1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận định đúng, sai, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận định đúng, sai, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn
Người hướng dẫn PTS. Đặng Nguyễn Phương Uyên
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại Thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 27,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ Môn Luật Sở Hữu Trí Tuệ Giảng viên Đặng Nguyễn Phương Uyên Lớp DS44B1 Danh sách thành viên nhóm 7 STT HỌ VÀ TÊN MSSV 1[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ

Môn: Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Giảng viên: Đặng Nguyễn Phương Uyên

Lớp: DS44B1

Danh sách thành viên nhóm 7 :

1 Bùi Minh Thành ( Nhóm Trưởng ) 1953801012245

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 6 tháng 4 năm 2022

Trang 2

A Nội dung thảo luận tại lớp A.1 Lý thuyết:

1 Nhận định ĐÚNG, SAI, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn:

a) Khi thiết kế nhãn hiệu cho hàng hoá, dịch vụ, các doanh nghiệp phải thiết kế kết hợp dấu hiệu chữ và hình ảnh.

Trả lời :

Nhận định sai

CSPL: khoản 1 Điều 72 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Theo đó, khi thiết kế nhãn hiệu có thể thiết kế dưới dấu hiệu chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố này mà không bắt buộc phải kết hợp dấu hiệu chữ viết và hình ảnh

b) Tổ chức nước ngoài nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Trả lời :

Nhận định đúng

CSPL: khoản 1 Điều 89 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Tổ chức, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Viêt Nam có thể nộp đơn đăng ký bảo hộ trực tiếp đối với nhãn hiệu tại Cục SHTT

c) Doanh nghiệp bị từ chối bảo hộ nhãn hiệu có quyền khiếu nại lên Cục Sở hữu trí tuệ.

Trả lời

Nhận định đúng

CSPL: Khoản 1 Điều 14 Nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ về

sở hữu công nghiệp

Trong thời hạn quy định tại điểm a khoản 4 Điều 14 Nghị định 103/2006/NĐ-CP, doanh nghiệp có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định từ chối bảo hộ đối với nhãn hiệu có quyền tiến hành thủ tục khiếu nại

d) Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ chấm dứt khi chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh.

Nhận định sai

Cơ sở pháp lý: Điểm c khoản 1 Điều 95 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019)

Bởi vì theo Điểm c khoản 1 Điều 95 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 quy định về các trường hợp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ thì chỉ khi chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người thừa kế hợp pháp thì văn

Trang 3

bằng bảo hộ đó mới bị chấm dứt hiệu lực, còn trong trường hợp có người thừa kế văn

bằng hợp pháp thì không làm chấm dứt hiệu lực văn bằng

2 Trình bày điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo khoản 16 Điều 4 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) thì “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Như vậy, một nhãn hiệu để được bảo hộ theo Luật SHTT thì dấu hiệu đó cần thỏa mãn các điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ quy định tại Điều 72 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung

2009, 2019), cụ thể như sau:

Thứ nhất, phải là những dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Điều kiện này được hiểu là nhãn hiệu đó phải được nhận thức, cảm nhận bằng thị giác của con người chứ không phải là vô hình thông qua việc nhìn ngắm, quan sát nhãn hàng hóa và thấy được nhãn hiệu của hàng hóa đó để phân biệt với hàng hóa dịch vụ khác Hay nói cách khác nhãn hiệu phải tồn tại dưới dạng một vật chất nhất định để con người có thể nhìn thấy được Để có thể như vậy, nhãn hiệu phải tồn tại dưới dạng chữ viết, hình ảnh, hình

vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên và được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc

Bên cạnh đó, khi một nhãn hiệu thỏa điều kiện là những dấu hiệu nhìn thấy được nhưng pháp luật lại quy định dấu hiệu đó không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu nếu nhãn hiệu đó thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 73 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) về dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và

tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

+ Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ

Thứ hai, dấu hiệu đó phải có khả năng cá biệt hóa hàng hóa, dịch vụ đó với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của chủ thể khác, nhằm thông tin cho người tiêu dùng nhận biết và phân biệt được hàng hóa, dịch vụ đó với hàng hóa, dịch vụ cùng loại khác Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc

Trang 4

từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp thuộc khoản 2 Điều 74 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 Dễ nhận biết, dễ ghi nhớ được hiểu là khi quan sát thì người tiêu dùng có thể ấn tượng và lưu lại trong trí nhớ của mình, bất kỳ ai khi đã nhìn thấy nhãn hiệu cũng đều dễ dàng nhận biết và phân biệt được nhãn hiệu đó với các loại nhãn hiệu khác

Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) thì

một nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Hình và hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng;

+ Dấu hiệu, biểu tượng, quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;

+ Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ;

+ Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

+ Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được

sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

+ Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng

ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm;

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

Trang 5

+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu

đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;

+ Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên

âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký

để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

+ Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu

Ngoài ra, đối với nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu nổi tiếng không phải đăng ký bảo hộ mà sẽ được tự động bảo hộ nếu nhãn hiệu đáp ứng đủ các tiêu chí nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định tại Điều 75 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019)

Như vậy, một nhãn hiệu để được bảo hộ theo Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) cần thỏa mãn các điều kiện là những dấu hiệu nhìn thấy được và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác Ngoài ra, để được bảo hộ thì nhãn hiệu còn phải không thuộc các trường hợp pháp luật quy định về dấu hiệu không được bảo hộ theo Điều 73 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) và cũng không thuộc các trường hợp nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019)

3 Nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật Sở hữu trí tuệ là gì So sánh với quy định pháp luật nước ngoài về tiêu chí đánh giá một nhãn hiệu nổi tiếng.

Theo pháp luật Việt Nam

Được quy định tại khoản 20 Điều 4 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) thì nhãn hiệu nổi tiếng “là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” Theo quy định của Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) thì một nhãn hiệu được xem là nhãn hiệu nổi tiếng khi đáp ứng các tiêu chí được quy định tại Điều 75 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019):

“1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán,

sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;

2 Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;

3 Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;

4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;

5 Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;

6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;

Trang 6

8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.”

* Theo pháp luật Hoa Kỳ

Là thành viên của Công ước Paris và Hiệp định TRIPs, pháp luật nhãn hiệu Hoa Kỳ cũng chấp thuận bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mà không cần phải đăng ký Mục 43.(c).1 Đạo Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ (hay còn gọi là “Đạo luật Lanham”) quy định chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng có quyền ngăn cấm người khác đăng ký hoặc sử dụng một dấu hiệu hoặc tên thương mại nếu việc sử dụng đó có khả năng làm giảm tính phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc gây ảnh hưởng tới mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu, bất chấp có gây ra nhầm lẫn cho người tiêu dùng hay không

Theo quy định tại Điều 43.(c).2 Đạo Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ, để xác định một nhãn hiệu được coi là được nhận biết một cách rộng rãi/nổi tiếng, tòa án có thể xem xét tất cả các yếu tố có liên quan, bao gồm:

+ Thời hạn, phạm vi và tầm địa lý của quảng cáo và công bố nhãn hiệu, không kể đến các yếu tố này được thực hiện bởi chủ sở hữu hoặc các bên thứ ba;

+ Số lượng, khối lượng, và phạm vi địa lý của hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu được cung cấp;

+ Mức độ được công nhận thực tế của nhãn hiệu

+ Không kể đến việc nhãn hiệu đã được đăng ký theo Luật của ngày 03/03/1881 hay Đạo luật 20/2/1905, hoặc trên sổ đăng ký chính

Như vậy, để được hưởng quy định tại Mục 43.(c) 1 Đạo Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ thì chủ sở hữu nhãn hiệu phải sử dụng nhãn hiệu của họ tới mức nhãn hiệu đó được thừa nhận rộng rãi bởi công chúng Hoa Kỳ Như vậy có thể thấy quy định này nêu rất rõ đối tượng phổ biến của nhãn hiệu nổi tiếng không chỉ giới hạn ở đối tượng công chúng liên quan nữa mà phải là toàn bộ công chúng

* Theo pháp luật Trung Quốc

Nhãn hiệu nổi tiếng tại Trung Quốc được nhận biết sau khi Trung Quốc ký hiệp định

TRIPS, được hưởng phạm vi bảo hộ rộng hơn và mạnh hơn so với các nhãn hiệu được đăng

ký một cách thông thường Trung Quốc áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, tức là quyền

ưu tiên dành cho người nộp đơn trước, không phải sử dụng trước Tuy nhiên, vẫn có một số quy tắc đặc biệt áp dụng đối với nhãn hiệu nổi tiếng mà không được đăng ký và phạm vi bảo

hộ cho các nhãn hiệu này không hẹp hơn các nhãn hiệu đã được đăng ký khác Cụ thể là phạm vi bảo hộ của các nhãn hiệu đã đăng ký chỉ giới hạn cho các sản phẩm/dịch vụ đăng

ký trong khi phạm vi bảo hộ của các nhãn hiệu nổi tiếng không chỉ giới hạn ở phạm vi các sản phẩm/dịch vụ uy tín mà còn bao trùm cả các sản phẩm/dịch vụ không liên quan khác Tại Trung Quốc, có thể dựa trên 05 yếu tố để xem xét ghi nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng,

cụ thể là:

Trang 7

+ Mức độ nhận biết của công chúng trong lĩnh vực kinh doanh cho nhãn hiệu;

+ Khoảng thời gian nhãn hiệu được sử dụng;

+ Thời hạn và phạm vi quảng cáo của nhãn hiệu, và khu vực địa lý mà quảng cáo được thực hiện;

+ Các chứng cứ chứng minh nhãn hiệu đã được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng;

+ Các yếu tố khác tạo nên tính nổi tiếng của nhãn hiệu

=> Có thể thấy, để được coi là một nhãn hiệu nổi tiếng thì pháp luật các nước đều quy định các yếu tố cần xem xét khá giống nhau Tuy nhiên, mỗi nước sẽ có thêm các yếu tố cần xem xét khác nhau để phù hợp với từng quốc gia Ngoài ra, việc quy định về các yếu tố cần xem xét để được coi là một nhãn hiệu nổi tiếng giữa các nước cũng khác nhau khi có nước đưa

ra các yếu tố một cách cụ thể, chi tiết (ví dụ như pháp luật Việt Nam,…) hay cũng có nước đưa ra các yếu tố một cách khá khái quát (ví dụ như pháp luật Trung Quốc)

A.2 Bài tập:

1 Đọc, nghiên cứu Bản án số 15 “Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu” (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

và trả lời các câu hỏi sau đây:

a) Theo quy định của pháp luật SHTT, việc công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-Men có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của công ty Marvel không? Nêu

cơ sở pháp lý.

Theo quy định của pháp luật SHTT , việc công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-MEN không xâm phạm quyền sở hữu của công ty Marvel

CSPL : Khoản 5 điều 73 luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung 2009

“Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu

dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.”

Và điểm a tiểu mục 39.12 Mục 5 Chương 1 Thông tư 01/2007 TT-BKHCN

(iv) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam và nước ngoài; dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên gọi hoặc hình ảnh nhân vật, hình tượng đặc trưng của tác phẩm đã biết đến một cách rộng rãi, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có khả năng làm cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu là do chủ sở hữu tác phẩm đó sản xuất, thực hiện;

Theo nhóm em , việc công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-MEN trong trường hợp trên là không gây nhầm lẫn về nguồn gốc , xuất xứ , không thuộc các cơ sở pháp

lí ở trên Bởi vì :

- Nhãn hiệu MEN, hình” bảo hộ theo GCN ĐKNH số 63481 gồm chữ “X” cách điệu và “MEN” viết hoa đặt trong hình tròn không trùng hoặc tương tự với hình ảnh nhân vật

Trang 8

X-MEN –là những người đột biến gien với những khả năng siêu phàm trong các tác phẩm của Marvel “X-MEN, hình” là nhãn hiệu hàng hóa không phải là tác phẩm, do đó không thể áp dụng quy định về xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh để xem xét, đánh giá việc bảo hộ nhãn hiệu

- Marvel không chứng minh được nhãn hiệu “X-MEN” nổi tiếng tại Việt Nam.Mặt khác, nhãn hiệu “X-MEN” của Marvel đăng ký cho các sản phẩm văn hóa, gia dụng (video, băng hình, đồ chơi, quần áo, sách truyện thuộc các Nhóm 09, 16, 25, 28 chứ không phải là các

“sản phẩm hóa mỹ phẩm gia dụng” thuộc Nhóm 03 của nhãn hiệu “X-MEN, hình” của công

ty Hàng gia dụng quốc tế nên người tiêu dùng tại Việt Nam khó có khả năng liên tưởng hoặc

bị nhầm lẫn về nguồn gốc của các sản phẩm mang nhãn hiệu và nhân vật X-MEN của

Marvel

b) Theo Tòa án xác định trong bản án số 15, Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa X-Men và hình cho công ty Hàng gia dụng quốc tế là đúng hay sai?

Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?

Trong bản án số 15 , Tòa án xác định Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hàng hóa X-MEN và hình cho công ty Hàng gia dụng quốc tế là đúng pháp luật , bởi nhãn hiệu X-MEN của công ty Hàng gia dụng quốc tế đã thỏa mãn là dấu hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nhãn hiệu :

- Thứ nhất , xét về mặt từ ngữ thì từ X-MEN của công ty Hàng gia dụng quốc tế và công ty Marvel là giống nhau về cách phát âm , nhưng từ X-MEN của công ty Marvel không phải là tên gọi nhân vật hay hình ảnh nhân vật trong tác phẩm Còn hình tượng đặc trưng các tác phẩm của công ty Marvel và thông điệp mà nhãn hiệu X-MEN của công ty Hàng gia dụng quốc tế truyền tải cũng không trùng hay tương tự nhau

- Thứ hai , yêu cầu tên gọi , hình ảnh nhân vật , hoặc hình tượng đặc trưng của tác phẩm được biết đến một các rộng rãi Dựa trên quy định của pháp luật về quyền tác giả thì tên gọi trong tác phẩm , hình tượng tác phẩm không phải hình tượng được bảo hộ quyền tác giả , nhưng trong trường hợp tên gọi nhân vật , hình tượng đặc trưng của tác phẩm được biết đến một cách rộng rãi thì chủ sở hữu của tác phẩm vẫn cần được bảo vệ , nếu có chủ thể khác lợi dụng kinh doanh để lừa dối hay làm cho người tiêu dùng hiểu sai về hàng hóa , dịch vụ Tuy nhiên , trong vụ việc được bình luận , tòa án chưa làm rõ vấn đề này và bản thân công ty Marvel cũng chưa cung cấp được bằng chứng thuyết phục , chứng minh khái niệm X-MEN của mình được biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam hay không

- Thứ ba , nhãn hiệu X-MEN gắn trên mỹ phẩm công ty Hàng gia dụng quốc tế phải làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm rằng đây là hàng mỹ phẩm do công ty Marvel sản xuất , thực hiện Trên thực tế việc nhầm lẫn này là rất khó xảy ra , vì có thể khái niệm của X-MEN của công ty Marvel được biết đến trong lĩnh vực phim , truyện , tuy nhiên trong lĩnh vực sản xuất mỹ phẩm dành chon nam giới thì công ty Marvel chưa từng có bất kì sản phẩm hay thông tin nào cho thấy điều đó tại Việt Nam Vì vậy , người tiêu dùng khi mua sản phẩm mang nhãn hiệu X-MEN của công ty Hàng gia dụng quốc tế không thể nhẫm lẫn đó là sản phẩm của công ty Marvel

Trang 9

c) Quan điểm của tác giả bình luận có cho rằng việc sử dụng nhãn hiệu X-Men của công ty Hàng gia dụng quốc tế có gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa không? Vì sao?

Theo Tác giả bình luận, nhãn hiệu X-Men của công ty Hàng gia dụng quốc tế không làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn hiểu sai đối với nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Vì:

+ Thứ nhất, tuy về mặt từ ngữ, từ “X-Men” có cách phát âm giống nhau nhưng từ “X-Men” của Công ty Marvel dùng cho các nhân vật trong truyện tranh, phim, trò chơi (thuộc lĩnh vực quyền tác giả) và không phải tên của một nhân vật cụ thể trong tác phẩm, còn từ “ X-Men” của Công ty hàng gia dụng quốc tế dùng cho sản phẩm mỹ phẩm dành cho người (thuộc lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp, cụ thể là nhãn hiệu) Hai đối tượng này thuộc hai lĩnh vực khác nhau, “ không cùng loại”, nên không thể xem xét sự nhầm lẫn về xuất xứ khi sản phẩm được đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực khác nhau

+ Thứ hai, công ty Marvel chưa cung cấp được bằng chứng thuyết phục, chứng minh khái niệm X-Men của mình có được biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam hay không Tài liệu

mà công ty Marvel cung cấp về doanh thu chưa được cơ quan có chức năng xác định Hơn nửa doanh thu về sản phẩm cũng chưa phải chứng cứ đầy đủ và thuyết phục cho thấy khái niệm X-Men của Công ty Marvel được biết đến rộng rãi Công ty Marvel có cung cấp thông tin về việc sử dụng hình ảnh diễn viên điện ảnh Brad Pitt cũng như biểu tượng kèm theo dòng chữ Hollywood để quảng cáo sản phẩm mang nhãn hiệu X-Men nhưng cũng không cung cấp được tài liệu là hồ sơ quảng cáo, đĩa hình quảng cáo

+ Thứ ba, nhãn hiệu X-Men gắn trên mỹ phẩm của Công ty Hàng gia dụng quốc tế phải làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm rằng đây là mỹ phẩm do Công ty Marvel sản xuất, thực hiện Trên thực tế việc nhầm lẫn này rất khó xảy ra, vì có khái niệm X-Men của Công ty Marvel được biết đến trong lĩnh vực phim, truyện tuy nhiên trong lĩnh vực sản xuất mỹ phẩm cho nam giới thì Công ty Marvel chưa có bất kỳ sản phẩm hay thông tin nào cho thấy điều đó tại Việt Nam Như vậy, người tiêu dùng khi mua sản phẩm mang nhãn hiệu X-Men của Công ty Hàng gia dụng quốc tế không thể nhầm lẫn đó là sản phẩm của Công ty Marvel

d) Theo quan điểm của bạn, hướng giải quyết của Tòa án trong tranh chấp này có phù hợp không? Giải thích vì sao.

Theo nhóm, hướng giải quyết của Tòa án trong tranh chấp này là hợp lý

Theo quan điểm của nhóm, hướng giải quyết của Tòa án trong tranh chấp trên phù hợp với pháp luật tại thời điểm xảy ra tranh chấp và pháp luật hiện hành Theo bản án, Tòa án đã áp dụng dựa trên các quy định của BLDS 1995 và nghị định 63/1996 để giải quyết vụ việc là hoàn toàn phù hợp Còn nếu áp dụng Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn hiện hành thì ta căn cứ vào khoản

5 Điều 73 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 quy định là “Dấu hiệu làm sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ” thì không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu Công ty Marvel đã không đáp ứng đủ các điều kiện tại khoản 5 Điều

73 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) nên không thể hủy Quyết định số A05811/QĐ-ĐK ngày 08/06/2005 cấp GCNĐKNH số 63481 cho Công ty

Trang 10

Hàng gia dụng quốc tế cho nhãn hiệu “X-MEN, hình”, Tòa án đã bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Marvel là phù hợp

B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp:

Đọc, nghiên cứu Bản án số 1388/2012/KDTM-ST ngày 13/09/2012 của TAND Tp HCM (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:

1/ Phân tích điều kiện để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng Nhãn hiệu “INTERBRAND” có phải là nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật SHTT không? Vì sao?

Điều kiện để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng thì theo khoản 20 Điều 4 Luật SHTT thì “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Và căn cứ pháp lý tại Điều 75, Luật Sở hữu trí tuệ:

" 1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;

2 Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;

3 Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;

4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;

5 Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;

8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu."

Theo nhóm, nhãn hiệu “INTERBRAND” là nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật SHTT

Vì INTERBRAND GROUP được cục SHTT cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số

14617 theo quyết định số 8827/QĐ- SHTT ngày 6/5/2010, ngày nộp đơn 14/12/2006, có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn Nhãn hiệu được bảo hộ:

INTERBRAND

Căn cứ theo khoản 20 Điều 4 và Điều 75 Luật SHTT thì nhãn hiệu Interbrand của Interbrand Group được xác định là nhãn hiệu nổi tiếng vì nhãn hiệu Interbrand của công ty Interbrand

đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi trên thế giới; Nhãn hiệu Interbrand của công ty Interbrand đã dược sử dụng và biết đến tại Việt Nam; Doanh số đạt được từ dịch vụ mang nhãn hiệu cũng như tổng số giá trị của các thương hiệu được định giá rất lớn; Đạt được uy tín rộng rãi,…

Ngày đăng: 22/05/2023, 18:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w