1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường tài chính việt nam thực trạng và định hướng phát triển những năm tới

18 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Tài Chính Việt Nam Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển Những Năm Tới
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế tài chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 618 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường tài chính Việt Nam Thảo luận Tiền tệ ngân hàng Thị trường tài chính Việt Nam Thực trạng và định hướng phát triển những năm tới A Đặt vấn đề Thị trường tài chính Việt Nam đã được hình thành[.]

Trang 1

Thị trường tài chính Việt Nam Thực trạng và định hướng phát triển những năm tới

A.Đặt vấn đề :

Thị trường tài chính Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện gắn liền với tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước Cho đến nay, mặc dù thị trường tài chính Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện, nhưng

nó đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế Đặc biệt, thị trường đã thực hiện chức năng cân đối, điều hòa nguồn vốn giữa các chủ thể thiếu vốn

và các chủ thể thừa vốn, góp phần hỗ trợ cho các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán, hoạt động an toàn và hiệu quả

Điều đó đã cho thấy rằng Thị trường tài chính là một bộ phận quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia

Có thể khẳng định rằng, thị trường tài chính Việt Nam đã góp phần nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế

B Nội Dung:

I/ Cơ sở lý thuyết:

1 Khái niệm:

Thị trường tài chính là nơi mua bán các công cụ tài chính, nhớ đó mà vốn đươc chuyển giao một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ chủ thể tạm thời dư thừa vốn sang chủ thể tạm thời thiếu hụt vốn thông

II/ Chức năng và vai trò của thị trường tài chính.

1 Chức năng của thị trường tài chính

- Chức năng dẫn vốn: là chức năng mà thị trường tài chính thể hiện vài trò dẫn vốn từ những người tiết kiệm sang những người đầu tư Cung cấp một lượng vốn liên tục cho người đầu tư

- Chức năng tiết kiệm: là chức năng mà ở đó thị trường tài chính mang đến cho những người tiết kiệm khả năng thu được lợi nhuận từ việc chuyển giao phần vốn thừa tạm thời của mình sang cho người tạm thời thiếu hụt vốn Như vậy thị trường tài chính cung cấp một cơ chế động viên tiết kiệm và tạo ra một luồng quỹ chảy vào đầu tư

Trang 2

- Chức năng thanh khoản: là chức năng thẻ hiện vài trò tạo ra thêm tính

“lỏng” cho các tài sản tài chính thông qua việc cung cấp các phương thức chuyển đổi các loại tài sản tài chính thành tiền mặt

- Nhận xét: qua các phân tích trên ta thấy trong thị trường tài chính thì chức năng dẫn vốn đóng vai trò là chức năng cơ sở vì nhờ có chức năng dẫn vốn mà các chức năng khác được hình thành và phát triển Bên cạnh đó thì 2 chức năng còn lại là chức năng tiết kiệm và chức năng thanh khoản phát triển cũng tác động nguợc trở lại hỗ trơ chức năng dẫn vốn thực hiện vai trò của mình Qua đó tạo ra một thị trường tài chính ổn định và phát triển

2 Vài trò của thị trường tài chính

- Góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế: + “lãng phí là kẻ thù của hiệu quả, của năng suất lao động cao ở tất cả mọi phạm vi từ vĩ mô đến vi mô” TTTC là sản phẩm tất yếu cảu sự đòi hỏi tập trung tài nguyên cho sản xuất lớn chống lãng phí dưới mọi hình thức Thông qua các chức năng của mình thì TTTC huy động các nguồn lực trong xả hội phục vụ cho sự sáng tạo ra của cải cho xả hội và con người

+ Đối vs NSNN thì nó giúp bù đắp cho NSNN thông qua việc vay nọ trên thị trường tài chính Nhờ đó giúp cho NSNN thực hiên vài trò của mình đối việc tăng trưởng KT và kiềm chế lạm phát

- Tạo môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế khác trên thi trường

- Kích thích tình hiệu quả của các doanh nghiệp: do cơ chế giao dịch của TTTC chọn lọc ra những dự án hoặc các doanh nghiệp có triển vọng để tài trợ thì mặc nhiên đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải nổ lực hết mình, tính toán sao cho sản xuất kinh doanh lành mạnh có hiệu quả ngày càng cao

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch tài chính: nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin mà việc giao dịch chở nên đơn giản và nhanh gọn hơn rất nhiều vì thế mà tiết kiệm được chi phí liên quan đến giao dịch tài chính

3 Phân loại thị trường tài chính

3.1 Căn cứ theo thời hạn luân chuyển vốn.

Căn cứ theo hình thức này thì thị trường tài chính chia làm 2 thị trường nhỏ hơn là thị trường tiền tệ và thị trường vốn

a, Thị trường tiền tệ

Trang 3

- Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán ngắn hạn các công cụ tài chính qua đó vốn ngắn hạn được chuyển giao từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn

- Chức năng cơ bản là dẫn vốn ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu bù đắp chênh lệch cung cầu vốn khả dụng và tài trợ các nhu cầu về vốn lưu động của các doanh nghiệp và Chính phủ

- Các loại hàng hóa của thị trường gồm: tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu NHTW , trái phiếu chính phủ, thương phiếu

- Các chủ thể tham gia bao gồm: Doanh nghiệp, hộ gia đình, các TGTC, Kho bạc, NHTW, các nhà môi giới

- Đặc trưng nổi bật nhất của thị trường tiền tệ là các hàng hóa có tính thanh khoản cao, mức rủi ro thấp Bởi thời hạn ngắn nên những biến động giá các công cụ tài chính do ảnh hưởng của sự biến động lãi suất trên thi trường là không đáng kể và thông thường nó được đảm bảo bằng tài sản hoặc cac dạng đảm bảo khác của người đi vay nên nó có tỉnh rủi

ro thấp nhưng khả năng sinh lời không cao

- Thị trường tiền tệ được chia làm 2 thị trường là:

+ Thị trường tiền tệ liên ngân hàng: là thị trường cho nhau vay giữa các Ngân hàng( hoặc các tổ chức tín dụng) và có sự tham gia của NHTW khi cần thiết với tư cách là người điều tiết chi phối thị trường

+ Thị trường tiền tệ mở rộng: là thị trường có sự tham gia của các chủ thể khác

b, Thị trường vốn.

- Thị trường vốn là thị trường là nơi mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn và do đó mà thỏa mãn các nhu cầu về vốn cho các khoản đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp, Chính phủ và các hộ gia đình

- Chức năng của thị trường là dẫn vốn trung, dài hạn để đáp ứng nhu cầu về vốn cho các khoản đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp, Chính phủ và các

hộ gia đình Qua đó góp phần vào sự ổn định kinh tế bằng các cân đối tiết kiệm với đầu tư và đóng góp cho sự tăng trưởng KT bằng cách mở rộng tổng khối lượng tiết kiệm và đầu tư

- Các loại hàng hóa trên thị trường: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái sinh

- Đặc trung của hàng hóa là kỳ hạn dài, cho nên biến động về giá cả do ảnh hưởng của biến động lãi suất trên thị trường là rất lớn, tính rủi ro cao, tính lỏng thấp nhưng khả năng sinh lợi rất lớn

- Chủ thể tham gia thị trường: Nhà phát hành, nhà đầu tư, tổ chức trung gianCK, cơ quan quản lý nhà nước về CK, các chủ thể khác…

-Thị trường vốn bao gồm 2 thị trường là:

Trang 4

+ Thị trường tín dụng trung, dài hạn: là thị trường nơi vốn vốn trung và dài hạn được chuyển từ người tiết kiệm đến người đầu tư qua trung gian tài chính

+ Thị trường chứng khoán: là nơi mua bán trao đổi các chứng khoán có thời hạn trên một năm thể hiện dưới hình thức cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ phái sinh

3.2 Căn cứ vào phương thức tổ chức thị trường.

- Căn cứ vào phương thức tổ chức thị trường thì ta chia thị trường tài chính thành 2 thị trường là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

a, Thị trường sơ cấp

- Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành công cụ tài chính

- Chức năng chủ yếu của thị trường là nhăm tăng vốn cho nhu cầu chi tiêu

về hàng hóa dịch vụ và đâu tư của các chủ thể tham gia thị trường

- Đặc điểm nổi bật của các giao dịch trên thị trường sơ cấp là nó tạo nên các công cụ tài chính mới

- Các chủ thể tham gia thị trường gồm các doanh nghiệp, Chính phủ, và các

hộ gia đình

b, Thị trường thứ cấp

- Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán lại các công cụ tài chính đã phát hành tại thị trường sơ cấp

- Chức năng cơ bản của thị trường thứ cấp là tăng thêm tính thanh khoản cho các công cụ tài chính đã phát hành ở thị trường sơ cấp và kích thích tiết kiệm

- Giá cả của thị trường phụ thuộc vào cung cầu trên thị trường

- Chủ thể tham gia thị trường bao gồm các nhà đầu tư, doanh nghiệp…

- Thị trường thứ cấp ảnh hưởng gián tiếp đến quy mô của thị trường sơ cấp

và do đó ảnh hưởng đến quy mô vốn đầu tư của xã hội

3.3 Căn cứ vào phương thức luân chuyển vốn.

- Căn cứ theo phương thức luân chuyển vốn ta chia thị trường tài chính ra thành 2 thị trường là : thị trường tài chính trực tiếp và thị trưởng tài chính gián tiếp

a, Thị trường tài chính trực tiếp

- Thị trường tài chính trực tiếp là thị trường mà vốn được chuyển giao trực tiếp từ chủ thể thặng dư vốn sang chủ thể thiếu hụt vốn,

* Đặc điểm của thị trường:

- Trên thị trường tài chính trực tiếp thì các trung gian tài chính chỉ tham gia với vai trò là nhà môi giới chứ không phải với tư cách là người dẫn vốn Vì vậy ta thấy hình thức chuyển giao vốn trên thị trường thông qua vai trò của người môi giới- những người chỉ được nhận hoa hồng cho công viêc kết nối cung cầu về vốn mà không có quyền thực hiện giao dich cho bản thân

Trang 5

- Người tiết kiệm sở hữu các công cụ tài chính mà người đầu tư phát hành và

do đó được hưởng toàn bộ lợi nhuận cũng như chịu toàn bộ rủi ro mang lại

từ công cụ tài chính đó

- Thị trường này không có sự biến đổi về quy mô, thời hạn của vốn

- Chi phí chuyển gian vốn của thị trường này cao hơn so với thị trường tài chính gián tiếp

b, Thị trường tài chính gián tiếp

- Thị trường tài chính gián tiếp là thị trường mà vốn được chuyển giao gián tiếp từ chủ thể thặng dư vốn sang chủ thể thiếu hụt vốn thông qua trung gian tài chính

* Đặc điểm

- Các TGTC tham gia thị trường với tư cách là chủ thể dẫn vốn cho thị trường

- Lợi nhuận mà người tiết kiệm được hưởng thấp hơn nhưng rủi ro vì thế mà cũng được giảm thiểu so với thị trường tài chính trực tiếp

- Chi phí chuyển giao vốn trên thị trường này cũng thấp hơn so với thị trường tài chính trực tiếp do có sự tham gia của các TGTC

- Có sự biến dổi về quy mô, thời gian sủ dụng vốn

- Tính pháp lý trên thị trường là không có

III Thực trang của thị trường tài chính

Thực tế ở nước ta trong giới khoa học kinh tế nói chung và chuyên ngành tài chính - tiền tệ nói riêng đang tồn tại một số quan niệm không trùng khớp nhau về thị trường vốn và thị trường tài chính Một số người quan niệm rằng, thị trường vốn bao gồm thị trường vốn ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn; trong đó thị trường vốn dài hạn là thị trường chứng khoán Một số khác thì cho rằng, thị trường vốn bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường tài chính; trong đó, thị trường tài chính là thị trường chứng khoán

Dù quan niệm nào đi nữa, thì nó vẫn phải bao gồm thị trường vốn ngắn hạn

và thị trường vốn dài hạn Vì vậy, nếu quan niệm thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn ngắn hạn và thị trường vốn trung hạn, thì thị trường tiền

tệ và thị trường chứng khoán chính là hai bộ phận thị trường đó Thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, chuyển sang phát triển theo cơ chế thị trường nhanh chóng hội nhập khu vực và quốc tế, Đảng và Chính phủ ta đã chú trọng phát triển cả thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán ngay từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, từ khi hai Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng

và công ty tài chính có hiệu lực thi hành tháng 5-1990

1.Thực trạng phát triển thị trường tiền tệ

Tham gia là thành viên của các dạng thị trường tiền tệ có 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, 34 Ngân hàng thương

Trang 6

mại cổ phần, 5 Ngân hàng liên doanh, 40 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài,

5 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, Qũy tín dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, một số công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm, Quỹ đầu tư Tuy nhiên tham gia là thành viên của thị trường liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước, thị trường mở thì không phải tất cả các tổ chức trên, hầu như chỉ

có các NHTM NN, NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, một số công ty bảo hiểm

Về cơ chế tác động và can thiệp trên thị trường tiền tệ, được thể hiện tập trung ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương Theo đó, dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế, từ tháng

6-2002, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang thực hiện cơ chế điều hành lãi suất

cơ bản trước đó Hàng tháng Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản, vẫn quy định lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; cùng với lãi suất nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ Swap, lãi suất thị trường mở, lãi suất thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước tác động vào lãi suất thị trường, lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của các Tổ chức tín dụng

Tác động vào lãi suất còn có công cụ dự trữ bắt buộc Khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, có tác động làm tăng chi phí đầu vào của các TCTD Do đó hoặc là các TCTD giữ nguyên lãi suất huy động vốn thì phải tăng lãi suất cho vay; hoặc là đồng thời vừa phải tăng lãi suất cho vay, vừa phải tăng lãi suất huy động vốn

Công cụ điều hành tỷ giá cũng có tác động vào lãi suất của các TCTD trên thị trường tiền tệ, nhưng không rõ nét

Với sự phát triển của các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các TCTD, với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương tiến dần tới phù hợp với thông lệ quốc tế, các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng được chủ động trong các hoạt động huy động vốn và cho vay của mình, tham gia tích cực, năng động và cạnh tranh mạnh mẽ với nhau trên thị trường tiền tệ, theo đó, nó cũng có điều kiện thúc đẩy thị trường tiền

tệ phát triển

Trang 7

Biểu đồ: Top 10 ngân hàng thương mại được giao dịch nhiều nhất

STT Tên Ngân hàng

1 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – Vietcombank

2 Ngân hàng TMCP Á Châu – ACB

3 Ngân hàng TMCP Đông Á – Dong A Bank

4 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Agribank

5 Ngân hàng Công thương Việt Nam – Vietinbank

6 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank

7 Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV

8 Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam – Eximbank

9 Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Techcombank

10 Ngân hàng TMCP Phương Đông – OCB

11 Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – VIB Bank

12 Ngân hàng TMCP Quân đội – Military Bank

13 Ngân hàng TMCP Phương Nam – SouthernBank

14 Ngân hàng TMCP Sài Gòn – SCB

15 Ngân hàng TMCP Việt Á – VAB

16 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương – Saigonbank

17 Ngân hàng TMCP Nam Á – Nam A Bank

18 Ngân hàng TMCP An Bình – ABBank

19 Ngân hàng TMCP Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam –VPBank

20 Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – SeaBank

21 Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – MHB

Trang 8

22 Ngân hàng TMCP Phát triển nhà TP.HCM – HDBank

23 Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội – Habubank

24 Ngân hàng TMCP Nam Việt – Navibank

25 Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam – Maritime Bank

26 Ngân hàng TMCP Đệ Nhất

2 Thực trạng phát triển thị trường tiền gửi và huy động vốn.

Đây là thị trường có sự cạnh tranh mạnh mẽ nhất và sôi động nhất giữa các

tổ chức trung gian tài chính trong việc thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư Trong thời gian gần đây, các Tổ chức tín dụng đưa ra các hình thức sau:

- Cạnh tranh khuyến khích khách hàng mở tài khoản cá nhân, tài khoản sử dụng thẻ Tính đến nay trong cả nước đã mở được khoảng trên 1.300.000 tài khoản cá nhân, trong đó có khoảng trên 750.000 tài khoản của các chủ thể

- Cạnh tranh thu hút tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế - xã hội Giữa các TCTD cạnh tranh thu hút tiền gửi của Kho bạc nhà nước, bảo hiểm

xã hội Việt Nam, Bảo Việt, các công ty bảo hiểm nhân thọ, bưu chính viễn thông, điện lực

- Cạnh tranh thu hút tiền gửi tiết kiệm: đây là hình thức huy động vốn truyền thống giữa các TCTD và Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện, nhất là các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Thời gian gần đây, để khuyến khích khách hàng, một số ngân hàng thương mại đưa ra dịch vụ: gửi một nơi lĩnh nhiều nơi, tiết kiệm tích lũy hay còn gọi là tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm gắn với bảo hiểm nhân thọ, tiết kiệm lũy tiến trả lãi theo số tiến gửi càng cao thì lãi suất càng cao, tiết kiệm linh hoạt tức là khách được chủ động rút tiền ra bất cứ lúc nào có nhu cầu và lãi suất tính theo số ngày thực tế gửi tương ứng với kỳ hạn gần nhất, tiết kiệm dự thưởng

- Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu chủ yếu là huy động vốn có thời hạn từ 6 tháng trở lên, lãi suất hấp dẫn

- Trong những năm gần đây, đã có sự cạnh tranh sôi động trên thị trường thu hút tiền gửi và thị trường huy động vốn, đặc biệt là các tổ chức trung gian tài chính thực hiện rất đa dạng và phong phú các sản phẩm và dịch vụ thu hút tiền gửi, huy động vốn

Trang 9

Tuy nhiên trong việc phát triển thị trường này, có thể thấy một tồn tại lớn là chưa thu hút được tối đa tiền gửi không kỳ hạn, tiền nhàn rỗi trong dân cư vào hệ thống ngân hàng, trên cơ sở đó lựa chọn các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng hay rút tiền mặt ra chi tiêu bất cứ lức nào có nhu cầu Đây là nguồn vốn rất lớn và rất quan trọng, tạo đà cho phát triển thị trường tiền tệ, bởi vì nó gia tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, gia tăng vốn khả dụng cho các TCTD

- Đặc biệt trong năm 2008 thì do sự khan hiếm về lượng tiền gửi nên giữa các NHTM đã xảy ra cuộc đua tăng lãi suất tiền gửi làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếm hoạt động cũng như lợi nhuận của các Ngân hàng Điều này bắt nguồn từ việc các NH cho vay để đầu tu chứng khoán quá nhiều, cho nên khi thị trường chứng khoán tụt đi xuống dẫn đến nợ xấu của Ngân hàng rất lớn Cho nên đây cũng là bài học kinh nghiệm trong việc cho vay chứng khoán nói riêng và các khoản mục đầu tư rủi ro cao khác của các Ngân hàng để có thể đảm bảo được lượng dư trữ tiền mặt cần thiết tránh gây các xáo trộn mạnh trên thị trường tiền tệ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế

Theo thống kê từ NHNN, đến cuối tháng 6-2009, lãi suất huy động VND bình quân đầu vào của các NHTM 8,2%/năm, lãi suất cho vay VND bình quân khoảng 10,04%/năm (so với cuối năm 2008, lãi suất huy động tăng 1%/năm, lãi suất cho vay giảm 3,5%/năm)

Nguồn: Báo cáo SacombankSC (tính đến 29/06/2009)

Trang 10

Lãi suất thị trường liên ngân hàng tương đối ổn định từ đầu năm đến nay; lãi suất huy động USD tối đa là 1,5%/năm, cho vay là 3 – 5%/năm (giảm 2-3%/ năm so với cuối năm 2008); lãi suất cơ bản và tái cấp vốn của NHNN là 7%/ năm Mặt bằng lãi suất từ tháng 4 đến nay đã trở về thời kỳ ổn định

Nguồn: SacombankSC

Biến động trên thị trường ngoại hối

-Trong 6 tháng đầu năm, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ

-Mặt khác, do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng

Ngày đăng: 22/05/2023, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w