Bài thảo luận Bài thảo luận Thực trạng thị trường trái phiếu ở Việt Nam hiện nay Bài làm A Tổng quan về trái phiếu I Định nghĩa trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành[.]
Trang 1Bài thảo luận:
Thực trạng thị trường trái phiếu ở Việt Nam hiện nay
Bài làm:
A.Tổng quan về trái phiếu:
I.Định nghĩa : trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành ( người đi vay) phải hoàn trả cho chủ sở hữu chứng khoán ( người cho vay hay chủ nợ) khoản tiền gốc khi đến hạn và một khoản tiền nhất định ( lãi) trong khoảng thời gian nhất định
Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách
nhiệm nào về kết quả sử dụng vốn vay của người vay Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay
II.Phân loại :
1.phân loại theo người phát hành:
o Trái phiếu chính phủ: Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất
o Trái phiếu của doanh nghiệp: Là những trái phiếu do doanh
nghiệp nhà nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành
để tăng vốn hoạt động Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng
o Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: các tổ chức
này có thể phát hành trái phiếu để tăng thêm vốn hoạt động
2 Phân loại lợi tức trái phiếu
o Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức
được xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá
o Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái
phiếu mà lợi tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu
o Trái phiếu có lãi suất bằng không: Là loại trái phiếu mà người
mua không nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn
3 Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành
o Trái phiếu bảo đảm: Là loại trái phiếu mà người phát hành
dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành Khi
Trang 2nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:
Trái phiếu có tài sản cầm cố: Là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ
Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: Là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm
o Trái phiếu không bảo đảm: Là loại trái phiếu phát hành không
có tài sản làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành
4 Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu
o Trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của người
mua và trong sổ sách của người phát hành Trái chủ là người được hưởng quyền lợi
o Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên của người
mua và trong sổ sách của người phát hành
5 Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu
o Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu của công ty cổ
phần mà trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó Việc này được quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái
phiếu
o Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu có kèm
theo phiếu cho phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định
cổ phiếu của công ty
Trang 3I Một số điểm cần chú ý giữa trái phiếu và cổ phiếu:
Đặc điểm trái phiếu: Đặc điểm cổ phiếu :
Chủ thể phát hành trái phiếu
không chỉ có công ty mà còn
có chính phủ địa phương và
chính phủ trung ương
Người mua trái phiếu chỉ là
người cho chủ thể phát hành
vay tiền và là chủ nợ của chủ
thể phát hành trái phiếu
Thu nhập của trái phiếu là tiền
lãi, là khoản thu cố định không
phụ thuộc vào kết quả SXKD
của công ty
Trái phiếu là chứng khoán nợ
vì vậy khi công ty bị giải thể
hoặc phá sản thì trước hết
công ty phải có nghĩa vụ thanh
toán cho các chủ trái phiếu,
sau đó mới chia cho các cổ
đông
Dù trái phiếu được bán với giá
nào (ngang giá, giá chiết khấu
hay giá gia tăng), thì lợi tức
luôn được xác định theo mệnh
giá của trái phiếu và khi đáo
hạn, người có trái phiếu sẽ
được thanh toán theo mệnh giá
của trái phiếu
Chủ thể phát hành cố phiếu là công ty cổ phần
Cổ phiếu là bằng chứng và là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công
ty cổ phần Quyền sở hữu của
cổ đông trong công ty cổ phần tương ứng với số lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn
Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn của các cổ đông vào công
ty cổ phần Chỉ có chiều góp vào, không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không có kỳ hạn (Khi công ty phá sản hoặc giải thể, thì sẽ không còn tồn tại cổ phiếu)
Cổ tức không ổn định và phụ thuộc vào kết quả SXKD của doanh nghiệp:
Khi bị phá sản thì cổ đông là người cuối cùng nhận được giá trị còn lại của tài sản thanh lý
Giá cổ phiếu biến động rất mạnh
Tính thanh khoản cao
Có tính lưu thông
Có tính tư bản giả
Có tính rủi ro cao
Từ đó có thể thấy rằng trái phiếu có tính ổn định và ít rủi ro hơn so với
cổ phiếu vì vậy trái phiếu được các nhà đầu tư ưa chuộng
Trang 4Cổ phiếu là chứng khoán vốn việc phát hành cổ phiếu làm tăng vốn chủ
sở hữu còn trái phiếu là chứng khoán nợ,việc phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn vay trung và dài hạn
Lợi tức cổ phiếu thì ko được xác định trước ,phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.người chủ sở hữu ko được rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ được quyền chuyển nhượng vốn cho người khác.Còn lợi tức trái phiếu thì luôn được xác định trước,luôn được ưu tiên thanh toán khi công ty giải thể
Mặt khác lợi tức trái phiếu còn tính vào chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp.,người mua cổ phiếu thì nắm quyền sở hữu trong công ty,có quyền quản lý và kiểm soát công ty,đồng thời chịu trách nhiệm khi công ty gặp rủi ro.Còn người mua trái phiếu thì ko có quyền kiểm soát và quản lý công ty và cũng ko phải gánh chịu khi công ty gặp rủi ro
B, Thực trạng phát hành trái phiếu ở Việt Nam:
I, Đặc điểm
-Hiện nay thị trường trái phiếu Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát triển với sự tồn tại của thị trường trái phiếu Chính phủ
-Dư nợ trái phiếu còn rất thấp (khoảng 7% GDP) so với các thị trường trong khu vực (Trung Quốc 21%, Thái Lan 33%, Malaysia 62%)
-Chủ thể phát hành không đa dạng, chưa có hệ thống các nhà tạo lập thị trường và hệ thống giao dịch, thanh toán còn nhiều hạn chế Hơn nữa, một thị trường để giúp hai đối tượng rất quan trọng là doanh nghiệp và chính quyền địa phương huy động vốn thì hầu như chưa tồn tại
Các loại trái phiếu:
1 Trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước: Hàng hoá giao dịch
trên thị trường trái phiếu chủ yếu là Trái phiếu Chính phủ nên chưa tạo được sức hấp dẫn cho nhà đầu tư
Tháng 10 năm 2005, lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ Việt Nam được phát hành ra thị trường vốn quốc tế 750 triệu USD trái phiếu đã được các
Trang 5nhà đầu tư mua hết ngay trong vòng 30 giây sau khi phát hành Một kết quả khó có thể khả quan hơn Đợt trái phiếu này sẽ được mua bán lại trên tất cả các trung tâm chứng khoán (thị trường thứ cấp) lớn như Hongkong,
Singapore, London, New York, Boston liên tục đến năm 2016
2 Trái phiếu chính quyền địa phương: Chủ yếu cho các địa phương huy
động vốn phục vụ cho việc xây dựng các công trình cơ sở vật chất hạ tầng tại địa phương của mình, chủ yếu phát hành thông qua công chúng của chính địa phương đó thông qua KBNN Hiện nay, chỉ có hai địa phương là Hà nội
và TP.HCM là thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương
thường xuyên, với số lượng lớn nhằm huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng, các công trình phúc lợi tại địa phương
3 Trái phiếu doanh nghiệp :
Hiện nay Nhà nước rất ưu ái trong việc phát hành trái phiếu doanh
nghiệp nên chỉ mất khoảng 6 đến 8 tuần doanh nghiệp có thể hoàn tất hồ sơ phát hành Tuy nhiên, nếu đi vay ngân hàng hay phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn cho khâu chuẩn bị và xét duyệt hồ sơ Phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp huy động được lượng vốn lớn Nếu doanh nghiệp có nhu cầu trên 1.000 tỉ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn vốn từ phát hành TP dễ dàng hơn so với việc đi vay hay phát hành cổ phiếu
Gần đây, ngày 29/11, tại Hà Nội, công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) công bố phát hành thành công 400 tỷ đồng trái phiếu VEC thông qua công ty Chứng khoán Habubank Trong thời gian tới, VEC sẽ tiếp tục phát hành thêm ra thị trường một khối lượng lớn trái phiếu công trình cho các dự án xây dựng đường cao tốc vào đầu năm 2008 Đây cũng là một trong những dự án phát hành trái phiếu công trình về đường bộ đầu tiên ở Việt Nam của doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh Theo dự tính, doanh thu từ hoạt động thu phí và các dịch vụ khác sẽ được sử dụng để hoàn trả cả gốc và lãi của trái phiếu
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán thế giới và Việt Nam khá ảm đạm, việc phát hành thành công 400 tỷ trái phiếu VEC đã cho thấy trái phiếu các
dự án của VEC đã có được độ tin cậy và hấp dẫn các nhà đầu tư Đối tượng của đợt phát hành lần này là các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm Khối lượng bảo lãnh phát hành lớn, tính thanh khoản của trái phiếu VEC trong tương lai sẽ rất tốt và Công ty chứng khoán cũng sẽ hỗ trợ các
Trang 6nhà đầu tư thực hiện mua bán lại để tăng tính thanh khoản của trái phiếu đó
là những đặc điểm của trái phiếu này
Việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu được xem là phương thức mang lại nhiều lợi ích như huy động vốn từ các thành phần kinh tế, hạn chế
sự phụ thuộc vào nguồn vốn cấp phát, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, xã hội hóa việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Mặt khác, việc phát hành trái phiếu cũng cung cấp cho thị trường và các nhà đầu tư một công cụ tài chính, giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro 4,chứng chỉ tiền gửi và các chứng khoán nợ có giá trị khác:
Chứng chỉ tiền gửi được coi là những chứng khoán nợ có giá trị và thu hút bảo hiểm tiền gửi Chứng chỉ tiền gửi thường có thời hạn một năm hoặc hơn Việc giới hạn số ngày giao dịch là 90 ngày cho các chứng từ có giá được áp dụng cho hoạt động thị trường mở trong đó Ngân hàng nhà nước (SBV) chỉ mua đứt bán đoạn các chứng từ có giá trị, mà không áp dụng cho các giao dịch kỳ hạn Việc hạn chế này là nhằm mục đích hướng dẫn thực hiện chính sách tiền tệ ngắn hạn của SBV Thông thường SBV đưa ra các dự báo hàng quí về khả năng thanh khoản trên thị trường, trong đó số ngày của một quí được tính là 90 ngày SBV vẫn chưa có ý định xoá bỏ việc hạn chế này mặc dù họ đã nhận được những lời phàn nàn về điều này từ các tổ chức tín dụng Các hội nghị chính thức hay hiệp hội ngân hàng cũng không còn phải thảo luận về việc phát hành này nữa
Có thể nói, thị trường trái phiếu Việt Nam được cho là vẫn còn trong giai đoạn đầu của sựphát triển, trong đó trái phiếu chính phủ là một tiềm năng lớn Trái phiếu chính phủ Việt Nam hiện nay được coi là hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và quốc tế cả về lãi suất và độ an toàn Tuy nhiên, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn là một nguồn cung cấp vốn đầy tiềm năng của các doanh nghiệp, đặc biệt là tại thị trường tài chính đang phát triển nhanh chóng như ở Việt Nam Mối quan tâm lớn nhất hiện nay chính là làm thế nào để khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng thị trường này một cách có hiệu quả trong kế hoạch huy động vốn của doanh nghiệp
II, Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp:
+ Là công ty cổ phần, công ty TNHH, DNNN có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành là 10 tỷ đồng VN
Trang 7+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi, đồng thơ không có lỗ luỹ kết đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 1 năm
+ Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả vốn thu được từ đợt phát hành trái phiếu
+ Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác
3, Các phương thức phát hành trái phiếu VN hiện nay:
- Phát hành thông qua hình thức bảo lãnh phát hành: bao gồm các hình thức bảo lãnh từng phần, đồng bảo lãnh, tổ hợp bảo lãnh và bảo lãnh toàn bộ
- Phát hành thông qua Đại lý phát hành
- Phát hành thông qua phương thức đấu thầu: Đấu thầu cạnh tranh lãi suất và không cạnh tranh lãi suất
- Phát hành trái phiếu quốc tế: Trái phiếu quốc tế được Chính phủ chính thức phát hành lần đầu tiên vào năm 2005 và đã thành công rực rỡ, 750 triệu USD trái phiếu đã bán hết veo trong thời gian ngắn Số lượng đặt mua lên tới 4,5 triệu USD, gấp 6 lần số bán ra Lãi suất trái phiếu cũng thấp hơn dự kiến ban đầu 7,125% thay vì 7,25% như dự kiến Đây là bước đầu tiên giúp Việt Nam bước chân vào cánh cửa thị trường vốn quốc tế Theo thống kê ban đầu của Ngân hàng Credit Suisse First Boston, các nhà đầu tư đặt mua lớn trái phiếu Việt Nam chủ yếu đến từ châu Á, châu Âu và tại nước Mỹ Một nửa trong số
đó là các hãng quản lý tài sản Các ngân hàng và hãng bảo hiểm cũng chiếm phần lớn
3, Nhận xét: Một số đặc điểm chính của TTTP
Một là, chủ thể phát hành TPDN hiện nay rất đa dạng, không chỉ có các DNNN như trước đây mà còn có sự góp mặt của các Công ty cổ phần và DN
có vốn đầu tưnước ngoài Nếu như trước năm 2007, những DN có nhu cầu huy động vốn qua thịtrường TPDN thường là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước , các đơn vị đầu ngành hoặc các DNNN đã cổ phần hóa với nhu cầu huy động vốn mỗi đợt từ 500 tỷ đồng trở lên thì gần đây một số công ty cổ phần cũng đã bắt đầu làm quen với hình thức tài trợ vốn này
Trang 8Hiện nay, trên thị trường TPDN, ngoài những gương mặt quen thuộc như Tập đoàn điện lưc ệt Nam (EVN), Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin), Công ty tài chính dầu khí (PVFC), Tổng công ty Sông Đà, Ngân hàng đầu tư & phát triển Việt Nam (BIDV)… còn có sự xuất hiện của các gương mặt mới như Công ty CP Vincom, Công ty CP Địa ốc Sài Gòn
Thương tín (Sacomreal), Công ty CP Thủy hải sản Minh Phú, Công ty CP may Nhà Bè, Công ty CP Du lịch & thương mại Vinpearl, Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai, Công ty CP Full Power (FPC), Viet A Bank, SeABank, VIB Bank …
Hai là, cho đến nay trên thị trường, ngoài hình thức trái phiếu vay nợ thông thường, một số DN cũng đã phát hành trái phiếu chuyển đổi như Ngân hàng CP Ngoại thương việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Á Châu, Ngân hàng TMCP Quân Đội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Ngân hàng TMCP Phương Đông, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương, Ngân hàng TMCP Việt Á, Công ty CP chứng khoán Sài Gòn (SSI), Công ty CP ngoại thương và phát triển đầu tư TP HCM (FIDECO), Công
ty CP đầu tư điện Tây Nguyên (TIC), Công ty CP xuất nhập khẩu tổng hợp 1… Bên cạnh đó, để khuyến khích các nhà đầu tư, một số DN còn phát hành trái phiếu kèm theo chứng quyền như: Tổng công ty Vinaconex phát hành trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu của Nhà máy xi măng Cẩm Phả với giá
ưu đãi, Công ty CP Địa ốc Sài Gòn Thương tín và Công ty CP Bê tông xây dựng Vinaconex Xuân Mai phát hành trái phiếu kèm quyền mua căn hộ với giá chiết khấu từ 5% - 8%
Ba là, hầu hết trái phiếu được phát hành đều có kỳ hạn không quá dài, ngắn nhất là 6 tháng và dài nhất là 20 năm, nhưng phần nhiều thường xoay quanh kỳ hạn 5 năm Nếu như trái phiếu của những Tổng công ty lớn như EVN, Vinashin, Lilama, Vinaconex … thường có kỳ hạn từ 5 – 10 năm thì ngược lại trái phiếu của của các Công ty cổ phần thường có kỳ hạn dưới
5 năm Điều này cũng khá hợp lý, bởi các DN nhưEVN, Vinashin, Lilama… đều là những DN đầu ngành và có kinh nghiệm lâu năm cũng như uy tín trên thương trường, do đó trái phiếu của họ thường rất hấp dẫn các nhà đầu tưdù
có kỳ hạn dài Mặt khác, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay với lạm phát cao, kinh tếtăng trưởng chưa bền vững, môi trường chính sách chưa thật ổn định … thì các nhà đầu tư thường rất ít quan tâm đến các loại trái phiếu có
kỳ hạn quá dài vì họ e ngại sẽ gặp rủi ro cao nếu đầu tư vào những loại trái phiếu này, do đó phần lớn trái phiếu của các Công ty cổ phần trên thị trường hiện nay đều có kỳ hạn từ 1 – 5 năm cũng là điều dễ hiểu 48
Trang 9Bốn là, về cơ bản, lãi suất trái phiếu DN đều cao hơn lãi suất đấu thầu TPCP Tất cả các trái phiếu đều trả lãi sau với phương thức trả lãi hàng năm (coupon), lãi suất cố định Tuy nhiên cũng có một số DN phát hành trái phiếu với lãi suất thả nổi và được điều chỉnh căn cứ vào lãi suất TPCP hoặc lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng như EVN, Tổng công ty Sông
Đà, Vinashin, Công ty tài chính dầu khí PVFC, Công ty CP Vincom, Công
ty CP Hoàng Anh Gia Lai, Công ty CP Full Power (FPC)…
Năm là, việc phát hành TPDN đã chuyển từ hình thức tự phát hành sang hình thức phát hành thông qua các tổ chức tư vấn hoặc bảo lãnh phát hành Hiện nay trên thị trường đã xuất hiện nhiều tổ chức tên tuổi trong hoạt động tư vấn bảo lãnh phát hành như BIDV, HSBC, Deutsche Bank, ANZ, Vina Capital, VIB Bank, Công ty chứng khoán Ngân hàng NN&PTNT (Agriseco), Công ty chứng khoán Habubank, Công ty chứng khoán Quốc tế (VIS)… Riêng BIDV là NHTM nhà nước có bề dày kinh nghiệm và uy tín trong thực hiện tư vấn thu xếp phát hành trái phiếu ngay từ năm 2003 đến nay với các giao dịch cụ thể như: Tổng công ty dầu khí, Tập đoàn điện lực Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà, Vinaconex, Vincom…
Sáu là, hiện nay giao dịch TPDN phần lớn chỉ tập trung ở thị trường
sơ cấp trong khi khối lượng giao dịch trên thị trường thứ cấp còn rất hạn chế Nhìn chung, tất cả các đợt phát hành trái phiếu gần đây của DN đều là phát hành riêng lẻ, bởi điều kiện phát hành ra công chúng đối với TPDN hiện còn quá chặt chẽ và mất nhiều thời gian cho khâu hoàn thiện hồ sơ Khi DN phát hành riêng lẻ thì trái phiếu hầu hết được các tổ chức đầu tư lớn mua, xác định nắm giữ lâu dài nên nhu cầu giao dịch trên thịtrường thứ cấp cũng rất hạn chế Số lượng TPDN được niêm yết trên thị trường còn ởmức rất thấp, chỉ khoảng 4 tổ chức đã niêm yết gồm EVN, BIDV, PVFC, VCB Giao dịch chủ yếu tập trung vào các trái phiếu EVN, BIDV trong khi trái phiếu của các Tổng công ty nhà nước khác hầu như không thấy giao dịch trên thị trường
Một số thông tin tham khảo về Thị trường trái phiếu Châu Á
Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu các nước Châu Á từ các nhà đầu tư nước ngoài không cao, chỉ 5% so với 25% của Úc và Mỹ với lý do chính là tính thanh khoản yếu, quy mô thị trường nhỏ, định mức tín dụng thấp, … mặc dù các thị trường này cũng bắt đầu có sự liên kết nhau cùng phát triển, điển hình như Cơ quan Quản lý tiền tệ Hồng Kông (HKMA - Hong Kong
Trang 10Monetary Authority) đã có kết nối với một số nước khác như Úc, New Zealand, Hàn Quốc và sắp tới là Trung Quốc
Nhìn chung, thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ châu Á vẫn còn rất nhiều hạn chế do quy mô nhỏ, số lượng nhà đầu tư đơn điệu, cơ sở hạ tầng giao dịch yếu kém và định mức tín nhiệm quốc gia trung bình ở mức thấp
Có thể thấy trong bức tranh toàn cảnh này, Việt Nam, với những bước chập chững hội nhập vào thị trường tài chính khu vực và quốc tế, phản ánh gần như đầy đủ mọi khía cạnh đặc trưng của khu vực
Hệ thống thanh toán chưa có sự liên thông giữa các thị trường trong khu vực, dẫn đến nhà đầu tư gặp khó khăn khi giao dịch xuyên biên giới và điều này cũng làm cho nhà đầu tư không mặn mà mấy với loại hình chứng khoán này
III, Một số hạn chế:
1,Số lượng doanh nghiệp và lượng vốn huy động từ thị trường trái phiếu vẫn còn hạn chế:
Cho tới nay ,Ngoài trái phiếu chính phủ, mới có khoảng hơn 10 doanh nghiệp phát hành trái phiếu, gồm có: PetroVietnam, Tổng công ty cao su, Vinashin, Electric Vietnam Copreration (EVN), Lilama, Vietnam Steel Corperation, Vilexim, Tổng Công ty cổ phần xây dựng điện Việt nam, Tổng công ty Sông Đà và Vinaconex
2, Quy mô nhỏ, thanh khoản thấp
Thị trường trái phiếu Việt Nam có quy mô quá nhỏ Chủ yếu trái phiếu Chính phủ đang ''thống lĩnh'' thị trường, trong khi trái phiếu của các DN phát hành rất hạn chế Tính thanh khoản của các loại trái phiếu còn thấp
Thị trường trái phiếu Chính phủ thiếu một cơ chế giao dịch có khả năng cung cấp thanh khoản cho các trái phiếu Chính phủ như các nhà tạo lập thị trường, hợp đồng mua lại trái phiếu Chính phủ phát hành với khối lượng và giá trị niêm yết lớn, trong khi những người nắm giữ trái phiếu Chính phủ trên thị trường sơ cấp là các nhà đầu tư có tổ chức (trừ các đợt phát hành riêng lẻ qua hệ thống Kho bạc) Nhu cầu giao dịch phát sinh là các giao dịch