Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu Nguồn: Việt hóa một phần từ bản đồ trên Wikimedia Commons Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL là vùng hạ lưu cuối cùng của
Trang 1BÁO CÁO
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BĐSCL THÀNH CÔNG CHỈ ĐẾN TỪ Ý THỨC
CỦA MỖI NGƯỜI
Hình ảnh ô nhiễm môi trường ở ĐBSCL
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TÀI LIỆU
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
“THÀNH CÔNG CHỈ ĐẾN TỪ Ý THỨC CỦA MỖI NGƯỜI”
Hà Nội, năm 2020
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG DÀNH CHO CÁN BỘ VÀ NHÂN VIÊN TRỰC TIẾP
KINH DOANH XĂNG DẦU
THÁNG 02 NĂM 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Phần 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG6 1.2.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL 18
1.3.TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐBSCL 20
Phần 2 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI CỘM Ở VÙNG ĐBSCL 24
2.1 Bối cảnh 24
2.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm 24
2.2.1 Vấn đề nguồn nước 24
2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất 31
2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân33 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi 33
2.3.2.Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp 37 2.4 Hiện trạng bảo vệ môi trường ở ĐBSCL 41
2.4.1 Cơ sở hạ tầng xử lý chất thải rắn ở ĐBSCL 41
2.4.2 Cơ sở hạ tầng xử lý nước thải ở ĐBSCL 43
Phần 3 NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 45
3.1 Mục tiêu của giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 45
3.2 Các chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 46
3.3 Các chính sách thúc đẩy tham gia của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường 53
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Phần 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG6 1.2.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL 18
1.3.TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐBSCL 20
Phần 2 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI CỘM Ở VÙNG ĐBSCL 24
2.1 Bối cảnh 24
2.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm 24
2.2.1 Vấn đề nguồn nước 24
2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất 31
2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân33 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi 33
2.3.2.Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp 37 2.4 Hiện trạng bảo vệ môi trường ở ĐBSCL 41
2.4.1 Cơ sở hạ tầng xử lý chất thải rắn ở ĐBSCL 41
2.4.2 Cơ sở hạ tầng xử lý nước thải ở ĐBSCL 43
Phần 3 NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 45
3.1 Mục tiêu của giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 45
3.2 Các chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 46
3.3 Các chính sách thúc đẩy tham gia của cá nhân và cộng đồng trong bảo vệ môi trường 53
Trang 52
3.4 Khái niệm về cộng đồng và các tổ chức cộng đồng liên quan đến bảo vệ
môi trường hoạt động ở Việt Nam 56
3.5 Vấn đề nhận thức cộng đồng và người dân trong bảo vệ môi trường 62
3.3.2 Xác định diện tích mái nhà thu nước mưa 78
3.3.4 Xác định lượng nước mưa lớn nhất thu được 78
3.6 Các vấn đề khó khăn tồn tại 81
3.7 Các yêu cầu tiếp tục thúc đẩy về nhận thức người dân và hành động vì cộng đồng ở Việt Nam và Đồng bằng Sông Cửu Long 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu 7
Hình 1.2: Bản đồ hành chính các tỉnh vùng ĐBSCL 8
10
Hình 1.3: Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống sông và kênh chính 10
Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL 11
Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL 13
Hình 1.6: Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m3) qua sông Tiền 16
Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 21
Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của ĐBSCL 23
Hình 2.1: Bản đồ các vùng đất trong khu vực bị nhiễm mặn ĐBSCL 26
Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng ĐBSCL 27
Hình 2.3: Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL 28
Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL 29
Hình 2.5: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ nhỏ tăng lên 31
Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015 33
Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn 35
Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 35
Hình 2.9: Một con kênh ở Kiên Giang phủ đầy rác sinh hoạt từ dân cư 36
Hình 2.10: Không ai quản lý việc thu gom rác, tiểu thương chợ Cầu Chùa (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) lùa rác xuống sông 36
Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi 37
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu 7
Hình 1.2: Bản đồ hành chính các tỉnh vùng ĐBSCL 8
10
Hình 1.3: Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống sông và kênh chính 10
Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL 11
Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL 13
Hình 1.6: Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m3) qua sông Tiền 16
Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 21
Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của ĐBSCL 23
Hình 2.1: Bản đồ các vùng đất trong khu vực bị nhiễm mặn ĐBSCL 26
Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng ĐBSCL 27
Hình 2.3: Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL 28
Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL 29
Hình 2.5: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ nhỏ tăng lên 31
Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015 33
Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn 35
Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 35
Hình 2.9: Một con kênh ở Kiên Giang phủ đầy rác sinh hoạt từ dân cư 36
Hình 2.10: Không ai quản lý việc thu gom rác, tiểu thương chợ Cầu Chùa (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) lùa rác xuống sông 36
Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi 37
Trang 7Hình 2.12: Các hoạt chất BVTV và tên thương mại trong danh mục được phép
sử dụng ở Việt Nam giai đoạn 1991-2019 40
Hình 2.13: Việc vứt bỏ bừa bãi chai lo, bao bì thuốc nông dược ra môi trường tự nhiên làm nguồn nước, đất đai và sinh vật bị ngộ độc và ô nhiễm 41
Hình 3.1: Năm mục tiêu chính trong giáo dục môi trường 45
Hình 3.2: Sự thay đổi nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu qua một số khảo sát từ tập huấn 62
Hình 3.3: Chương trình “Cùng nông dân bảo vệ môi trường” giúp nông dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 64
Hình 3.4: Nông dân xã Trường Đông thu gom rác thải bảo vệ thực vật 64
Hình 3.5: Cộng đồng dành ngày thứ 7 để dọn dẹp thu gom rác trên sông rạch 65 Hình 3.6: Nhóm tình nguyện ngày thứ 7 sạch – chung tay bảo vệ môi trướng 66
Hình 3.7: Người dân tự lấy mẫu nước để phân tích đánh giá 66
chất lượng nước 66
Hình 3.8: Người dân tự tay phân tích mẫu nước theo quy chuẩn chất lượng 67
Hình 3.9: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày Trái Đất 22/4/2019 72
Hình 3.10: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày Trái Đất 22/4/2019 72
Hình 3.11: Các bé thiếu nhi tham gia hoạt động vẽ tranh canvas về Ngày Trái Đất 22/4/2019 73
Hình 3.12: Hội thảo “Cải thiện không gian công cộng có sự tham gia của cộng đồng tại công viên Khu dân cư An Khánh”, ngày 25 tháng 11 năm 2018 73
Hình 3.13: Mô hình hệ thống thu gom và xử lý nước mưa 81
Hình 3.14: Các hoạt động bảo vệ môi trường liên quan đến sự tham gia của cộng đồng 84
DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Diện tích phần vùng sinh thái nước ở ĐBSCL 12
Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018 19
Bảng 2.1: Phân bố diện tích đất phèn hoạt động và tiềm tàng ở các vùng sinh thái ĐBSCL 27
Bảng 2.2 Ước tính sử dụng dư thừa phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 32
Bảng 2.3: Sự gia tăng áp dụng hoạt chất (ai) trong thuộc bảo vệ thực vật ở ĐBSCL 39
Bảng 2.4: Mức độ lãng phí thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 39 Bảng 2.5: Lượng rác phát sinh ở các đô thị và tỷ lệ thu gom tương ứng 42
Bảng 2.6: Hiện trạng các bãi chôn rác thải ở ĐBSCL (2017) 43
Bảng 2.7: Số lượng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt và lượng bùn thải (m3/năm) ước tính với hàm lượng chất khô là 15% 44
Bảng 3.1: Các công ước quốc tế có sự ký kết phê duyệt tham gia của Việt Nam 48
Bảng 3.2: Các Nghị quyết của Đảng CSVN liên quan biến đổi khí hậu 48
Bảng 3.3: Các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan biến đổi khí hậu 48
Bảng 3.4: Các Văn bản của các Bộ, ngành liên quan biến đổi khí hậu 51
Bảng 3.5: Các tổ chức phi chính phủ hoạt động ở Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng 57
Bảng 3.5 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động sinh hoạt 79
hằng ngày 79
Bảng 3 6 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho hộ gia đình 80
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích phần vùng sinh thái nước ở ĐBSCL 12
Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018 19
Bảng 2.1: Phân bố diện tích đất phèn hoạt động và tiềm tàng ở các vùng sinh thái ĐBSCL 27
Bảng 2.2 Ước tính sử dụng dư thừa phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 32
Bảng 2.3: Sự gia tăng áp dụng hoạt chất (ai) trong thuộc bảo vệ thực vật ở ĐBSCL 39
Bảng 2.4: Mức độ lãng phí thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 39 Bảng 2.5: Lượng rác phát sinh ở các đô thị và tỷ lệ thu gom tương ứng 42
Bảng 2.6: Hiện trạng các bãi chôn rác thải ở ĐBSCL (2017) 43
Bảng 2.7: Số lượng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt và lượng bùn thải (m3/năm) ước tính với hàm lượng chất khô là 15% 44
Bảng 3.1: Các công ước quốc tế có sự ký kết phê duyệt tham gia của Việt Nam 48
Bảng 3.2: Các Nghị quyết của Đảng CSVN liên quan biến đổi khí hậu 48
Bảng 3.3: Các Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan biến đổi khí hậu 48
Bảng 3.4: Các Văn bản của các Bộ, ngành liên quan biến đổi khí hậu 51
Bảng 3.5: Các tổ chức phi chính phủ hoạt động ở Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng 57
Bảng 3.5 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động sinh hoạt 79
hằng ngày 79
Bảng 3 6 Ước tính nhu cầu sử dụng nước cho hộ gia đình 80
Trang 9Phần 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN
NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Lưu vực sông Mekong trải dài trên một diện tích 795.000 km2, trải qua
lãnh thổ của 6 quốc gia Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt
Nam (Hình 1.1) Dòng chính sông Mekong dài 4.350 km là con sông lớn đứng
thứ 12 trên thế giới và lớn thứ 10 về tổng lượng dòng chảy, đến khoảng 475 tỷ m3
mỗi năm, lưu lượng trung bình khoảng 15.000 m³/s Ngoài nguồn tài nguyên nước
có nhiều tiềm năng phát triển thủy điện, thủy sản, lâm nghiệp, cấp nước, tưới tiêu
và giao thông, lưu vực sông Mekong có tính đa dạng sinh học rất cao, chỉ xếp sau
lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ
Các vùng đất ngập nước tự nhiên trải dọc theo lưu vực sông Mekong ngoài
tiềm năng du lịch sinh thái, còn mang lại các lợi ích khác như giảm thiểu lũ, trữ
nước và làm sạch môi trường Tài nguyên thủy sản được xem là một nguồn cung
cấp protein lớn cho hơn 60 triệu người sinh sống dọc theo hệ thống sông ngòi
của lưu vực Mekong với tổng loài cá trên 850 loài cá và sản lượng khoảng 4
triệu tấn mỗi năm Thủy sản không chỉ mang lại thu nhập cho ngư dân mà còn
tạo việc làm và sinh kế với với các nghề liên quan như nuôi trồng, quản lý nghề
cá, chế biến, sản xuất thức ăn cá, công cụ đánh bắt, sửa chữa tàu thuyền v.v…
Có hơn 100 dân tộc khác nhau trong 60 triệu cư dân sống trong lưu vực
Mekong tạo thành một trong những vùng đa dạng văn hoá nhất trên thế giới Tuy
nhiên, mực sống phần đông (khoảng 85%) là ở mức nghèo Sản xuất nông nghiệp
và thủy sản là sinh kế lâu đời của người dân vùng nông thôn và rừng núi (Hình
1)
Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu
(Nguồn: Việt hóa một phần từ bản đồ trên Wikimedia Commons)
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu cuối cùng của sông Mekong, tiếp giáp với cả 2 vùng biển Đông và biển Tây (Hình 2) Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trẻ nếu so về tuổi địa chất và cả lịch sử hình thành dân cư – xã hội Vùng châu thổ này dẩn dần hiện ra trên mặt nước biển khoảng 5.000 – 7.000 năm trước đây Hiện nay, vùng đồng bằng có diện tích tự nhiên phân đất liền gần 4 triệu ha (39.734 km2), trong đó có hơn 2,4 triệu ha đất canh tác nông
Trang 10Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Mekong gồm dòng chính và các phụ lưu
(Nguồn: Việt hóa một phần từ bản đồ trên Wikimedia Commons)
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu cuối cùng của sông Mekong, tiếp giáp với cả 2 vùng biển Đông và biển Tây (Hình 2) Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trẻ nếu so về tuổi địa chất và cả lịch sử hình thành dân cư – xã hội Vùng châu thổ này dẩn dần hiện ra trên mặt nước biển khoảng 5.000 – 7.000 năm trước đây Hiện nay, vùng đồng bằng có diện tích tự nhiên phân đất liền gần 4 triệu ha (39.734 km2), trong đó có hơn 2,4 triệu ha đất canh tác nông
Trang 11nghiệp và 700.000 ha nuôi trồng thủy sản Diện tích vùng biển ĐBSCL xấp xỉ gấp
3 - 4 lần diện tích vùng đất liền (gần 12 triệu ha) Về mặt địa hình, đồng bằng này
là một vùng thấp và bằng phẳng, cao độ bình quân phổ biến nằm trong khoảng
0.8 – 1,2 m, thậm chí có nhiều vùng hiện nay chỉ còn cao độ dưới 0.8 m, so với
mực nước biển trung bình Vùng đất cao nằm chủ yếu dọc theo biên giới
Campuchia của tỉnh An Giang và Kiên Giang, cao trình trung bình nằm trong
khoảng từ 2,0 - 4,0 m, ngoài trừ các vùng núi đồi cao, sau đó độ cao thấp dần vào
đến vùng giữa, nằm ở trung tâm đồng bằng ở cao trình 1,0 - 1,5 m, và chỉ còn 0,3
- 0,7 m ở vùng ven biển
Hình 1.2: Bản đồ hành chính các tỉnh vùng ĐBSCL
Từ giữa đến cuối mùa mưa, khu vực phía Tây và phía Bắc Đồng bằng bị
ngập lũ từ sông Mekong, ước tính có khoảng 1,2 – 1,9 triệu ha bị ngập lũ, chủ yếu
là vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và vùng giữa sông Tiền -
sông Hậu Nước mặn xâm nhập từ biển làm ảnh hưởng trên 50% diện tích canh
tác, đặc biệt là vào mùa khô Ngoài ra, vấn đề đất phèn – nước phèn, chiếm khoảng
1,6 triệu ha, luôn là một thử thách cho canh tác nông nghiệp ở đây Cao độ trung
bình của vùng ĐBSCL phổ biến khoảng 1,0 – 1,5 m trên mực nước biển trung
bình Các điểm cao hiếm hoi như các núi ở An Giang và các hòn ở Kiên Giang
cũng chỉ tối đa một vài trăm mét Di tích Hang Cá Sấu, Thạch Động, Hòn Đất ở
Kiên Giang cho thấy vùng đất này có một thời kỳ dài khoảng 10.000 – 15.000
năm còn chìm dưới nước nước biển Các vùng trũng rộng lớn như Tứ giác Long
Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, vùng trũng U Minh là các nơi chứa nước ngập
vào mùa mưa Vì đây là vùng châu thổ cuối cùng của một con sông lớn nên nhiều
nhánh sông và chi lưu của nó hiện diện khá dày đặc
Từ thượng nguồn, sông Mekong chảy theo hướng Bắc – Nam là chủ yếu, nhưng sau khi qua Phnom Penh, sông rẽ ngoặt theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chia làm 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu chảy gần như song song với nhau Khi
đã vào sâu Việt Nam, sông Mekong tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ và thoát
ra Biển Đông qua 9 cửa lần lượt là Cửu Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định An, Cửa Bát Xắc và Cửa Trần
Đề (Tranh Đề) Vùng phía tây ĐBSCL có các sông tương đối ngắn khác là sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Trèm Trẹm, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp, sông Gành Hào, sông Bồ Đề, … Sông Cái Lớn xuất phát từ Đầm Dơi – Đầm Chim, chảy qua vùng Rạch Giá đổ ra Vịnh Thái Lan Sông Bồ Đề là một nhánh nhỏ của sông Cái Lớn Cả sông Cái Lớn và Cái Bé đều xuất phát từ vùng Vị Thanh (Chương Thiện cũ) đổ ra Biển Tây Sông Trèm Trẹm đi qua vùng U Minh, An Xuyên thành sông Ông Đốc Từ Quản Long có các sông Bảy Háp, sông Gành Hào đổ ra Vịnh Thái Lan
Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2 km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn ngoèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp (Hình 13) Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu với sông Vị Thanh, kênh Hỏa Lựu - Phụng Hiệp nối giữa sông Gành Hào và sông Hậu, sông Gành Hào và sông Vị Thanh được nối bởi kênh Cà Mau - Bạc Liêu, kênh Chắc Băng nối giữa sông Trẹm và sông Cái Lớn Ngoài ra, còn một số kênh nối liền giữa sông Cái Lớn và sông Gành Hào theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam
Trang 12Từ thượng nguồn, sông Mekong chảy theo hướng Bắc – Nam là chủ yếu, nhưng sau khi qua Phnom Penh, sông rẽ ngoặt theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chia làm 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu chảy gần như song song với nhau Khi
đã vào sâu Việt Nam, sông Mekong tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ và thoát
ra Biển Đông qua 9 cửa lần lượt là Cửu Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định An, Cửa Bát Xắc và Cửa Trần
Đề (Tranh Đề) Vùng phía tây ĐBSCL có các sông tương đối ngắn khác là sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Trèm Trẹm, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp, sông Gành Hào, sông Bồ Đề, … Sông Cái Lớn xuất phát từ Đầm Dơi – Đầm Chim, chảy qua vùng Rạch Giá đổ ra Vịnh Thái Lan Sông Bồ Đề là một nhánh nhỏ của sông Cái Lớn Cả sông Cái Lớn và Cái Bé đều xuất phát từ vùng Vị Thanh (Chương Thiện cũ) đổ ra Biển Tây Sông Trèm Trẹm đi qua vùng U Minh, An Xuyên thành sông Ông Đốc Từ Quản Long có các sông Bảy Háp, sông Gành Hào đổ ra Vịnh Thái Lan
Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2 km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn ngoèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp (Hình 13) Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu với sông Vị Thanh, kênh Hỏa Lựu - Phụng Hiệp nối giữa sông Gành Hào và sông Hậu, sông Gành Hào và sông Vị Thanh được nối bởi kênh Cà Mau - Bạc Liêu, kênh Chắc Băng nối giữa sông Trẹm và sông Cái Lớn Ngoài ra, còn một số kênh nối liền giữa sông Cái Lớn và sông Gành Hào theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam
Trang 13Hình 1.3: Bản đồ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với hệ thống
sông và kênh chính
Nguồn: Benedikter (2014) 1 , bản đồ được Việt hóa phần ghi chú
Một cách bao quát, căn cứ vào phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước, có
thể chia ĐBSCL một cách tương đối thành 3 vùng chính (Hình 1.4 và Bảng 1.1):
i Vùng ngập sâu: là vùng đất trũng đầu nguồn, có diện tích khoảng
1.034.273,5 ha, gồm khu vực Tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp
Mười, nơi đây nhận nước lũ hang năm gây ngập sâu và kéo dài
ii Vùng giữa ngập nông: là vùng trung gian giữa vùng ngập sâu và vùng ven
biển, vùng này có diện tích lớn nhất, khoảng 1.558.723,9 ha, vùng này vẫn
là vùng phù sa nước ngọt, ngập nông và thời gian ngập ngắn Vùng này tập
trung nhiều loại hình sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đa dạng
iii Vùng ven biển: bao gồm các vùng đất chạy dọc theo bời biển Đông và biển
Tây, vùng này rộng khoảng 1.427.234,3 ha, không kể diện tích vùng ngoài
1 Benedikter S (2014), Extending the Hydraulic Paradigm: Reunification State Consolidation and Water Control
in the Vietnamese Mekong Delta after 1975, Southeast Asian Studies, 3(3), pp.547-587
biển và hải đảo, thường xuyên đối diện với tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nguồn nước ngọt, đặc biệt là mùa khô
Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL
Trang 14biển và hải đảo, thường xuyên đối diện với tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nguồn nước ngọt, đặc biệt là mùa khô.
Hình 1.4: Bản đồ phân vùng sinh thái dựa vào nguồn nước ở ĐBSCL
Trang 15Bảng 1.1: Diện tích phần vùng sinh thái nước ở ĐBSCL
TT Tỉnh/ Thành Vùng ngập sâu Vùng giữa ngập nông Vùng ven biển Diện tích (ha)
Vùng ĐBSCL nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ không khí trung
bình tháng trong toàn vùng thay đổi không lớn, dao động trong khoảng từ 25,3 -
27,0 °C, biên độ dao động nhiệt độ không khí giữa ngày và đêm không lớn, thường
dưới ±3 °C, nền nhiệt độ phân bố khá đều theo không gian và thời gian Độ ẩm
tương đối của không khí cao, dao động trong khoảng 78 – 82% Vùng ĐBSCL
nhận được số giờ nắng rất cao, từ 2.200-2.400 giờ mỗi năm, trung bình 6 - 7 giờ
mỗi ngày Lượng bốc hơi mặt thoáng trung bình toàn vùng ĐBSCL nằm trong
khoảng 1.000-1.300 mm trong khi lượng mưa ở ÐBSCL khá lớn, trung bình là
1.400 - 2.200 mm/năm (Hình 1.4) Tỉnh có lượng mưa thấp nhất là Ðồng Tháp
(1.400 mm/năm), tỉnh có lưọng mưa cao nhất là Cà Mau (2.200 mm/năm) Song
nơi có lượng mưa được ghi nhận là ít nhất vùng đồng bằng là Gò Công (Tiền
Giang) chỉ có 1.200 mm/năm, trung bình có 100 - 110 ngày mưa/năm Ðảo Phú
Quốc (Kiên Giang) được xem là nơi có lượng mưa cao nhất vùng đồng bằng:
3.145 mm với trung bình 140 ngày mưa/năm Các tháng có ngày mưa ít nhất là
tháng 12 đến tháng 3, biến thiên từ 0 - 6 ngày mưa/tháng Các tháng có ngày mưa
cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 10, biến thiên 13 - 21 ngày mưa/tháng Mưa tập
trung từ 75 - 95% vào mùa mưa Trong nhiều năm, khu vực tỉnh Kiên giang
thường bắt đầu mùa mưa sớm hơn các tỉnh khác (vào tháng 4) khoảng 15 - 20
ngày So với các khu vực trong toàn quốc thì lượng mưa ở ÐBSCL ít biến động
Ðiều đáng chú ý là vùng ÐBSCL có 2 đỉnh mưa: đỉnh mưa thứ 1 vào các tháng 6, tháng 7, đỉnh thứ 2 rơi vào tháng 9, tháng 10 Giữa 2 đỉnh mưa, vào cuối tháng 7 đến đều tháng 8 có một thời kỳ khô hạn ngắn (dân gian gọi là hạn Bà Chằn) kéo dài khoảng trên dưới 10 ngày do ảnh hưởng các luồng gió xoáy nghịch trên cao Mưa là một nguồn tài nguyên rất quan trọng cho người dân ĐBSCL, đặc biệt là vùng ven biển
Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và
lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL
Vùng ÐBSCL có mạng lưới sông khá phức tạp, trong đó chủ yếu là sông Cửu Long và các chi lưu của nó Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2
km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km
Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn nghèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp
Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu
Trang 16Ðiều đáng chú ý là vùng ÐBSCL có 2 đỉnh mưa: đỉnh mưa thứ 1 vào các tháng 6, tháng 7, đỉnh thứ 2 rơi vào tháng 9, tháng 10 Giữa 2 đỉnh mưa, vào cuối tháng 7 đến đều tháng 8 có một thời kỳ khô hạn ngắn (dân gian gọi là hạn Bà Chằn) kéo dài khoảng trên dưới 10 ngày do ảnh hưởng các luồng gió xoáy nghịch trên cao Mưa là một nguồn tài nguyên rất quan trọng cho người dân ĐBSCL, đặc biệt là vùng ven biển
Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm (vùng màu xanh) và
lượng bốc hơi trong bình tháng (biểu đồ thanh) vùng ĐBSCL
Vùng ÐBSCL có mạng lưới sông khá phức tạp, trong đó chủ yếu là sông Cửu Long và các chi lưu của nó Ở thượng nguồn - trên Tân Châu (sông Tiền) và Châu Ðốc (sông Hậu) - khi chảy vào đồng bằng, sông có bề rộng khoảng từ 60 m đến 300 m và dần dần mở rộng khi chảy về dưới hạ lưu, bề rộng sông khoảng 2
km khi ra đến biển, đoạn lớn nhất là cửa sông Hậu, bề rộng sông lên đến 18 km
Ra biển Ðông, sông Tiền thoát bằng 6 cửa: Tiểu, Ðại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, sông Hậu thoát ra từ 2 cửa: Ðịnh An và Trần Ðề Nhìn trên bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn nghèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp
Các sông rạch tự nhiên như sông Vị Thanh, sông Gành Hào, sông Ðầm Dơi chảy ra biển Ðông, các sông Cái Răng, rãch Ðại Ngãi, rạch Long Phú, đổ vào sông Hậu Các sông chảy ra vịnh Thái Lan bao gồm sông Cái Lớn, sông Ông Ðốc, sông Bảy Háp, Các kênh đào chủ yếu theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam như sông Xà No nối liền sông Hậu với sông Cái Lớn, kênh Santa nối liền sông Hậu
Trang 17với sông Vị Thanh, kênh Hỏa Lựu - Phụng Hiệp nối giữa sông Gành Hào và sông
Hậu, sông Gành Hào và sông Vị Thanh được nối bởi kênh Cà Mau - Bạc Liêu,
kênh Chắc Băng nối giữa sông Trẹm và sông Cái Lớn Ngoài ra, còn một số kênh
nối liền giữa sông Cái Lớn và sông Gành Hào theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam
Lưu lượng bình quân nhiều năm của sông Mekong khi chảy qua Kratié
(Campuchea) vào khoảng 13.500 m3/s, tương ứng với tổng lượng dòng chảy (W)
đến 430 tỷ m3/năm Khi gặp dòng TongLêSáp, lưu lượng bình quân tăng lên đến
13.644 m3/s và bắt đầu xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam bằng 2 ngã Tân Châu và
Châu Ðốc Lưu lượng bình quân tại Tân Châu là 11.000 m3/s (chiếm 80% W), còn
tại Châu Ðốc là 2.650 m3/s (chiếm 20% W) Sự khác biệt này là địa hình lòng
sông và khu vực Mực nước sông Mekong tại Tân Châu cao hơn Châu Ðốc Trong
các giai đoạn cao điểm của mùa lũ ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL),
trong tháng 9 đến tháng 10, lưu lượng nước lũ có thể đạt 39.000 m3/s (Adamson,
2006)2 Phần lớn lượng nước đều đổ ra biển Ðông, lưu lượng bình quân ở cửa
sông lên đến 15.854 m3/s (khoảng W = 500 tỷ m3 nước/năm), còn lại khoảng 5%
- 10% theo các sông rạch và kênh đào đổ vào vịnh Thái Lan như kênh Tri Tôn,
Ba Thê, Cái Sắn, Ô Môn, Thốt Nốt, và một kênh mới khác qua vùng Tứ giác
Long Xuyên - Hà Tiên
Sông Vàm Nao nối liền sông Tiền và sông Hậu, chuyển một lượng nước
khá lớn từ sông Tiền qua sông Hậu làm nước sông Hậu tăng lên khoảng 3 lần Sau
sông Vàm Nao, lượng nước sông Tiền và sông Hậu bằng nhau, Bắc Mỹ Thuận đổ
ra biển 51%W (lưu lượng bình quân 7.662 m3/s), Bắc Cần Thơ đổ ra biển 49% W
(lưu lượng bình quân 7.503 m3/s) Ðặc biệt sự phân phối nước ở Tân Châu và
Châu Ðốc thay đổi theo mùa do ảnh hưởng của địa hình ở đáy sông PhnomPênh
tác động
+ Mùa lũ: Tân Châu chiếm 79% W, Châu Ðốc 21% W
+ Mùa kiệt: Tân Châu chiếm 96% W, Châu Ðốc 4% W
Cao độ mực nước lũ thay đổi theo năm, phổ biến trong khoảng 3,50 – 4,50
m, cường suất ở giai đoạn nước lũ lên khoảng 20 – 30 cm/ngày (MONRE, 2016)3
Khoảng 80-85 % nước lũ thượng nguồn đổ về đồng bằng qua sông Tiền và sông
Mekong MRC (Mekong River Commission), Vientiane
Regional Environmental Assessment Report, 205p
Hậu, còn chừng 15-20% thì chảy tràn đồng (Kingdom of the Netherlands and SR
of Vietnam, 2013)4 làm ngập hai vùng trũng tự nhiên lớn nhất đồng bằng là vùng
Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên (480.000 ha) và vùng Đồng Tháp Mười (680.000 ha)
Tính chất đặc thù của sông Cửu Long là mùa kiệt rất thiếu nước, lưu lượng bình quân lớn nhất trong mùa kiệt là 5.920 m3/s, lưu lượng bình quân là 1.700
m3/s và lưu lượng bình quân nhỏ nhất là 1.200 m3/s (xảy ra vào 17/4/1960) Lượng nước mùa kiệt không đủ tưới cho toàn bộ diện tích canh tác, nhiều nơi sông rạch khô cạn sát đáy, nước mặn từ biển tràn sâu vào đất liền và đất bị bỏ hoang rất nhiều trong mùa khô Ðây là vấn đề cần nghiên cứu tỉ mỉ trong bố trí cơ cấu cây trồng theo mùa vụ nhu cầu nước một cách hợp lý Trong khi đó vào mùa lũ, nước sông Cửu Long lại thừa quá nhiều làm tràn ngập nhiều vùng rộng lớn, mặc dầu lũ sông Cửu Long không lớn về cường suất Tốc độ nước lên tại Tân Châu trung bình chừng 20 cm/ngày, tối đa 34 cm/ngày (tháng 6/1981), tại Châu Ðốc 15 cm/ngày, tối đa không quá 35 cm/ngày Cách cửa sông 180 km, biên độ lũ là 4 m (so với sông Hồng là 11,8 m) Trong các năm bình thường, mùa mưa lũ kéo dài
từ tháng 5 đến tháng 11, các tháng còn lại là mùa khô Khối lượng nước đổ vào sông Tiền và sông Hậu trung bình theo tháng thể hiện như Hình 6
https://www.wur.nl/upload_mm/2/c/3/b5f2e669-cb48-4ed7-afb6-682f5216fe7d_mekong.pdf MDP (2013) Mekong Delta Plan, Vietnam-Netherlands Co-operation, Water Sector Synthesis, Hanoi, Vietnam
Trang 18Hậu, còn chừng 15-20% thì chảy tràn đồng (Kingdom of the Netherlands and SR
of Vietnam, 2013)4 làm ngập hai vùng trũng tự nhiên lớn nhất đồng bằng là vùng
Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên (480.000 ha) và vùng Đồng Tháp Mười (680.000 ha)
Tính chất đặc thù của sông Cửu Long là mùa kiệt rất thiếu nước, lưu lượng bình quân lớn nhất trong mùa kiệt là 5.920 m3/s, lưu lượng bình quân là 1.700
m3/s và lưu lượng bình quân nhỏ nhất là 1.200 m3/s (xảy ra vào 17/4/1960) Lượng nước mùa kiệt không đủ tưới cho toàn bộ diện tích canh tác, nhiều nơi sông rạch khô cạn sát đáy, nước mặn từ biển tràn sâu vào đất liền và đất bị bỏ hoang rất nhiều trong mùa khô Ðây là vấn đề cần nghiên cứu tỉ mỉ trong bố trí cơ cấu cây trồng theo mùa vụ nhu cầu nước một cách hợp lý Trong khi đó vào mùa lũ, nước sông Cửu Long lại thừa quá nhiều làm tràn ngập nhiều vùng rộng lớn, mặc dầu lũ sông Cửu Long không lớn về cường suất Tốc độ nước lên tại Tân Châu trung bình chừng 20 cm/ngày, tối đa 34 cm/ngày (tháng 6/1981), tại Châu Ðốc 15 cm/ngày, tối đa không quá 35 cm/ngày Cách cửa sông 180 km, biên độ lũ là 4 m (so với sông Hồng là 11,8 m) Trong các năm bình thường, mùa mưa lũ kéo dài
từ tháng 5 đến tháng 11, các tháng còn lại là mùa khô Khối lượng nước đổ vào sông Tiền và sông Hậu trung bình theo tháng thể hiện như Hình 6
4 Kingdom of the Netherlands and SR of Vietnam (2013) Mekong Delta Plan 126p Access available via weblink:
https://www.wur.nl/upload_mm/2/c/3/b5f2e669-cb48-4ed7-afb6-682f5216fe7d_mekong.pdf MDP (2013) Mekong Delta Plan, Vietnam-Netherlands Co-operation, Water Sector Synthesis, Hanoi, Vietnam
Trang 19Hình 1.6: Phân bố tổng lượng nước theo tháng (triệu m 3 ) qua sông Tiền
và sông Hậu
Vùng ĐBSCL nhìn chung rất bị tác động lớn về thiên tai nếu so sánh với
các vùng miền khác ở Việt Nam, thậm chí có một số loại hình thiên tai như lũ lụt
thì đối với người dân ĐBSCL xem đó là lợi thế nếu diễn biến lũ không quá cao
đột ngột và xuất hiện bất thường Các thiên tai được xem chính là sạt lở, lún sụt,
xâm nhập mặn, khô hạn và lũ kém thể hiện ngày càng nhiều Các thiên tai từ khí
quyển như bão, lốc xoáy, vòi rồng, sấm sét… thì ít xảy ra Tần xuất xuất hiện các
trận bão đổ bộ trực tiếp vào ĐBSCL khoảng 7%, phần lớn chỉ bị ảnh hưởng của
bão ở vùng biển miền Trung và vùng biển phía Nam Trong thế kỷ 20, chỉ có 3
trận bão lớn ảnh hưởng trực tiếp vùng ĐBSCL là cơn bão Giáp Thìn 1904, bão
Linda (cơn bão số 7) năm 1997 và cơn bão Durian năm 2006 Tuy nhiên, những
năm gần đây có những ghi nhận các bất thường của đường đi các trận bão hay sự
xuất hiện áp thấp nhiệt đới, các hiện tượng lốc xoáy, sấm xét có khuynh hướng
nhiều hơn Đôi lần vùng biển phía Nam có sự xuất hiện vòi rồng
Ðồng bằng sông Cửu Long là bộ phận cuối cùng ở lưu vực sông Mekong
tiếp giáp với biển nên chế độ nước ở đây chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều Căn
cứ vào đặc điểm hình thành và diễn biến của thủy triều, ta có thể chia vùng biển ÐBSCL ra làm 2 đoạn và lấy mũi Cà Mau làm điểm trung gian:
a Khu vực biển Ðông: Kéo dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km
chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế độ thủy triều bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m, đặc biệt trong chu kỳ triều Maton (chu kỳ
19 năm) có thể lên đến 4 - 4,2 m Tuy vậy, triều biển Ðông cũng chịu một phần ảnh hưởng triều biển Tây từ vịnh Thái Lan (bán nhật triều không đều) nhất là đoàn càng đi về phía Cà Mau Mỗi ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau Trong mỗi chu kỳ 1/2 tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường Nước lớn thường xảy ra vào những ngày mồng 2 đấn mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch Nước kém xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21 âm lịch) Các đặc trưng này xảy ra đều đặn suốt chiều dài 300 km dọc bờ biển, chỉ riêng đoạn gần đến mũi Cà Mau thì mới có sự biến động lớn về tính chất và biên độ của thủy triều Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1979) thì biên độ thủy triều ngoài khơi vùng nam biển Ðông gia tăng dần khi tiến sát đến thềm lục địa ÐBSCL và giảm dần khi sóng triều truyền sâu vào sông Cửu Long Tại vùng biển Tây Nam biển Ðông, sóng bán nhật triều được tăng cường về biên độ khi tiến về phía đất liền do cấu trúc địa hình, địa mạo của đáy biển ở đây tương đối phức tạp Ðiều này, ở vịnh Thái lan cũng có ảnh hưởng tương tự nhưng mức độ thấp hơn
b Khu vực phía Tây: Từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên dài 250 km Ở khu vực
này chịu chi phối bởi thủy triều nhật triều không đều của vùng biển vịnh Thái Lan, đoạn gần mũi Cà mau bị ảnh hưởng của thủy triều biển Ðông Triều phía Tây tiến vào đất liền qua các sông thiên nhiên như sông Bảy Háp, sông Ông Ðốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé, và một số kênh đào Biên độ trung bình triều phía Tây nhỏ hơn 1 m, tối đa không quá 1,1 - 1,2 m., trung bình khoảng 0,7 - 0,8 m, đồng thời cũng ít chênh lệch giữa các vùng về biên độ song tính chất thủy triều lại có một
số điểm khác nhau về cơ bản ở một số vùng Ví dụ như khu vực Rạch Giá là dạng triều hỗn hợp thiên về bán nhật triều với số ngày trong tháng có 2 lần triều lên và
2 lần triều xuống là chủ yếu (tức chịu ảnh hưởng chế độ nhật triều không đều thiên
về bán nhật triều), từ Rạch Giá đi về phía Hà Tiên thì triều hỗn hợp lại thiên về nhật triều, với số ngày trong tháng có 1 lần dao động triều chiếm ưu thế
Trang 20cứ vào đặc điểm hình thành và diễn biến của thủy triều, ta có thể chia vùng biển ÐBSCL ra làm 2 đoạn và lấy mũi Cà Mau làm điểm trung gian:
a Khu vực biển Ðông: Kéo dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km
chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế độ thủy triều bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m, đặc biệt trong chu kỳ triều Maton (chu kỳ
19 năm) có thể lên đến 4 - 4,2 m Tuy vậy, triều biển Ðông cũng chịu một phần ảnh hưởng triều biển Tây từ vịnh Thái Lan (bán nhật triều không đều) nhất là đoàn càng đi về phía Cà Mau Mỗi ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau Trong mỗi chu kỳ 1/2 tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường Nước lớn thường xảy ra vào những ngày mồng 2 đấn mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch Nước kém xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21 âm lịch) Các đặc trưng này xảy ra đều đặn suốt chiều dài 300 km dọc bờ biển, chỉ riêng đoạn gần đến mũi Cà Mau thì mới có sự biến động lớn về tính chất và biên độ của thủy triều Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1979) thì biên độ thủy triều ngoài khơi vùng nam biển Ðông gia tăng dần khi tiến sát đến thềm lục địa ÐBSCL và giảm dần khi sóng triều truyền sâu vào sông Cửu Long Tại vùng biển Tây Nam biển Ðông, sóng bán nhật triều được tăng cường về biên độ khi tiến về phía đất liền do cấu trúc địa hình, địa mạo của đáy biển ở đây tương đối phức tạp Ðiều này, ở vịnh Thái lan cũng có ảnh hưởng tương tự nhưng mức độ thấp hơn
b Khu vực phía Tây: Từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên dài 250 km Ở khu vực
này chịu chi phối bởi thủy triều nhật triều không đều của vùng biển vịnh Thái Lan, đoạn gần mũi Cà mau bị ảnh hưởng của thủy triều biển Ðông Triều phía Tây tiến vào đất liền qua các sông thiên nhiên như sông Bảy Háp, sông Ông Ðốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé, và một số kênh đào Biên độ trung bình triều phía Tây nhỏ hơn 1 m, tối đa không quá 1,1 - 1,2 m., trung bình khoảng 0,7 - 0,8 m, đồng thời cũng ít chênh lệch giữa các vùng về biên độ song tính chất thủy triều lại có một
số điểm khác nhau về cơ bản ở một số vùng Ví dụ như khu vực Rạch Giá là dạng triều hỗn hợp thiên về bán nhật triều với số ngày trong tháng có 2 lần triều lên và
2 lần triều xuống là chủ yếu (tức chịu ảnh hưởng chế độ nhật triều không đều thiên
về bán nhật triều), từ Rạch Giá đi về phía Hà Tiên thì triều hỗn hợp lại thiên về nhật triều, với số ngày trong tháng có 1 lần dao động triều chiếm ưu thế
Trang 211.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL
Người dân Việt Nam đến khai phá vùng đất này chỉ khoảng 300 năm nay,
tức vào thế kỷ thứ XVII đến ngày nay Theo Trịnh Hoài Đức (1963), người Việt
di dân thuở ấy đến vùng đất này bắt đầu từ thập niên 1630 Phương tiện đi lại duy
nhất vào thời đó là ghe xuồng, di chuyển theo chiều nước chảy dọc theo hệ thống
sông Sông Cửu Long chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật thủy triều của Biển
Đông là bán nhật triều không đều Mỗi ngày có hai lần dòng chảy sông thay đổi
chiều: hai lần nước chảy xuôi theo hướng biển và hai lần nước chảy ngược theo
hướng vào đồng Khoảng thời gian giữa hai lần chuyển dòng xấp xỉ 6 giờ Các
ghe xuồng người dân chèo tay đi theo các con nước xuôi và nghỉ khi con nước
ngược Vận tốc trung bình của dòng chảy trên sông Cửu Long là 10 km/giờ Vô
hình, tự nhiên đã hình thành các điểm ghe thuyền tụ tập chờ chuyển dòng do đặc
điểm thủy văn này Thời gian chờ chuyển dòng xuôi chính là thời gian nghỉ di
chuyển để trao đổi, mua bán Dần dần các chợ nổi hình thành, mà khoảng cách
tương đối là 60 km (10km/giờ x 6 giờ) Đặc điểm chợ “trên bến dưới thuyền” là
một hình ảnh dễ thấy ở vùng ĐBSCL Sự hình thành các trung tâm hành chính
dọc theo hệ thống sông ngòi sau này, với khoảng cách gần đúng là 60 km, mang
tính độc đáo mà không nơi nào khác có được, chính là sự thích nghi với thiên
nhiên đầu tiên của người dân vùng ĐBSCL trong quá trình chinh phục thiên nhiên
và hình thành “văn minh sông nước” Các đô thị lớn vùng ĐBSCL có vị trí cách
nhau 60 km do yếu tố này
Vùng ĐBSCL được xem là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, không những
bảo đảm cùng cấp lượng thực quốc gia mà có dư, đủ để xuất khẩu ra thế giới
Hằng năm, ĐBSCL cung cấp ổn định hơn 50% sản lượng gạo, 65% sản lượng
thủy sản và khoảng 75% khối lượng trái cây cho cả nước Khoảng 90% lượng gạo
và trên 50% lượng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới đều xuất phát từ
sản xuất ở ĐBSCL Thống kê gần đây nhất của UNFPA và NSO (2019)5, số dân
hiện cư trú ở ĐBSCL là 17.273.630 người (không kể số đã xuất cư) Sự phân bố
diện tích và dân số vùng đồng bằng cho ở bảng 1.2 Trên 70% dân số sống ở vùng
nông thôn và ven đô, sinh kế của họ phụ thuộc khá nhiều vào diễn biến của thời
tiết và nguồn nước tự nhiên
xuất bản Thống kê, 2019, 300 trang
Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018
TT
Tỉnh (sắp theo ABC)
Diện tích (ngàn ha)
Dân số (người)
GDP (triệu đồng) Tỉ lệ (%)
GDP góp cho ĐBSCL
Tự nhiên
Nông nghiệp Tổng
Đầu người
Trang 22Bảng 1.2: Thống kê cơ bản các tỉnh ĐBSCL năm 2018
Dân số (người)
GDP (triệu đồng) Tỉ lệ (%)
GDP góp cho ĐBSCL
Tự nhiên
Nông nghiệp Tổng
Đầu người
Trang 23Nếu tạm phân chia căn cứ vào tỷ lệ đóng góp GDP cho cả vùng ĐBSCL
theo 3 mức: (i) Mức cao: trên 10%; (ii) Mức trung bình: từ 6 – 10% và (iii) Mức
thấp: dưới 6% thì 3 nhóm tỉnh nằm ở mức cao theo thứ tự là: Long An, Kiên
Giang, Cần Thơ và Tiền Giang, nhóm các tỉnh có tỷ lệ trung bình là An Giang,
Đồng Tháp và Cà Mau và các nhóm các tỉnh có tỷ lệ thấp là Sóc Trăng, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Hậu Giang Mức sắp xếp này có tính tương đối, các nhóm ở mức
cao nhờ lợi thế vị trí gần các đô thị lớn, phát triển công nghiệp và dịch vụ (như
Long An) hay lợi thế về địa lý và tài nguyên thiên nhiên (như Kiên Giang) hoặc
nằm ở vị trí phát triển trung tâm, kết hợp nhiều lợi thế về nguồn nhân lực, trục
giao thông cũng như dịch vụ du lịch và logistics (như Cần Thơ và Tiền Giang)
1.3 TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÙNG ĐBSCL
Vùng ĐBSCL cũng là vùng đất ngập nước lớn nhất Việt Nam (Tuan and
Wyseure, 2007)7, với một hệ sinh thái và đa dạng sinh học rất phong phú, trong
đó nhiều kiểu hình đất ngập nước khác nhau ĐBSCL có 280,000 ha rừng có thể
phân làm 2 nhóm theo sinh thái rừng đất ngập nước (FAO, 1994)8: đất ngập nước
rừng tràm và đất ngập nước rừng sát ven biển Hình 7 cho bản đồ các khu đất rừng
ngập nước ở ĐBSCL, trên bản đồ có ghi tên 11 vùng đất ngập nước cần được bảo
tồn Mũi Cà Mau và vùng ven biển và biển đảo Kiên Giang đã được UNESCO
chính thức công nhận là vùng dự trữ sinh quyển của thế giới (Hình 8) Vườn Quốc
gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp) đã chính thức được Công ước Ramsar - Tổ chức
Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) công nhận là khu Ramsar thứ 2.000 của thế
giới và là khu Ramsar thứ tư tại Việt Nam Tính đa dạng sinh học ở các hệ sinh
thái rừng ngập mặn và rừng tràm ở ĐBSCL thể hiện qua 239 loài cây, 36 loài thú,
182 loài chim đầm lầy, 34 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư (Gia Bảo và Minh Huyền,
2013)9 Tại vùng biển và ven biển có đến 260 loài cá được ghi nhận và rất nhiều
loại nhuyễn thể, giáp xác sinh sống
Ngoài nguồn lợi sinh học, vùng biển ĐBSCL còn có tiềm năng lớn trong
vận tải biển, tuy nhiên năng lực khai thác vận chuyển đường biển ở khu vực còn
Mekong River Delta, Vietnam International Congress on Development, Environment and Natural Resources:
Multi-level and Multi-scale Sustainability, Cochabamba, Bolivia, 1502-1510
8 FAO (1994) Mangrove forestry guidelines, Food and Agriculture Organization, Rome, Italy
nhiều kỳ trên Báo Cần Thơ Weblink: http://www.cantholib.org.vn/Database/Content/594.pdf
hạn chế nếu so sánh với các khu vực khác của cả nước Vùng biển ĐBSCL còn nhiều hứa hẹn với các tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, đặc biệt là dầu khí Khai thác năng lượng gió, năng lượng sóng triều, năng lượng ánh sáng ở vùng biển cũng có nhiều tiềm năng hứa hẹn Các vùng ven biển và hải đảo ở ĐBSCL
có 5 hệ sinh thái (HST) chính, tính từ ngoài biển vào đất liền, tương ứng với các hoạt động sản xuất và sinh kế chính, có thể tóm tắt như ở Bảng 3
Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 10
Information Systems (GIS) Workshop on Balancing economic development with environmental conservation,
London, UK, 87-93
Trang 24hạn chế nếu so sánh với các khu vực khác của cả nước Vùng biển ĐBSCL còn nhiều hứa hẹn với các tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, đặc biệt là dầu khí Khai thác năng lượng gió, năng lượng sóng triều, năng lượng ánh sáng ở vùng biển cũng có nhiều tiềm năng hứa hẹn Các vùng ven biển và hải đảo ở ĐBSCL
có 5 hệ sinh thái (HST) chính, tính từ ngoài biển vào đất liền, tương ứng với các hoạt động sản xuất và sinh kế chính, có thể tóm tắt như ở Bảng 3
Hình 1.7: Bản đồ đất ngập nước rừng ở ĐBSCL (Nhan, 1997) 10
Information Systems (GIS) Workshop on Balancing economic development with environmental conservation,
London, UK, 87-93
Trang 25Bảng 1.3: Các hệ sinh thái chủ yếu vùng ven biển và hải đảo ĐBSCL
TT Hệ sinh thái Tài nguyên tự nhiên Sinh kế chính
1
Vùng biển thềm
lục địa và hải đảo
+ Nguồn lợi hải sản + Năng lượng gió và mặt trời
+ Dầu khí (tiềm năng)
+ Đánh bắt và nuôi trồng thải sản trên biển
+ Vận tải biển + Du lịch sinh thái + Khai thác năng lượng tái tạo (điện gió và mặt trời)
+ Đánh bắt thủy sản ven
và xa bờ + Du lịch sinh thái + Khai thác năng lượng tái tạo (điện gió và mặt trời)
+ Nuôi tôm thâm canh và quảng canh
+ Khai thác năng lượng tái tạo (điện gió và mặt trời)
+ Trồng rau màu và cây
ăn trái + Ươm cá tôm giống + Du lịch
5
Đồng ruộng + Đất canh tác
+ Nguồn nước ngọt – lợ - mặn theo mùa
+ Canh tác lúa + hoa màu + Làng nghề
Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của
ĐBSCL
(Nguồn: Bộ Kế hoạch Đầu tư, Cty Haskoning và GIZ, 2020, chưa xuất bản)
Trang 26Hình 1.8: Bản đồ các vùng bảo tồn đất ngập nước và dự trữ sinh quyển của
ĐBSCL
(Nguồn: Bộ Kế hoạch Đầu tư, Cty Haskoning và GIZ, 2020, chưa xuất bản)
Trang 27Phần 2 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NỔI CỘM Ở VÙNG ĐBSCL
- oOo - 2.1 Bối cảnh
Trong hơn 2 thập niên qua, vấn đề môi trường ở Việt Nam nói chung và
vùng ĐBSCL nói riêng đang được không chỉ các nhà quản lý nhà nước lưu ý, mà
còn được các nhà khoa học cảnh báo các giới trong cộng đồng quan tâm Một điều
được phần đồng thừa nhận là môi trường và tài nguyên thiên nhiên đang bị thu
hẹp, giảm cả số lượng và chất lượng, đồng thời thay đổi các đặc điểm - tính chất
theo mùa và thời điểm xuất hiện Bên cạnh đó, nhiều hoạt động của con người
như các nhà máy phát điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phá rừng, thay đổi sử
dụng đất, sản xuất công nghiệp, chăn nuôi, rác thải sinh hoạt, các hoạt động quân
sự, đã làm gia tăng phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2, CH4,
N2O…đã làm gia tăng hiện tượng hiệu ứng nhà kính dẫn đến sự thay đổi khí hậu
toàn cầu và làm cho băng tan và mực nước biển dâng lên Theo các dự báo nếu
xu hướng phát thải này không kềm hãm thì ĐBSCL của chúng ta cũng bị đe doạ
do hiện tượng nước biển dâng Điều này sẽ làm ảnh hưởng các khu vực trồng lúa,
các khu đất ngập nước ven biển, thêm vào đó quần thể thực vật đất ngập nước
cũng sẽ thay đổi do nhiệt độ gia tăng (Adger, 199911; Wassmann et al., 2004)12
2.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm
2.2.1 Vấn đề nguồn nước
Một cách tổng quát, có 5 vấn đề môi trường liên quan đến nguồn nước hiện
diện mà vùng ĐBSCL phải thường xuyên đối phó, làm giới hạn cho sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản và ảnh hưởng cho việc cung cấp nước sinh hoạt và
bảo đảm sức khỏe cho người dân (Tuan et al., 2004)13
Development, 27(2), 249-269
Mekong Delta: Water elevation in the flood season and implications for rice production Climatic change 66(1/2),
89–107
Mekong River Delta, Vietnam The second International Symposium on Southeast Asian Water Environment, Ha
Noi, Vietnam
(i) Xâm nhập mặn: Trên 50% diện tích vùng ven biển ĐBSCL thường xuyên
chịu ảnh hưởng của thủy triều đem nước mặn từ biển Đông và biển Tây vào đất liền trong mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau (Hình 9) Có khoảng 2,1 hecta đất canh tác nông nghiệp vùng châu thổ gặp khó khăn khi sản xuất trồng trọt cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái, đặc biệt các vùng đất bị tác động của vùng có nồng độ mặn trên 4 phần ngàn (g/L) Nước nhiễm mặn không chỉ ảnh hưởng sản xuất mà còn cho nước sinh hoạt và nước cho chăn nuôi, buộc nhiều nơi phải sử dụng nguồn nước ngầm Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử năm
2016 đã gây thiệt hại khoảng 150.000 tỉ đồng cho các tỉnh ĐBSCL, 170.000 ha cây nông nghiệp có bị mất trắng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2016)14 Theo một báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017)15 cả vùng ĐBSCL có khoảng 2 triệu giếng khoan có độ sâu khác nhau, nhiều nhất là ở độ sâu 80 – 120 mét ở quy
mô gia đình và có trên 550.000 giếng khoan khai thác tập trung, khai thác thường xuyên khoảng 2 triệu m3/ngày Sự khai thác quá mức nước dưới đất gây sụt lún
và nước mặn xâm nhập sâu vào tầng nước ngầm (ví dụ trường hợp nhiễm mặn đất tại Hậu Giang (được xem là vùng giữa ĐBSCL) là do sự xâm nhập mặn từ nước biển và nước ngầm mặn (Trần Xuân Miễn và Dương Đăng Khôi, 2018)16
các giải pháp ứng phó Tổng luận của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Tổng luận 6/2016
tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững Đồng Bằng Sông Cửu Long Báo cáo tại “Hội nghị Chính phủ về phát
triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu” tại Thành phố Cần Thơ ngày 27/9/2017
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2018, 16(5): 491-499
Trang 28(i) Xâm nhập mặn: Trên 50% diện tích vùng ven biển ĐBSCL thường xuyên
chịu ảnh hưởng của thủy triều đem nước mặn từ biển Đông và biển Tây vào đất liền trong mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau (Hình 9) Có khoảng 2,1 hecta đất canh tác nông nghiệp vùng châu thổ gặp khó khăn khi sản xuất trồng trọt cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái, đặc biệt các vùng đất bị tác động của vùng có nồng độ mặn trên 4 phần ngàn (g/L) Nước nhiễm mặn không chỉ ảnh hưởng sản xuất mà còn cho nước sinh hoạt và nước cho chăn nuôi, buộc nhiều nơi phải sử dụng nguồn nước ngầm Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử năm
2016 đã gây thiệt hại khoảng 150.000 tỉ đồng cho các tỉnh ĐBSCL, 170.000 ha cây nông nghiệp có bị mất trắng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2016)14 Theo một báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017)15 cả vùng ĐBSCL có khoảng 2 triệu giếng khoan có độ sâu khác nhau, nhiều nhất là ở độ sâu 80 – 120 mét ở quy
mô gia đình và có trên 550.000 giếng khoan khai thác tập trung, khai thác thường xuyên khoảng 2 triệu m3/ngày Sự khai thác quá mức nước dưới đất gây sụt lún
và nước mặn xâm nhập sâu vào tầng nước ngầm (ví dụ trường hợp nhiễm mặn đất tại Hậu Giang (được xem là vùng giữa ĐBSCL) là do sự xâm nhập mặn từ nước biển và nước ngầm mặn (Trần Xuân Miễn và Dương Đăng Khôi, 2018)16
các giải pháp ứng phó Tổng luận của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Tổng luận 6/2016
tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững Đồng Bằng Sông Cửu Long Báo cáo tại “Hội nghị Chính phủ về phát
triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu” tại Thành phố Cần Thơ ngày 27/9/2017
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2018, 16(5): 491-499
Trang 29Hình 2.1: Bản đồ các vùng đất trong khu vực bị nhiễm mặn
ĐBSCL
(ii) Đất phèn (Acid sulfate soils - ASS): Đất phèn là đất có chứa lượng sulfide
sắt cao, khá nhạy cảm với sự dao động của nước sông và mực nước ngầm tầng
nông dưới đất Phèn ở vùng ĐBSCL hiện diện trong đất bao gồm phèn tiềm tang
và phèn hoạt động có khoảng hơn 1,3 triệu ha, chiếm gần 46% dện tích đất tự
nhiên (Bảng 4), tập trung ở các vùng chính như Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng
Tháp Mười, vùng Tây sông Hậu và một phần vùng Bán đảo Cà Mau, vùng ven
biển cũng có một số bị nhiễm phèn (Hình 10) Từ tháng 3 đến tháng 4 hằng năm,
mực nước ngầm ở tầng mặt dưới đất thấp hơn 1 mét và trong đất xuất hiện nhiều
vết nứt nẻ khiến oxy trong không khí xâm nhập xuống tầng sinh phèn gây hiện
tượng oxy hóa đất phèn tiềm tang thành đất phèn hoạt động, chứa nhiều acid khiến
đất bị chua Khi có mưa lớn và có lũ về, nước có thể mang những độc chất từ vùng
đất bị nhiễm phèn đến các vùng không có đất phèn (phèn ngoai lai) khiến diện
tích đất bị nhiễm phèn bị gia tang, có thể lên đến 1,6 triệu ha ở ĐBSCL Đất và
nước bị nhiễm phèn với độ pH thấp có thể làm chết cây trồng, lúa, hoa màu và
động Phèn tiềm tàng Tổng
Bán đảo Cà Mau 193.395,2 191.548,8 384.944,0 Đồng Tháp Mười 72.335,7 118.890,2 191.225,9 Phù sa ven sông 138.449,1 170.325,0 308.774,1
Tứ giác Long Xuyên 163.476,8 61.927,1 225.403,9 Trũng phèn Bán đảo Cà Mau 66.863,9 19,824,0 86.687,9 Trũng phèn Tây sông Hậu 44.319,9 50.956,1 95.276,1
(Nguồn: Thái Công Tụng, 2016)
Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng
ĐBSCL (Nguồn: Thái Công Tụng, 2016) 17
http://vietecology.org/Article/Article/140
Trang 30Bảng 2.1: Phân bố diện tích đất phèn hoạt động và tiềm tàng ở các vùng
sinh thái ĐBSCL
Vùng sinh thái
Diện tích (ha) Phèn hoạt
động Phèn tiềm tàng Tổng
Bán đảo Cà Mau 193.395,2 191.548,8 384.944,0 Đồng Tháp Mười 72.335,7 118.890,2 191.225,9 Phù sa ven sông 138.449,1 170.325,0 308.774,1
Tứ giác Long Xuyên 163.476,8 61.927,1 225.403,9 Trũng phèn Bán đảo Cà Mau 66.863,9 19,824,0 86.687,9 Trũng phèn Tây sông Hậu 44.319,9 50.956,1 95.276,1
(Nguồn: Thái Công Tụng, 2016)
Hình 2.2: Bản đồ phân bố các nhóm đất phèn hoạt động và tiềm tàng vùng
ĐBSCL (Nguồn: Thái Công Tụng, 2016) 17
http://vietecology.org/Article/Article/140
Trang 31(iii) Ô nhiễm nước (Acid sulfate soils - ASS): vấn đề ô nhiễm nước này càng rõ
hơn trên các nguồn nước mặt, nhất là nước từ các nhánh sông, rạch và kênh mương
nội đồng Nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là ô nhiễm do sử dụng hóa chất trong nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản, các cơ sở chế biến nông sản và từ các nhà máy công
nghiệp Song song đó, nguồn nước bị ô nhiễm thường xuyên từ nước thải và rác
thải sinh hoạt của người dân do tập quán sinh sống và sản xuất dọc theo hai bên
bờ sông, kênh và vùng ven biển Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu và đập
thủy điện thượng nguồn là thay đổi cả số lượng, chất lượng và động thái dòng
chảy Do thiếu nước ngọt như một hệ quả, sự khai thác nước ngầm quá lớn ở vùng
ven biển, kèm theo sự sút giảm nguồn bổ sung khiến nước ngầm suy giảm nghiêm
trọng, đồng thời làm gia tăng sự hiện diện của Asen, tác động xấu lên sức khỏe
người dùng (Laura et at., 2013)18 Tất cả các nguồn gây ô nhiễm này làm cho
nguồn nước vùng ĐBSCL trở nên xấu hơn (Hình 11)
Hình 2.3: Tổng hợp các nguồn gây ô nhiễm nước ở vùng ĐBSCL
(iv) Thiếu nước ngọt: Vào mùa khô, thường kéo dài 7 tháng, lưu lượng trung
bình của sông Cửu Long dưới 2.500 m3/s, thậm chí có thời điểm lên đến 1.700
groundwater in the Mekong Delta, Vietnam, linked to pumping-induced land subsidence Proceedings of the
National Academy of Sciences 110(34) https://www.pnas.org/content/110/34/13751
m3/s, (Le Anh Tuan et al, 2017)19, thấp hơn khoảng 30 lần so với đỉnh lũ (MRC, 2005)20 Tình trạng khan hiếm nước tưới ảnh hưởng đến gần 1,5 triệu ha đất canh tác vào mùa khô Mực nước sông Mekong giảm và kéo theo nước biển xâm nhập sâu hơn hơn Do thiếu nước ngọt, người dân phải khai thác nước ngầm nhiều nơi,
hệ quả là mực nước ngầm nhiều nơi hạ thấp hơn 2 - 3 m Hậu quả là nhiều khu vực ven biển bị thiếu nước ngọt nghiêm trọng (Hình 12) và trở thành một yếu tố
làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước do thiếu sự trao đổi nguồn nước, dòng chảy
Khô hạn, xâm nhập mặn và thiếu nước sinh hoạt vùng ven biển vùng ĐBSCL thực
sự đã trở thành vấn đề kinh tế - xã hội của các địa phương
Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL
(Nguồn: Vinh Hoa Dang et al., 2019) 21
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, trường Đại học Cần Thơ
Nguyen (2019) Exploring Freshwater Regimes and Impact Factors in the Coastal Estuaries of the Vietnamese
https://www.mdpi.com/2073-4441/11/4/782/htm#table_body_display_water-11-00782-t0A1
Trang 32m3/s, (Le Anh Tuan et al, 2017)19, thấp hơn khoảng 30 lần so với đỉnh lũ (MRC, 2005)20 Tình trạng khan hiếm nước tưới ảnh hưởng đến gần 1,5 triệu ha đất canh tác vào mùa khô Mực nước sông Mekong giảm và kéo theo nước biển xâm nhập sâu hơn hơn Do thiếu nước ngọt, người dân phải khai thác nước ngầm nhiều nơi,
hệ quả là mực nước ngầm nhiều nơi hạ thấp hơn 2 - 3 m Hậu quả là nhiều khu vực ven biển bị thiếu nước ngọt nghiêm trọng (Hình 12) và trở thành một yếu tố
làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước do thiếu sự trao đổi nguồn nước, dòng chảy
Khô hạn, xâm nhập mặn và thiếu nước sinh hoạt vùng ven biển vùng ĐBSCL thực
sự đã trở thành vấn đề kinh tế - xã hội của các địa phương
Hình 2.4: Khu vực thiếu nước ngọt ở các cửa sông ĐBSCL
(Nguồn: Vinh Hoa Dang et al., 2019) 21
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, trường Đại học Cần Thơ
Nguyen (2019) Exploring Freshwater Regimes and Impact Factors in the Coastal Estuaries of the Vietnamese
https://www.mdpi.com/2073-4441/11/4/782/htm#table_body_display_water-11-00782-t0A1
Trang 33(v) Thay đổi đặc điểm mùa lũ: Trong hai thập niên (2000 – 2019) vừa qua đã
xuất hiện 3 trận lũ rất lớn là các năm 2000, 2001, 2002 và phải đến 10 năm sau
2011 mới có lũ lớn Về lũ nhỏ thì có 7 trận lũ nhỏ: trong 10 năm từ 2000 – 2009
chỉ có 1 trận lũ nhỏ 2008, nhưng trong thập niên kế tiếp 2010 – 2019 thì có đến 6
trận lũ nhỏ (Hình 13) Điều này cho thấy xu thế lũ lớn dần ít đi và số lần xuất hiện
lũ nhỏ khi đến vùng ĐBSCL tăng lên Mặt khác, vào những năm đầu của thế kỷ
thứ 21 (2000 – 2006), do có chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa với mục tiêu đưa
Việt Nam trở thành một quốc gia thừa lúa gạo và tiến đến nước xuất khẩu gạo
trong nhóm hang đầu thế giới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông đã phát triển
Quy hoạch kiểm soát lũ vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, Quy
hoạch này được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm1998 Sau đó, hàng loạt đê
bao triệt để và cống kiểm soát lũ được xây dựng ở An Giang, Đồng Tháp, phía
Bắc Cần Thơ, Hậu Giang để phù hợp với chủ trương đẩy mạnh sự gia tăng diện
tích, làm 3 vụ canh tác lúa liên tiếp mỗi năm (Manh và cộng sự, 2014)22 Kết quả,
sau các công trình này, sản lượng lúa ở các khu vực đê bao cho 3 vụ lúa tăng lên
rõ rệt nhưng cũng đã làm thay đổi đặc điểm lũ vùng đầu nguồn, không gian chứa
lũ của hai vùng trũng bị thu hẹp, như ở Tứ Giác Long Xuyên ngoài giảm không
gian trữ nước, còn thêm các tuyến kênh thoát lũ một phần nước lũ ra biển Tây, hệ
quả là khả năng hấp thu lũ đã giảm từ 9,2 tỉ m3 của năm 2000, đến năm 2011 đã
bị giảm 4,7 tỉ m3, chỉ còn 4,5 tỉ m3 (ICEM, 2015)23 Ngoài ra, các vùng giữa và hạ
nguồn còn có ghi nhận sự gia tăng diện tịch ngập lũ do thay đổi không gian trữ lũ
vùng trên, tác động lún sụt, nước biển dâng nên cuối mùa lũ, cộng thêm sự gia
tăng yếu tố triều cường nên mức độ ngập úng tăng thêm đáng kể (Triet và cộng
sự., (2017)24
DOI: 10.5194/hessd-11-4311-2014
Environmental Management (ICEM), World Bank, Vietnam
Mekong Delta shifted flood hazard downstream? Hydrol Earth Syst Sci., (21): 3991–4010
Hình 9: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ
nhỏ tăng lên 2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất
Do việc thâm canh liên tục và sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh nên chất lượng đất nhiều nơi ở ĐBSCL bị suy giảm Theo Nguyễn Hồng Tín (2017)25, tập quán bón phân quá mức trong canh tác lúa (Bảng 5) cũng là một tác nhân khiến ô nhiễm đất tăng cao Ở ĐBSCL, thuốc trừ sâu đã được áp dụng trung bình 5,3 lần mỗi vụ (MRC, 2007)26 Hiện nay, điều khó khăn và thử thách lớn cho vùng đồng bằng là nguồn phù sa bị giảm khá nghiêm trọng do các đập nước thượng nguồn giữ lại khiến nguồn dinh dưỡng bổ sung cho các lớp đất thổ nhưỡng bị suy giảm Trước kia, mỗi năm sông Mekong mang về cho vùng đồng bằng khoảng 160 triệu tấn phù sa mỗi năm, hiện nay đã các đập thủy điện ở Vân Nam, Trung Quốc giữ lại khoảng 50%, cuối năm nay khi đập Xayabury ở Lào đưa vào vận hành thì lượng phù sa sẽ mất đến 65% Một nghiên cứu của Ủy ban Sông Mekong cho thấy nếu tất cả các đập nước tiềm năng được xây dựng thì phù
sa đến ĐBSCL sẽ mất lên đến 96%
chuẩn bị cho Ngân Hàng Thế giới, Ngân Hàng Thế Giới, Washington, D.C
đồng bằng sông Cửu Long Các nghiên cứu điển hình của MRC về Chương trình Đào tạo Môi trường, 10
Trang 34Hình 9: So sánh sự thay đổi của tính chất lũ ở 2 thập niên 2000-2009 và 2010-2019: xu thế số lượng lũ lớn và lũ trung bình giảm đi và số lượng lũ
nhỏ tăng lên 2.2.2 Vấn đề đất và địa hình mặt đất
Do việc thâm canh liên tục và sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh nên chất lượng đất nhiều nơi ở ĐBSCL bị suy giảm Theo Nguyễn Hồng Tín (2017)25, tập quán bón phân quá mức trong canh tác lúa (Bảng 5) cũng là một tác nhân khiến ô nhiễm đất tăng cao Ở ĐBSCL, thuốc trừ sâu đã được áp dụng trung bình 5,3 lần mỗi vụ (MRC, 2007)26 Hiện nay, điều khó khăn và thử thách lớn cho vùng đồng bằng là nguồn phù sa bị giảm khá nghiêm trọng do các đập nước thượng nguồn giữ lại khiến nguồn dinh dưỡng bổ sung cho các lớp đất thổ nhưỡng bị suy giảm Trước kia, mỗi năm sông Mekong mang về cho vùng đồng bằng khoảng 160 triệu tấn phù sa mỗi năm, hiện nay đã các đập thủy điện ở Vân Nam, Trung Quốc giữ lại khoảng 50%, cuối năm nay khi đập Xayabury ở Lào đưa vào vận hành thì lượng phù sa sẽ mất đến 65% Một nghiên cứu của Ủy ban Sông Mekong cho thấy nếu tất cả các đập nước tiềm năng được xây dựng thì phù
sa đến ĐBSCL sẽ mất lên đến 96%
chuẩn bị cho Ngân Hàng Thế giới, Ngân Hàng Thế Giới, Washington, D.C
đồng bằng sông Cửu Long Các nghiên cứu điển hình của MRC về Chương trình Đào tạo Môi trường, 10
Trang 35Bảng 2.2 Ước tính sử dụng dư thừa phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL
Đơn vị: tấn/năm
Khoảng 10 năm nay, câu chuyện lún sụt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) đang nóng dần, đặc biệt trong tháng vừa qua, các chuyên gia thuộc Đại
học Utecht, Hà Lan (Minderhoud và cộng sự, 2017)27 đã có những nghiên cứu chỉ
ra rằng cao độ trung bình của vùng ĐBSCL chỉ còn hơn mực nước biển khoảng
80 m và đang tiếp tục “chìm” dần với tốc độ khoảng 20 - 30 mm/năm, trong khi
mực nước biển chỉ dâng chừng 2 – 4 mm/năm (Hình 2.2) Mới đây nhất, thông tin
trên tạp chí khoa học nổi tiếng Nature Communication, các nhà khoa học thuộc
dự án Climate Central, cũng cho biết nhiều vùng đồng bằng và đô thị lớn cũng
đang lún nhanh với cao độ tự nhiên thấp hơn các thông tin trước đây, miền châu
thổ phía Nam Việt Nam đang có tốc độ lún nhanh hơn các vùng khác Điều này
có nghĩa là lún sụt đang diễn ra nhanh hơn mực nước biển dâng lên gần 10 lần
25 years of groundwater extraction on subsidence in the Mekong delta, Vietnam Environ Res Lett 12 (2017)
Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015
(Nguồn: Minderhoud và cộng sự, 2017)
2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi
Ở Việt Nam, phần lớn rác sinh hoạt ở các đô thị lớn đều được thu gom qua
hệ thống thu gom chất thải rắn do các Công ty Dịch vụ Môi trường đảm nhận cùng
hệ thống xe gom rác tư nhân thực hiện Trong một báo cáo của Ngân hang Thế
Trang 36Như vậy, nếu chúng ta không có biện pháp gì đối phó, cứ tiếp tục khai thác nước ngầm như hiện nay và với sự giảm sút phù sa nhanh chóng do các đập thủy điện
ở thượng nguồn chặn giữ lại thì theo dự báo của các nhà khoa học ở nước ngoài, khoảng 100 năm nữa, đồng bằng chỉ còn nhô lên khỏi mực nước biển khoảng 45
cm Khi đó nước sẽ ngập và ảnh hưởng xấu lên đến hơn một nửa diện tích vùng châu thổ và có thể lên đến 12 triệu người ĐBSCL sẽ phải di cư đến các vùng đất cao hơn để sinh sống
Hình 2.6: Bản đồ đường đồng mức về tốc độ sụt lún do khai thác nước ngầm theo mô phỏng tích lũy từ năm 1991 và tốc độ lún năm 2015
(Nguồn: Minderhoud và cộng sự, 2017)
2.3 Các hành vi gây ô nhiễm môi trường do ý thức kém của người dân 2.3.1 Hành vi đổ rác sinh hoạt bừa bãi
Ở Việt Nam, phần lớn rác sinh hoạt ở các đô thị lớn đều được thu gom qua
hệ thống thu gom chất thải rắn do các Công ty Dịch vụ Môi trường đảm nhận cùng
hệ thống xe gom rác tư nhân thực hiện Trong một báo cáo của Ngân hang Thế
Trang 37giới (2018) 28, do tốc độ phát triển đô thị hóa quá nhanh trong khoảng 15 năm gần
đây, vấn đề thu gom rác thải trở nên khó khăn hơn khi khối lượng rác thải ở các
đô thị lớn tăng lên khoảng 8,4%/năm và cả nước tăng khoảng 5%/năm Cũng theo
báo cáo này của Ngân hàng Thế giới, hiện nay số lượng chất thải rắn ở các đô thị
có thể thu gom về nơi xử lý hay chôn lấp khoảng 90% nhưng ở các vùng nông
thôn, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt chỉ mới 40% Theo một báo cáo mới
nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020)29, tính thảo bình quân, khối lượng
rác thải sinh hoạt phát sinh trong năm 2019 là 3.577 tấn/ngày, số lược rác sinh
hoạt được thu gom là 3.159 tấn/ngày, đạt tỷ lệ 88,3%, thấp hơn với mức bình quân
cả nước hiện nay là 91,8% Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn về thu gom rác thải
sinh hoạt giữa vùng đô thị và nông thôn Ở ĐBSCL, theo số liệu của Bộ Tài
nguyên và Môi trường (2020), khối lượng rác sinh hoạt phát sinh năm 2019 là
5.852 tấn/ngày và khả năng thu gom chỉ mới là 2.871 tấn/ngày, đạt 49,1%, thấp
hơn bình quân cả nước là ở mức tỉ lệ 65,7% Điều này có nghĩa là một số lượng
rác thải không được xử lý bị vứt bỏ ra môi trường, xử lý rác chưa triệt để, gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt, đời sống của người dân
(Hình 15), chưa kể lượng rác thải sinh hoạt được thu gom nhưng không xử lý triệt
để, chỉ chôn lấp sơ sài hoặt đốt bỏ không hoàn toàn, gây ô nhiễm đất, nước và
không khí Đặc biệt vùng nông thôn có thói quen vứt rác ra hệ thống sông rạch
gây ô nhiễm nguồn nước Mặc dầu, đã có nhiều khuyến cáo, giáo dục và cảnh cáo
nhưng vấn đề xử lý rác sinh hoạt tại chỗ ở quy mô gia đình và cộng đồng vẫn chưa
cải thiện nhiều
28 Ngân hang Thế giới (2018) Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải công nghiệp nguy hại:
các phương án và hành động Nhà xuất bản Hồng Đức, 152 trang ISBN: 978-604-89-6007-0 Bảng ebook có thể
http://documents1.worldbank.org/curated/en/504821559676898971/pdf/Solid-and-industrial-hazardous-waste-management-assessment-options-and-actions-areas.pdf
29 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020) Quản lý chất thải rắn sinh hoạt Chuyên đề trong Báo cáo hiện trạng môi
trường Quốc gia 2019 Nhà xuất bản Dân Trí, Hà Nội 2020
Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn
(Nguồn: Báo Bạc Liêu Online, 2019) 30
Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 31
Ngoài ra, theo tập quán từ xưa, hầu hết các chợ ở vùng ĐBSCL đều gần các vùng ven sông, bến cảng, bến chợ đầu mối, hoặc chợ nổi trên sông như Chợ nổi
http://www.baobaclieu.vn/doi-song-xa-hoi/thu-gom-xu-ly-rac-thai-o-cac-cho-con-nhieu-bat-cap-62529.html
31 https://www.giaoduc.edu.vn/chung-tay-bao-ve-moi-truong-khu-vuc-dbscl.htm
Trang 38Hình 2.7: Việc bỏ rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm chất thải rắn
(Nguồn: Báo Bạc Liêu Online, 2019) 30
Hình 2.8: Một bãi rác gây ô nhiễm ở ĐBSCL Ảnh: I.T 31
Ngoài ra, theo tập quán từ xưa, hầu hết các chợ ở vùng ĐBSCL đều gần các vùng ven sông, bến cảng, bến chợ đầu mối, hoặc chợ nổi trên sông như Chợ nổi
http://www.baobaclieu.vn/doi-song-xa-hoi/thu-gom-xu-ly-rac-thai-o-cac-cho-con-nhieu-bat-cap-62529.html
31 https://www.giaoduc.edu.vn/chung-tay-bao-ve-moi-truong-khu-vuc-dbscl.htm
Trang 39Phong Điền - Cần Thơ, Chợ nổi Cái Bè - Tiền Giang, Chợ nổi Ngã Năm - Sóc
Trăng, Chợ nổi Ngã Bảy - Hậu Giang, Chợ nổi Long Xuyên - An Giang, Chợ nổi
Trà Ôn - Vĩnh Long Các sinh hoạt chợ gần sông đã tạo điều kiện rác sinh hoạt
hoặc nông sản thừa, giấy và bao nylon gói hàng buôn bán bị vứt bừa bãi xuống
sông rạch gây ô nhiềm và khó thu hồi, thu gom để xử lý (Hình 16 và 17)
Hình 2.9: Một con kênh ở Kiên Giang phủ đầy rác sinh hoạt từ dân cư
(Nguồn: Báo Lao động, 2020) 32
Hình 2.10: Không ai quản lý việc thu gom rác, tiểu thương chợ Cầu Chùa
(huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) lùa rác xuống sông
https://laodong.vn/ban-doc/kien-giang-bao-dong-nan-o-nhiem-tai-cac-tuyen-kenh-ngan-man-795313.ldo
- Ảnh: Thanh Xuân (Báo Tuổi trẻ, 2006) 33
2.3.2 Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp
ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn nhất Việt Nam Các hoạt động canh tác thâm canh trên một diện tích lớn và liên tục buộc nông dân phải gia tăng sử dụng các loại phân bón hóa học và thuộc bảo vệ thực vật để bảo đảm năng suất và sản lượng cây trồng Khi thuộc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học được sử dụng bừa bãi, quá mức và không kiểm soát được như
sử dụng thuộc quá liều lượng về nồng động và số lần phun xịt, thuốc không đúng chủng loại thì nguy cơ ô nhiễm rất cao và làm suy giảm nguồn cá, nguồn động vật hoang dã đáng kể Nguy cơ cao còn liên quan đến người nông dân khi họ không
áp dụng đúng các khuyến cáo khi sử dụng nông dược, thiếu trang bị bảo hộ cần thiết và thói quen vứt bừa bãi bai bì, chai lọ, thuốc bảo vệ thực vật ra môi trường như một loại rác thải thông thường (Hình 18), chủ yếu là kênh rạch, bờ sông, bờ ruộng không hiểu hết được hậu quả độc hại của nông dược và hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái Có thể nói việc sử dụng quá mức, không hợp lý nông dược và hóa chất nông nghiệp ở vùng ĐBSCL hiện đang ở mức báo động
Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi
33 Báo Tuổi trẻ (2016) Rác rưởi ngập chợ Nguồn weblink: https://tuoitre.vn/rac-ruoi-ngap-cho-126728.htm
Trang 40- Ảnh: Thanh Xuân (Báo Tuổi trẻ, 2006) 33
2.3.2 Hành vi sử dụng hóa chất, nông dược qua mức trong nông nghiệp
ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn nhất Việt Nam Các hoạt động canh tác thâm canh trên một diện tích lớn và liên tục buộc nông dân phải gia tăng sử dụng các loại phân bón hóa học và thuộc bảo vệ thực vật để bảo đảm năng suất và sản lượng cây trồng Khi thuộc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học được sử dụng bừa bãi, quá mức và không kiểm soát được như
sử dụng thuộc quá liều lượng về nồng động và số lần phun xịt, thuốc không đúng chủng loại thì nguy cơ ô nhiễm rất cao và làm suy giảm nguồn cá, nguồn động vật hoang dã đáng kể Nguy cơ cao còn liên quan đến người nông dân khi họ không
áp dụng đúng các khuyến cáo khi sử dụng nông dược, thiếu trang bị bảo hộ cần thiết và thói quen vứt bừa bãi bai bì, chai lọ, thuốc bảo vệ thực vật ra môi trường như một loại rác thải thông thường (Hình 18), chủ yếu là kênh rạch, bờ sông, bờ ruộng không hiểu hết được hậu quả độc hại của nông dược và hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái Có thể nói việc sử dụng quá mức, không hợp lý nông dược và hóa chất nông nghiệp ở vùng ĐBSCL hiện đang ở mức báo động
Hình 2.11: Các loại thuộc bảo vệ thực vật bị vứt bỏ bừa bãi
33 Báo Tuổi trẻ (2016) Rác rưởi ngập chợ Nguồn weblink: https://tuoitre.vn/rac-ruoi-ngap-cho-126728.htm