Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề liên quan đến tội cướp tài sản và những hình phạt được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
Trang 1BỘ MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNGHỌC KỲ: 2 – NĂM HỌC: 2022 - 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
BỘ MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
MÃ MÔN HỌC: GELA220405_22_2_29
THỰC HIỆN: NHÓM 4.B THỨ 5 TIẾT 5, 6
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
3 Bùi Thanh Minh 22142350 Chương 3, Kết luận 100%
5 Nguyễn Quốc Anh Vũ 21110944
Tổng hợp, chỉnh sửa,tổng kết bài word, tàiliệu tham khảo, chỉnhword
100%
Ghi chú:
- Tỷ lệ % = 100%: Mức độ phần trăm của từng sinh viên tham gia
Điểm số: Nhận xét của giáo viên:
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 04 năm 2023
Ký xác nhận của giảng viên
Trang 3MỤC LỤC:
A MỞ ĐẦU: 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu: 1
3 Đối tượng nghiên cứu: 1
4 Phương pháp nghiên cứu: 1
5 Bố cục – Kết cấu đề tài: 2
B NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 3
1.1 Khái quát chung về tội xâm phạm sở hữu: 3
1.1.1 Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu: 3
1.1.2 Đặc điểm chung của các tội xâm phạm sở hữu: 4
1.1.3 Các yếu tố cấu thành của tội xâm phạm sở hữu: 5
1.1.3.1 Mặt khách thể của tội xâm phạm sở hữu: 5
1.1.3.2 Mặt khách quan của tội xâm phạm sở hữu: 5
1.1.3.3 Mặt chủ quan của tội xâm phạm sở hữu: 6
1.1.3.4 Chủ thể của tội xâm phạm sở hữu: 6
1.2 Khái quát về tội cướp tài sản: 6
1.2.1 Khái niệm về tội cướp tài sản: 7
1.2.2 Đặc điểm của tội cướp tài sản: 7
1.2.2.1 Đặc điểm chung của tội cướp tài sản 7
1.2.2.2 Đặc điểm riêng của tội cướp tài sản 7
1.2.3 Những phương thức, thủ đoạn của tội phạm cướp tài sản 8
1.2.4 Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội cướp tài sản 8
1.2.5 Hậu quả của tội cướp tài sản: 9
Trang 4CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH 11
2.1 Dấu hiệu pháp lý: 11
2.1.1 Mặt khách quan: 11
2.1.1.1 Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản 11
2.1.1.2 Dấu hiệu khác : 12
2.1.2 Khách thể tội lừa đảo: 12
2.1.3 Mặt chủ quan tội lừa đảo: 12
2.2 Trách nhiệm hình sự áp dụng đối với tội phạm cướp tài sản (Hình phạt) : 13
2.2.1 Khung 1: 13
2.2.2 Khung 2: 13
2.2.3 Khung 3: 13
2.2.4 Khung 4: 14
2.2.5 Hình phạt bổ sung: 14
CHƯƠNG 3: PHÂN BIỆT TỘI CƯỚP VỚI MỘT SỐ TỘI DANH XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÁC 15
3.1 Tội “Cướp tài sản” và tội “Cưỡng đoạt tài sản” 15
3.2 Tội cướp tài sản và tội trộm cắp tài sản 15
3.3 Tội “Cướp tài sản” và tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” 16
3.4 Tội “Cướp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản” 16
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TỘI PHẠM CƯỚP TÀI SẢN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI CƯỚP TÀI SẢN 18
4.1 Tình hình về tội cướp tài sản trong giai đoạn hiện nay 18
4.2 Một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội phạm cướp tài sản 19
Trang 54.3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng và biến động của tội phạm
cướp tài sản 20
4.3.1 Các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống 20
4.3.2 Các yếu tố sai lệch thuộc về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội 21
4.4 Phân tích vụ án phạm tội cướp tài sản 21
4.5 Các giải pháp phòng chống tội phạm cướp tài sản 22
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 6A MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thị trường, Việt Nam coi việc côngnghiệp hóa và hiện đại hóa là một trong những ưu tiên hàng đầu cho sự phát triểnkinh tế của đất nước Phương châm phát triển kinh tế đa thành phần đã góp phầnlàm cho các mối quan hệ pháp lý trong lĩnh vực kinh tế, dân sự, hình sự ngày càng
đa dạng và phong phú Sự phát triển kinh tế đã cải thiện đời sống của người dân rấtlớn Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng mang lại những hệ quả tiêu cực
như sự suy thoái đạo đức và mất phẩm giá của một số cá nhân, dẫn đến sự xuất hiệncủa tệ nạn xã hội và những xu hướng tiêu cực trong chính trị, an ninh và trật tự xãhội Tỷ lệ tội phạm tăng cao, mức độ tội phạm ngày càng nguy hiểm và tinh vi hơn.Trong đó, các tội liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản chiếm tỷ lệ lớn trong cácloại tội phạm, chẳng hạn như tội cướp giật tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộmcắp tài sản, cướp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản Trong số đó, tội cướp tàisản đang diễn ra phức tạp hơn, gây tiêu cực trong xã hội, giảm lòng tin của nhândân đối với Đảng và Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật Mặc dù đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể trong việc đấu tranh, điều tra, truy tố và xử lý các tội phạm liên quan đến cướp tài sản, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế và bất cập
Vì vậy, nghiên cứu về tội phạm cướp tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng, từ đó sẽđưa ra các biện pháp đấu tranh phòng, chống hiệu quả
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật hình sự cũng như những
vấn đề thực tế có liên quan, tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội cướp tài sản.Qua đó, thấy được những bất cập, hạn chế còn tồn tại để từ đó đưa ra giải pháp nhằmgóp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm này
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề liên quan đến tội cướp tài
sản và những hình phạt được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 sửa
đổi, bổ sung 2017, các văn bản có liên quan và tình hình thực tế của tội phạmnày
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu
Trang 7Chương 1: Lý luận chung về tội cướp tài sản
Chương 2: Quy định về tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam hiện hànhChương 3: Phân biệt tội cướp tài sản với một số tội danh xâm phạm sở hữu khácChương 4: Thực trạng và giải pháp trong đấu tranh phòng chống tội cướp tài sản
Trang 8B NỘI DUNGCHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN1.1 Khái quát chung về tội xâm phạm sở hữu:
Sở hữu là một phạm trù kinh tế chỉ các quan hệ phát sinh trong quá trình chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt tài sản
Tài sản là một giá trị cơ bản không thể thiếu đối với xã hội và con người trong mọithời đại Theo quy định của Bộ Luật dân sự 2005: “Tài sản bao gồm các đồ vật, tiền
tệ, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản” Từ khi tư hữu ra đời, tài sản đã trở thànhmục tiêu mà con người luôn phấn đấu để đạt được, vì nó là công cụ và phương tiệngiúp thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Ngoài ra, tài sản cũng làđối tượng của quyền sở hữu tài sản, được xác định bởi các quyền cơ bản của chủ sở hữu Tuy nhiên, để có được quyền sở hữu tài sản, con người phải tìm kiếm theonhiều cách thức khác nhau, chẳng hạn như thông qua lao động sản xuất hoặc kinhdoanh hợp pháp Tuy nhiên, hành vi tìm kiếm này chỉ được xem là hợp pháp nếuđược xã hội chấp thuận và tuân thủ các quy định pháp luật Những hành vi tìm kiếmtài sản thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội được coi là các tội phạm sở hữu và đượcđiều chỉnh trong “Luật hình sự” cụ thể là được quy định tại chương XIV của Bộ luậthình sự
1.1.1 Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu:
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi, xâm hại quan hệ sở hữu và sự xâmhại này thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại ChươngXVI (từ Điều 168 đến Điều 180) Theo quy định của Bộ luật Hình sự có 13 tội thuộcnhóm tội xâm phạm sở hữu Đó là các tội:
Tội cướp tài sản (Điều 168)
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169)
Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170)
Tội cướp giật tài sản (Điều 171)
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172)
Tội trộm cắp tài sản (Điều 173)
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (ĐIều 174)
Trang 9Tội lam dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)
Tôi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176)
Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177)
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178)
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan,
tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 Bộ luật Hình sự)
Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180)
1.1.2 Đặc điểm chung của các tội xâm phạm sở hữu:
Các tội phạm sở hữu có những đặc điểm chung, bao gồm:
Thứ nhất, tội phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm đối với xã hội, và được quyđịnh cụ thể trong chương XIV của Bộ luật hình sự Đây là một đặc điểm cơ bản củamặt khách quan của tội phạm, giúp phân biệt giữa hành vi phạm tội này với nhữnghành vi khác
Thứ hai, những hành vi xâm phạm và gây thiệt hại phải được quy định trong Bộ luậthình sự Theo khoản 2 của Bộ luật hình sự, chỉ người phạm một tội đã được quyđịnh mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Thứ ba, các tội xâm phạm sở hữu là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện, bao gồm cả hành vi vô ý và cố ý Lỗi được thực hiện dưới hai dạnghình thức: lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Khi một người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội,người phạm tội sẽ bị coi là cố ý phạm tội khi nhận thức rõ hành vi của mình là cótính nguy hiểm cho xã hội hoặc để mặc cho nó xảy ra Còn vô ý phạm tội là khingười phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nghiêm trọngcho xã hội nhưng vẫn cho rằng hậu quả đó có thể không xảy ra hoặc có thể ngănngừa được
Thứ tư, các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi phải chịu hình phạt, bao gồm phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chung thân và hình phạt tửhình
Thứ năm, về chủ thể của tội phạm, trong số 13 tội phạm xâm phạm sở hữu chỉ cómột tội phạm có chủ thể đặc biệt, đó là tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêmtrọng đến tài sản của Nhà nước quy định tại Điều 144 (Chủ thể của tội phạm này là
Trang 10người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của nhà nước), còn lạicác tội phạm khác có chủ thể của tội phạm là chủ thể thường.
1.1.3 Các yếu tố cấu thành của tội xâm phạm sở hữu:
Trong khoa học luật hình sự thì cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu kháchquan và chủ quan được quy định trong pháp luật hình sự, đặc trưng cho hành vinguy hiểm cho xã hội là tội phạm Cũng giống như các tội phạm khác các tội xâm phạm sở hữu cũng được cấu thành từ bốn yếu tố: khách thể, khách quan, chủ quan
và chủ thể
1.1.3.1 Mặt khách thể của tội xâm phạm sở hữu:
Theo luật hình sự Việt Nam, những tội được coi là tội xâm phạm sở hữu và cùngđược quy định trong Chương XVI Bộ luật Hình sự là những tội có cùng khách thể làquan hệ sở hữu Điều này có ý nghĩa:
Các tội xâm phạm sở hữu phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệthại cho quan hệ sở hữu
Sự gây thiệt hại này phải phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạttài sản được tôn trọng và bảo vệ Hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạn gây thiệt hạicho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng vàđịnh đoạt tài sản của chủ sở hữu
Một hành vi tuy cũng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữuchung nhưng sẽ không phải là tội xâm phạm sở hữu nếu hành vi này đồng thời còngây thiệt hại cho những quan hệ xã hội khác và sự gây thiệt hại này mới thể hiệnđược đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Trong trường hợp nàykhách thể (trực tiếp) không phải là quan hệ sở hữu
1.1.3.2 Mặt khách quan của tội xâm phạm sở hữu:
Các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu vàquyền sở hữu của chủ tài sản Cho dù hành vi xâm phạm đó có khác nhau về hìnhthức thể hiện, chúng đều ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủtài sản
Trang 11Các hình thức thể hiện của hành vi xâm phạm sở hữu có thể bao gồm hành vi chiếmđoạt, chiếm giữ trái phép, sử dụng trái phép, hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất máthoặc làm lãng phí tài sản Trong những hành vi đó có hành vi có thể được thực hiện bằng hình thức hành động và không hành động (hành vi hủy hoại); có hành vi chỉđược thực hiện bằng hành động (chiếm đoạt).
Những hành vi này thường được mô tả là dấu hiệu hành vi trong hầu hết các cấuthành tội phạm cơ bản, trừ một số trường hợp mô tả chỉ về mục đích như trong tộicướp tài sản
Hậu quả của những hành vi này là thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu, thể hiện dướidạng thiệt hại vật chất cụ thể như tài sản bị chiếm đoạt, tài sản bị hư hỏng, bị hủyhoại, tài sản bị sử dụng trái phép Hậu quả này được mô tả cụ thể trong hầu hết cáccấu thành tội phạm cơ bản
1.1.3.3 Mặt chủ quan của tội xâm phạm sở hữu:
Lỗi của người thực hiện các tội xâm phạm sở hữu có thể là cố ý như ở tội trộm cắptài sản; hoặc vô ý như ở tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Động cơ phạm tội có thể khác nhau nhưng không được mô tả trong các cấu thànhtội phạm, trừ cấu thành tội phạm của tội sử dụng trái phép tài sản
1.1.3.4 Chủ thể của tội xâm phạm sở hữu:
Trong lĩnh vực pháp lý, chủ thể của hầu hết các tội xâm phạm sở hữu là nhữngngười bình thường có khả năng trách nhiệm hình sự, bao gồm cả tuổi chịu tráchnhiệm hình sự Tuy nhiên, có một số tội xâm phạm sở hữu yêu cầu chủ thể phải cóthêm đặc điểm đặc biệt, được gọi là chủ thể đặc biệt Đặc điểm này liên quan đếntrách nhiệm về tài sản và áp dụng cho tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêmtrọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Ngoài ra, một sốCấu thành tội phạm mô tả những đặc điểm xấu về nhân thân như đã từng bị xử phạthành chính, xử lí kỉ luật, kết án Trong nội dung trình bày về dấu hiệu pháp lí củacác tội cụ thể, dấu hiệu chủ thể chỉ được trình bày khi chủ thể của tội phạm có dấuhiệu đặc biệt
1.2 Khái quát về tội cướp tài sản:
Trong thời đại hiện nay, khi xã hội phát triển ngày càng nhanh, con người cũng cónhu cầu sống cao hơn Để đáp ứng nhu cầu đó, có nhiều cách để nâng cao chất
Trang 12lượng cuộc sống của bản thân như lao động, sản xuất, kinh doanh, học tập Tuynhiên, cùng với đó, cũng xuất hiện nhiều tư tưởng chỉ thích hưởng thụ mà khôngmuốn lao động Vì vậy, nhiều vụ cướp tài sản xảy ra nhằm chiếm đoạt tài sản củangười khác.
Tội danh cướp tài sản trong luật hình sự chỉ áp dụng cho những người sử dụng vũlực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ngay lập tức đối với chủ sở hữu để chiếm đoạt tàisản Dấu hiệu để phân biệt tội cướp tài sản với những tội xâm phạm sở hữu khácchính là hành vi phạm tội Nói cách khác, người phạm tội cướp tài sản là kẻ dùngmọi thủ đoạn, bao gồm cả vũ lực, để tấn công người khác và chiếm đoạt tài sản củahọ
1.2.1 Khái niệm về tội cướp tài sản:
Dựa theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), cá nhân
có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làmcho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạttài sản thì hành vi đó được xem là cướp tài sản
1.2.2 Đặc điểm của tội cướp tài sản:
Ngày nay tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp và khó quản lý Cụ thể là:tội phạm có tổ chức, có mang theo vũ khí nguy hiểm có nhiều thủ đoạn tinh vi hơn,thực hiện một cách dã man gây ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe và tài sảncủa chủ sở hữu, điển hình nhất là tội cướp tài sản Tội cướp tài sản là một loại tội phạm nguy hiểm cao cho xã hội Bởi vì nó được thực hiện bằng những đặc điểm tội phạm dưới đây:
1.2.2.1 Đặc điểm chung của tội cướp tài sản
Theo luật hình sự Việt Nam hiện hành, dựa trên khái niệm về tội phạm, hành vi bịxem là tội phạm cướp tài sản là phải có đủ bốn yếu tố dấu hiệu: tính nguy hiểm cho xãhội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi, tính chịu hình phạt Những dấu hiệu nàyđồng thời cũng là những thuộc tính của tội phạm mà các hành vi khác không có được.1.2.2.2 Đặc điểm riêng của tội cướp tài sản
Hành vi dùng vũ lực, đây là nét đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản Vũ lực ở đây,
có thể được hiểu là hành động đánh, đá, bóp cổ, bắn, đâm, chém… nhằm tác động vàongười đang nắm giữ tài sản Và có thể không gây ra thương tích hoặc gây thương tích
Trang 13nặng hoặc thậm chí có thể dẫn đến chết người Đối với hành vi đe doạ dùng vũ lựcngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hay hành động rằng nếu người đang quản lý tàisản không giao nộp tài sản thì người phạm tội này sẽ dùng hành vi vũ lực (như đã nói
ở trên) ngay lập tức Và hành vi khác, hành vi này không phải là hành vi dùng vũ lựchay sẽ đe dọa là sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc mà có thể là hành vi dùng thuốc mê,hay thuốc ngủ… nhằm làm cho nạn nhân không thể chống cự được Cả ba dạng hành
vi trên đều nhằm chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp từ tay chủ sở hữu
1.2.3 Những phương thức, thủ đoạn của tội phạm cướp tài sản
Phương thức, thủ đoạn các đối tượng cướp tài sản thường sử dụng và đang diễn ra phổ biến gồm:
Các đối tượng phạm tội thường lợi dụng cửa sổ không có khung sắt hoặc cửa nhà
mở sẵn, rồi bất ngờ đột nhập công khai, dùng vũ lực, đe dọa để khống chế, chiếmđoạt tài sản Đột nhập vào nhà bằng cách phá khóa, phá cửa, trèo tường sau đókhống chế chủ nhà, người có trách nhiệm quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản.Chủ động tạo ra những lý do hợp lý để đột nhập vào nhà, như: Giả danh, hóa trangthành nhân viên kiểm tra điện, nước, truyền hình cáp… để chủ nhà, người có tráchnhiệm quản lý tài sản mất cảnh giác cho các đối tượng vào nhà; rồi sau đó bất ngờ dùng vũ lực, đe dọa để khống chế, chiếm đoạt tài sản
Do quen biết với chủ nhà rồi xin lưu trú lại, đến thời điểm thuận lợi thì dùng vũ lựckhống chế, chiếm đoạt tài sản Vào ban đêm, các đối tượng phục sẵn tại các đoạnđường vắng, ít người qua lại… Khi phát hiện người dân đi qua thì chặn hoặc đuổitheo khống chế, sau đó chiếm đoạt tài sản Hoặc phục sẵn ở khu vực gần những nơithường xuyên có hoạt động giao, nhận tài sản lớn (như: ngân hàng, cửa hàng vàng bạc, đá quý…) để quan sát, khi phát hiện người dân mang theo nhiều tài sản đi ra từnhững nơi này thì bám theo đến địa điểm thuận lợi và thực hiện hành vi cướp tàisản
Đặc biệt, thời gian gần đây còn xuất hiện thủ đoạn các đối tượng tự tạo ra nhữngtình huống khiến người tham gia giao thông mất cảnh giác, buộc phải dừng phươngtiện như: Cho trẻ em ngồi, đóng giả người tai nạn nằm trên đường hoặc đặt cácchướng ngại vật giữa đường vào buổi tối; hoặc dàn cảnh các vụ tai nạn, va chạmgiao thông, đánh ghen, đánh nhau… khi người điều khiển giao thông nhìn thấy,
Trang 14dừng phương tiện và tiến lại gần, các đối tượng phục sẵn quanh khu vực này sẽngay lập tức xông ra khống chế hoặc dùng các thủ đoạn khiến người bị tấn công lâmvào tình trạng không thể chống cự được (như đánh thuốc mê) và chiếm đoạt tài sản.Đóng giả là khách thuê xe ôm, thuê xe taxi… để dẫn nạn nhân đến địa điểm vắng
vẻ, ít người qua lại hoặc có đồng bọn đợi sẵn… sau đó thực hiện hành vi cướp tàisản
1.2.4 Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội cướp tài sản
Nguyên nhân và điều kiện của tội cướp tài sản là dấu hiệu, đặc điểm, cơ bản
nhất Mỗi tội phạm xảy ra thường xuyên không phải là do một nguyên nhân mà là mộtkết quả tập hợp hàng loạt các tình huống tác động đến con người cụ thể
Nguyên nhân chủ quan: Do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường đã ảnhhưởng không hề nhỏ đến tư tưởng và tâm lý của người phạm tội làm nảy sinh nhữnghậu quả tiêu cực nhất là đạo đức, lối sống Một bộ phận thanh niên đãđến tuổi laođộng nhưng không tìm được việc làm hoặc công việc không ổn định dẫn đến chơi bời lêu lõng sa vào các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, mại dâm… từ đó dẫnđến thói quen sống buông thả thích hưởng thụ, ăn chơi đua đòi không chịu lao động
Để có tiền đáp ứng nhu cầu cá nhân dấn thân vào con đường phạm tội Đa số nhữngngười phạm tội đều có trình độ văn hóa thấp, nhiều người chưa học hết tiểu học, phần đông đều ở lứa tuổi thanh, thiếu niên có nhận thức kém và thiếu hiểu biết biết
về pháp luật nên bị các đối tượng xấu lôi kéo vào con đường phạm tội Nguyên nhânkhách quan: Do đại đa số phần đông những vụ cướp là do thanh, thiếu niên thực hiệnnên có những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng như sau
Thứ nhất, là do ảnh hưởng từ gia đình vì đây là môi trường gần gũi và bao bọc, dạy dỗcác em
Thứ hai, từ phía nhà trường hiện nay trong nhiều nhà trường vẫn chưa chú ý việc giáodục, tuyên truyền, cho học sinh, sinh viên những kiến thức pháp luật
Thứ ba, quần chúng nhân dân chưa thực sự phát huy được vai trò của mình cũng nhưtham gia vào công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm
Thứ tư, ảnh hưởng từ phía xã hội, trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước
Trang 151.2.5 Hậu quả của tội cướp tài sản:
Đối với tội cướp tài sản, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành Hậuquả của tội phạm chỉ là dấu hiệu định khung hình phạt hoặc chỉ là tình tiết để xem xétkhi quyết định hình phạt Do khách thể của tội cướp là hai quan hệ xã hội (quan hệ tàisản và quan hệ nhân thân) nên tội cướp tài sản được gọi là tội gép và do đó hậu quảcủa tội cướp tài sản có thể là thiệt hại về tài sản nhưng cũng có thể là những thiệt hại
về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm Ví dụ: A dùng dao đâm bị thương B đểcướp chiệc xe máy của B, trong trường hợp này, hậu quả do A gây ra cho B vừa là tàisản (chiếc xe máy) vừa là sức khoẻ (B bị thương tích) Cũng có trường hợp thiệt hạigây ra vừa là tài sản vừa là danh dự, nhân phẩm Ví dụ: A có ý định chiếm đoạt chiệcdây chuyền vàng của chị H, A đã nấp trong bụi cây chờ chị H đi qua, A lao ra ôm vậtchị H và giật chiệc dây chuyền vàng trên cổ của chị H, trong lúc vật lộn, A đã xé rách
áo ngoài, áo trong (Xu chiêng) của chị H, làm chị H phải ở trần chạy về trước sựchứng kiến của nhiều người
Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về tính mạng thì cần phân biệt hai trường hợp: trườnghợp người phạm tội giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội bị truy cứutrách nhiệm hình sự về hai tội: tội giết người và tội cướp tài sản, nhưng nếu người phạm tội không có ý định giết người mà chỉ có ý định cướp tài sản nhưng chẳng mayngười bị hại bị chết thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướptài sản với tình tiết làm chết người Tuy nhiên, nếu sau khi đã cướp tài sản bị đuổi bắt
mà người phạm tội giết người để tẩu thoát thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự vềtội giết người
Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về sức khoẻ thì người phạm tội chỉ bị truy cứu tráchnhiệm hình sự về tội cướp tài sản với tình tiết gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khoẻ của người khác nếu người bị hại có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên
Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về nhân phẩm danh dự mà hành vi xâm phạm củangười phạm tội không có liên quan gì đến mục đích chiếm doạt thì ngoài tội cướp tàisản, người phạm tội còn bị truy cứu về các tội phạm tương ướng với với hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm Ví dụ: A, B, C bàn bạc đón đường nếu ai đi xe máy qua sẽcướp xe Khi thấy chị L đi xe máy qua, chúng chặn xe rút dao găm ra đe doạ buộc chị
L phải giao xe cho chúng Sau khi cướp được xe, B và C lấy xe chở nhau bỏ chạy, còn
Trang 16A ở lại dùng dao khống chế chị L để B và C chạy thoát Trong khi khống chế chị L, Anảy ý định giao cấu với chị L nên A buộc chị L phải cho A giao cấu nếu không A sẽgiết Do quá sợ hãi nên chị L buộc phải để cho A giao cấu.
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH2.1 Dấu hiệu pháp lý:
2.1.1 Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
2.1.1.1 Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sảnDùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm chongười khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội Việc đưa ra thông tin giả
có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằnghành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xeđem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khácnhư giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sảncủa người khác thành của mình Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và
có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳnghạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc
để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừadối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả
Trang 17Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếmgiữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tàisản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhậntài sản đáng lẽ phải nhận.
Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủđoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vichiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người cóhành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặctội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự
Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độclập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảochiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó Ví dụ, như hành
vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trongcân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừađảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuấthàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157);hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệthực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu giandối
2.1.2 Khách thể tội lừa đảo:
Khách thể của tội cướp tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà Nước, cơ quan, tổchức, cá nhân và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người Đốitượng tác động của tội cướp tài sản là tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự, baogồm :