ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ Đề tài nghiên cứu TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐI LÀM THÊM TỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ G[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài nghiên cứu TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐI LÀM THÊM TỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA KINH
TẾ CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thế KiếnSinh viên thực hiện : Vũ Hòa Linh
Lớp : QH2019-E Kinh tế CLC5
Mã sinh viên : 19050154
Hà Nội-2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng bài nghiên cứu này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫncủa TS Nguyễn Thế Kiên, tuyệt đối không sao chép các công trình nghiên cứu đã cótrước đây Các số liệu và kết quả của đề tài chưa từng được công bố ở bất kì một côngtrình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong bài nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, đượctrích dẫn đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính khoa học và nguyên bản của đề tài nghiêncứu này
Sinh viên
Vũ Hòa Linh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được trọn vẹn bài nghiên cứu này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành và sâu sắc đến giảng viên đã hướng dẫn, chỉ dạy tôi là TS Nguyễn Thế Kiên.
Thầy mang lại cho tôi rất nhiều kiến thức hữu ích, những kinh nghiệm được đúc kết qua
Trang 3nhiều năm giảng dạy và đặc biệt giúp tôi rèn luyện những kỹ năng làm việc nhóm, xử lýcác thông tin, xử lý các vấn đề khi tiến hành nghiên cứu hay vấn đề “nóng” trong bàinghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANHMỤCBẢNG vii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐI LÀM THÊM ẢNH HƯỞNG
Trang 51.1 Kết quả học tập là gì? 9
2.2.2 Đánh giá tác động của đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên khoa
2.2.2.1 Sự khác nhau về kết quả học tập giữa sinh viên có đi làm thêm và sinh viên
2.2.2.2 Những tác động từ làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên 16CHƯƠNG3: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA KINH
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1.1 Biểu đồ thực trạng làm thêm của giới trẻ Việt Nam 12Hình 2.1.2 Biểu đồ thực trạng làm thêm của sinh viên khoa KTCT, trường ĐHKT 12Hình 2.1.3 Biểu đồ khoảng thời gian làm thêm của sinh viên khoa KTCT, trường ĐHKT
13
Trang 7Hình 2.2.1 Biểu đồ đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Kết quả kiểm định T về sự khác nhau của điểm trung bình giữa hai đối tượng sinh
Trang 8Bảng 2 Điểm trung bình năm học 2019-2020 của sinh viên 16Bảng 3 Kết quả kiểm định tương quan của điểm trung bình và số giờ làm thêm 17Bảng 4 Bảng chéo giữa số giờ làm thêm và tác động đến thời gian tự học cùa sinh viên đi
Bảng 5 Bảng chéo giữa số giờ làm thêm và việc không có thời gian học bài của sinh viên
Bảng 6 Bảng chéo giữa số giờ làm thêm và tác động làm giảm thời gian lên lớp của sinh
Bảng 7 Bảng chéo giữa số giờ làm thêm và tác động không đảm bảo được lịch học của
Bảng 8 Bảng chéo giữa số giờ làm thêm và tác động tới sức khỏe của sinh viên đi làm
Bảng 13 Bảng chéo giữa loại công việc và việc không đảm bảo được lịch học khi sinh
Bảng 14 Bảng chéo giữa loại công việc và tác động đến sức khỏe của sinh viên đi làm
Bảng 15 Bảng chéo giữa loại công việc và việc cân đối được học và làm khi sinh viên
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHKT: Đại học Kinh tế
KTCT: Kinh tế chính trị
KQHT: Kết quả học tập
Trang 10HS : Học sinh
SV : sinh viên
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế sâu rộng tế trên tất cả các lĩnhvực, chất lượng đào tạo ngày càng cho thấy tầm quan trọng Trong giai đoạn hiện nay,
sự thịnh vượng của một quốc gia phụ thuộc nhiều vào chất lượng của giáo dục đại học
Mà chất lượng đào tạo được thể hiện rõ nét nhất qua kết quả học tập của sinh viên Kếtquả học tập là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng đầu ra của sinh viên, là sự thểhiện cho trình độ của nguồn nhân lực chịu trách nhiệm phát triển kinh tế và xã hội củađất nước Chính vì vậy, kết quả học tập của sinh viên là một trong những tiêu chí quantrọng để đánh giá cho những nỗ lực, năng lực của sinh viên sau cả một quá trình học tập
và rèn Bởi đó, kết quả học tập sẽ là một phần ảnh hưởng đến nghề nghiệp tương lai củasinh viên Nhà tuyển dụng sẽ căn cứ vào đó để có sự lựa chọn tốt nhất từ nguồn nhânlực dồi dào như hiện nay Đặc biệt, khi mà Việt Nam đã hội nhập với thế giới nhà tuyểndụng càng yêu cầu cao về năng lực, cái mà thể hiện rõ nét qua kết quả học tập của ứngviên Tuy nhiên kết quả học tập lại chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đã có nhiềunghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên Ví dụ như Võ Văn Việt vàĐặng Thị Thu Phương (2017) đã có nghiên cứu “Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến kếtquả học tập của sinh viên” Bằng phương pháp phân tích hồi quy và tương quan, nghiêncứu có 7 yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả học tập Và tác giả cũng đã phân tích và chỉ ramức độ tác động của các yếu tố đến kết quả học tập Tuy nhiên, kết quả học tập của sinhviên còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nên mỗi có thể các nhân tố và các mức độ ảnhhưởng của các nhân tố sẽ khác nhau ở các trường đại học khác nhau Hay nghiên cứucủa Rashida G Gabdrakhmanova, Guzel I Garnaeva, Leonid A Nefediev, Anvar N.Khuziakhmetov (2019) về “Factors Affecting the Quality of Learning Outcome in a HigherEducational Institution” Nghiên cứu đã khám phá mối liên hệ giữa KQHT của sinh viên ởtrường đại học và chất lượng giáo dục mà họ nhận được trước khi vào trường đại học.Mục tiêu của nghiên cứu là làm sáng tỏ không có mối quan hệ giữa kết quả rèn luyện vàmôi trường trung học cơ sở mà do quá trình học ở môi trường đại học
Các nghiên cứu đều cho thầy mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố này đến kết quảhọc tập Trong đó, vấn đề đi làm thêm của sinh viên là một vấn đề đáng lưu tâm, trên
Trang 12thực tế Việt Nam là một nước đang phát triển nên điều kiện sống của người dân là khácnhau Vì thế nhiều sinh viên phải vừa đi làm thêm vừa đi học để hỗ trợ phần nào tàichính Hơn hết, đại học là môi trường mà đòi hỏi sự tự học, tự trang bị kiến thức củasinh viên là rất lớn nên việc học trên lớp của sinh viên chỉ chiếm một phần nhỏ trong cảquá trình Do đó, sinh viên rất tự chủ trong việc sắp xếp và quản lý thời gian của mình Vìvậy sinh viên đã lựa chọn đi làm thêm ngày càng nhiều Nhưng việc đi làm thêm đó sẽlàm ảnh hưởng khá lớn đến thời gian biểu của sinh viên, ảnh hưởng tới kết quả học tập.
Đã có một số nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của việc đi làm thêm đến KQHT nhưNguyễn Phạm Tuyết Anh, Hoàng Minh Trí, Trần Thị Tuyết Hoa (2013) đã có công trìnhnghiên cứu “Tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên trường Đạihọc Cần Thơ” Nghiên cứu đã làm sáng tỏ những tác động cụ thể của việc đi làm thêmđến KQHT của sinh viên khoa Kinh tế, trường Đại học Cần Thơ Tuy nhiên nghiên cứu này
có thể chỉ đúng với sinh viên khoa Kinh tế, trường Đại học Cần Thơ Do đó nghiên cứu vềảnh hưởng của đi làm thêm sinh viên đến KQHT của sinh viên khoa kinh tế chính trị,trường đại học kinh tế là cần thiết, và từ đó có những đề xuất phù hợp để nâng cao chấtlượng kết quả học tập Vì vậy, nghiên cứu về “Tác động của việc đi làm thêm đến kết quảhọc tập của sinh viên khoa Kinh tế Chính trị, trường Đại học Kinh tế” là rất cần thiết Kếtquả nghiên cứu sẽ là cơ sở thực tế giúp cho trường Đại học Kinh tế có thêm căn cứ để hỗtrợ cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vừa học vừa làm thêm, đồng thời giúp cho sinhviên nói chung và sinh viên Đại học Kinh tế nói riêng có sự khắc phục phù hợp để tránhảnh hưởng đến kết quả học tập
2.Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Các tài liệu nước ngoài
Beffy, Magali and Fougere, Denis and Maurel, Arnaud (2010) đã có bài nghiên cứu
“The Effect of Part-Time Work on Postsecondary Educational Attainment: New Evidencefrom French Data” Nghiên cứu cung cấp bằng chứng mới về ảnh hưởng của công việcbán thời gian đối với trình độ học vấn sau trung học Bằng cách sử dụng các mẫu tríchxuất từ khảo sát lực lượng lao động Pháp được thực hiện trong những năm 1992-2002.Các mẫu này được giới hạn cho sinh viên học ban đầu sau khi học đại học và chuẩn bịcho bằng Cao đẳng, Cử nhân hoặc Thạc sĩ Tác giả đã ước tính mô hình probit với hai
Trang 13phương trình đồng thời tính đến việc làm việc bán thời gian trong khi học và thành côngtrong kỳ thi cuối kỳ, cùng với quyết định tiếp tục vào năm sau với một trong các mô hình.Sau đó, tính đến thời gian làm việc bằng cách vẽ ra một trong các mô hình sự phân biệtgiữa các công việc trong đó làm việc nhiều hơn hoặc ít hơn 16 giờ mỗi tuần Qua việc sửdụng sự khác biệt giữa các phân tích về tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên có kỹ năng thấp
và tương tác của chúng với tình trạng kinh tế xã hội của người cha để xác định ảnhhưởng của công việc bán thời gian đối với trình độ học vấn Kết quả cho thấy tác độngbất lợi rất lớn và có ý nghĩa thống kê của việc giữ một công việc bán thời gian thôngthường đối với xác suất tốt nghiệp Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ xem xét tác độngngắn hạn của công việc bán thời gian tới đối với trình độ học vấn
Kalenkoski, Charlene M and Pabilonia, Sabrina,W (2009) trong bài nghiên cứu
“Time to Work or Time to Play: The Effect of Student Employment on Homework, Sleep,and Screen Time” đã sử dụng thông tin nhật ký thời gian chi tiết về các hoạt động hàngngày của học sinh trung học từ Khảo sát Sử dụng Thời gian Hoa Kỳ (ATUS) năm 2003-
2008 để điều tra tác động của việc làm đối với thời gian học sinh dành cho bài tập về nhà
và các hoạt động chính khác Dữ liệu nắm bắt các tác động tức thì của việc làm thêm cóthể tích lũy theo thời gian để ảnh hưởng đến kết quả trong tương lai Kết quả cũng chothấy rằng việc làm thêm làm giảm thời gian mà học sinh trung học dành cho các hoạtđộng xây dựng vốn nhân lực như bài tập về nhà và hoạt động ngoại khóa, nhưng cũnggiảm thời gian sử dụng thiết bị, có thể coi như thời gian không sinh lợi Tuy nhiên, nghiêncứu không thể chia nhỏ ảnh hưởng của việc liệu ngày nhật ký có phải là ngày học haykhông, những kết quả cụ thể này nên được giải thích một cách thận trọng
Mcvicar, Duncan and Mckee, Brian (2002), đã có nghiên cứu “Part Time WorkDuring Post-Compulsory Education and Examination Performance: Help or Hindrance?”.Nghiên cứu này xem xét các ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra của việc có một công việcbán thời gian trong khi học toàn thời gian sau mười sáu tuổi, sử dụng dữ liệu mới vềnhững người trẻ tuổi ở Bắc Ireland Khoảng 35% tham gia vào công việc bán thời giantrong thời gian học tập của họ, so với hơn 60% được tìm thấy bởi các nghiên cứu gầnđây Điều này có thể liên quan đến thị trường lao động thanh niên tương đối chậm chạpcủa Bắc Ireland và có thể phản ánh mức độ việc làm bán thời gian ở các khu vực ngoại vi
Trang 14khác Các ước tính cho thấy làm việc bán thời gian không gây bất lợi cho kết quả kiểmtra, mặc dù làm việc nhiều giờ Các nhà hoạch định chính sách có thể cải thiện hiệu quảgiáo dục bằng cách giảm các khuyến khích làm việc nhiều giờ.
Magdalena Rokicka (2014), trong nghiên cứu “The impact of students' part-timework on educational outcomes” đã trình bày vấn đề việc làm bán thời gian của sinh viênnăm cuối và tác động của nó đối với kết quả giáo dục của nước Anh Ước tính tác độngnhân quả không đơn giản Thứ nhất, những người có được công việc bán thời gian cóthể có những đặc điểm không thể quan sát được cũng có ảnh hưởng đến kết quả giáodục của họ Thứ hai, quyết định làm việc bán thời gian khi còn đi học và tiếp tục đi họcsau tuổi 16 có thể được tạo ra đồng thời, dẫn đến vấn đề về tính đồng nhất Đến giảithích cho điều này, tác giả đã sử dụng một phương pháp tiếp cận công cụ và một ướctính robit nhị biến đệ quy Kết quả của cho thấy rằng làm việc bán thời gian trong nămcuối cùng của giáo dục bắt buộc có tác động tiêu cực đến thành tích giáo dục và sự thamgia vào giáo dục trong năm tiếp theo.Tuy nhiên, nghiên cứu này không cung cấp nhữnghàm ý rõ ràng về chính sách ở Anh Mặc dù, sự thật rằng việc làm bán thời gian của sinhviên làm giảm thành tích của họ ở trường và dẫn đến xác suất giáo dục thường xuyênthấp hơn sẽ đề xuất một chính sách hạn chế hoặc không khuyến khích học sinh đi làmtrong chương trình giáo dục bắt buộc toàn thời gian
Wang, Hongyu; Kong, Miosi; Shan, Wenjing; Vong, Sou Kuan (2010), trong nghiêncứu “The effects of doing part time jobs on college student academic performance and‐time jobs on college student academic performance andsocial life in a Chinese society” đã chỉ ra ảnh hưởng của việc đi làm thêm đến kết quả họctập và đời sống xã hội của sinh viên ở xã hội Trung Quốc Thông qua việc sử dụng dữ liệuthu thập được từ một trường đại học công lập nổi tiếng ở Ma Cao, nghiên cứu đặt giảđịnh việc làm của sinh viên là một trải nghiệm không đồng nhất và so sánh tầm quantrọng tương đối của các đặc điểm khác nhau của việc làm cho sinh viên trong việc dựđoán kết quả học tập và đời sống xã hội của sinh viên Kết quả cho thấy rằng việc làmbán thời gian không ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh khi nó được coi là mộtthể loại đồng nhất Có nghĩa là việc làm thêm phải phù hợp với chuyên ngành học, liênquan đến lĩnh vực học tập thì nó sẽ không ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn manglại cơ hội cho sinh viên phát triển kỹ năng Trái ngược với các nghiên cứu trước, nghiên
Trang 15cứu này lại cho rằng việc làm thêm thực sự làm phong phú thêm cuộc sống học đườngcủa sinh viên cũng như tăng sự hỗ trợ xã hội của họ
Ershad Ali (2017) đã có nghiên cứu “Impact of Part Time Work on the AcademicPerformance of International Students” chỉ ra ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quảhọc tập của sinh viên quốc tế trong khi học Nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sátgiữa các sinh viên quốc tế đang theo học tại các đại học khác nhau ở vùng Auckland vàthu về 50 phản hồi được chấp nhận Kết quả cho thấy có cả những tác động tích cực vàtiêu cực đến kết quả học tập của sinh viên trong khi vừa học vừa làm Tác động tích cựchay tiêu cực phụ thuộc vào việc quản lý thời gian giữa công việc và học tập Kết quả củanghiên cứu có thể được quan tâm các nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục và nhànghiên cứu
2.2 Các tài liệu trong nước
Chế Ngọc Hà, Nguyễn Trang Thảo, Trần Đình Sơn (2016) đã có bài nghiên cứu
“Student Part- Time Employment: Case Study At Ton Duc Thang University In Viet Nam”.Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Tôn Đức Thắng về vấn đề việc làm thêmcủa sinh viên, đồng thời chỉ ra mối quan hệ, sự ảnh hưởng của việc làm bán thời gian đốivới kết quả học tập Kết quả trong nghiên cứu này được đưa ra với sự hỗ trợ của cáccông cụ thống kê như T-Test mẫu độc lập, T-Test mẫu ghép đôi, Chi- bình phương kiểmđịnh, phân tích phương sai ANOVA Đặc biệt, nghiên cứu còn cho thấy nhu cầu việc làmbán thời gian của sinh viên phụ thuộc vào độ tuổi, khóa học và chuyên ngành; lý do đilàm thêm là để tăng thu nhập; đa số sinh viên chọn những công việc giản đơn, không đòihỏi kỹ năng chuyên sâu nên không thể nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên, thậm chícòn có tác động tiêu cực đến sinh viên làm công việc phát tờ rơi Phát hiện này sẽ giúpTrường Đại học Tôn Đức Thắng xây dựng mô hình hỗ trợ và quản lý việc làm thêm hiệuquả của sinh viên, là nguồn tham khảo vô cùng hữu ích cho các nhà nghiên cứu khoa học
xã hội trên thế giới về nghiên cứu điển hình trong Việt Nam, nơi không có nghiên cứunào liên quan đến việc làm bán thời gian của sinh viên được công bố quốc tế
Nguyễn Viết Lập và cộng sự (2006), đã có nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc làmthêm đến kết quả học tập” Nghiên cứu được thực hiện khảo sát nội bộ K-30 trường Đạihọc Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đi làm thêm và kết quả học tập
Trang 16của sinh viên Qua khảo sát bằng phương pháp chọn mẫu với cỡ mẫu là 300 sinh viên,sau đó tiến hành đánh giá kiểm định bằng Excel và phần mềm SPSS Kết quả cho thấyrằng sinh viên đi làm thêm ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập so với sinh viên khônglàm thêm và sinh viên làm trái buổi ảnh hưởng nhiều hơn so với sinh viên làm vào buổitối Mặc dù nghiên cứu đã chỉ ra được ảnh hưởng cụ thể của đi làm thêm đến kết quảhọc tập dựa trên một số ảnh hưởng nhưng các ảnh hưởng này vẫn còn hạn chế so vớimột số nghiên cứu khác
Nguyễn Phạm Tuyết Anh, Hoàng Minh Trí, Trần Thị Tuyết Hoa (2013), trong nghiêncứu “Tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại họcCần Thơ” đã tiến hành khảo sát 664 sinh viên trường Đại học Cần Thơ để kiểm định về
sự khác biệt giữa điểm trung bình của 2 nhóm đối tượng sinh viên có và không đi làmthêm; sự khác biệt giữa điểm trung bình của sinh viên trước và sau khi đi làm thêm.Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích ANOVA, kiểm định T với mẫutừng cặp, kiểm định T với mẫu độc lập và phân tích bảng chéo để kiểm định giả thuyếtcủa nghiên cứu Kết quả cho thấy những giả thuyết này đều được chấp nhận, đồng nghĩavới việc chứng minh được sự tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinhviên
2.3 Khoảng trống nghiên cứu
- Có thể thấy, hầu như nước ngoài đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề tácđộng của việc đi làm thêm đối với kết quả học tập của sinh viên và là một vấn đề hết sứcquan tâm đối với các nhà nghiên cứu Các nghiên cứu đều đánh giá được những tác động
cụ thể của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên của những trường hợp cụthể Từ đó, cũng có những nhận định cho các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá dành chonhiều sinh viên hơn để có những giải pháp phù hợp
- Đối với các nghiên cứu trong nước: mặc dù đã có nghiên cứu về tác động của việc
đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên và đã có đánh giá, phân tích, thử nghiệm cụthể Nghiên cứu đã cho kết quả và những giải pháp cụ thể để cải thiện kết quả học tập củasinh viên nhưng số lượng các nghiên cứu là hạn chế và hầu như không có nhiều tại ViệtNam Và cũng chưa có nghiên cứu nào về tác động của đi làm thêm đến kết quả học tậpcủa sinh viên trường Đại học Kinh tế
Trang 17- Chính vì thế, nghiên cứu về vấn đề “Tác động của đi làm thêm đến kết quả học tậpcủa sinh viên khoa Kinh tế Chính trị, trường Đại học Kinh tế” là cần thiết và cấp bách đểđánh giá mức độ ảnh hưởng cũng như giải pháp để cải thiện kết quả học tập cho sinh viên.
3.Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Đánh giá tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên, từ đóphân tích, đề xuất các giải pháp cho sinh viên đi làm thêm cải thiên kết quả học tập
3.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Phân tích thực trạng tình hình làm thêm của sinh viên khoa Kinh tế chính trị,trường Đại học Kinh tế
- Tìm hiểu thực trạng về kết quả học tập của sinh viên khoa kinh tế chính trị, trườngĐại học Kinh tế
- Đưa ra kết luận về mối tương quan giữa việc làm thêm và kết quả học tập của sinhviên khoa Kinh tế chính trị, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả học tậpcủa sinh viên
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên khoa Kinh tế chính trị, trường Đại học Kinh tế
Trang 184.2.3 Phạm vi về thời gian
Khảo sát kết quả học tập của sinh viên khoa KTCT, trường ĐHKT năm học 2020
2019-5.Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Tài liệu thứ cấp: là thu thập thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu rồi xử lý các
thông tin đó để chọn lọc những thông tin phù hợp và hữu ích, được lấy từ nguồn báo,công trình nghiên cứu, tạp chí
Tài liệu sơ cấp: Đề tài chủ yếu sử dụng số liệu sơ cấp được thu thập bằng phiếu
khảo sát online 101 SV trong đó bao gồm 69 SV có đi làm thêm và 32 SV không đi làmthêm thông qua bảng câu hỏi
5.1 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp định tính: Thu thập, tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá các tài
liệu từ các nghiên cứu trước, kế thừa có chọn lọc những tài liệu này để nghiên cứu vềkhái niệm, tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên của một sốtrường đại học ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam, đánh giá tác động đối với việc làmthêm của sinh viên đến kết quả học tập của sinh viên khoa Kinh tế chính trị, trường Đạihọc Kinh tế
Phương pháp định lượng: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 22 để xử lý số liệu
thông qua các phương pháp: phương pháp thống kê mô tả, kiểm định T với mẫu từngcặp, kiểm định T với mẫu độc lập và phân tích bảng chéo để kiểm tra giả thuyết về sự tácđộng của làm thêm đến KQHT của sinh viên khoa KTCT, trường ĐHKT
6.Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu còn gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của việc đi làm thêm ảnh hưởng đến kết quảhọc tập
Chương 2: Thực trạng và phân tích
Trang 19Chương 3 : Giải pháp cải thiện kết quả học tập của sinh viên khoa Kinh tế Chính trị, trường Đại học Kinh tế.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐI LÀM THÊM ẢNH HƯỞNG ĐẾN
KẾT QUẢ HỌC TẬP 1.1 Kết quả học tập là gì?
Theo Lê Thị Thu Liễu và Huỳnh Xuân Nhựt (2009), kết quả học tập là gồm các kiến thức,
kỹ năng và thái độ mà người học có được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường.Kết quả học tập là bằng chứng cho sự thành công của học sinh/ sinh viên về kiến thức, kỹnăng, năng lực và thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục)
Trong “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của HS phổ thông”- Hoàng ĐứcNhuận và Lê Đức Phúc đã đưa ra cách hiểu về KQHT như sau:
Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhautrong thực tế cũng như trong khoa học
(1) Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trongmối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định Theo quan niệmthứ nhất này, kết quả học tập là mức thực hiện tiêu chí
(2) Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn họckhác Với quan niệm thứ hai, đó là mức thực hiện chuẩn
Theo Norman E Gronlund, trong cuốn “Measurement and Evaluation in Teaching”,ông đã bàn đến “learning outcomes” như sau:
Trang 20“Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của HS Đây chính là kết quả cuối cùng của quátrình học tập nhằm thay đổi hành vi của học sinh Khi nhìn nhận mục tiêu giáo dục theohướng kết quả học tập, cần phải lưu tâm rằng chúng ta đang đề cập đến những sảnphẩm của quá trình học tập chứ không phải bản thân quá trình đó Mối liên hệ giữa mụctiêu giáo dục và kinh nghiệm học tập được thiết kế nhằm hướng tới những thay đổi hành
vi theo như mong muốn.”
1.2 Việc làm thêm
Theo Wikipedia: Việc làm hực chất việc làm thêm là một định nghĩa nhằm mô tảhay diễn đạt một công việc mang tính chất chất không chính thức, không thường xuyên,không cố định, không ổn định bên cạnh một công việc chính thức Việc làm thêm còn cómột khái niệm khác nữa là việc làm part time hay còn gọi là bán thời gian Các công việclàm thêm, bán thời gian, part time thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờmỗi ngày hoặc ít hơn tùy vào tính chất của mỗi công việc
Công việc bán thời gian được định nghĩa là việc làm mà trong đó số giờ làm việc íthơn bình thường (Thurman & Trah, 1990) Theo Arne (2000), tổng thời gian làm việctrung bình mỗi tuần được qui định làm căn cứ phân loại công việc bán thời gian và toànthời gian ở các quốc gia khác nhau Ở Hoa Kỳ và Pháp, công việc bán thời gian được quyđịnh là dưới 35 giờ một tuần, Canada và Anh là dưới 30 giờ một tuần, Đức là dưới 36giờ, trong khi đó ở Nhật Bản, việc quyết định một nhân viên làm bán thời gian hay không
do chủ doanh nghiệp phân loại mà không căn cứ vào thời lượng làm việc Theo đó, ngườilao động bán thời gian sẽ làm việc theo ca, mỗi ca được sắp xếp xoay vòng luân phiêngiữa các nhân viên
Hiện nay, với xu hướng phát triển mạnh mẽ của các thành phố lớn nhiều cửa hàng
ra đời để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống Chính vì thế, nhu cầu tuyển dụngngười làm thêm rất nhiều, vì vậy nếu bạn muốn tìm việc làm thêm để kiếm thêm cáckhoản thu nhập mới trong cuộc sống cũng không phải là quá khó khăn
1.3 Ý nghĩa của việc đi làm thêm đối với sinh viên
Nhu cầu làm thêm sinh viên ngày càng tăng cao, đặc biệt là ở các thành phố lớn córất nhiều các trường đại học, tiêu biểu như Hà Nội Thực tế sinh viên là đối tượng còn đi
Trang 21học và vẫn cần nhận sự trợ cấp của gia đình Tuy nhiên không phải ai cũng có đủ tiền đểtrang trải cho các các khoản, một số thì gia đình khó khăn không đủ khả năng hỗ trợ.Trong thời gian đi học, nhằm gia tăng thu nhập, bên cạnh việc hàng ngày lên lớp, bộphận lớn sinh viên đã quyết định tham gia vào lực lượng lao động bán thời gian (part-time) Các công việc làm thêm chủ yếu mang tính chất thời vụ, có thể đi làm ngoài giờnhư: gia sư, phát tờ rơi, bán hàng, trực điện thoại, chở hàng, xe ôm… Những công việcnày thường giản đơn, không đòi hỏi tay nghề cao, không qua đào tạo bài bản nhưngthông qua đó các bạn có thể học hỏi được kỹ năng, kinh nghiệm, tay nghề cũng như giatăng thu nhập Bởi đó, cũng có không ít sinh viên khá giả kiếm việc làm bán thời gian vìnhiều mục đích như sở thích, tích lũy kinh nghiệm, mở rộng mối quan hệ xã hội Tuy vậynhưng làm thêm luôn có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực Có được một công việc phù hợpvới bản thân, phù hợp với ngành học sẽ giúp sinh viên học hỏi và tạo ra nhiều cơ hộitrong cuộc sống Sinh viên không chỉ có thêm thu nhập, việc làm thêm sẽ giúp tích lũy,trau dồi chuyên môn, mở rộng khả năng giao tiếp, tự tin và chủ động Không những vậy,sinh viên có thể tìm kiếm một môi trường để áp dụng kiến thức đã được học vào thực
tế, trải nghiệm kỹ năng xử lý các tình huống phát sinh, từ đó giúp gia tăng cơ hội nghềnghiệp của mình sau khi ra trường Tuy nhiên, về mặt trái của làm thêm cũng được thểhiện rõ ràng
1.4 Lý thuyết chi phí cơ hội
Theo Wikipedia: Chi phí cơ hội của một lựa chọn thay thế được định nghĩa như chiphí do đã không lựa chọn cái thay thế "tốt nhất kế tiếp"
Theo cách hiểu của kinh tế học vi mô, chi phí cơ hội là khái niệm được sử dụng rộng rãitrong hành vi của người tiêu dùng Chi phí cơ hội thể hiện sự đánh đổi của người tiêudùng về phương án này để có được phương án khác trên cơ sở là nguồn lực khan hiếm
Có nghĩa là để nhận được một lợi ích nào đó thì phải đánh đổi hoặc bỏ qua một chi phínhất định cho nó Như vậy, nếu người tiêu dùng lựa chọn một phương án này thì họ đã bỏqua giá trị của phương án tốt nhất Đó chính là lợi ích mất đi khi thực hiện sự đánh đổi
Lý thuyết chi phí cơ hội được giải thích cho đề tài là sự đánh đổi thời gian tự học để đi làmthêm Chi phí cơ hội sẽ thể hiện tất cả những kết quả của sự đánh đổi: tiền bạc, kinhnghiệm, kết quả học tập nếu quyết định dành thời gian tự học cho việc đi làm thêm Mặc
dù sẽ có thêm thu nhập, có kinh nghiệm nhưng đổi lại kết quả học tập sẽ bị ảnh hưởng bởi