1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020

95 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Trường học Trung tâm Truyền Thông Tài Nguyên Và Môi Trường, Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường
Chuyên ngành Bảo vệ Môi trường
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (9)
    • 1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG6 1.2.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL (9)
    • 1.3. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐBSCL (23)
  • Phần 2 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI CỘM Ở VÙNG ĐBSCL (27)
    • 2.1 Bối cảnh (27)
    • 2.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm (27)
      • 2.2.1 Vấn đề nguồn nước (27)
      • 2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất (33)
    • 2.3. Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân33 1. Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi (35)
      • 2.3.2. Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp 37 2.4. Hiện trạng bảo vệ môi trường ở ĐBSCL (39)
      • 2.4.1 Cơ sở hạ tầng xử lý chất thải rắn ở ĐBSCL (43)
      • 2.4.2 Cơ sở hạ tầng xử lý nước thải ở ĐBSCL (45)
  • Phần 3 NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (47)
    • 3.1 Mục tiêu của giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường (0)
    • 3.2 Các chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu (49)
    • 3.3 Các chính sách thúc đẩy tham gia của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường (55)
    • 3.5 Vấn đề nhận thức cộng đồng và người dân trong bảo vệ môi trường (65)
      • 3.3.2 Xác định diện tích mái nhà thu nước mưa (81)
      • 3.3.4 Xác định lượng nước mưa lớn nhất thu được (81)
    • 3.6 Các vấn đề khó khăn tồn tại (83)
    • 3.7. Các yêu cầu tiếp tục thúc đẩy về nhận thức người dân và hành động vì cộng đồng ở Việt Nam và Đồng bằng Sông Cửu Long (85)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (2)

Nội dung

Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu Nguồn: Việt hóa một phần từ bản đồ trên Wikimedia Commons Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL là vùng hạ lưu cuối cùng của

Trang 1

BÁO CÁO

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BĐSCL THÀNH CÔNG CHỈ ĐẾN TỪ Ý THỨC

CỦA MỖI NGƯỜI

Hình ảnh ô nhiễm môi trường ở ĐBSCL

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TÀI LIỆU

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

“THÀNH CÔNG CHỈ ĐẾN TỪ Ý THỨC CỦA MỖI NGƯỜI”

Hà Nội, năm 2020

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG DÀNH CHO CÁN BỘ VÀ NHÂN VIÊN TRỰC TIẾP

KINH DOANH XĂNG DẦU

THÁNG 02 NĂM 2020

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Phần 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG6 1.2.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL 18

1.3.TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐBSCL 20

Phần 2 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI CỘM Ở VÙNG ĐBSCL 24

2.1 Bối cảnh 24

2.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm 24

2.2.1 Vấn đề nguồn nước 24

2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất 31

2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân33 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi 33

2.3.2.Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp 37 2.4 Hiện trạng bảo vệ môi trường ở ĐBSCL 41

2.4.1 Cơ sở hạ tầng xử lý chất thải rắn ở ĐBSCL 41

2.4.2 Cơ sở hạ tầng xử lý nước thải ở ĐBSCL 43

Phần 3 NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 45

3.1 Mục tiêu của giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 45

3.2 Các chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 46

3.3 Các chính sách thúc đẩy tham gia của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường 53

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Phần 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG6 1.2.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL 18

1.3.TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐBSCL 20

Phần 2 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI CỘM Ở VÙNG ĐBSCL 24

2.1 Bối cảnh 24

2.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm 24

2.2.1 Vấn đề nguồn nước 24

2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất 31

2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân33 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi 33

2.3.2.Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp 37 2.4 Hiện trạng bảo vệ môi trường ở ĐBSCL 41

2.4.1 Cơ sở hạ tầng xử lý chất thải rắn ở ĐBSCL 41

2.4.2 Cơ sở hạ tầng xử lý nước thải ở ĐBSCL 43

Phần 3 NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 45

3.1 Mục tiêu của giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 45

3.2 Các chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 46

3.3 Các chính sách thúc đẩy tham gia của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường 53

Trang 5

2

3.4 Khái niệm về cộng đồng và các tổ chức cộng đồng liên quan đến bảo vệ

môi trường hoạt động ở Việt Nam 56

3.5 Vấn đề nhận thức cộng đồng và người dân trong bảo vệ môi trường 62

3.3.2 Xác định diện tích mái nhà thu nước mưa 78

3.3.4 Xác định lượng nước mưa lớn nhất thu được 78

3.6 Các vấn đề khó khăn tồn tại 81

3.7 Các yêu cầu tiếp tục thúc đẩy về nhận thức người dân và hành động vì cộng đồng ở Việt Nam và Đồng bằng Sông Cửu Long 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu 7

Hình 1.2: Bản đồ hành chính các tỉnh vùng ĐBSCL 8

10

Hình 1.3: Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống sông và kênh chính 10

Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL 11

Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL 13

Hình 1.6: Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m3) qua sông Tiền 16

Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 21

Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của ĐBSCL 23

Hình 2.1: Bản đồ các vùng đất trong khu vực bị nhiễm mặn ĐBSCL 26

Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng ĐBSCL 27

Hình 2.3: Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL 28

Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL 29

Hình 2.5: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ nhỏ tăng lên 31

Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015 33

Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn 35

Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 35

Hình 2.9: Một con kênh ở Kiên Giang phủ đầy rác sinh hoạt từ dân cư 36

Hình 2.10: Không ai quản lý việc thu gom rác, tiểu thương chợ Cầu Chùa (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) lùa rác xuống sông 36

Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi 37

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu 7

Hình 1.2: Bản đồ hành chính các tỉnh vùng ĐBSCL 8

10

Hình 1.3: Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống sông và kênh chính 10

Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL 11

Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL 13

Hình 1.6: Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m3) qua sông Tiền 16

Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 21

Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của ĐBSCL 23

Hình 2.1: Bản đồ các vùng đất trong khu vực bị nhiễm mặn ĐBSCL 26

Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng ĐBSCL 27

Hình 2.3: Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL 28

Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL 29

Hình 2.5: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ nhỏ tăng lên 31

Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015 33

Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn 35

Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 35

Hình 2.9: Một con kênh ở Kiên Giang phủ đầy rác sinh hoạt từ dân cư 36

Hình 2.10: Không ai quản lý việc thu gom rác, tiểu thương chợ Cầu Chùa (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) lùa rác xuống sông 36

Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi 37

Trang 7

Hình 2.12: Các hoạt chất BVTV và tên thương mại trong danh mục được phép

sử dụng ở Việt Nam giai đoạn 1991-2019 40

Hình 2.13: Việc vứt bỏ bừa bãi chai lo, bao bì thuốc nông dược ra môi trường tự nhiên làm nguồn nước, đất đai và sinh vật bị ngộ độc và ô nhiễm 41

Hình 3.1: Năm mục tiêu chính trong giáo dục môi trường 45

Hình 3.2: Sự thay đổi nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu qua một số khảo sát từ tập huấn 62

Hình 3.3: Chương trình “Cùng nông dân bảo vệ môi trường” giúp nông dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 64

Hình 3.4: Nông dân xã Trường Đông thu gom rác thải bảo vệ thực vật 64

Hình 3.5: Cộng đồng dành ngày thứ 7 để dọn dẹp thu gom rác trên sông rạch 65 Hình 3.6: Nhóm tình nguyện ngày thứ 7 sạch – chung tay bảo vệ môi trướng 66

Hình 3.7: Người dân tự lấy mẫu nước để phân tích đánh giá 66

chất lượng nước 66

Hình 3.8: Người dân tự tay phân tích mẫu nước theo quy chuẩn chất lượng 67

Hình 3.9: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày Trái Đất 22/4/2019 72

Hình 3.10: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày Trái Đất 22/4/2019 72

Hình 3.11: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày Trái Đất 22/4/2019 73

Hình 3.12: Hội thảo “Cải thiện không gian công cộng có sự tham gia của cộng đồng tại công viên Khu dân cư An Khánh”, ngày 25 tháng 11 năm 2018 73

Hình 3.13: Mô hình hệ thống thu gom và xử lý nước mưa 81

Hình 3.14: Các hoạt động bảo vệ môi trường liên quan đến sự tham gia của cộng đồng 84

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Diện tích phần vùng sinh thái nước ở ĐBSCL 12

Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018 19

Bảng 2.1: Phân bố diện tích đất phèn hoạt động và tiềm tàng ở các vùng sinh thái ĐBSCL 27

Bảng 2.2 Ước tính sử dụng dư thừa phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 32

Bảng 2.3: Sự gia tăng áp dụng hoạt chất (ai) trong thuộc bảo vệ thực vật ở ĐBSCL 39

Bảng 2.4: Mức độ lãng phí thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 39 Bảng 2.5: Lượng rác phát sinh ở các đô thị và tỷ lệ thu gom tương ứng 42

Bảng 2.6: Hiện trạng các bãi chôn rác thải ở ĐBSCL (2017) 43

Bảng 2.7: Số lượng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt và lượng bùn thải (m3/năm) ước tính với hàm lượng chất khô là 15% 44

Bảng 3.1: Các công ước quốc tế có sự ký kết phê duyệt tham gia của Việt Nam 48

Bảng 3.2: Các Nghị quyết của Đảng CSVN liên quan biến đổi khí hậu 48

Bảng 3.3: Các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan biến đổi khí hậu 48

Bảng 3.4: Các Văn bản của các Bộ, ngành liên quan biến đổi khí hậu 51

Bảng 3.5: Các tổ chức phi chính phủ hoạt động ở Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng 57

Bảng 3.5 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động sinh hoạt 79

hằng ngày 79

Bảng 3 6 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho hộ gia đình 80

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích phần vùng sinh thái nước ở ĐBSCL 12

Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018 19

Bảng 2.1: Phân bố diện tích đất phèn hoạt động và tiềm tàng ở các vùng sinh thái ĐBSCL 27

Bảng 2.2 Ước tính sử dụng dư thừa phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 32

Bảng 2.3: Sự gia tăng áp dụng hoạt chất (ai) trong thuộc bảo vệ thực vật ở ĐBSCL 39

Bảng 2.4: Mức độ lãng phí thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 39 Bảng 2.5: Lượng rác phát sinh ở các đô thị và tỷ lệ thu gom tương ứng 42

Bảng 2.6: Hiện trạng các bãi chôn rác thải ở ĐBSCL (2017) 43

Bảng 2.7: Số lượng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt và lượng bùn thải (m3/năm) ước tính với hàm lượng chất khô là 15% 44

Bảng 3.1: Các công ước quốc tế có sự ký kết phê duyệt tham gia của Việt Nam 48

Bảng 3.2: Các Nghị quyết của Đảng CSVN liên quan biến đổi khí hậu 48

Bảng 3.3: Các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan biến đổi khí hậu 48

Bảng 3.4: Các Văn bản của các Bộ, ngành liên quan biến đổi khí hậu 51

Bảng 3.5: Các tổ chức phi chính phủ hoạt động ở Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng 57

Bảng 3.5 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động sinh hoạt 79

hằng ngày 79

Bảng 3 6 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho hộ gia đình 80

Trang 9

Phần 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN

NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Lưu vực sông Mekong trải dài trên một diện tích 795.000 km2, trải qua

lãnh thổ của 6 quốc gia Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt

Nam (Hình 1.1) Dòng chính sông Mekong dài 4.350 km là con sông lớn đứng

thứ 12 trên thế giới và lớn thứ 10 về tổng lượng dòng chảy, đến khoảng 475 tỷ m3

mỗi năm, lưu lượng trung bình khoảng 15.000 m³/s Ngoài nguồn tài nguyên nước

có nhiều tiềm năng phát triển thủy điện, thủy sản, lâm nghiệp, cấp nước, tưới tiêu

và giao thông, lưu vực sông Mekong có tính đa dạng sinh học rất cao, chỉ xếp sau

lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ

Các vùng đất ngập nước tự nhiên trải dọc theo lưu vực sông Mekong ngoài

tiềm năng du lịch sinh thái, còn mang lại các lợi ích khác như giảm thiểu lũ, trữ

nước và làm sạch môi trường Tài nguyên thủy sản được xem là một nguồn cung

cấp protein lớn cho hơn 60 triệu người sinh sống dọc theo hệ thống sông ngòi

của lưu vực Mekong với tổng loài cá trên 850 loài cá và sản lượng khoảng 4

triệu tấn mỗi năm Thủy sản không chỉ mang lại thu nhập cho ngư dân mà còn

tạo việc làm và sinh kế với với các nghề liên quan như nuôi trồng, quản lý nghề

cá, chế biến, sản xuất thức ăn cá, công cụ đánh bắt, sửa chữa tàu thuyền v.v…

Có hơn 100 dân tộc khác nhau trong 60 triệu cư dân sống trong lưu vực

Mekong tạo thành một trong những vùng đa dạng văn hoá nhất trên thế giới Tuy

nhiên, mực sống phần đông (khoảng 85%) là ở mức nghèo Sản xuất nông nghiệp

và thủy sản là sinh kế lâu đời của người dân vùng nông thôn và rừng núi (Hình

1)

Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu

(Nguồn: Việt hóa một phần từ bản đồ trên Wikimedia Commons)

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu cuối cùng của sông Mekong, tiếp giáp với cả 2 vùng biển Đông và biển Tây (Hình 2) Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trẻ nếu so về tuổi địa chất và cả lịch sử hình thành dân cư – xã hội Vùng châu thổ này dẩn dần hiện ra trên mặt nước biển khoảng 5.000 – 7.000 năm trước đây Hiện nay, vùng đồng bằng có diện tích tự nhiên phân đất liền gần 4 triệu ha (39.734 km2), trong đó có hơn 2,4 triệu ha đất canh tác nông

Trang 10

Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu

(Nguồn: Việt hóa một phần từ bản đồ trên Wikimedia Commons)

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu cuối cùng của sông Mekong, tiếp giáp với cả 2 vùng biển Đông và biển Tây (Hình 2) Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trẻ nếu so về tuổi địa chất và cả lịch sử hình thành dân cư – xã hội Vùng châu thổ này dẩn dần hiện ra trên mặt nước biển khoảng 5.000 – 7.000 năm trước đây Hiện nay, vùng đồng bằng có diện tích tự nhiên phân đất liền gần 4 triệu ha (39.734 km2), trong đó có hơn 2,4 triệu ha đất canh tác nông

Trang 11

nghiệp và 700.000 ha nuôi trồng thủy sản Diện tích vùng biển ĐBSCL xấp xỉ gấp

3 - 4 lần diện tích vùng đất liền (gần 12 triệu ha) Về mặt địa hình, đồng bằng này

là một vùng thấp và bằng phẳng, cao độ bình quân phổ biến nằm trong khoảng

0.8 – 1,2 m, thậm chí có nhiều vùng hiện nay chỉ còn cao độ dưới 0.8 m, so với

mực nước biển trung bình Vùng đất cao nằm chủ yếu dọc theo biên giới

Campuchia của tỉnh An Giang và Kiên Giang, cao trình trung bình nằm trong

khoảng từ 2,0 - 4,0 m, ngoài trừ các vùng núi đồi cao, sau đó độ cao thấp dần vào

đến vùng giữa, nằm ở trung tâm đồng bằng ở cao trình 1,0 - 1,5 m, và chỉ còn 0,3

- 0,7 m ở vùng ven biển

Hình 1.2: Bản đồ hành chính các tỉnh vùng ĐBSCL

Từ giữa đến cuối mùa mưa, khu vực phía Tây và phía Bắc Đồng bằng bị

ngập lũ từ sông Mekong, ước tính có khoảng 1,2 – 1,9 triệu ha bị ngập lũ, chủ yếu

là vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và vùng giữa sông Tiền -

sông Hậu Nước mặn xâm nhập từ biển làm ảnh hưởng trên 50% diện tích canh

tác, đặc biệt là vào mùa khô Ngoài ra, vấn đề đất phèn – nước phèn, chiếm khoảng

1,6 triệu ha, luôn là một thử thách cho canh tác nông nghiệp ở đây Cao độ trung

bình của vùng ĐBSCL phổ biến khoảng 1,0 – 1,5 m trên mực nước biển trung

bình Các điểm cao hiếm hoi như các núi ở An Giang và các hòn ở Kiên Giang

cũng chỉ tối đa một vài trăm mét Di tích Hang Cá Sấu, Thạch Động, Hòn Đất ở

Kiên Giang cho thấy vùng đất này có một thời kỳ dài khoảng 10.000 – 15.000

năm còn chìm dưới nước nước biển Các vùng trũng rộng lớn như Tứ giác Long

Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, vùng trũng U Minh là các nơi chứa nước ngập

vào mùa mưa Vì đây là vùng châu thổ cuối cùng của một con sông lớn nên nhiều

nhánh sông và chi lưu của nó hiện diện khá dày đặc

Từ thượng nguồn, sông Mekong chảy theo hướng Bắc – Nam là chủ yếu, nhưng sau khi qua Phnom Penh, sông rẽ ngoặt theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chia làm 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu chảy gần như song song với nhau Khi

đã vào sâu Việt Nam, sông Mekong tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ và thoát

ra Biển Đông qua 9 cửa lần lượt là Cửu Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định An, Cửa Bát Xắc và Cửa Trần

Đề (Tranh Đề) Vùng phía tây ĐBSCL có các sông tương đối ngắn khác là sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Trèm Trẹm, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp, sông Gành Hào, sông Bồ Đề, … Sông Cái Lớn xuất phát từ Đầm Dơi – Đầm Chim, chảy qua vùng Rạch Giá đổ ra Vịnh Thái Lan Sông Bồ Đề là một nhánh nhỏ của sông Cái Lớn Cả sông Cái Lớn và Cái Bé đều xuất phát từ vùng Vị Thanh (Chương Thiện cũ) đổ ra Biển Tây Sông Trèm Trẹm đi qua vùng U Minh, An Xuyên thành sông Ông Đốc Từ Quản Long có các sông Bảy Háp, sông Gành Hào đổ ra Vịnh Thái Lan

Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2 km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn ngoèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp (Hình 13) Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu với sông Vị Thanh, kênh Hỏa Lựu - Phụng Hiệp nối giữa sông Gành Hào và sông Hậu, sông Gành Hào và sông Vị Thanh được nối bởi kênh Cà Mau - Bạc Liêu, kênh Chắc Băng nối giữa sông Trẹm và sông Cái Lớn Ngoài ra, còn một số kênh nối liền giữa sông Cái Lớn và sông Gành Hào theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam

Trang 12

Từ thượng nguồn, sông Mekong chảy theo hướng Bắc – Nam là chủ yếu, nhưng sau khi qua Phnom Penh, sông rẽ ngoặt theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chia làm 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu chảy gần như song song với nhau Khi

đã vào sâu Việt Nam, sông Mekong tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ và thoát

ra Biển Đông qua 9 cửa lần lượt là Cửu Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định An, Cửa Bát Xắc và Cửa Trần

Đề (Tranh Đề) Vùng phía tây ĐBSCL có các sông tương đối ngắn khác là sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Trèm Trẹm, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp, sông Gành Hào, sông Bồ Đề, … Sông Cái Lớn xuất phát từ Đầm Dơi – Đầm Chim, chảy qua vùng Rạch Giá đổ ra Vịnh Thái Lan Sông Bồ Đề là một nhánh nhỏ của sông Cái Lớn Cả sông Cái Lớn và Cái Bé đều xuất phát từ vùng Vị Thanh (Chương Thiện cũ) đổ ra Biển Tây Sông Trèm Trẹm đi qua vùng U Minh, An Xuyên thành sông Ông Đốc Từ Quản Long có các sông Bảy Háp, sông Gành Hào đổ ra Vịnh Thái Lan

Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2 km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn ngoèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp (Hình 13) Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu với sông Vị Thanh, kênh Hỏa Lựu - Phụng Hiệp nối giữa sông Gành Hào và sông Hậu, sông Gành Hào và sông Vị Thanh được nối bởi kênh Cà Mau - Bạc Liêu, kênh Chắc Băng nối giữa sông Trẹm và sông Cái Lớn Ngoài ra, còn một số kênh nối liền giữa sông Cái Lớn và sông Gành Hào theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam

Trang 13

Hình 1.3: Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống

sông và kênh chính

Nguồn: Benedikter (2014) 1 , bản đồ được Việt hóa phần ghi chú

Một cách bao quát, căn cứ vào phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước, có

thể chia ĐBSCL một cách tương đối thành 3 vùng chính (Hình 1.4 và Bảng 1.1):

i Vùng ngập sâu: là vùng đất trũng đầu nguồn, có diện tích khoảng

1.034.273,5 ha, gồm khu vực Tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp

Mười, nơi đây nhận nước lũ hang năm gây ngập sâu và kéo dài

ii Vùng giữa ngập nông: là vùng trung gian giữa vùng ngập sâu và vùng ven

biển, vùng này có diện tích lớn nhất, khoảng 1.558.723,9 ha, vùng này vẫn

là vùng phù sa nước ngọt, ngập nông và thời gian ngập ngắn Vùng này tập

trung nhiều loại hình sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đa dạng

iii Vùng ven biển: bao gồm các vùng đất chạy dọc theo bời biển Đông và biển

Tây, vùng này rộng khoảng 1.427.234,3 ha, không kể diện tích vùng ngoài

1 Benedikter S (2014), Extending the Hydraulic Paradigm: Reunification State Consolidation and Water Control

in the Vietnamese Mekong Delta after 1975, Southeast Asian Studies, 3(3), pp.547-587

biển và hải đảo, thường xuyên đối diện với tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nguồn nước ngọt, đặc biệt là mùa khô

Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL

Trang 14

biển và hải đảo, thường xuyên đối diện với tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nguồn nước ngọt, đặc biệt là mùa khô.

Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL

Trang 15

Bảng 1.1: Diện tích phần vùng sinh thái nước ở ĐBSCL

TT Tỉnh/ Thành Vùng ngập sâu Vùng giữa ngập nông Vùng ven biển Diện tích (ha)

Vùng ĐBSCL nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ không khí trung

bình tháng trong toàn vùng thay đổi không lớn, dao động trong khoảng từ 25,3 -

27,0 °C, biên độ dao động nhiệt độ không khí giữa ngày và đêm không lớn, thường

dưới ±3 °C, nền nhiệt độ phân bố khá đều theo không gian và thời gian Độ ẩm

tương đối của không khí cao, dao động trong khoảng 78 – 82% Vùng ĐBSCL

nhận được số giờ nắng rất cao, từ 2.200-2.400 giờ mỗi năm, trung bình 6 - 7 giờ

mỗi ngày Lượng bốc hơi mặt thoáng trung bình toàn vùng ĐBSCL nằm trong

khoảng 1.000-1.300 mm trong khi lượng mưa ở ÐBSCL khá lớn, trung bình là

1.400 - 2.200 mm/năm (Hình 1.4) Tỉnh có lượng mưa thấp nhất là Ðồng Tháp

(1.400 mm/năm), tỉnh có lưọng mưa cao nhất là Cà Mau (2.200 mm/năm) Song

nơi có lượng mưa được ghi nhận là ít nhất vùng đồng bằng là Gò Công (Tiền

Giang) chỉ có 1.200 mm/năm, trung bình có 100 - 110 ngày mưa/năm Ðảo Phú

Quốc (Kiên Giang) được xem là nơi có lượng mưa cao nhất vùng đồng bằng:

3.145 mm với trung bình 140 ngày mưa/năm Các tháng có ngày mưa ít nhất là

tháng 12 đến tháng 3, biến thiên từ 0 - 6 ngày mưa/tháng Các tháng có ngày mưa

cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 10, biến thiên 13 - 21 ngày mưa/tháng Mưa tập

trung từ 75 - 95% vào mùa mưa Trong nhiều năm, khu vực tỉnh Kiên giang

thường bắt đầu mùa mưa sớm hơn các tỉnh khác (vào tháng 4) khoảng 15 - 20

ngày So với các khu vực trong toàn quốc thì lượng mưa ở ÐBSCL ít biến động

Ðiều đáng chú ý là vùng ÐBSCL có 2 đỉnh mưa: đỉnh mưa thứ 1 vào các tháng 6, tháng 7, đỉnh thứ 2 rơi vào tháng 9, tháng 10 Giữa 2 đỉnh mưa, vào cuối tháng 7 đến đều tháng 8 có một thời kỳ khô hạn ngắn (dân gian gọi là hạn Bà Chằn) kéo dài khoảng trên dưới 10 ngày do ảnh hưởng các luồng gió xoáy nghịch trên cao Mưa là một nguồn tài nguyên rất quan trọng cho người dân ĐBSCL, đặc biệt là vùng ven biển

Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và

lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL

Vùng ÐBSCL có mạng lưới sông khá phức tạp, trong đó chủ yếu là sông Cửu Long và các chi lưu của nó Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2

km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km

Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn nghèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp

Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu

Trang 16

Ðiều đáng chú ý là vùng ÐBSCL có 2 đỉnh mưa: đỉnh mưa thứ 1 vào các tháng 6, tháng 7, đỉnh thứ 2 rơi vào tháng 9, tháng 10 Giữa 2 đỉnh mưa, vào cuối tháng 7 đến đều tháng 8 có một thời kỳ khô hạn ngắn (dân gian gọi là hạn Bà Chằn) kéo dài khoảng trên dưới 10 ngày do ảnh hưởng các luồng gió xoáy nghịch trên cao Mưa là một nguồn tài nguyên rất quan trọng cho người dân ĐBSCL, đặc biệt là vùng ven biển

Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và

lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL

Vùng ÐBSCL có mạng lưới sông khá phức tạp, trong đó chủ yếu là sông Cửu Long và các chi lưu của nó Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2

km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km

Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn nghèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp

Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu

Trang 17

với sông Vị Thanh, kênh Hỏa Lựu - Phụng Hiệp nối giữa sông Gành Hào và sông

Hậu, sông Gành Hào và sông Vị Thanh được nối bởi kênh Cà Mau - Bạc Liêu,

kênh Chắc Băng nối giữa sông Trẹm và sông Cái Lớn Ngoài ra, còn một số kênh

nối liền giữa sông Cái Lớn và sông Gành Hào theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam

Lưu lượng bình quân nhiều năm của sông Mekong khi chảy qua Kratié

(Campuchea) vào khoảng 13.500 m3/s, tương ứng với tổng lượng dòng chảy (W)

đến 430 tỷ m3/năm Khi gặp dòng TongLêSáp, lưu lượng bình quân tăng lên đến

13.644 m3/s và bắt đầu xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam bằng 2 ngã Tân Châu và

Châu Ðốc Lưu lượng bình quân tại Tân Châu là 11.000 m3/s (chiếm 80% W), còn

tại Châu Ðốc là 2.650 m3/s (chiếm 20% W) Sự khác biệt này là địa hình lòng

sông và khu vực Mực nước sông Mekong tại Tân Châu cao hơn Châu Ðốc Trong

các giai đoạn cao điểm của mùa lũ ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL),

trong tháng 9 đến tháng 10, lưu lượng nước lũ có thể đạt 39.000 m3/s (Adamson,

2006)2 Phần lớn lượng nước đều đổ ra biển Ðông, lưu lượng bình quân ở cửa

sông lên đến 15.854 m3/s (khoảng W = 500 tỷ m3 nước/năm), còn lại khoảng 5%

- 10% theo các sông rạch và kênh đào đổ vào vịnh Thái Lan như kênh Tri Tôn,

Ba Thê, Cái Sắn, Ô Môn, Thốt Nốt, và một kênh mới khác qua vùng Tứ giác

Long Xuyên - Hà Tiên

Sông Vàm Nao nối liền sông Tiền và sông Hậu, chuyển một lượng nước

khá lớn từ sông Tiền qua sông Hậu làm nước sông Hậu tăng lên khoảng 3 lần Sau

sông Vàm Nao, lượng nước sông Tiền và sông Hậu bằng nhau, Bắc Mỹ Thuận đổ

ra biển 51%W (lưu lượng bình quân 7.662 m3/s), Bắc Cần Thơ đổ ra biển 49% W

(lưu lượng bình quân 7.503 m3/s) Ðặc biệt sự phân phối nước ở Tân Châu và

Châu Ðốc thay đổi theo mùa do ảnh hưởng của địa hình ở đáy sông PhnomPênh

tác động

+ Mùa lũ: Tân Châu chiếm 79% W, Châu Ðốc 21% W

+ Mùa kiệt: Tân Châu chiếm 96% W, Châu Ðốc 4% W

Cao độ mực nước lũ thay đổi theo năm, phổ biến trong khoảng 3,50 – 4,50

m, cường suất ở giai đoạn nước lũ lên khoảng 20 – 30 cm/ngày (MONRE, 2016)3

Khoảng 80-85 % nước lũ thượng nguồn đổ về đồng bằng qua sông Tiền và sông

Mekong MRC (Mekong River Commission), Vientiane

Regional Environmental Assessment Report, 205p

Hậu, còn chừng 15-20% thì chảy tràn đồng (Kingdom of the Netherlands and SR

of Vietnam, 2013)4 làm ngập hai vùng trũng tự nhiên lớn nhất đồng bằng là vùng

Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên (480.000 ha) và vùng Đồng Tháp Mười (680.000 ha)

Tính chất đặc thù của sông Cửu Long là mùa kiệt rất thiếu nước, lưu lượng bình quân lớn nhất trong mùa kiệt là 5.920 m3/s, lưu lượng bình quân là 1.700

m3/s và lưu lượng bình quân nhỏ nhất là 1.200 m3/s (xảy ra vào 17/4/1960) Lượng nước mùa kiệt không đủ tưới cho toàn bộ diện tích canh tác, nhiều nơi sông rạch khô cạn sát đáy, nước mặn từ biển tràn sâu vào đất liền và đất bị bỏ hoang rất nhiều trong mùa khô Ðây là vấn đề cần nghiên cứu tỉ mỉ trong bố trí cơ cấu cây trồng theo mùa vụ nhu cầu nước một cách hợp lý Trong khi đó vào mùa lũ, nước sông Cửu Long lại thừa quá nhiều làm tràn ngập nhiều vùng rộng lớn, mặc dầu lũ sông Cửu Long không lớn về cường suất Tốc độ nước lên tại Tân Châu trung bình chừng 20 cm/ngày, tối đa 34 cm/ngày (tháng 6/1981), tại Châu Ðốc 15 cm/ngày, tối đa không quá 35 cm/ngày Cách cửa sông 180 km, biên độ lũ là 4 m (so với sông Hồng là 11,8 m) Trong các năm bình thường, mùa mưa lũ kéo dài

từ tháng 5 đến tháng 11, các tháng còn lại là mùa khô Khối lượng nước đổ vào sông Tiền và sông Hậu trung bình theo tháng thể hiện như Hình 6

https://www.wur.nl/upload_mm/2/c/3/b5f2e669-cb48-4ed7-afb6-682f5216fe7d_mekong.pdf MDP (2013) Mekong Delta Plan, Vietnam-Netherlands Co-operation, Water Sector Synthesis, Hanoi, Vietnam

Trang 18

Hậu, còn chừng 15-20% thì chảy tràn đồng (Kingdom of the Netherlands and SR

of Vietnam, 2013)4 làm ngập hai vùng trũng tự nhiên lớn nhất đồng bằng là vùng

Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên (480.000 ha) và vùng Đồng Tháp Mười (680.000 ha)

Tính chất đặc thù của sông Cửu Long là mùa kiệt rất thiếu nước, lưu lượng bình quân lớn nhất trong mùa kiệt là 5.920 m3/s, lưu lượng bình quân là 1.700

m3/s và lưu lượng bình quân nhỏ nhất là 1.200 m3/s (xảy ra vào 17/4/1960) Lượng nước mùa kiệt không đủ tưới cho toàn bộ diện tích canh tác, nhiều nơi sông rạch khô cạn sát đáy, nước mặn từ biển tràn sâu vào đất liền và đất bị bỏ hoang rất nhiều trong mùa khô Ðây là vấn đề cần nghiên cứu tỉ mỉ trong bố trí cơ cấu cây trồng theo mùa vụ nhu cầu nước một cách hợp lý Trong khi đó vào mùa lũ, nước sông Cửu Long lại thừa quá nhiều làm tràn ngập nhiều vùng rộng lớn, mặc dầu lũ sông Cửu Long không lớn về cường suất Tốc độ nước lên tại Tân Châu trung bình chừng 20 cm/ngày, tối đa 34 cm/ngày (tháng 6/1981), tại Châu Ðốc 15 cm/ngày, tối đa không quá 35 cm/ngày Cách cửa sông 180 km, biên độ lũ là 4 m (so với sông Hồng là 11,8 m) Trong các năm bình thường, mùa mưa lũ kéo dài

từ tháng 5 đến tháng 11, các tháng còn lại là mùa khô Khối lượng nước đổ vào sông Tiền và sông Hậu trung bình theo tháng thể hiện như Hình 6

4 Kingdom of the Netherlands and SR of Vietnam (2013) Mekong Delta Plan 126p Access available via weblink:

https://www.wur.nl/upload_mm/2/c/3/b5f2e669-cb48-4ed7-afb6-682f5216fe7d_mekong.pdf MDP (2013) Mekong Delta Plan, Vietnam-Netherlands Co-operation, Water Sector Synthesis, Hanoi, Vietnam

Trang 19

Hình 1.6: Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m 3 ) qua sông Tiền

và sông Hậu

Vùng ĐBSCL nhìn chung rất bị tác động lớn về thiên tai nếu so sánh với

các vùng miền khác ở Việt Nam, thậm chí có một số loại hình thiên tai như lũ lụt

thì đối với người dân ĐBSCL xem đó là lợi thế nếu diễn biến lũ không quá cao

đột ngột và xuất hiện bất thường Các thiên tai được xem chính là sạt lở, lún sụt,

xâm nhập mặn, khô hạn và lũ kém thể hiện ngày càng nhiều Các thiên tai từ khí

quyển như bão, lốc xoáy, vòi rồng, sấm sét… thì ít xảy ra Tần xuất xuất hiện các

trận bão đổ bộ trực tiếp vào ĐBSCL khoảng 7%, phần lớn chỉ bị ảnh hưởng của

bão ở vùng biển miền Trung và vùng biển phía Nam Trong thế kỷ 20, chỉ có 3

trận bão lớn ảnh hưởng trực tiếp vùng ĐBSCL là cơn bão Giáp Thìn 1904, bão

Linda (cơn bão số 7) năm 1997 và cơn bão Durian năm 2006 Tuy nhiên, những

năm gần đây có những ghi nhận các bất thường của đường đi các trận bão hay sự

xuất hiện áp thấp nhiệt đới, các hiện tượng lốc xoáy, sấm xét có khuynh hướng

nhiều hơn Đôi lần vùng biển phía Nam có sự xuất hiện vòi rồng

Ðồng bằng sông Cửu Long là bộ phận cuối cùng ở lưu vực sông Mekong

tiếp giáp với biển nên chế độ nước ở đây chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều Căn

cứ vào đặc điểm hình thành và diễn biến của thủy triều, ta có thể chia vùng biển ÐBSCL ra làm 2 đoạn và lấy mũi Cà Mau làm điểm trung gian:

a Khu vực biển Ðông: Kéo dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km

chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế độ thủy triều bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m, đặc biệt trong chu kỳ triều Maton (chu kỳ

19 năm) có thể lên đến 4 - 4,2 m Tuy vậy, triều biển Ðông cũng chịu một phần ảnh hưởng triều biển Tây từ vịnh Thái Lan (bán nhật triều không đều) nhất là đoàn càng đi về phía Cà Mau Mỗi ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau Trong mỗi chu kỳ 1/2 tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường Nước lớn thường xảy ra vào những ngày mồng 2 đấn mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch Nước kém xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21 âm lịch) Các đặc trưng này xảy ra đều đặn suốt chiều dài 300 km dọc bờ biển, chỉ riêng đoạn gần đến mũi Cà Mau thì mới có sự biến động lớn về tính chất và biên độ của thủy triều Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1979) thì biên độ thủy triều ngoài khơi vùng nam biển Ðông gia tăng dần khi tiến sát đến thềm lục địa ÐBSCL và giảm dần khi sóng triều truyền sâu vào sông Cửu Long Tại vùng biển Tây Nam biển Ðông, sóng bán nhật triều được tăng cường về biên độ khi tiến về phía đất liền do cấu trúc địa hình, địa mạo của đáy biển ở đây tương đối phức tạp Ðiều này, ở vịnh Thái lan cũng có ảnh hưởng tương tự nhưng mức độ thấp hơn

b Khu vực phía Tây: Từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên dài 250 km Ở khu vực

này chịu chi phối bởi thủy triều nhật triều không đều của vùng biển vịnh Thái Lan, đoạn gần mũi Cà mau bị ảnh hưởng của thủy triều biển Ðông Triều phía Tây tiến vào đất liền qua các sông thiên nhiên như sông Bảy Háp, sông Ông Ðốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé, và một số kênh đào Biên độ trung bình triều phía Tây nhỏ hơn 1 m, tối đa không quá 1,1 - 1,2 m., trung bình khoảng 0,7 - 0,8 m, đồng thời cũng ít chênh lệch giữa các vùng về biên độ song tính chất thủy triều lại có một

số điểm khác nhau về cơ bản ở một số vùng Ví dụ như khu vực Rạch Giá là dạng triều hỗn hợp thiên về bán nhật triều với số ngày trong tháng có 2 lần triều lên và

2 lần triều xuống là chủ yếu (tức chịu ảnh hưởng chế độ nhật triều không đều thiên

về bán nhật triều), từ Rạch Giá đi về phía Hà Tiên thì triều hỗn hợp lại thiên về nhật triều, với số ngày trong tháng có 1 lần dao động triều chiếm ưu thế

Trang 20

cứ vào đặc điểm hình thành và diễn biến của thủy triều, ta có thể chia vùng biển ÐBSCL ra làm 2 đoạn và lấy mũi Cà Mau làm điểm trung gian:

a Khu vực biển Ðông: Kéo dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km

chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế độ thủy triều bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m, đặc biệt trong chu kỳ triều Maton (chu kỳ

19 năm) có thể lên đến 4 - 4,2 m Tuy vậy, triều biển Ðông cũng chịu một phần ảnh hưởng triều biển Tây từ vịnh Thái Lan (bán nhật triều không đều) nhất là đoàn càng đi về phía Cà Mau Mỗi ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau Trong mỗi chu kỳ 1/2 tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường Nước lớn thường xảy ra vào những ngày mồng 2 đấn mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch Nước kém xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21 âm lịch) Các đặc trưng này xảy ra đều đặn suốt chiều dài 300 km dọc bờ biển, chỉ riêng đoạn gần đến mũi Cà Mau thì mới có sự biến động lớn về tính chất và biên độ của thủy triều Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1979) thì biên độ thủy triều ngoài khơi vùng nam biển Ðông gia tăng dần khi tiến sát đến thềm lục địa ÐBSCL và giảm dần khi sóng triều truyền sâu vào sông Cửu Long Tại vùng biển Tây Nam biển Ðông, sóng bán nhật triều được tăng cường về biên độ khi tiến về phía đất liền do cấu trúc địa hình, địa mạo của đáy biển ở đây tương đối phức tạp Ðiều này, ở vịnh Thái lan cũng có ảnh hưởng tương tự nhưng mức độ thấp hơn

b Khu vực phía Tây: Từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên dài 250 km Ở khu vực

này chịu chi phối bởi thủy triều nhật triều không đều của vùng biển vịnh Thái Lan, đoạn gần mũi Cà mau bị ảnh hưởng của thủy triều biển Ðông Triều phía Tây tiến vào đất liền qua các sông thiên nhiên như sông Bảy Háp, sông Ông Ðốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé, và một số kênh đào Biên độ trung bình triều phía Tây nhỏ hơn 1 m, tối đa không quá 1,1 - 1,2 m., trung bình khoảng 0,7 - 0,8 m, đồng thời cũng ít chênh lệch giữa các vùng về biên độ song tính chất thủy triều lại có một

số điểm khác nhau về cơ bản ở một số vùng Ví dụ như khu vực Rạch Giá là dạng triều hỗn hợp thiên về bán nhật triều với số ngày trong tháng có 2 lần triều lên và

2 lần triều xuống là chủ yếu (tức chịu ảnh hưởng chế độ nhật triều không đều thiên

về bán nhật triều), từ Rạch Giá đi về phía Hà Tiên thì triều hỗn hợp lại thiên về nhật triều, với số ngày trong tháng có 1 lần dao động triều chiếm ưu thế

Trang 21

1.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL

Người dân Việt Nam đến khai phá vùng đất này chỉ khoảng 300 năm nay,

tức vào thế kỷ thứ XVII đến ngày nay Theo Trịnh Hoài Đức (1963), người Việt

di dân thuở ấy đến vùng đất này bắt đầu từ thập niên 1630 Phương tiện đi lại duy

nhất vào thời đó là ghe xuồng, di chuyển theo chiều nước chảy dọc theo hệ thống

sông Sông Cửu Long chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật thủy triều của Biển

Đông là bán nhật triều không đều Mỗi ngày có hai lần dòng chảy sông thay đổi

chiều: hai lần nước chảy xuôi theo hướng biển và hai lần nước chảy ngược theo

hướng vào đồng Khoảng thời gian giữa hai lần chuyển dòng xấp xỉ 6 giờ Các

ghe xuồng người dân chèo tay đi theo các con nước xuôi và nghỉ khi con nước

ngược Vận tốc trung bình của dòng chảy trên sông Cửu Long là 10 km/giờ Vô

hình, tự nhiên đã hình thành các điểm ghe thuyền tụ tập chờ chuyển dòng do đặc

điểm thủy văn này Thời gian chờ chuyển dòng xuôi chính là thời gian nghỉ di

chuyển để trao đổi, mua bán Dần dần các chợ nổi hình thành, mà khoảng cách

tương đối là 60 km (10km/giờ x 6 giờ) Đặc điểm chợ “trên bến dưới thuyền” là

một hình ảnh dễ thấy ở vùng ĐBSCL Sự hình thành các trung tâm hành chính

dọc theo hệ thống sông ngòi sau này, với khoảng cách gần đúng là 60 km, mang

tính độc đáo mà không nơi nào khác có được, chính là sự thích nghi với thiên

nhiên đầu tiên của người dân vùng ĐBSCL trong quá trình chinh phục thiên nhiên

và hình thành “văn minh sông nước” Các đô thị lớn vùng ĐBSCL có vị trí cách

nhau 60 km do yếu tố này

Vùng ĐBSCL được xem là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, không những

bảo đảm cùng cấp lượng thực quốc gia mà có dư, đủ để xuất khẩu ra thế giới

Hằng năm, ĐBSCL cung cấp ổn định hơn 50% sản lượng gạo, 65% sản lượng

thủy sản và khoảng 75% khối lượng trái cây cho cả nước Khoảng 90% lượng gạo

và trên 50% lượng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới đều xuất phát từ

sản xuất ở ĐBSCL Thống kê gần đây nhất của UNFPA và NSO (2019)5, số dân

hiện cư trú ở ĐBSCL là 17.273.630 người (không kể số đã xuất cư) Sự phân bố

diện tích và dân số vùng đồng bằng cho ở bảng 1.2 Trên 70% dân số sống ở vùng

nông thôn và ven đô, sinh kế của họ phụ thuộc khá nhiều vào diễn biến của thời

tiết và nguồn nước tự nhiên

xuất bản Thống kê, 2019, 300 trang

Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018

TT

Tỉnh (sắp theo ABC)

Diện tích (ngàn ha)

Dân số (người)

GDP (triệu đồng) Tỉ lệ (%)

GDP góp cho ĐBSCL

Tự nhiên

Nông nghiệp Tổng

Đầu người

Trang 22

Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018

Dân số (người)

GDP (triệu đồng) Tỉ lệ (%)

GDP góp cho ĐBSCL

Tự nhiên

Nông nghiệp Tổng

Đầu người

Trang 23

Nếu tạm phân chia căn cứ vào tỷ lệ đóng góp GDP cho cả vùng ĐBSCL

theo 3 mức: (i) Mức cao: trên 10%; (ii) Mức trung bình: từ 6 – 10% và (iii) Mức

thấp: dưới 6% thì 3 nhóm tỉnh nằm ở mức cao theo thứ tự là: Long An, Kiên

Giang, Cần Thơ và Tiền Giang, nhóm các tỉnh có tỷ lệ trung bình là An Giang,

Đồng Tháp và Cà Mau và các nhóm các tỉnh có tỷ lệ thấp là Sóc Trăng, Vĩnh

Long, Trà Vinh, Hậu Giang Mức sắp xếp này có tính tương đối, các nhóm ở mức

cao nhờ lợi thế vị trí gần các đô thị lớn, phát triển công nghiệp và dịch vụ (như

Long An) hay lợi thế về địa lý và tài nguyên thiên nhiên (như Kiên Giang) hoặc

nằm ở vị trí phát triển trung tâm, kết hợp nhiều lợi thế về nguồn nhân lực, trục

giao thông cũng như dịch vụ du lịch và logistics (như Cần Thơ và Tiền Giang)

1.3 TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐBSCL

Vùng ĐBSCL cũng là vùng đất ngập nước lớn nhất Việt Nam (Tuan and

Wyseure, 2007)7, với một hệ sinh thái và đa dạng sinh học rất phong phú, trong

đó nhiều kiểu hình đất ngập nước khác nhau ĐBSCL có 280,000 ha rừng có thể

phân làm 2 nhóm theo sinh thái rừng đất ngập nước (FAO, 1994)8: đất ngập nước

rừng tràm và đất ngập nước rừng sát ven biển Hình 7 cho bản đồ các khu đất rừng

ngập nước ở ĐBSCL, trên bản đồ có ghi tên 11 vùng đất ngập nước cần được bảo

tồn Mũi Cà Mau và vùng ven biển và biển đảo Kiên Giang đã được UNESCO

chính thức công nhận là vùng dự trữ sinh quyển của thế giới (Hình 8) Vườn Quốc

gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp) đã chính thức được Công ước Ramsar - Tổ chức

Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) công nhận là khu Ramsar thứ 2.000 của thế

giới và là khu Ramsar thứ tư tại Việt Nam Tính đa dạng sinh học ở các hệ sinh

thái rừng ngập mặn và rừng tràm ở ĐBSCL thể hiện qua 239 loài cây, 36 loài thú,

182 loài chim đầm lầy, 34 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư (Gia Bảo và Minh Huyền,

2013)9 Tại vùng biển và ven biển có đến 260 loài cá được ghi nhận và rất nhiều

loại nhuyễn thể, giáp xác sinh sống

Ngoài nguồn lợi sinh học, vùng biển ĐBSCL còn có tiềm năng lớn trong

vận tải biển, tuy nhiên năng lực khai thác vận chuyển đường biển ở khu vực còn

Mekong River Delta, Vietnam International Congress on Development, Environment and Natural Resources:

Multi-level and Multi-scale Sustainability, Cochabamba, Bolivia, 1502-1510

8 FAO (1994) Mangrove forestry guidelines, Food and Agriculture Organization, Rome, Italy

nhiều kỳ trên Báo Cần Thơ Weblink: http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/594.pdf

hạn chế nếu so sánh với các khu vực khác của cả nước Vùng biển ĐBSCL còn nhiều hứa hẹn với các tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, đặc biệt là dầu khí Khai thác năng lượng gió, năng lượng sóng triều, năng lượng ánh sáng ở vùng biển cũng có nhiều tiềm năng hứa hẹn Các vùng ven biển và hải đảo ở ĐBSCL

có 5 hệ sinh thái (HST) chính, tính từ ngoài biển vào đất liền, tương ứng với các hoạt động sản xuất và sinh kế chính, có thể tóm tắt như ở Bảng 3

Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 10

Information Systems (GIS) Workshop on Balancing economic development with environmental conservation,

London, UK, 87-93

Trang 24

hạn chế nếu so sánh với các khu vực khác của cả nước Vùng biển ĐBSCL còn nhiều hứa hẹn với các tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, đặc biệt là dầu khí Khai thác năng lượng gió, năng lượng sóng triều, năng lượng ánh sáng ở vùng biển cũng có nhiều tiềm năng hứa hẹn Các vùng ven biển và hải đảo ở ĐBSCL

có 5 hệ sinh thái (HST) chính, tính từ ngoài biển vào đất liền, tương ứng với các hoạt động sản xuất và sinh kế chính, có thể tóm tắt như ở Bảng 3

Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 10

Information Systems (GIS) Workshop on Balancing economic development with environmental conservation,

London, UK, 87-93

Trang 25

Bảng 1.3: Các hệ sinh thái chủ yếu vùng ven biển và hải đảo ĐBSCL

TT Hệ sinh thái Tài nguyên tự nhiên Sinh kế chính

1

Vùng biển thềm

lục địa và hải đảo

+ Nguồn lợi hải sản + Năng lượng gió và mặt trời

+ Dầu khí (tiềm năng)

+ Đánh bắt và nuôi trồng thải sản trên biển

+ Vận tải biển + Du lịch sinh thái + Khai thác năng lượng tái tạo (điện gió và mặt trời)

+ Đánh bắt thủy sản ven

và xa bờ + Du lịch sinh thái + Khai thác năng lượng tái tạo (điện gió và mặt trời)

+ Nuôi tôm thâm canh và quảng canh

+ Khai thác năng lượng tái tạo (điện gió và mặt trời)

+ Trồng rau màu và cây

ăn trái + Ươm cá tôm giống + Du lịch

5

Đồng ruộng + Đất canh tác

+ Nguồn nước ngọt – lợ - mặn theo mùa

+ Canh tác lúa + hoa màu + Làng nghề

Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của

ĐBSCL

(Nguồn: Bộ Kế hoạch Đầu tư, Cty Haskoning và GIZ, 2020, chưa xuất bản)

Trang 26

Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của

ĐBSCL

(Nguồn: Bộ Kế hoạch Đầu tư, Cty Haskoning và GIZ, 2020, chưa xuất bản)

Trang 27

Phần 2 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI CỘM Ở VÙNG ĐBSCL

- oOo - 2.1 Bối cảnh

Trong hơn 2 thập niên qua, vấn đề môi trường ở Việt Nam nói chung và

vùng ĐBSCL nói riêng đang được không chỉ các nhà quản lý nhà nước lưu ý, mà

còn được các nhà khoa học cảnh báo các giới trong cộng đồng quan tâm Một điều

được phần đồng thừa nhận là môi trường và tài nguyên thiên nhiên đang bị thu

hẹp, giảm cả số lượng và chất lượng, đồng thời thay đổi các đặc điểm - tính chất

theo mùa và thời điểm xuất hiện Bên cạnh đó, nhiều hoạt động của con người

như các nhà máy phát điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phá rừng, thay đổi sử

dụng đất, sản xuất công nghiệp, chăn nuôi, rác thải sinh hoạt, các hoạt động quân

sự, đã làm gia tăng phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2, CH4,

N2O…đã làm gia tăng hiện tượng hiệu ứng nhà kính dẫn đến sự thay đổi khí hậu

toàn cầu và làm cho băng tan và mực nước biển dâng lên Theo các dự báo nếu

xu hướng phát thải này không kềm hãm thì ĐBSCL của chúng ta cũng bị đe doạ

do hiện tượng nước biển dâng Điều này sẽ làm ảnh hưởng các khu vực trồng lúa,

các khu đất ngập nước ven biển, thêm vào đó quần thể thực vật đất ngập nước

cũng sẽ thay đổi do nhiệt độ gia tăng (Adger, 199911; Wassmann et al., 2004)12

2.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm

2.2.1 Vấn đề nguồn nước

Một cách tổng quát, có 5 vấn đề môi trường liên quan đến nguồn nước hiện

diện mà vùng ĐBSCL phải thường xuyên đối phó, làm giới hạn cho sản xuất nông

nghiệp, nuôi trồng thủy sản và ảnh hưởng cho việc cung cấp nước sinh hoạt và

bảo đảm sức khỏe cho người dân (Tuan et al., 2004)13

Development, 27(2), 249-269

Mekong Delta: Water elevation in the flood season and implications for rice production Climatic change 66(1/2),

89–107

Mekong River Delta, Vietnam The second International Symposium on Southeast Asian Water Environment, Ha

Noi, Vietnam

(i) Xâm nhập mặn: Trên 50% diện tích vùng ven biển ĐBSCL thường xuyên

chịu ảnh hưởng của thủy triều đem nước mặn từ biển Đông và biển Tây vào đất liền trong mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau (Hình 9) Có khoảng 2,1 hecta đất canh tác nông nghiệp vùng châu thổ gặp khó khăn khi sản xuất trồng trọt cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái, đặc biệt các vùng đất bị tác động của vùng có nồng độ mặn trên 4 phần ngàn (g/L) Nước nhiễm mặn không chỉ ảnh hưởng sản xuất mà còn cho nước sinh hoạt và nước cho chăn nuôi, buộc nhiều nơi phải sử dụng nguồn nước ngầm Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử năm

2016 đã gây thiệt hại khoảng 150.000 tỉ đồng cho các tỉnh ĐBSCL, 170.000 ha cây nông nghiệp có bị mất trắng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2016)14 Theo một báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017)15 cả vùng ĐBSCL có khoảng 2 triệu giếng khoan có độ sâu khác nhau, nhiều nhất là ở độ sâu 80 – 120 mét ở quy

mô gia đình và có trên 550.000 giếng khoan khai thác tập trung, khai thác thường xuyên khoảng 2 triệu m3/ngày Sự khai thác quá mức nước dưới đất gây sụt lún

và nước mặn xâm nhập sâu vào tầng nước ngầm (ví dụ trường hợp nhiễm mặn đất tại Hậu Giang (được xem là vùng giữa ĐBSCL) là do sự xâm nhập mặn từ nước biển và nước ngầm mặn (Trần Xuân Miễn và Dương Đăng Khôi, 2018)16

các giải pháp ứng phó Tổng luận của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Tổng luận 6/2016

tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững Đồng Bằng Sông Cửu Long Báo cáo tại “Hội nghị Chính phủ về phát

triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu” tại Thành phố Cần Thơ ngày 27/9/2017

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2018, 16(5): 491-499

Trang 28

(i) Xâm nhập mặn: Trên 50% diện tích vùng ven biển ĐBSCL thường xuyên

chịu ảnh hưởng của thủy triều đem nước mặn từ biển Đông và biển Tây vào đất liền trong mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau (Hình 9) Có khoảng 2,1 hecta đất canh tác nông nghiệp vùng châu thổ gặp khó khăn khi sản xuất trồng trọt cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái, đặc biệt các vùng đất bị tác động của vùng có nồng độ mặn trên 4 phần ngàn (g/L) Nước nhiễm mặn không chỉ ảnh hưởng sản xuất mà còn cho nước sinh hoạt và nước cho chăn nuôi, buộc nhiều nơi phải sử dụng nguồn nước ngầm Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử năm

2016 đã gây thiệt hại khoảng 150.000 tỉ đồng cho các tỉnh ĐBSCL, 170.000 ha cây nông nghiệp có bị mất trắng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2016)14 Theo một báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017)15 cả vùng ĐBSCL có khoảng 2 triệu giếng khoan có độ sâu khác nhau, nhiều nhất là ở độ sâu 80 – 120 mét ở quy

mô gia đình và có trên 550.000 giếng khoan khai thác tập trung, khai thác thường xuyên khoảng 2 triệu m3/ngày Sự khai thác quá mức nước dưới đất gây sụt lún

và nước mặn xâm nhập sâu vào tầng nước ngầm (ví dụ trường hợp nhiễm mặn đất tại Hậu Giang (được xem là vùng giữa ĐBSCL) là do sự xâm nhập mặn từ nước biển và nước ngầm mặn (Trần Xuân Miễn và Dương Đăng Khôi, 2018)16

các giải pháp ứng phó Tổng luận của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Tổng luận 6/2016

tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững Đồng Bằng Sông Cửu Long Báo cáo tại “Hội nghị Chính phủ về phát

triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu” tại Thành phố Cần Thơ ngày 27/9/2017

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2018, 16(5): 491-499

Trang 29

Hình 2.1: Bản đồ các vùng đất trong khu vực bị nhiễm mặn

ĐBSCL

(ii) Đất phèn (Acid sulfate soils - ASS): Đất phèn là đất có chứa lượng sulfide

sắt cao, khá nhạy cảm với sự dao động của nước sông và mực nước ngầm tầng

nông dưới đất Phèn ở vùng ĐBSCL hiện diện trong đất bao gồm phèn tiềm tang

và phèn hoạt động có khoảng hơn 1,3 triệu ha, chiếm gần 46% dện tích đất tự

nhiên (Bảng 4), tập trung ở các vùng chính như Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng

Tháp Mười, vùng Tây sông Hậu và một phần vùng Bán đảo Cà Mau, vùng ven

biển cũng có một số bị nhiễm phèn (Hình 10) Từ tháng 3 đến tháng 4 hằng năm,

mực nước ngầm ở tầng mặt dưới đất thấp hơn 1 mét và trong đất xuất hiện nhiều

vết nứt nẻ khiến oxy trong không khí xâm nhập xuống tầng sinh phèn gây hiện

tượng oxy hóa đất phèn tiềm tang thành đất phèn hoạt động, chứa nhiều acid khiến

đất bị chua Khi có mưa lớn và có lũ về, nước có thể mang những độc chất từ vùng

đất bị nhiễm phèn đến các vùng không có đất phèn (phèn ngoai lai) khiến diện

tích đất bị nhiễm phèn bị gia tang, có thể lên đến 1,6 triệu ha ở ĐBSCL Đất và

nước bị nhiễm phèn với độ pH thấp có thể làm chết cây trồng, lúa, hoa màu và

động Phèn tiềm tàng Tổng

Bán đảo Cà Mau 193.395,2 191.548,8 384.944,0 Đồng Tháp Mười 72.335,7 118.890,2 191.225,9 Phù sa ven sông 138.449,1 170.325,0 308.774,1

Tứ giác Long Xuyên 163.476,8 61.927,1 225.403,9 Trũng phèn Bán đảo Cà Mau 66.863,9 19,824,0 86.687,9 Trũng phèn Tây sông Hậu 44.319,9 50.956,1 95.276,1

(Nguồn: Thái Công Tụng, 2016)

Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng

ĐBSCL (Nguồn: Thái Công Tụng, 2016) 17

http://vietecology.org/Article/Article/140

Trang 30

Bảng 2.1: Phân bố diện tích đất phèn hoạt động và tiềm tàng ở các vùng

sinh thái ĐBSCL

Vùng sinh thái

Diện tích (ha) Phèn hoạt

động Phèn tiềm tàng Tổng

Bán đảo Cà Mau 193.395,2 191.548,8 384.944,0 Đồng Tháp Mười 72.335,7 118.890,2 191.225,9 Phù sa ven sông 138.449,1 170.325,0 308.774,1

Tứ giác Long Xuyên 163.476,8 61.927,1 225.403,9 Trũng phèn Bán đảo Cà Mau 66.863,9 19,824,0 86.687,9 Trũng phèn Tây sông Hậu 44.319,9 50.956,1 95.276,1

(Nguồn: Thái Công Tụng, 2016)

Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng

ĐBSCL (Nguồn: Thái Công Tụng, 2016) 17

http://vietecology.org/Article/Article/140

Trang 31

(iii) Ô nhiễm nước (Acid sulfate soils - ASS): vấn đề ô nhiễm nước này càng rõ

hơn trên các nguồn nước mặt, nhất là nước từ các nhánh sông, rạch và kênh mương

nội đồng Nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là ô nhiễm do sử dụng hóa chất trong nông

nghiệp, nuôi trồng thủy sản, các cơ sở chế biến nông sản và từ các nhà máy công

nghiệp Song song đó, nguồn nước bị ô nhiễm thường xuyên từ nước thải và rác

thải sinh hoạt của người dân do tập quán sinh sống và sản xuất dọc theo hai bên

bờ sông, kênh và vùng ven biển Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu và đập

thủy điện thượng nguồn là thay đổi cả số lượng, chất lượng và động thái dòng

chảy Do thiếu nước ngọt như một hệ quả, sự khai thác nước ngầm quá lớn ở vùng

ven biển, kèm theo sự sút giảm nguồn bổ sung khiến nước ngầm suy giảm nghiêm

trọng, đồng thời làm gia tăng sự hiện diện của Asen, tác động xấu lên sức khỏe

người dùng (Laura et at., 2013)18 Tất cả các nguồn gây ô nhiễm này làm cho

nguồn nước vùng ĐBSCL trở nên xấu hơn (Hình 11)

Hình 2.3: Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL

(iv) Thiếu nước ngọt: Vào mùa khô, thường kéo dài 7 tháng, lưu lượng trung

bình của sông Cửu Long dưới 2.500 m3/s, thậm chí có thời điểm lên đến 1.700

groundwater in the Mekong Delta, Vietnam, linked to pumping-induced land subsidence Proceedings of the

National Academy of Sciences 110(34) https://www.pnas.org/content/110/34/13751

m3/s, (Le Anh Tuan et al, 2017)19, thấp hơn khoảng 30 lần so với đỉnh lũ (MRC, 2005)20 Tình trạng khan hiếm nước tưới ảnh hưởng đến gần 1,5 triệu ha đất canh tác vào mùa khô Mực nước sông Mekong giảm và kéo theo nước biển xâm nhập sâu hơn hơn Do thiếu nước ngọt, người dân phải khai thác nước ngầm nhiều nơi,

hệ quả là mực nước ngầm nhiều nơi hạ thấp hơn 2 - 3 m Hậu quả là nhiều khu vực ven biển bị thiếu nước ngọt nghiêm trọng (Hình 12) và trở thành một yếu tố

làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước do thiếu sự trao đổi nguồn nước, dòng chảy

Khô hạn, xâm nhập mặn và thiếu nước sinh hoạt vùng ven biển vùng ĐBSCL thực

sự đã trở thành vấn đề kinh tế - xã hội của các địa phương

Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL

(Nguồn: Vinh Hoa Dang et al., 2019) 21

vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, trường Đại học Cần Thơ

Nguyen (2019) Exploring Freshwater Regimes and Impact Factors in the Coastal Estuaries of the Vietnamese

https://www.mdpi.com/2073-4441/11/4/782/htm#table_body_display_water-11-00782-t0A1

Trang 32

m3/s, (Le Anh Tuan et al, 2017)19, thấp hơn khoảng 30 lần so với đỉnh lũ (MRC, 2005)20 Tình trạng khan hiếm nước tưới ảnh hưởng đến gần 1,5 triệu ha đất canh tác vào mùa khô Mực nước sông Mekong giảm và kéo theo nước biển xâm nhập sâu hơn hơn Do thiếu nước ngọt, người dân phải khai thác nước ngầm nhiều nơi,

hệ quả là mực nước ngầm nhiều nơi hạ thấp hơn 2 - 3 m Hậu quả là nhiều khu vực ven biển bị thiếu nước ngọt nghiêm trọng (Hình 12) và trở thành một yếu tố

làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước do thiếu sự trao đổi nguồn nước, dòng chảy

Khô hạn, xâm nhập mặn và thiếu nước sinh hoạt vùng ven biển vùng ĐBSCL thực

sự đã trở thành vấn đề kinh tế - xã hội của các địa phương

Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL

(Nguồn: Vinh Hoa Dang et al., 2019) 21

vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, trường Đại học Cần Thơ

Nguyen (2019) Exploring Freshwater Regimes and Impact Factors in the Coastal Estuaries of the Vietnamese

https://www.mdpi.com/2073-4441/11/4/782/htm#table_body_display_water-11-00782-t0A1

Trang 33

(v) Thay đổi đặc điểm mùa lũ: Trong hai thập niên (2000 – 2019) vừa qua đã

xuất hiện 3 trận lũ rất lớn là các năm 2000, 2001, 2002 và phải đến 10 năm sau

2011 mới có lũ lớn Về lũ nhỏ thì có 7 trận lũ nhỏ: trong 10 năm từ 2000 – 2009

chỉ có 1 trận lũ nhỏ 2008, nhưng trong thập niên kế tiếp 2010 – 2019 thì có đến 6

trận lũ nhỏ (Hình 13) Điều này cho thấy xu thế lũ lớn dần ít đi và số lần xuất hiện

lũ nhỏ khi đến vùng ĐBSCL tăng lên Mặt khác, vào những năm đầu của thế kỷ

thứ 21 (2000 – 2006), do có chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa với mục tiêu đưa

Việt Nam trở thành một quốc gia thừa lúa gạo và tiến đến nước xuất khẩu gạo

trong nhóm hang đầu thế giới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông đã phát triển

Quy hoạch kiểm soát lũ vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, Quy

hoạch này được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm1998 Sau đó, hàng loạt đê

bao triệt để và cống kiểm soát lũ được xây dựng ở An Giang, Đồng Tháp, phía

Bắc Cần Thơ, Hậu Giang để phù hợp với chủ trương đẩy mạnh sự gia tăng diện

tích, làm 3 vụ canh tác lúa liên tiếp mỗi năm (Manh và cộng sự, 2014)22 Kết quả,

sau các công trình này, sản lượng lúa ở các khu vực đê bao cho 3 vụ lúa tăng lên

rõ rệt nhưng cũng đã làm thay đổi đặc điểm lũ vùng đầu nguồn, không gian chứa

lũ của hai vùng trũng bị thu hẹp, như ở Tứ Giác Long Xuyên ngoài giảm không

gian trữ nước, còn thêm các tuyến kênh thoát lũ một phần nước lũ ra biển Tây, hệ

quả là khả năng hấp thu lũ đã giảm từ 9,2 tỉ m3 của năm 2000, đến năm 2011 đã

bị giảm 4,7 tỉ m3, chỉ còn 4,5 tỉ m3 (ICEM, 2015)23 Ngoài ra, các vùng giữa và hạ

nguồn còn có ghi nhận sự gia tăng diện tịch ngập lũ do thay đổi không gian trữ lũ

vùng trên, tác động lún sụt, nước biển dâng nên cuối mùa lũ, cộng thêm sự gia

tăng yếu tố triều cường nên mức độ ngập úng tăng thêm đáng kể (Triet và cộng

sự., (2017)24

DOI: 10.5194/hessd-11-4311-2014

Environmental Management (ICEM), World Bank, Vietnam

Mekong Delta shifted flood hazard downstream? Hydrol Earth Syst Sci., (21): 3991–4010

Hình 9: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ

nhỏ tăng lên 2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất

Do việc thâm canh liên tục và sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh nên chất lượng đất nhiều nơi ở ĐBSCL bị suy giảm Theo Nguyễn Hồng Tín (2017)25, tập quán bón phân quá mức trong canh tác lúa (Bảng 5) cũng là một tác nhân khiến ô nhiễm đất tăng cao Ở ĐBSCL, thuốc trừ sâu đã được áp dụng trung bình 5,3 lần mỗi vụ (MRC, 2007)26 Hiện nay, điều khó khăn và thử thách lớn cho vùng đồng bằng là nguồn phù sa bị giảm khá nghiêm trọng do các đập nước thượng nguồn giữ lại khiến nguồn dinh dưỡng bổ sung cho các lớp đất thổ nhưỡng bị suy giảm Trước kia, mỗi năm sông Mekong mang về cho vùng đồng bằng khoảng 160 triệu tấn phù sa mỗi năm, hiện nay đã các đập thủy điện ở Vân Nam, Trung Quốc giữ lại khoảng 50%, cuối năm nay khi đập Xayabury ở Lào đưa vào vận hành thì lượng phù sa sẽ mất đến 65% Một nghiên cứu của Ủy ban Sông Mekong cho thấy nếu tất cả các đập nước tiềm năng được xây dựng thì phù

sa đến ĐBSCL sẽ mất lên đến 96%

chuẩn bị cho Ngân Hàng Thế giới, Ngân Hàng Thế Giới, Washington, D.C

đồng bằng sông Cửu Long Các nghiên cứu điển hình của MRC về Chương trình Đào tạo Môi trường, 10

Trang 34

Hình 9: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ

nhỏ tăng lên 2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất

Do việc thâm canh liên tục và sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh nên chất lượng đất nhiều nơi ở ĐBSCL bị suy giảm Theo Nguyễn Hồng Tín (2017)25, tập quán bón phân quá mức trong canh tác lúa (Bảng 5) cũng là một tác nhân khiến ô nhiễm đất tăng cao Ở ĐBSCL, thuốc trừ sâu đã được áp dụng trung bình 5,3 lần mỗi vụ (MRC, 2007)26 Hiện nay, điều khó khăn và thử thách lớn cho vùng đồng bằng là nguồn phù sa bị giảm khá nghiêm trọng do các đập nước thượng nguồn giữ lại khiến nguồn dinh dưỡng bổ sung cho các lớp đất thổ nhưỡng bị suy giảm Trước kia, mỗi năm sông Mekong mang về cho vùng đồng bằng khoảng 160 triệu tấn phù sa mỗi năm, hiện nay đã các đập thủy điện ở Vân Nam, Trung Quốc giữ lại khoảng 50%, cuối năm nay khi đập Xayabury ở Lào đưa vào vận hành thì lượng phù sa sẽ mất đến 65% Một nghiên cứu của Ủy ban Sông Mekong cho thấy nếu tất cả các đập nước tiềm năng được xây dựng thì phù

sa đến ĐBSCL sẽ mất lên đến 96%

chuẩn bị cho Ngân Hàng Thế giới, Ngân Hàng Thế Giới, Washington, D.C

đồng bằng sông Cửu Long Các nghiên cứu điển hình của MRC về Chương trình Đào tạo Môi trường, 10

Trang 35

Bảng 2.2 Ước tính sử dụng dư thừa phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL

Đơn vị: tấn/năm

Khoảng 10 năm nay, câu chuyện lún sụt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

(ĐBSCL) đang nóng dần, đặc biệt trong tháng vừa qua, các chuyên gia thuộc Đại

học Utecht, Hà Lan (Minderhoud và cộng sự, 2017)27 đã có những nghiên cứu chỉ

ra rằng cao độ trung bình của vùng ĐBSCL chỉ còn hơn mực nước biển khoảng

80 m và đang tiếp tục “chìm” dần với tốc độ khoảng 20 - 30 mm/năm, trong khi

mực nước biển chỉ dâng chừng 2 – 4 mm/năm (Hình 2.2) Mới đây nhất, thông tin

trên tạp chí khoa học nổi tiếng Nature Communication, các nhà khoa học thuộc

dự án Climate Central, cũng cho biết nhiều vùng đồng bằng và đô thị lớn cũng

đang lún nhanh với cao độ tự nhiên thấp hơn các thông tin trước đây, miền châu

thổ phía Nam Việt Nam đang có tốc độ lún nhanh hơn các vùng khác Điều này

có nghĩa là lún sụt đang diễn ra nhanh hơn mực nước biển dâng lên gần 10 lần

25 years of groundwater extraction on subsidence in the Mekong delta, Vietnam Environ Res Lett 12 (2017)

Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015

(Nguồn: Minderhoud và cộng sự, 2017)

2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi

Ở Việt Nam, phần lớn rác sinh hoạt ở các đô thị lớn đều được thu gom qua

hệ thống thu gom chất thải rắn do các Công ty Dịch vụ Môi trường đảm nhận cùng

hệ thống xe gom rác tư nhân thực hiện Trong một báo cáo của Ngân hang Thế

Trang 36

Như vậy, nếu chúng ta không có biện pháp gì đối phó, cứ tiếp tục khai thác nước ngầm như hiện nay và với sự giảm sút phù sa nhanh chóng do các đập thủy điện

ở thượng nguồn chặn giữ lại thì theo dự báo của các nhà khoa học ở nước ngoài, khoảng 100 năm nữa, đồng bằng chỉ còn nhô lên khỏi mực nước biển khoảng 45

cm Khi đó nước sẽ ngập và ảnh hưởng xấu lên đến hơn một nửa diện tích vùng châu thổ và có thể lên đến 12 triệu người ĐBSCL sẽ phải di cư đến các vùng đất cao hơn để sinh sống

Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015

(Nguồn: Minderhoud và cộng sự, 2017)

2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi

Ở Việt Nam, phần lớn rác sinh hoạt ở các đô thị lớn đều được thu gom qua

hệ thống thu gom chất thải rắn do các Công ty Dịch vụ Môi trường đảm nhận cùng

hệ thống xe gom rác tư nhân thực hiện Trong một báo cáo của Ngân hang Thế

Trang 37

giới (2018) 28, do tốc độ phát triển đô thị hóa quá nhanh trong khoảng 15 năm gần

đây, vấn đề thu gom rác thải trở nên khó khăn hơn khi khối lượng rác thải ở các

đô thị lớn tăng lên khoảng 8,4%/năm và cả nước tăng khoảng 5%/năm Cũng theo

báo cáo này của Ngân hàng Thế giới, hiện nay số lượng chất thải rắn ở các đô thị

có thể thu gom về nơi xử lý hay chôn lấp khoảng 90% nhưng ở các vùng nông

thôn, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt chỉ mới 40% Theo một báo cáo mới

nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020)29, tính thảo bình quân, khối lượng

rác thải sinh hoạt phát sinh trong năm 2019 là 3.577 tấn/ngày, số lược rác sinh

hoạt được thu gom là 3.159 tấn/ngày, đạt tỷ lệ 88,3%, thấp hơn với mức bình quân

cả nước hiện nay là 91,8% Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn về thu gom rác thải

sinh hoạt giữa vùng đô thị và nông thôn Ở ĐBSCL, theo số liệu của Bộ Tài

nguyên và Môi trường (2020), khối lượng rác sinh hoạt phát sinh năm 2019 là

5.852 tấn/ngày và khả năng thu gom chỉ mới là 2.871 tấn/ngày, đạt 49,1%, thấp

hơn bình quân cả nước là ở mức tỉ lệ 65,7% Điều này có nghĩa là một số lượng

rác thải không được xử lý bị vứt bỏ ra môi trường, xử lý rác chưa triệt để, gây ô

nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt, đời sống của người dân

(Hình 15), chưa kể lượng rác thải sinh hoạt được thu gom nhưng không xử lý triệt

để, chỉ chôn lấp sơ sài hoặt đốt bỏ không hoàn toàn, gây ô nhiễm đất, nước và

không khí Đặc biệt vùng nông thôn có thói quen vứt rác ra hệ thống sông rạch

gây ô nhiễm nguồn nước Mặc dầu, đã có nhiều khuyến cáo, giáo dục và cảnh cáo

nhưng vấn đề xử lý rác sinh hoạt tại chỗ ở quy mô gia đình và cộng đồng vẫn chưa

cải thiện nhiều

28 Ngân hang Thế giới (2018) Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải công nghiệp nguy hại:

các phương án và hành động Nhà xuất bản Hồng Đức, 152 trang ISBN: 978-604-89-6007-0 Bảng ebook có thể

http://documents1.worldbank.org/curated/en/504821559676898971/pdf/Solid-and-industrial-hazardous-waste-management-assessment-options-and-actions-areas.pdf

29 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt Chuyên đề trong Báo cáo hiện trạng môi

trường Quốc gia 2019 Nhà xuất bản Dân Trí, Hà Nội 2020

Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn

(Nguồn: Báo Bạc Liêu Online, 2019) 30

Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 31

Ngoài ra, theo tập quán từ xưa, hầu hết các chợ ở vùng ĐBSCL đều gần các vùng ven sông, bến cảng, bến chợ đầu mối, hoặc chợ nổi trên sông như Chợ nổi

http://www.baobaclieu.vn/doi-song-xa-hoi/thu-gom-xu-ly-rac-thai-o-cac-cho-con-nhieu-bat-cap-62529.html

31 https://www.giaoduc.edu.vn/chung-tay-bao-ve-moi-truong-khu-vuc-dbscl.htm

Trang 38

Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn

(Nguồn: Báo Bạc Liêu Online, 2019) 30

Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 31

Ngoài ra, theo tập quán từ xưa, hầu hết các chợ ở vùng ĐBSCL đều gần các vùng ven sông, bến cảng, bến chợ đầu mối, hoặc chợ nổi trên sông như Chợ nổi

http://www.baobaclieu.vn/doi-song-xa-hoi/thu-gom-xu-ly-rac-thai-o-cac-cho-con-nhieu-bat-cap-62529.html

31 https://www.giaoduc.edu.vn/chung-tay-bao-ve-moi-truong-khu-vuc-dbscl.htm

Trang 39

Phong Điền - Cần Thơ, Chợ nổi Cái Bè - Tiền Giang, Chợ nổi Ngã Năm - Sóc

Trăng, Chợ nổi Ngã Bảy - Hậu Giang, Chợ nổi Long Xuyên - An Giang, Chợ nổi

Trà Ôn - Vĩnh Long Các sinh hoạt chợ gần sông đã tạo điều kiện rác sinh hoạt

hoặc nông sản thừa, giấy và bao nylon gói hàng buôn bán bị vứt bừa bãi xuống

sông rạch gây ô nhiềm và khó thu hồi, thu gom để xử lý (Hình 16 và 17)

Hình 2.9: Một con kênh ở Kiên Giang phủ đầy rác sinh hoạt từ dân cư

(Nguồn: Báo Lao động, 2020) 32

Hình 2.10: Không ai quản lý việc thu gom rác, tiểu thương chợ Cầu Chùa

(huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) lùa rác xuống sông

https://laodong.vn/ban-doc/kien-giang-bao-dong-nan-o-nhiem-tai-cac-tuyen-kenh-ngan-man-795313.ldo

- Ảnh: Thanh Xuân (Báo Tuổi trẻ, 2006) 33

2.3.2 Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp

ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn nhất Việt Nam Các hoạt động canh tác thâm canh trên một diện tích lớn và liên tục buộc nông dân phải gia tăng sử dụng các loại phân bón hóa học và thuộc bảo vệ thực vật để bảo đảm năng suất và sản lượng cây trồng Khi thuộc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học được sử dụng bừa bãi, quá mức và không kiểm soát được như

sử dụng thuộc quá liều lượng về nồng động và số lần phun xịt, thuốc không đúng chủng loại thì nguy cơ ô nhiễm rất cao và làm suy giảm nguồn cá, nguồn động vật hoang dã đáng kể Nguy cơ cao còn liên quan đến người nông dân khi họ không

áp dụng đúng các khuyến cáo khi sử dụng nông dược, thiếu trang bị bảo hộ cần thiết và thói quen vứt bừa bãi bai bì, chai lọ, thuốc bảo vệ thực vật ra môi trường như một loại rác thải thông thường (Hình 18), chủ yếu là kênh rạch, bờ sông, bờ ruộng không hiểu hết được hậu quả độc hại của nông dược và hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái Có thể nói việc sử dụng quá mức, không hợp lý nông dược và hóa chất nông nghiệp ở vùng ĐBSCL hiện đang ở mức báo động

Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi

33 Báo Tuổi trẻ (2016) Rác rưởi ngập chợ Nguồn weblink: https://tuoitre.vn/rac-ruoi-ngap-cho-126728.htm

Trang 40

- Ảnh: Thanh Xuân (Báo Tuổi trẻ, 2006) 33

2.3.2 Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp

ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn nhất Việt Nam Các hoạt động canh tác thâm canh trên một diện tích lớn và liên tục buộc nông dân phải gia tăng sử dụng các loại phân bón hóa học và thuộc bảo vệ thực vật để bảo đảm năng suất và sản lượng cây trồng Khi thuộc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học được sử dụng bừa bãi, quá mức và không kiểm soát được như

sử dụng thuộc quá liều lượng về nồng động và số lần phun xịt, thuốc không đúng chủng loại thì nguy cơ ô nhiễm rất cao và làm suy giảm nguồn cá, nguồn động vật hoang dã đáng kể Nguy cơ cao còn liên quan đến người nông dân khi họ không

áp dụng đúng các khuyến cáo khi sử dụng nông dược, thiếu trang bị bảo hộ cần thiết và thói quen vứt bừa bãi bai bì, chai lọ, thuốc bảo vệ thực vật ra môi trường như một loại rác thải thông thường (Hình 18), chủ yếu là kênh rạch, bờ sông, bờ ruộng không hiểu hết được hậu quả độc hại của nông dược và hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái Có thể nói việc sử dụng quá mức, không hợp lý nông dược và hóa chất nông nghiệp ở vùng ĐBSCL hiện đang ở mức báo động

Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi

33 Báo Tuổi trẻ (2016) Rác rưởi ngập chợ Nguồn weblink: https://tuoitre.vn/rac-ruoi-ngap-cho-126728.htm

Ngày đăng: 21/05/2023, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Benedikter S. (2014), Extending the Hydraulic Paradigm: Reunification. State Consolidation and Water Control in the Vietnamese Mekong Delta after 1975, Southeast Asian Studies, 3(3), pp.547-587 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Extending the Hydraulic Paradigm: Reunification. State Consolidation and Water Control in the Vietnamese Mekong Delta after 1975
Tác giả: Benedikter S
Nhà XB: Southeast Asian Studies
Năm: 2014
2. Adamson, P.T., (2006). An Evaluation of Land use and Climate Change on the Recent Historical Regime of the Mekong. MRC (Mekong River Commission), Vientiane Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Evaluation of Land use and Climate Change on the Recent Historical Regime of the Mekong
Tác giả: P.T. Adamson
Nhà XB: MRC (Mekong River Commission)
Năm: 2006
3. MONRE (2016). Mekong Delta Integrated Climate Resilience and Sustainable Livelihoods Project (MD-ICRSL). Regional Environmental Assessment Report, 205p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mekong Delta Integrated Climate Resilience and Sustainable Livelihoods Project (MD-ICRSL)
Tác giả: MONRE
Nhà XB: Regional Environmental Assessment Report
Năm: 2016
4. Kingdom of the Netherlands and SR of Vietnam (2013). Mekong Delta Plan. 126p. Access available via weblink:https://www.wur.nl/upload_mm/2/c/3/b5f2e669-cb48-4ed7-afb6- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mekong Delta Plan
Tác giả: Kingdom of the Netherlands, SR of Vietnam
Năm: 2013
5. UNFPA và GSO (2019). Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019. Nhà xuất bản Thống kê, 2019, 300 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019
Tác giả: UNFPA, GSO
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2019
6. Tổng cục Thống kê (2019). Niêm giám Thông kê 2018. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám Thông kê 2018
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2019
7. Tuan, L. A., and Wyseure, G. (2007). Action plan for the multi-level conservation of forest wetlands in the Mekong River Delta, Vietnam. International Congress on Development, Environment and Natural Resources: Multi-level and Multi-scale Sustainability, Cochabamba, Bolivia, 1502-1510 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Action plan for the multi-level conservation of forest wetlands in the Mekong River Delta, Vietnam
Tác giả: Tuan, L. A., Wyseure, G
Nhà XB: International Congress on Development, Environment and Natural Resources
Năm: 2007
8. FAO (1994). Mangrove forestry guidelines, Food and Agriculture Organization, Rome, Italy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mangrove forestry guidelines
Tác giả: FAO
Nhà XB: Food and Agriculture Organization
Năm: 1994
9. Gia Bảo và Minh Huyền, (2013). Đánh thức tiềm năng kinh tế biển Đồng bằng Sông Cửu Long. Khảo luận đăng nhiều kỳ trên Báo Cần Thơ. Weblink:http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/594.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh thức tiềm năng kinh tế biển Đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Gia Bảo, Minh Huyền
Nhà XB: Báo Cần Thơ
Năm: 2013
10. Nhan, N. V. (1997). Wetland mapping in the Mekong Delta and Tram Chim area using Geographical Information Systems (GIS). Workshop on Balancing economic development with environmental conservation, London, UK, 87-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wetland mapping in the Mekong Delta and Tram Chim area using Geographical Information Systems (GIS)
Tác giả: N. V. Nhan
Nhà XB: Workshop on Balancing economic development with environmental conservation
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3: Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 1.3 Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống (Trang 13)
Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 1.5 Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và (Trang 16)
Hình 1.6: Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m 3 ) qua sông Tiền - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 1.6 Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m 3 ) qua sông Tiền (Trang 19)
Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 10 - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 1.7 Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 10 (Trang 24)
Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 1.8 Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của (Trang 26)
Hình 2.3: Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 2.3 Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL (Trang 31)
Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 2.7 Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn (Trang 38)
Hình 3.3: Chương trình “Cùng nông dân bảo vệ môi trường” giúp nông - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 3.3 Chương trình “Cùng nông dân bảo vệ môi trường” giúp nông (Trang 67)
Hình 3.4: Nông dân xã Trường Đông thu gom rác thải bảo vệ thực vật - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 3.4 Nông dân xã Trường Đông thu gom rác thải bảo vệ thực vật (Trang 67)
Hình 3.6: Nhóm tình nguyện ngày thứ 7 sạch – chung tay bảo vệ môi - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 3.6 Nhóm tình nguyện ngày thứ 7 sạch – chung tay bảo vệ môi (Trang 69)
Hình 3.7: Người dân tự lấy mẫu nước để phân tích đánh giá - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 3.7 Người dân tự lấy mẫu nước để phân tích đánh giá (Trang 69)
Hình 3.8: Người dân tự tay phân tích mẫu nước theo quy chuẩn chất lượng - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 3.8 Người dân tự tay phân tích mẫu nước theo quy chuẩn chất lượng (Trang 70)
Hình 3.9: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 3.9 Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày (Trang 75)
Hình 3.11: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Hình 3.11 Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày (Trang 76)
Bảng 3. 6. Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho hộ gia đình - Báo cáo bảo vệ Môi trường Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020
Bảng 3. 6. Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho hộ gia đình (Trang 84)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w