượng đó là trọng lượng tịnh
Nghĩa vụ thanh toán và quyền ngừng thanh toán: bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền
mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận, tuân thủ các phương thức thanh toán, thựchiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật
kể cả trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bênbán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra Bênmua có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng nhưng phải thực hiện theo quy định vàtrừ trường hợp có thỏa thuận khác, việc ngừng thanh toán tiền mua hàng được quy địnhtại 4 trường hợp tại Điều 51 LTM 2005
Địa điểm thanh toán: Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụ thể
thì bên mua phải thanh toán cho bên bán tại địa điểm kinh doanh của bên bán hoặc địađiểm giao hàng hoặc giao chứng từ, đã quy định rõ tại Điều 54, LTM
Thời hạn thanh toán: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên mua phải thanh toán cho
bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hóa.Nếu các bên có thỏa thuận kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng thì bên mua không cónghĩa vụ thanh toán cho đến khi có thể kiểm tra xong hàng hóa
Thời điểm chuyển rủi ro: Thời điểm này được xác định tùy theo từng trường hợp mua
bán khác nhau
Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng: được xác định theo Điều 57,
LTM đã quy định rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên muakhi hàng hóa đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua ủy quyền đã nhậnhàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được ủy quyền giữ lại các chứng
từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa
Trang 16Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định: Theo Điều 58,
LTM thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua khi hànghóa đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên, trừ các trường hợp đã có thỏa thuậntrước
Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển: rủi ro chuyển cho bên mua khi bên mua nhận được chứng từ
sở hữu hàng hóa; hoặc khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hànghóa của bên mua, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 59 LTM 2005)
Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển: điều
này được chuyển cho bên mua trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo Điều 60, LTM
Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác: trừ trường hợp có thỏa thuận khác, việc
chuyển rủi ro trong các trường hợp khác được quy định rằng nếu không được quy định tại các Điều 57, 58, 59 và 60 của Luật này thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóađược chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng Ngoài ra, rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa không được chuyển cho bên mua như đã quy định rõ tại Điều
61 LTM 2005
1.2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ
Trong hợp đồng, các bên cần có những thỏa thuận rất cụ thể về dịch vụ cungứng làm cơ sở cho việc thực hiện của các bên Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếucác bên không có thỏa thuận khác, quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định trongBLDS và LTM
Về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ:
Thứ nhất, phải cung ứng các dịch vụ phù hợp với thỏa thuận và LTM Trong trường
hợp hợp đồng không có quy định cụ thể về tiêu chuẩn kết quả cần đạt được, bên cungứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với tiêu chuẩnthông thường của loại dịch vụ đó
Trang 17Thứ hai, về hợp tác giữa các bên cung ứng dịch vụ Trong trường hợp theo thỏa thuận
hoặc dựa vào tình hình cụ thể, một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiếnhành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác thì mỗi bên cung ứng dịch vụ cócác nghĩa vụ trao đổi, thông tin cho nhau và cần tiến hành bất kỳ hoạt động hợp tác cầnthiết nào với các bên cung ứng dịch vụ khác
Thứ ba, về nghĩa vụ ở thời hạn hoàn thành dịch vụ Bên cung ứng dịch vụ phải hoàn
thành dịch vụ đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng, trường hợp không có thỏathuận về thời hạn hoàn thành dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành dịch vụtrong một thời hạn hợp lý trên cơ sở tính đến tất cả các điều kiện và hoàn cảnh mà bêncung ứng dịch vụ biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng, bao gồm bất kỳ nhu cầu
cụ thể nào của khách hàng có liên quan đến thời gian hoàn thành dịch vụ.Trường hợpmột dịch vụ chỉ có thể được hoàn thành khi khách hàng hoặc bên cung ứng dịch vụkhác đáp ứng các điều kiện nhất định thì bên cung ứng dịch vụ đó không có nghĩa vụhoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điều kiện đó được đáp ứng Sau khi hếtthời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vận chưa hoàn thành, nếu kháchhàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục cung ứng theo nội dung đãthỏa thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có
Thứ tư, nghĩa vụ tuân thủ những yêu cầu hợp lý của khách hàng liên quan đến những
thay đổi trong quá trình cung ứng dịch vụ Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, kháchhàng phải chịu những chi phí hợp lý cho việc thực hiện những yêu cầu thay đổi củamình
Thứ năm, bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để
thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc
Thứ sáu, phải thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tài liệu
không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng dịch vụ
Cuối cùng, cần giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng
dịch vụ nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Về nghĩa vụ của khách hàng:
Trang 18Thứ nhất, bên mua phải thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thỏa thuận trong hợp
đồng Trường hợp không có thỏa thuận và giữa các bên không có bất kỳ thói quen nào
về việc thanh toán, thời hạn thanh toán là thời điểm việc cung ứng dịch vụ được hoànthành Trường hợp không có thỏa thuận về giá dịch vụ, không có thỏa thuận về phươngpháp xác định giá dịch vụ và cũng không có bất kỳ chi dẫn nào khác về giá dịch vụ thìgiá dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự vềphương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán
và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ
Thứ hai, bên mua phải cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác
để việc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn
Thứ ba, bên mua phải hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung
ứng có thể cung ứng dịch vụ một cách thích hợp
Thứ tư, bên mua có nghĩa vụ điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ.
Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng cùng tiến hành hoặc phối hợp với bêncung ứng dịch vụ khác, khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ này để không gây cản trởđến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào Hợp đồng dịch vụ cụ thể liên quanđến mua bán hàng hóa thông thường được quy định trong các Điều từ 88 đến 291,LTM
Theo Điều 292 LTM 2005 quy định có các loại chế tài sau:
Thứ nhất, buộc thực hiện đúng hợp đồng Căn cứ theo Khoản 1 Điều 297 LTM 2005
quy định buộc thực hiện đúng hợp đồng Theo đó, bên vi phạm sẽ phải thực hiện đúngtheo các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng; dùng các biện khác để khắc phục và
Trang 19thực hiện hợp đồng Chi phí thực hiện các biện pháp khắc phục này sẽ do bên vi phạmchịu trong trường hợp giao thiếu hàng hóa; cung ứng dịch vụ không đúng theo như sựthỏa thuận trong hợp đồng Cụ thể tại khoản 2 của Điều 297 LTM 2015 quy định nhưsau: trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợpđồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợpđồng.
Thứ hai, phạt vi phạm Tại Điều 300 LTM 2005 quy định bên bị vi phạm yêu cầu bên
vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoảthuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này Hình phạtđược áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận và áp dụng không căn cứ vào việc bên bị viphạm có hay không có thiệt hại xảy ra Điều kiện để có thể thực hiện việc phạt vi phạm làmột trong các bên không thực hiện hợp đồng (không giao hàng, không thanh toán, khôngnhận hàng) hoặc thực hiện không đúng hợp đồng (giao hàng kém chất lượng, cung cấp dịch
vụ kém) Theo quy định tại Điều 301 LTM 2005 quy định mức phạt đối với vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợpđồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; nhằm tránh việc cácbên quá lạm dụng vào chế tài này, gây ảnh hưởng cho các bên; trừ trường hợp quy định tạiĐiều 266 của Luật này
Thứ ba, buộc bồi thường thiệt hại Theo Khoản 1 Điều 302 LTM 2005 quy định về
điều này rằng bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợpđồng gây ra cho bên bị vi phạm Điều 303 LTM 2005 quy định: trừ các trường hợpmiễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này; trách nhiệm bồi thường thiệt hạiphát sinh khi phải có đủ ba yếu tố: có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế vàhành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạmphải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ đượchưởng nếu không có hành vi vi phạm Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt viphạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại; trừ trường hợp Luậtnày có quy định khác Và trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi
Trang 20phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại; trừtrường hợp Luật này có quy định khác.
Thứ tư, tạm ngừng thực hiện hợp đồng Đây là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ trong hợp đồng, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294của Luật này thì khi đã xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện
để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thìtạm ngừng thực hiện hợp đồng Khi đó hợp đồng vẫn còn hiệu lực và bên bị vi phạm cóquyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này
Thứ năm, đình chỉ thực hiện hợp đồng Hành động này do một bên chấm dứt thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện đểđình chỉ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Khi hợp đồng bịđình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báođình chỉ và các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Thứ sáu, huỷ bỏ hợp đồng Hành động này bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng, là việc
bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng;
và hủy bỏ một phần hợp đồng, là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng;các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực Trừ các trường hợp miễn tráchnhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này; chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụngtrong các trường hợp như xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện
để hủy bỏ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Trừ trường hợpquy định tại Điều 313 của Luật này, sau khi huỷ bỏ hợp đồng; hợp đồng không có hiệulực từ thời điểm giao kết; các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoảthuận trong hợp đồng; trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợpđồng và về giải quyết tranh chấp
Cuối cùng, các biện pháp khác mà các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên và tập quán thương mại quốc tế
Trang 21Chương 2 HĐTM THEO PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
2.1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN HĐTM
2.1.1 Yếu tố môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới vấn đềthực hiện HĐTM Qua đổi mới, do đòi hỏi của thực tiễn khách quan và sức ép khi gianhập, môi trường pháp lý của nước ta đã có những tiến bộ đáng kể Đó là điều khôngthể phủ nhận Tuy nhiên, bàn về tác động của môi trường pháp lý tới vấn đề quản trịdoanh nghiệp, có thể khẳng định rằng, hiện nay môi trường pháp lý của nước ta chưatạo ra động lực để các doanh nghiệp phải quan tâm tới việc thực hiện HĐTM, hướngtới những chuẩn mực về thực hiện HĐTM theo thông lệ quốc tế
Theo đó phải kể đến vấn đề BLDS với các LTM – chuyên ngành có rất nhiềuđiểm không tiệm cận với nhau và vẫn còn nhiều khác biệt Điều này làm cho các chủthể trong mối quan hệ kinh doanh thương mại lúng túng khi áp dụng và khiến các cơquan có thẩm quyền khó khăn khi giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan, hơnnữa sự mâu thuẫn trong quy định của pháp luật sẽ tạo kẽ hở để nhiều người lợi dụnglách luật
Lấy ví dụ về một trong nhưng bất cập, theo quy định tại Điều 307 LTM 2005 vềquan hệ giữa chế tài vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại thì “Trường hợp các bênkhông có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thườngthiệt hại và trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền
áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại” Và trách nhiệm bồi thườngthiệt hại trong quan hệ thương mại sẽ phát sinh khi có đầy đủ các căn cứ, gồm: (i) Cóhành vi vi phạm hợp đồng (ii) Có thiệt hại thực tế (iii) Hành vi vi phạm hợp đồng lànguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại <fn: Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoahọc BLDS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội
LTM cũng khẳng định: “Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệthại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác”.Trong khi đó, BLDS chỉ chấp nhận việc bên vi phạm phải chịu phạt vi phạm mà không
Trang 22phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệthại nếu giữa các bên có sự thỏa thuận.
Có thể hiểu rằng, LTM đã tự do trao quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bên
bị vi phạm nếu có đầy đủ các căn cứ mà không phụ thuộc, ràng buộc hay đòi hỏi cácbên phải có thỏa thuận tại HĐTM về trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh Khácbiệt so với LTM 2005 thì BLDS 2015 tôn trọng sự thỏa thuận của các bên nếu các bên
có thỏa thuận về việc không phải bồi thường thiệt hại khi đã có phạt vi phạm và yêucầu bồi thường thiệt hại cùng phạt vi phạm chỉ được chấp thuận khi có các bên có sựthỏa thuận
Điển hình ở vụ việc sau: Ngày 14/8/2020, Giữa Cty Cổ phần Thương mại Dịch
vụ V và Cty TNHH X có ký hợp đồng mua bán và vận chuyển 1000 cuộn vải lụa Haibên có thỏa thuận nếu bên nào vi phạm thì chỉ phải chịu phạt 8% giá trị hợp đồng VìCty X vận chuyển hàng hóa trễ 03 (ngày) nên trong thời gian chờ Cty X vận chuyểnnguyên liệu sản xuất thì Cty V đã bị thiệt hại về năng suất, nhân công lao động, do đó,Cty V khởi kiện yêu cầu Cty X phải thanh toán tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệthại Cty X căn cứ Khoản 3 Điều 418 BLDS 2015 cho rằng các bên thỏa thuận chỉ chịuphạt vi phạm mà không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồithường thiệt hại nên Cty X chỉ phải chịu phạt vi phạm Còn Cty V căn cứ Khoản 2Điều 307 LTM 2005 để buộc Cty X phải có nghĩa vụ vừa chịu phạt vi phạm và bồithường thiệt hại Hiện tại, vụ án vẫn chưa có phán quyết chính thức của Tòa án nhưng
sự mâu thuẫn nêu trên được thể hiện tại ý kiến mà hai bên cung cấp cho Tòa án nhândân có thẩm quyền
Ngoài ra, hiện nay vẫn chưa có những quy định cụ thể để điều chỉnh, đặc biệt làHĐTM có yếu tố nước ngoài Dẫn tới việc khi có những tranh chấp xảy ra thì gặpnhiều khó khăn trong việc giải quyết, và có thể gây ra những thiệt hại đáng kể
2.1.2 Yếu tố cơ chế quản lý hành chính nhà nước về thương mại
Mặc dù, Việt Nam đã thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, tuy nhiên, yếu tố hànhchính, tập trung quan liêu, bao cấp trước đây vẫn còn rất nặng nề trong mối quan hệ
Trang 23giữa cơ quan công quyền thuộc bộ máy Nhà nước Cho đến nay, Nhà nước ta vẫn chưathực sự là nhà nước dịch vụ với nhiệm vụ cung cấp cho nhân dân và cộng đồng doanhnghiệp những dịch vụ công thuận tiện nhất Ngược lại, các cơ quan công quyền vẫnchủ yếu thực hiện việc kiểm tra, giám sát Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt phải sửa cácluật, pháp lệnh, NĐ, quyết định của Thủ tướng và các quyết định cấp bộ về liên quanđến thực hiện HĐTM Điều đó có nghĩa là, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính liênquan đến thực hiện HĐTM còn chậm Do đó, doanh nghiệp còn gặp nhiêu khê, phiền
hà và thiếu tính khả thi đã bắt buộc nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp phải “đốiphó” bằng nhiều cách để được việc Điển hình như phong trào một cửa một dấu rộ lênmột thời gian ngắn hiện đã xẹp xuống và doanh nghiệp đang trở lại tình trạng phải chạynhiều nơi cho một việc Tại tất cả các cửa này, nếu không có quan hệ sẽ không thể nàođẩy nhanh công việc Và, tất nhiên, những “bài đối phó” đó không bao giờ trở thànhchuẩn mực của quản trị doanh nghiệp tiên tiến
Theo đó, nhiều luật sư được phó thác lập HĐTM cho biết họ khó cập nhật kịpthời các chính sách, quy định của Chính phủ và chính quyền các cấp Có luật sư khi tưvấn cho doanh nghiệp còn phải nêu thêm rằng điều này được giải quyết nhanh haychậm còn tùy vào quan hệ của doanh nghiệp với chính quyền
2.1.3 Yếu tố cơ chế giải quyết tranh chấp về thương mại
Những năm gần đây, do những diễn biến phức tạp của đời sống xã hội nên cáctranh chấp thực hiện HĐTM cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn Theo quy định tại
Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyềngiải quyết của Tòa án rất đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, trong
đó có tranh chấp vừa được điều chỉnh bởi quy định của BLDS, vừa được điều chỉnhbởi Luật chuyên ngành Chính vì lý do này mà việc xét xử các tranh chấp thực hiệnHĐTM tại một số Tòa án còn lúng túng, vướng mắc hoặc sai lầm khi áp dụng quy địnhcủa BLDS và quy định của Luật chuyên ngành
Điều 429 BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyếttranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết