MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2 MỞ ĐẦU 3 Chương 1: Tổng quan về đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 4 1.1.Mục tiêu đối ngoại 4 1.2.Nguyên tắc đối ngoại 4 1.3.Phương châm đối ngoại 4 Chương 2: Phân tích tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm trước đổi mới (19751985) 5 2.1.Bối cảnh lịch sử 10 năm trước đổi mới (19751985) 5 2.1.1.Bối cảnh trong nước 5 2.1.2.Bối cảnh quốc tế 5 2.2.Tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng 6 2.2.1.Nhiệm vụ đối ngoại 7 2.2.2.Chủ trương, chính sách đối ngoại 7 Chương 3: Kết quả, những hạn chế và nguyên nhân 9 3.1.Kết quả 9 3.2.Hạn chế và nguyên nhân 9 KẾT LUẬN 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO 12 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt ASEAN Association of South East Asian Nations Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á SEATO Southeast Asia Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á SEV Council of Mutual Economic Assistance (Tiếng Nga: Sovyet Ekonomičeskoy Vzaimopomošč) Hội đồng tương trợ kinh tế XHCN Xã hội chủ nghĩa WB World Bank Ngân hàng thế giới MỞ ĐẦU Mùa xuân năm 1975, nước ta giải phóng hoàn toàn Miền Nam, dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử mới giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội1 Mười năm trước đổi mới (1975 1985) là thời gian Việt Nam tiến hành công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước sau chiến tranh. Bên cạnh những thuận lợi sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc, Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, khó khăn mà một phần do chính sách đối ngoại tạo ra. Đối ngoại là những công việc, những quan hệ và những hoạt động giữa nước này với nước khác hoặc với một tổ chức quốc tế nào đó. Đối với một quốc gia, đường lối đối ngoại rất quan trọng. Nếu không đưa ra đường lối đối ngoại hợp lý thì một quốc gia có thể bị tụt hậu lại so với thế giới trên mọi mặt do không có sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới. Và ngược lại nếu một quốc gia có đường lối đối ngoại hợp lý sẽ giúp quốc gia đó thúc đẩy phát triển đời sống xã hội, hợp tác giao lưu quốc tế ngày càng sâu rộng thì quốc gia đó sẽ phát triển vượt bậc. Đường lối đối ngoại của từng quốc gia được hoạch định dựa trên cơ sở tình hình phát triển của đất nước và bối cảnh quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể. Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm trước đổi mới (19751985) cũng chịu sự tác động của bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đoàn kết hữu nghị, hợp tác với các nước XHCN anh em, thúc đẩy quan hệ đặc biệt với các nước Đông Dương, mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trong khu vực và thế giới vì hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội. Quá trình đó đã để lại một số kinh nghiệm quý báu, mang giá trị thời đại và thực tiễn cho thời kỳ sau – thời kỳ đổi mới. Những kinh nghiệm này đã góp phần định hướng đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; cần được vận dụng, phát huy có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. 1 Đảng Cộng sản Việt Nam, 1976, Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Chương 1: Tổng quan về đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 1.1.Mục tiêu đối ngoại Mục tiêu đối ngoại của Việt Nam là tận dụng được sức mạnh của thời đại để giành độc lập dân tộc, bảo vệ và phát triển đất nước, đồng thời thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế của Đảng và nhà nước ta. Mục tiêu đối ngoại được Đảng hướng tới là “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”. Hai mục tiêu này thống nhất với nhau và là mục tiêu cao nhất mà mọi hoạt động đối ngoại phải hướng tới. 1.2.Nguyên tắc đối ngoại Đối với nguyên tắc đối ngoại, Việt Nam lấy nguyên tắc của Hiến chương Đại tây dương làm nền tảng: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Các nguyên tắc này nhằm mục đích giúp Việt Nam có thể nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục mở rộng, đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu, ổn định và bền vững. 1.3.Phương châm đối ngoại Đảng đã vạch ra phương châm đối ngoại của nước ta là bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính; giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa mối quan hệ quốc tế; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước. Chương 2: Phân tích tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm trước đổi mới (19751985) 2.1.Bối cảnh lịch sử 10 năm trước đổi mới (19751985) 2.1.1.Bối cảnh trong nước Chiến thắng giải phóng hoàn toàn Miền Nam mùa xuân năm 1975 đã đưa nước ta đi đến hòa bình, thống nhất. Cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắng lợi vĩ đại. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, trong khi hậu quả nặng nề của ba mươi năm chiến tranh chưa được khắc phục thì chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc lại xảy ra. Thêm vào đó, cách mạng Việt Nam còn phải hứng chịu sự chống phá từ các thủ đoạn hiểm ác, thâm độc từ các phe thế lực thù địch. Đại hội lần thứ V của Đảng (tháng 31982) nhận định “nước ta đang ở trong tình thế vừa có hoà bình vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt”. Bên cạnh đó còn phải giải quyết những khó khăn về kinh tế – xã hội do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn. 2.1.2.Bối cảnh quốc tế Từ những năm 70 của thế kỷ XX, trong nội bộ hệ thống có sự thay đổi cơ bản. Tây Âu và Nhật Bản trở thành hai trung tâm lớn của kinh tế thế giới cạnh tranh gay gắt với Mỹ. Từ năm 1970 đến năm 1977, xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hòa hoãn giữa các nước lớn, hòa hoãn Mỹ Xô, Tây Âu Liên Xô, Mỹ Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản với Trung Quốc nhưng quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng căng thẳng. Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc để chĩa mũi nhọn vào Liên Xô. Từ năm 1978, Mỹ thúc đẩy chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến lược ngăn chặn chống Liên Xô là cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Sau thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng, trở thành lực lượng quan trọng của hòa bình và cách mạng thế giới, mở ra thời kỳ “sau Việt Nam”. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đã trở thành xu thế của thời đại. Độc lập dân tộc đã trở thành phong trào, là một trong những đòn tấn công quan trọng vào chủ nghĩa đế quốc, trực tiếp quyết định sự tan rã của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Từ năm 1976 đến năm 1981 đã có 21 nước giành được độc lập dân tộc. Tuy nhiên, ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu xuất hiện sự trì trệ và mất ổn định về mặt kinh tế – xã hội từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Tình hình khu vực Đông Nam Á cũng có những chuyển biến mới. Mỹ đã rút quân khỏi Đông Nam Ásau năm 1975 và khối quân sự SEATO tan rã; đến tháng 21976, cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực được mở ra khi các nước ASEAN ký hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), Mặt khác, Mỹ và hệ thống tư bản chủ nghĩa bị rơi vào khủng hoảng kinh tế. Ba trung tâm của hệ thống tư bản chủ nghĩa là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu đều bị lạm phát và suy thoái. Sau thất bại về quân sự trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Mỹ đã lợi dụng triệt để sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, tiến hành cấm vận, bao vây, cô lập hòng làm suy yếu Việt Nam, tạo ra dòng người Việt Nam di tản ra nước ngoài, phần lớn sang Mỹ. Mỹ ngăn cản Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc, không chịu thực thực điều khoản 21 của Hiệp định Paris về trách nhiệm của Mỹ trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam, phong tỏa tài khoản liên quan đến Việt Nam ở nước ngoài, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế của Việt Nam. Cuối năm 1977 Quốc hội Mỹ thông qua luật cấm vận viện trợ cho Việt Nam. Đầu năm 1979, Mỹ vận động hầu hết các nước trong nghị viện châu Âu đình chỉ viện trợ kinh tế và siết chặt cấm vận đối với Việt Nam. Mỹ đã hỗ trợ cho các hoạt động khiêu khích, phá hoại, tác động tâm lý gây bạo loạn phản cách mạng ở Việt Nam thông qua đội ngũ phản động trong ngụy quân ngụy, ngụy quyền cũ và bọn phản động đội lốt tôn giáo ở miền Nam Việt Nam. Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn sau thời điểm Chiến tranh Việt Nam kết thúc. Trong các năm 1977 và 1978, tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra liên tục nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi Sài Gòn thất thủ. Ngày 17 tháng 2 năm 1979 Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước. 2.2.Tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng Trước bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp đặt ra cho Đảng và Nhà nước Việt Nam nhu cầu bức thiết về đối ngoại là: tạo dựng môi trường hòa bình bên ngoài thuận lợi để giữ vững ổn định và xây dựng đất nước, từng bước chủ động tích cực phá thế bao vây, cấm vận của Mỹ và các thế lực thù địch; phấn đấu bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc; mở rộng quan hệ ngoại giao hợp tác với các nước trong khu vực Đông – Nam Á, góp phần giải quyết từng bước tình hình Campuchia bằng một giải pháp chính trị, duy trì quan hệ hợp tác với Liên Xô và Đông Âu. 2.2.1.Nhiệm vụ đối ngoại Đại hội lần thứ IV của Đảng (121976) xác định nhiệm vụ đối ngoại: “ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học, kỹ thuật, củng cố quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta”2 Đại hội lần thứ V của Đảng (31982) xác định: nhằm mục đích làm thất bại chính sách của các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta thì công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh. Đại hội tiếp tục nhấn mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là nguyên tắc, là chiến lược và luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; xác định quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của ba dân tộc. 2.2.2.Chủ trương, chính sách đối ngoại Đại hội lần thứ IV của Đảng (121976): Trong quan hệ với các nước, Đại hội IV chủ trương củng cố và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa; bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia; sẵn sàng, thiết lập phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực; thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa Việt Nam với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Từ giữa năm 1978, Đảng đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sách đối ngoại như: nhấn mạnh yêu cầu ra sức bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào trong bối cảnh vấn đề Campuchia đang diễn biến phức tạp chú trọng củng cố, tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô, góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hoà bình, tự do, trung lập và ổn định; đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI TẬP LỚN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM Bối cảnh quốc tế tác động đến đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm trước đổi
mới (1975-1985)
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2BÀI TẬP LỚN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Bối cảnh quốc tế tác động đến đường lối đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm trước
đổi mới (1975-1985)
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: Tổng quan về đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 4
1.1 Mục tiêu đối ngoại 4
1.2 Nguyên tắc đối ngoại 4
1.3 Phương châm đối ngoại 4
Chương 2: Phân tích tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm trước đổi mới (1975-1985) 5
2.1 Bối cảnh lịch sử 10 năm trước đổi mới (1975-1985) 5
2.1.1 Bối cảnh trong nước 5
2.1.2 Bối cảnh quốc tế 5
2.2 Tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng 6
2.2.1 Nhiệm vụ đối ngoại 7
2.2.2 Chủ trương, chính sách đối ngoại 7
Chương 3: Kết quả, những hạn chế và nguyên nhân 9
3.1 Kết quả 9
3.2 Hạn chế và nguyên nhân 9
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
ASEAN Association of South East Asian
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á SEATO Southeast Asia Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Đông Nam
Á SEV Council of Mutual Economic
Assistance (Tiếng Nga: Sovyet Ekonomičeskoy Vzaimopomošč)
Hội đồng tương trợ kinh tế
WB World Bank Ngân hàng thế giới
Trang 5MỞ ĐẦU
Mùa xuân năm 1975, nước ta giải phóng hoàn toàn Miền Nam, dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử mới "giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội"1
Mười năm trước đổi mới (1975 - 1985) là thời gian Việt Nam tiến hành công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước sau chiến tranh Bên cạnh những thuận lợi sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc, Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, khó khăn mà một phần do chính sách đối ngoại tạo ra Đối ngoại là những công việc, những quan hệ và những hoạt động giữa nước này với nước khác hoặc với một tổ chức quốc tế nào đó Đối với một quốc gia, đường lối đối ngoại rất quan trọng Nếu không đưa ra đường lối đối ngoại hợp lý thì một quốc gia có thể bị tụt hậu lại so với thế giới trên mọi mặt do không có sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới Và ngược lại nếu một quốc gia có đường lối đối ngoại hợp lý sẽ giúp quốc gia đó thúc đẩy phát triển đời sống xã hội, hợp tác giao lưu quốc tế ngày càng sâu rộng thì quốc gia đó sẽ phát triển vượt bậc Đường lối đối ngoại của từng quốc gia được hoạch định dựa trên cơ sở tình hình phát triển của đất nước và bối cảnh quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm trước đổi mới (1975-1985) cũng chịu sự tác động của bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ
Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đoàn kết hữu nghị, hợp tác với các nước XHCN anh em, thúc đẩy quan hệ đặc biệt với các nước Đông Dương, mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trong khu vực và thế giới vì hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội Quá trình đó đã để lại một
số kinh nghiệm quý báu, mang giá trị thời đại và thực tiễn cho thời kỳ sau – thời kỳ đổi mới Những kinh nghiệm này đã góp phần định hướng đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; cần được vận dụng, phát huy có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, 1976, Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV.
Trang 6Chương 1: Tổng quan về đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1 Mục tiêu đối ngoại
Mục tiêu đối ngoại của Việt Nam là tận dụng được sức mạnh của thời đại để giành độc lập dân tộc, bảo vệ và phát triển đất nước, đồng thời thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế của Đảng và nhà nước ta Mục tiêu đối ngoại được Đảng hướng tới là “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” Hai mục tiêu này thống nhất với nhau và là mục tiêu cao nhất mà mọi hoạt động đối ngoại phải hướng tới
1.2 Nguyên tắc đối ngoại
Đối với nguyên tắc đối ngoại, Việt Nam lấy nguyên tắc của Hiến chương Đại tây dương làm nền tảng: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi Các nguyên tắc này nhằm mục đích giúp Việt Nam có thể nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục mở rộng, đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu, ổn định và bền vững
1.3 Phương châm đối ngoại
Đảng đã vạch ra phương châm đối ngoại của nước ta là bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính; giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa mối quan hệ quốc tế; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước
Trang 7Chương 2: Phân tích tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 10 năm
trước đổi mới (1975-1985)
2.1 Bối cảnh lịch sử 10 năm trước đổi mới (1975-1985)
2.1.1 Bối cảnh trong nước
Chiến thắng giải phóng hoàn toàn Miền Nam mùa xuân năm 1975 đã đưa nước
ta đi đến hòa bình, thống nhất Cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắng lợi vĩ đại Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tựu quan trọng
Tuy nhiên, trong khi hậu quả nặng nề của ba mươi năm chiến tranh chưa được khắc phục thì chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc lại xảy ra Thêm vào đó, cách mạng Việt Nam còn phải hứng chịu sự chống phá từ các thủ đoạn hiểm
ác, thâm độc từ các phe thế lực thù địch Đại hội lần thứ V của Đảng (tháng 3-1982) nhận định “nước ta đang ở trong tình thế vừa có hoà bình vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt” Bên cạnh đó còn phải giải quyết những khó khăn về kinh tế – xã hội do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn
2.1.2 Bối cảnh quốc tế
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, trong nội bộ hệ thống có sự thay đổi cơ bản Tây Âu và Nhật Bản trở thành hai trung tâm lớn của kinh tế thế giới cạnh tranh gay gắt với Mỹ Từ năm 1970 đến năm 1977, xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hòa hoãn giữa các nước lớn, hòa hoãn Mỹ - Xô, Tây Âu - Liên Xô, Mỹ - Trung Quốc, Tây Âu, Nhật Bản với Trung Quốc nhưng quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng căng thẳng Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc để chĩa mũi nhọn vào Liên Xô Từ năm 1978, Mỹ thúc đẩy chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Chiến lược ngăn chặn chống Liên Xô là cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ
Sau thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng, trở thành lực lượng quan trọng của hòa bình và cách mạng thế giới, mở ra thời kỳ “sau Việt Nam” Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đã trở thành xu thế của thời đại Độc lập dân tộc đã trở thành phong trào, là một trong những đòn tấn công quan trọng vào chủ nghĩa đế quốc, trực tiếp quyết định sự
Trang 8tan rã của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Từ năm 1976 đến năm 1981 đã
có 21 nước giành được độc lập dân tộc
Tuy nhiên, ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu xuất hiện sự trì trệ và mất
ổn định về mặt kinh tế – xã hội từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX Tình hình khu vực Đông Nam Á cũng có những chuyển biến mới Mỹ đã rút quân khỏi Đông Nam Ásau năm 1975 và khối quân sự SEATO tan rã; đến tháng 2-1976, cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực được mở ra khi các nước ASEAN ký hiệp ước thân thiện và hợp tác
ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali),
Mặt khác, Mỹ và hệ thống tư bản chủ nghĩa bị rơi vào khủng hoảng kinh tế Ba trung tâm của hệ thống tư bản chủ nghĩa là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu đều bị lạm phát
và suy thoái
Sau thất bại về quân sự trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” Mỹ đã lợi dụng triệt
để sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, tiến hành cấm vận, bao vây, cô lập hòng làm suy yếu Việt Nam, tạo ra dòng người Việt Nam di tản ra nước ngoài, phần lớn sang Mỹ Mỹ ngăn cản Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc, không chịu thực thực điều khoản 21 của Hiệp định Paris về trách nhiệm của Mỹ trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam, phong tỏa tài khoản liên quan đến Việt Nam ở nước ngoài, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế của Việt Nam Cuối năm
1977 Quốc hội Mỹ thông qua luật cấm vận viện trợ cho Việt Nam Đầu năm 1979, Mỹ vận động hầu hết các nước trong nghị viện châu Âu đình chỉ viện trợ kinh tế và siết chặt cấm vận đối với Việt Nam Mỹ đã hỗ trợ cho các hoạt động khiêu khích, phá hoại, tác động tâm lý gây bạo loạn phản cách mạng ở Việt Nam thông qua đội ngũ phản động trong ngụy quân ngụy, ngụy quyền cũ và bọn phản động đội lốt tôn giáo ở miền Nam Việt Nam
Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn sau thời điểm Chiến tranh Việt Nam kết thúc Trong các năm 1977 và 1978, tranh chấp và xung đột biên giới xảy
ra liên tục nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi Sài Gòn thất thủ Ngày
17 tháng 2 năm 1979 Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước
2.2 Tác động của bối cảnh quốc tế đến đường lối đối ngoại của Đảng
Trước bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp đặt ra cho Đảng và Nhà nước Việt Nam nhu cầu bức thiết về đối ngoại là: tạo dựng môi trường hòa bình bên ngoài thuận
Trang 9lợi để giữ vững ổn định và xây dựng đất nước, từng bước chủ động tích cực phá thế bao vây, cấm vận của Mỹ và các thế lực thù địch; phấn đấu bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc; mở rộng quan hệ ngoại giao hợp tác với các nước trong khu vực Đông – Nam Á, góp phần giải quyết từng bước tình hình Campuchia bằng một giải pháp chính trị, duy trì quan hệ hợp tác với Liên Xô và Đông Âu
2.2.1 Nhiệm vụ đối ngoại
Đại hội lần thứ IV của Đảng (12-1976) xác định nhiệm vụ đối ngoại: “ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học, kỹ thuật, củng cố quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta”2
Đại hội lần thứ V của Đảng (3/1982) xác định: nhằm mục đích làm thất bại chính sách của các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta thì công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh Đại hội tiếp tục nhấn mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là nguyên tắc, là chiến lược và luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; xác định quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của ba dân tộc
2.2.2 Chủ trương, chính sách đối ngoại
Đại hội lần thứ IV của Đảng (12-1976): Trong quan hệ với các nước, Đại hội
IV chủ trương củng cố và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa; bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia; sẵn sàng, thiết lập phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực; thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa Việt Nam với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Từ giữa năm 1978, Đảng đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sách đối ngoại như: nhấn mạnh yêu cầu ra sức bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào trong bối cảnh vấn đề Campuchia đang diễn biến phức tạp chú trọng củng cố, tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô, góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hoà bình, tự do, trung lập và ổn định; đề
ra yêu cầu mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
Trang 10 Đại hội lần thứ V của Đảng (3/1982): "Việt Nam chủ trương thiết lập những quan hệ láng giềng tốt với ASEAN, sẵn sàng cùng ASEAN xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định, kêu gọi đối thoại với ASEAN, thi hành chính sách tranh thủ và đấu tranh với ASEAN"3, kêu gọi các nước ASEAN hãy cùng các nước Đông Dương đối thoại và thương lượng để giải quyết các trở ngại; chủ trương khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường
về mặt nhà nước, về kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị
Thực tế cho thấy việc xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; củng cố và tăng cường đoàn kết hợp tác với Lào và Campuchia; mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước không liên kết và các nước đang phát triển; đấu tranh với sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch là nhiệm vụ ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
Trang 11Chương 3: Kết quả, những hạn chế và nguyên nhân
3.1 Kết quả
Trong 10 năm trước đổi mới, với đường lối đối ngoại của Đảng, quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa được cải thiện và tăng cường Ngày 15-9-1976, Việt Nam tiếp nhận ghế thành viên chính thức Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); ngày 21-9-1976, tiếp nhận ghế thành viên chính thức Ngân hàng thế giới (WB); ngày 23-9-1976, gia nhập Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); ngày 20-9-1977, tiếp nhận ghế thành viên tại Liên hợp quốc, ngày 29-6-1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEV); tham gia tích cực các hoạt động trong phong trào Không liên kết
Từ năm 1975 đến năm 1977, nước ta đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với
23 nước Việt Nam đã tranh thủ được nguồn viện trợ đáng kể, góp phần khôi phục đất nước sau chiến tranh nhờ sự tăng cường hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với cả các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa Việc trở thành thành viên chính thức của các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới và việc trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc, tham gia tích cực vào các hoạt động của Phong trào không liên kết đã giúp Việt Nam thành công chiếm được sự ủng
hộ, có được sự hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế, đồng thời phát huy được vai trò của nước ta trên trường quốc tế Những kết quả đối ngoại trên đây có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng Việt Nam
3.2 Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả nêu trên, nhìn tổng quát, từ năm 1975 đến năm 1986, quan hệ quốc tế của Việt Nam gặp những khó khăn, trở ngại lớn Trong những năm 1976-1986, do tác động, chi phối bởi những yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau nên Việt Nam đã nghiêng hẳn về phía Liên Xô, đối đầu với Trung Quốc và coi Liên
Xô đây là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của mình Đồng thời, nhấn mạnh thắt chặt tình đoàn kết với Liên Xô là vấn đề cần thiết và quan trọng Điều đó thể hiện
sự mất cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, đẩy ngoại giao Việt Nam rơi vào “thế kẹt” trong mười năm trước đổi mới Cũng bởi vì không giữ được thế cân bằng trong quan hệ với các nước lớn nên thời gian này đối ngoại Việt Nam gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức Một mặt, Việt Nam chèo chống với nước láng giềng lớn Trung Quốc đầy tham vọng Mặt khác, phải chèo chống với sự bao vây, cấm vận của các nước lớn, khiến Việt Nam bị cô lập với khu vực và quốc tế Nước ta bị bao vây, cô lập, trong đó