BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM NGUYỄN MINH VIỆT NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP GIẢM ỨNG SUẤT NHIỆT CỦA BÊ TÔNG ĐẦM LĂN TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM
NGUYỄN MINH VIỆT
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP GIẢM ỨNG SUẤT NHIỆT
CỦA BÊ TÔNG ĐẦM LĂN TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
THỦY LỢI THỦY ĐIỆN TẠI VIỆT NAM
(Chỉnh sửa sau phản biện kín)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM
NGUYỄN MINH VIỆT
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP GIẢM ỨNG SUẤT NHIỆT
CỦA BÊ TÔNG ĐẦM LĂN TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
THỦY LỢI THỦY ĐIỆN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1 PGS.TS Hoàng Phó Uyên
2 GS.TS Phạm Ngọc Khánh
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận án
Nguyễn Minh Việt
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian thực hiện, với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của
các Thầy và các bạn bè đồng nghiệp, Luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu giải pháp giảm ứng suất nhiệt của bê tông đầm lăn trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện tại Việt Nam” đã hoàn thành
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc, Trung tâm đào tạo và Hợp tác quốc tế, Ban TCHC Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam đã giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho NCS trong thời gian thực hiện Luận án
Xin đặc biệt cám ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Hoàng Phó Uyên, GS.TS Phạm Ngọc Khánh Các Thầy đã tạo điều kiện tốt nhất cho NCS trong quá trình học tập và hoàn thành Luận án
Tác giả chân thành cám ơn các đồng nghiệp và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và thực hiện Luận án
Do năng lực bản thân còn nhiều hạn chế, chắc chắn Luận án không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong các Thầy Cô chỉ bảo, các đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tác giả có thể hoàn thiện, tiếp tục nghiên cứu và phát triển đề tài
Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Minh Việt
Trang 5iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU xii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xiv
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
5.1 Phương pháp lý thuyết 2
5.2 Phương pháp mô hình toán 2
6 Nội dung nghiên cứu 2
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án 3
7.1 Ý nghĩa khoa học 3
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
8 Cấu trúc của luận án 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Bê tông đầm lăn 4
1.2 Tính năng cơ học của BTĐL 4
1.2.1 Cường độ kháng nén của BTĐL 4
1.2.2 Cường độ kháng kéo của BTĐL 5
1.2.3 Mô đun đàn hồi của BTĐL 5
1.2.4 Biến dạng của BTĐL 6
1.2.4.1 Từ biến của BTĐL 6
1.2.4.2 Co ngót của BTĐL 7
1.2.4.3 Giá trị kéo dãn giới hạn của BTĐL 7
1.2.5 Tính năng cơ học của BTĐL theo thời gian 8
1.3 Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới và tại Việt Nam 9
1.3.1 Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới 9
1.3.2 Tình hình xây dựng đập BTĐL tại Việt Nam 11
Trang 6iv
1.4 Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL 13
1.4.1 Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt BTĐL trên thế giới 13
1.4.2 Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt BTĐL tại Việt Nam 13
1.5 Vấn đề nứt do nhiệt đối với đập BTĐL 16
1.6 Vấn đề cần nghiên cứu đặt ra đối với luận án 17
1.7 Kết luận chương 1 17
CHƯƠNG 2 NHIỆT VÀ KHỐNG CHẾ ỨNG SUẤT NHIỆT TRONG ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN 18
2.1 Đặt vấn đề 18
2.2 Nguồn phát sinh nhiệt trong BTĐL 18
2.3 Vấn đề trao đổi nhiệt đối với BTĐL 19
2.3.1 Trao đổi nhiệt bằng dẫn nhiệt 19
2.3.2 Trao đổi nhiệt đối lưu 21
2.3.3 Trao đổi nhiệt bức xạ 22
2.4 Cơ chế nứt do nhiệt trong bê tông khối lớn 23
2.4.1 Nứt bề mặt 23
2.4.2 Nứt xuyên 24
2.5 Yêu cầu khống chế nhiệt cho đập BTĐL 24
2.5.1 Chênh lệch nhiệt độ tại đáy đập 25
2.5.2 Chênh lệch nhiệt độ lớp trên và dưới 26
2.5.3 Chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài 28
2.5.3.1 Ảnh hưởng của chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài 28
2.5.3.2 Thực tế khống chế chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài 29
2.6 Phương pháp giải bài toán nhiệt 30
2.6.1 Các phương pháp giải bài toán nhiệt 30
2.6.1.1 Phương pháp giải tích 30
2.6.1.2 Phương pháp toán tử 31
2.6.1.3 Phương pháp gần đúng 31
2.6.1.4 Lựa chọn phương pháp giải bài toán nhiệt 33
2.6.2 Cơ sở tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt theo phương pháp phần tử hữu hạn 33
2.6.2.1 Các giả thiết 33
Trang 7v
2.6.2.2 Xác định trường nhiệt độ 34
2.6.2.3 Xác định trường ứng suất 36
2.7 Kết luận chương 2 42
CHƯƠNG 3 TÍNH TOÁN NHIỆT VÀ ỨNG SUẤT NHIỆT TRONG ĐẬP BTĐL THEO PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHẦN MỀM ANSYS 43
3.1 Đặt vấn đề 43
3.2 Tính toán nhiệt thủy hóa của vật liệu chất kết dính BTĐL 43
3.3 Tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL trong quá trình thi công bằng ngôn ngữ lập trình tham số (APDL) trong ANSYS 46
3.3.1 Giới thiệu về phần mềm ANSYS 46
3.3.2 Giải bài toán bằng phần mềm ANSYS 47
3.3.3 Công năng phân tích nhiệt bằng phần mềm ANSYS 48
3.3.4 Cơ sở xây dựng bài toán tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL 49
3.3.5 Sơ đồ khối tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTTL 50
3.3.6 Xây dựng bài toán tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTTL 50
3.3.6.1 Mô tả kết cấu đập 50
3.3.6.2 Mô hình hóa kết cấu đập BTĐL 51
3.3.6.3 Xây dựng bài toán tính nhiệt và ứng suất nhiệt trong đập trọng lực BTĐL 51
3.4 Kiểm nghiệm tính toán nhiệt cho đập BTĐL Sơn La 52
3.4.1 Giới thiệu công trình 52
3.4.2 Các chỉ tiêu cơ lý và nhiệt của bê tông và đá nền 53
3.4.3 Các điều kiện biên về nhiệt 54
3.4.4 Tiến độ thi công 55
3.4.5 Kết quả quan trắc nhiệt trong thân đập BTĐL Sơn La 57
3.4.6 Mặt cắt kiểm tra 57
3.4.7 Mô hình tính toán 58
3.4.8 Kết quả tính toán 60
3.4.9 Nhận xét 62
3.5 Kết luận Chương 3 63
Trang 8vi
CHƯƠNG 4 BIỆN PHÁP GIẢM NHIỆT VÀ ỨNG SUẤT NHIỆT ĐẬP BÊ
TÔNG ĐẦM LĂN PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 64
4.1 Đặt vấn đề 64
4.2 Cơ sở phân vùng nghiên cứu 65
4.2.1 Điều kiện tự nhiên 65
4.2.2 Điều kiện nhiệt độ và độ ẩm môi trường 65
4.2.3 Điều kiện nguồn cung ứng vật liệu PGK 68
4.2.4 Phân vùng nghiên cứu 69
4.3 Các tham số cơ bản dùng cho nghiên cứu 69
4.3.1 Các tham số đầu vào cố định 69
4.3.2 Tham số khống chế nứt 71
4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đến ứng suất nhiệt đập BTĐL 71 4.4.1 Cơ sở nghiên cứu 71
4.4.2 Khi nhiệt độ không khí xem là nhiệt độ trung bình năm 71
4.4.3 Khi nhiệt độ không khí thay đổi theo thời gian (ngày) 72
4.4.4 Nhận xét 73
4.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến ứng suất nhiệt đập BTĐL 73
4.5.1 Cơ sở nghiên cứu 73
4.5.2 Kết quả tính toán 74
4.5.3 Nhận xét 75
4.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần khoáng của vật liệu XM đến ứng suất nhiệt đập BTĐL 75
4.6.1 Cơ sở nghiên cứu 75
4.6.2 Kết quả tính toán 76
4.6.3 Nhận xét 81
4.7 Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ đổ bê tông đến ứng suất nhiệt đập BTĐL 82
4.7.1 Cơ sở nghiên cứu 82
4.7.2 Kết quả tính toán 83
4.7.3 Nhận xét 87
4.8 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng PGK đến ứng suất nhiệt đập BTĐL 88
4.8.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng PGK đến nhiệt và ứng suất nhiệt thân đập BTĐL 88
Trang 9vii
4.8.2 Kiến nghị hàm lượng PGK trên tổng lượng chất kết dính cho từng khu vực
90
4.8.3 Nhận xét 92
4.9 Đề xuất giải pháp giảm ứng suất nhiệt BTĐL hợp lý cho từng khu vực 93
4.9.1 Cơ sở đề xuất giải pháp hợp lý 93
4.9.2 Đề xuất giải pháp giảm ứng suất nhiệt hợp lý cho từng khu vực 94
4.9.2.1 Đối với khu vực miền núi phía Bắc 94
4.9.2.2 Đối với khu vực Bắc Trung bộ 95
4.9.2.3 Đối với khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên 96
4.10 Kiểm nghiệm tính toán ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn – Thanh Hóa 98
4.10.1 Giới thiệu công trình 98
4.10.1.1 Giới thiệu công trình 98
4.10.1.2 Các chỉ tiêu cơ lý và nhiệt của bê tông và đá nền 99
4.10.1.3 Các điều kiện biên về nhiệt 100
4.10.1.4 Mặt cắt kiểm tra 101
4.10.2 Kết quả quan trắc nhiệt 102
4.10.3 Tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt đập 104
4.10.3.1 Mô hình tính toán 104
4.10.3.2 Kết quả tính toán 105
4.10.3.3 Nhận xét 106
4.10.4 Giải pháp giảm ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn 107
4.11 Kết luận chương 4 108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
1 Kết luận 111
2 Những đóng góp mới của Luận án 112
3 Kiến nghị 112
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC I: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM THÀNH PHẦN KHOÁNG CỦA MỘT SỐ LOẠI XI MĂNG ĐIỂN HÌNH 119
PHỤ LỤC II: CÁC CHƯƠNG TRÌNH TÍNH TOÁN NHIỆT - ỨNG SUẤT NHIỆT 121
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1 1 Đập BTĐL được xây dựng trên thế giới tính đến năm 2009 [50] 11
Hình 2.1 Ứng suất nhiệt tại bề mặt khối bê tông 23
Hình 2.2 Biến dạng do nhiệt độ & ứng suất do nền kiềm chế của khối bê tông 24
Hình 2.3 Chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài khối đập 28
Hình 2.4 Các phương pháp chính để giải bài toán nhiệt 30
Hình 2.5 Phần tử phẳng sử dụng trong tính toán nhiệt 34
Hình 2.6 Phần tử và chuyển vị nút của phần tử tứ giác và tam giác 38
Hình 3.1 Hệ số ảnh hưởng của hàm lượng C3A + C3S đến nhiệt thủy hóa của XM 46
Hình 3.2 Phần tử sử dụng cho phân tích nhiệt - ứng suất (PLANE55 – PLANE182) 48 Hình 3 3 Điều kiện biên nhiệt 49
Hình 3.4 Sơ đồ khối tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL 50
Hình 3.5 Mặt cắt ngang đập trọng lực BTĐL 51
Hình 3 6 Sự phát triển cường độ kháng nén, kéo theo thời gian của BTĐL Sơn La 53
Hình 3 7 Sự phát triển mô đun đàn hồi theo thời gian của BTĐL Sơn La 53
Hình 3.8 Tiến độ thi công đập 56
Hình 3.9 Nhiệt độ quan trắc tại cao trình +114,0 m 57
Hình 3.10 Mặt cắt tính toán 58
Hình 3.11 Mô hình hình học đập và nền 59
Hình 3.12 Mô hình PTHH đập làm việc đồng thời với nền 59
Hình 3.13 Trường nhiệt độ lớn nhất trong thân đập 60
Hình 3.14 Diễn biến nhiệt độ tại cao trình +114,0 m theo thời gian 61
Hình 3.15 Trường ứng suất chính lớn nhất trong thân đập 61
Hình 3.16 Ứng suất chính lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập 62
Hình 3.17 So sánh nhiệt độ tính toán và thực đo tại cao trình +114,0 m 62
Hình 4.1 Các đập lớn đã, đang và sẽ xây dựng ở Việt Nam 65
Hình 4.2 Diễn biến nhiệt độ khu vực miền núi phía Bắc 67
Hình 4.3 Diễn biến nhiệt độ khu vực Bắc Trung bộ 68
Hình 4.4 Diễn biến nhiệt độ khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên 68
Hình 4.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đến nhiệt độ tại biên khối đổ 71
Trang 11ix
Hình 4.6 Ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến tỏa nhiệt đối lưu bê tông - không khí 74
Hình 4 7 Ảnh hưởng của thành phần khoáng XM đến nhiệt thủy hóa BTĐL 76
Hình 4.8 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM và nhiệt độ lớn nhất trong thân đập 77
Hình 4.9 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên thượng lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 77
Hình 4.10 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên hạ lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 78
Hình 4.11 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM và nhiệt độ lớn nhất trong thân đập 79
Hình 4.12 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên thượng lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 79
Hình 4 13 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên hạ lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 80
Hình 4.14 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM và nhiệt độ lớn nhất trong thân đập 80
Hình 4.15 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên thượng lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 81
Hình 4.16 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên hạ lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 81
Hình 4 17 Ảnh hưởng của nhiệt độ ban đầu của bê tông Tp tại khối đổ đến nhiệt thủy hóa BTĐL 82
Hình 4.18 Biểu đồ quan hệ giữa nhiệt độ đổ bê tông và nhiệt độ lớn nhất trong thân đập 83
Hình 4.19 Biểu đồ quan hệ giữa nhiệt độ đổ bê tông với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên thượng lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 84
Hình 4.20 Biểu đồ quan hệ giữa nhiệt độ đổ bê tông với ứng suất chính lớn nhất tại mép biên hạ lưu đập tại các cao độ so với đáy đập 84
Hình 4.21 Biểu đồ quan hệ giữa nhiệt độ đổ bê tông và nhiệt độ lớn nhất trong thân đập 85
Trang 12Hình 4.35 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM và hàm lượng PGK trên tổng lượng CKD với ứng suất chính lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập khu vực Bắc Trung bộ 95
Trang 13xi
Hình 4.36 Biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng khoáng C3A + C3S của XM và hàm lượng PGK trên tổng lượng CKD với ứng suất chính lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập
khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên 97
Hình 4.37 Đập BTĐL Trung Sơn đang trong quá trình thi công 98
Hình 4.38 Sự phát triển cường độ kháng kéo và kháng nén của BTĐL theo thời gian 99
Hình 4.39 Mặt cắt kiểm tra 102
Hình 4.40 Vị trí quan trắc nhiệt và ứng suất trong thân đập 103
Hình 4.41 Giá trị đo nhiệt độ trong quá trình theo dõi tại vị trí điểm đo PT64 104
Hình 4.42 Mô hình hình học đập và nền 104
Hình 4.43 Mô hình PTHH đập làm việc đồng thời với nền 105
Hình 4.44 Trường nhiệt độ lớn nhất trong thân đập 105
Hình 4.45 Trường ứng suất nhiệt trong thân đập 106
Hình 4.46 Ứng suất chính lớn nhất tại mặt thượng và hạ lưu đập 106
Hình 4.47 Trường ứng suất chính lớn nhất trong thân đập với giải pháp kiến nghị 107
Hình 4.48 Ứng suất chính lớn nhất tại mặt thượng hạ lưu đập với giải pháp kiến nghị 108
Trang 14xii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các đập BTĐL đã và đang được xây dựng ở Việt Nam [34] 12
Bảng 1.2 Nhiệt độ bê tông tại các khối đổ sử dụng Puzơlan 14
Bảng 2 1 Nhiệt thủy hóa của các thành phần khoáng có trong XM (J/g) 19
Bảng 2 2 Tỉ lệ thành phần khoáng có trong XM thông thường (%) 19
Bảng 2 3 Chênh lệch nhiệt độ cho phép (oC) 25
Bảng 4.1 Bảng đặc trưng độ ẩm tương đối các trạm đại diện cho các vùng (%) 66
Bảng 4 2 Thống kê một số công trình ở Việt Nam sử dụng PGK 68
Bảng 4 3 Các tham số cơ bản dùng trong nghiên cứu 70
Bảng 4 4 Bảng tổng hợp kết quả tính toán nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong thân đập theo nhiệt độ không khí trung bình năm 72
Bảng 4 5 Bảng tổng hợp kết quả tính toán nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong thân đập khi nhiệt độ không khí thay đổi theo ngày 72
Bảng 4 6 Bảng tổng hợp kết quả tính toán nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong thân đập theo độ ẩm không khí thay đổi 74
Bảng 4 7 Bảng tổng hợp kết quả nhiệt độ và ứng suất trong thân đập khi thay đổi hàm lượng khoáng C3A + C3S trong XM tại khu vực miền núi phía Bắc 76
Bảng 4 8 Bảng tổng hợp kết quả nhiệt độ và ứng suất trong thân đập khi thay đổi hàm lượng khoáng C3A + C3S trong XM tại khu vực Bắc Trung bộ 78
Bảng 4 9 Bảng tổng hợp kết quả nhiệt độ và ứng suất trong thân đập khi thay đổi hàm lượng khoáng C3A + C3S trong XM tại khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên 80
Bảng 4 10 Bảng tổng hợp kết quả nhiệt độ và ứng suất trong thân đập khi thay đổi nhiệt độ đổ bê tông tại khu vực miền núi phía Bắc 83
Bảng 4.11 Bảng tổng hợp kết quả nhiệt độ và ứng suất trong thân đập khi thay đổi nhiệt độ đổ bê tông tại khu vực Bắc Trung bộ 84
Bảng 4.12 Bảng tổng hợp kết quả nhiệt độ và ứng suất trong thân đập khi thay đổi nhiệt độ đổ bê tông tại khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên 86
Bảng 4 13 Bảng tổng hợp kết quả nhiệt độ và ứng suất trong thân đập ứng với các hàm lượng PGK khác nhau 88
Bảng 4 14 Bảng kiến nghị hàm lượng PGK đối với từng khu vực 92
Trang 15xiii
Bảng 4 15 Bảng kiến nghị giải pháp tổng thể giảm ứng suất nhiệt cho từng vùng để
đảm bảo BTĐL không nứt 96
Bảng 4.16 Các chỉ tiêu về nhiệt của BTĐL đập Trung Sơn 99
Bảng 4.17 Các chỉ tiêu về nhiệt của đá nền 100
Bảng 4.18 Hệ số truyền nhiệt đối lưu 100
Bảng 4.19 Nhiệt độ không khí trung bình tháng tại khu vực thi công công trình 101
Bảng 4.20 Nhiệt độ ban đầu của môi trường 101
Bảng 4.21 Bảng tổng hợp kết quả tính toán nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong thân đập 106
Bảng 4 22 Bảng tổng hợp kết quả tính toán nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong thân đập với giải pháp kiến nghị 108
Trang 16xiv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACI American Concrete Institute (Viện bê tông Hoa Kỳ)
APDL ANSYS Parametric Design Language (Ngôn ngữ thiết kế tham số hóa
trong ANSYS ASTM American Society for Testing and Materials (Hội Thí nghiệm vật liệu
Hoa Kỳ) BTĐL Bê tông đầm lăn
BTTL Bê tông trọng lực
BTKL Bê tông khối lớn
CX Ký hiệu tổng hàm lượng khoáng C3A+C3S có trong xi măng
CIRIA Construction Industry Research and Information Association (Hiệp hội
Nghiên cứu và Thông tin công nghiệp xây dựng)
CKD Chất kết dính
CVC Bê tông truyền thống
F Ký hiệu hàm lượng trộn phụ gia khoáng có trong chất kết dính
GUI Graphical User Interface (Giao diện người dùng đồ họa)
ICOLD International Commission on Large Dams (Hội đập lớn thế giới)
Trang 17xv
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
RCC Roller Compacted Concrete (Bê tông đầm lăn)
RCCD Roller Compacted Concrete Dam (Đập bê tông đầm lăn)
RCD Roller Compacted Dams (Đập đầm lăn)
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TVTK Tư vấn thiết kế
USACE United States Army Corps of Engineers (Công binh lục quân Hoa Kỳ)
USBR United States Bureau of Reclamation (Cục khai hoang Hoa Kỳ)
XM/CKD Hàm lượng xi măng trong tổng lượng chất kết dính
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Bê tông đầm lăn (BTĐL) là loại bê tông sử dụng các nguyên liệu tương tự như bê tông truyền thống (CVC) Tuy nhiên bê tông CVC được đầm chặt bằng thiết bị rung đưa vào trong lòng khối đổ, BTĐL được làm chặt bằng thiết bị lu rung lèn như thi công đất BTĐL là loại bê tông khô, không có độ sụt và có lượng dùng xi măng (XM) rất thấp, thường chỉ từ 60 đến 100 kg cho 1 m3 Lượng XM còn lại so với CVC trong BTĐL được thay thế bằng phụ gia khoáng (PGK) hoạt tính nghiền mịn Với ưu điểm thi công nhanh, giá thành hạ, giảm chi phí cho các kết cấu phụ trợ, giảm chi phí cho biện pháp thi công, BTĐL đã được ứng dụng tương đối phổ biến trong xây dựng các đập trọng lực công trình thủy lợi, thủy điện ở Việt Nam Các đập BTĐL xây dựng tại Việt Nam được thiết kế và thi công dựa theo kinh nghiệm hay các tài liệu hướng dẫn của Mỹ, Trung Quốc Các đặc trưng cơ lý, nhiệt của BTĐL như: cường độ kháng nén, cường độ kháng kéo, biến dạng, hệ số dãn nở nhiệt, dẫn nhiệt,… đều lấy theo tiêu chuẩn của nước ngoài vì chúng ta chưa có tiêu chuẩn riêng và chưa có nhiều công trình tương tự Nhiều công trình sử dụng BTĐL đã xảy ra nứt, kể cả công trình lớn như đập thủy điện Sơn La Có rất nhiều nguyên nhân gây ra nứt, nhưng đa phần vẫn là nứt do nhiệt trong quá trình nhiệt thủy hóa vật liệu chất kết dính (CKD) của BTĐL Các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và các tài liệu hướng dẫn, tiêu chuẩn thiết kế cũng chủ yếu tập trung vào việc khống chế ứng suất do nhiệt Tuy nhiên việc khống chế này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ môi trường, cung ứng vật liệu, công nghệ thi công và mang tính chất đặc thù của địa phương vì vậy khó có một đáp
án chung cho tất cả các đập BTĐL nên việc ứng dụng các thành quả nghiên cứu trên
thế giới về BTĐL mà đập vẫn xảy ra nứt là điều dễ hiểu Đề tài “Nghiên cứu giải pháp giảm ứng suất nhiệt của bê tông đầm lăn trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện tại Việt nam” là một trong những vấn đề cần thiết và bức xúc, đề tài mang
tính thời sự và có ý nghĩa thực tiễn cao Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở
để áp dụng thiết kế, thi công đập BTĐL an toàn và kinh tế, phù hợp với điều kiện Việt Nam
Trang 193 Đối tượng nghiên cứu
Đập BTĐL đã và đang xây dựng tại Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố về vật liệu, thi công và điều kiện tự nhiên đến ứng suất nhiệt của BTĐL trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp lý thuyết
Trên cơ sở phân tích lý thuyết truyền nhiệt, lý thuyết đàn hồi nhiệt trong công trình bê tông và phương pháp tính để lựa chọn phương pháp giải bài toán nhiệt đạt độ chính xác yêu cầu
5.2 Phương pháp mô hình toán
Sử dụng mô hình toán để đánh giá xu thế và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ứng suất nhiệt đập BTĐL thông qua giả thiết các kịch bản đầu vào
6 Nội dung nghiên cứu
Điều chỉnh phương trình nhiệt thủy hóa vật liệu CKD của BTĐL có xét đến ảnh hưởng của hàm lượng PGK và thành phần khoáng của XM được sản xuất tại Việt Nam Xây dựng bài toán xác định trường nhiệt độ, trường ứng suất nhiệt trong phần mềm ANSYS có xét đến các nhân tố ảnh hưởng này
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ và độ ẩm môi trường, hàm lượng khoáng của XM, nhiệt độ đổ bê tông, hàm lượng PGK đến ứng suất nhiệt đập BTĐL
Trang 20Kiến nghị giải pháp giảm ứng suất nhiệt đập BTĐL phù hợp với từng khu vực đặc thù của Việt Nam
Ứng dụng kết quả nghiên cứu của luận án tính toán thử vào cho đập BTĐL Trung Sơn – Thanh Hóa
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
8 Cấu trúc của luận án
Luận án bao gồm: Phần mở đầu, 4 Chương, Kết luận và kiến nghị; 66 tài liệu tham khảo, 04 tài liệu tác giả đã công bố Nội dung chính của luận án được trình bày trong
118 trang và phụ lục với 72 hình vẽ và 27 bảng
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1.1 Bê tông đầm lăn
BTĐL là loại bê tông không có độ sụt được tạo bởi hỗn hợp bao gồm cốt liệu nhỏ (cát thiên nhiên hoặc cát nghiền), cốt liệu lớn (đá dăm), chất kết dính (XM, PGK hoạt tính nghiền mịn), nước và phụ gia hóa học Sau khi trộn đều, vận chuyển, san rải hỗn hợp được đầm chặt theo yêu cầu của thiết kế bằng thiết bị đầm lăn [43]
Công nghệ xây dựng BTĐL có ưu điểm là thi công nhanh, hạ giá thành và giảm chi phí cho công trình tạm phục vụ dẫn dòng thi công Thực tiễn cho thấy do giảm hàm lượng XM/CKD nên nhiệt thủy hóa của BTĐL giảm hơn so với CVC nhưng lại có tốc
độ nhiệt thủy hóa chậm hơn Tuy nhiên BTĐL lại tồn tại vấn đề là tính chống thấm kém và được coi là vật liệu không đẳng hướng do đầm nén lớp mỏng Vì vậy, ở nhiều nước người ta sử dụng BTĐL làm lõi đập, bao bọc xung quanh là lớp vỏ bê tông thường chống thấm dày 2÷3 m hoặc sử dụng BTĐL có tính chống thấm cao và thi công trên toàn mặt cắt [4][5]
1.2 Tính năng cơ học của BTĐL
1.2.1 Cường độ kháng nén của BTĐL
Cường độ kháng nén là tính chất quan trọng nhất của bê tông nói chung và BTĐL nói riêng và thường được xem xét đầu tiên Giá trị cường độ kháng nén của BTĐL (fc) được xác định thông qua thí nghiệm nén mẫu với hình dạng, kích thước, ngày tuổi không thống nhất giữa các nước Ngoài ra giá trị cường độ kháng nén của BTĐL còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính chất vật liệu CKD, tỉ lệ nước trên chất kết dính (N/CKD), hàm lượng trộn phụ gia khoáng trong chất kết dính (PGK/CKD), cường độ
và độ sạch cốt liệu, điều kiện bảo dưỡng bê tông
Theo một nghiên cứu của Trung Quốc [14], cường độ kháng nén của BTĐL tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày được xác định theo công thức (1.1) và (1.2):
c28
f 19,459CKD / N-0,147PGK/CKD-11,681 (MPa) (1.1)
Trang 22f 19,326CKD / N-0,333PGK/CKD+5,968 (MPa) (1.2)
Từ công thức trên có thể thấy rằng cường độ kháng nén của BTĐL giảm khi hàm lượng trộn PGK/CKD tăng lên
1.2.2 Cường độ kháng kéo của BTĐL
Giá trị cường độ kháng kéo của BTĐL (ft) có thể xác định trực tiếp thông qua thí nghiệm kéo mẫu hoặc tính toán theo công thức kinh nghiệm từ giá trị cường độ kháng nén Cường độ kháng kéo của BTĐL mặc dù có liên quan với chủng loại và cấp phối vật liệu nhưng nói chung tăng lên khi cường độ kháng nén của BTĐL tăng lên Cường
độ kháng kéo của BTĐL tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày được xác định theo công thức (1.3) và (1.4) [14]:
t28 c28
t90 c90
1.2.3 Mô đun đàn hồi của BTĐL
Mô đun đàn hồi của BTĐL (Ec) là tham số quan trọng khi tính toán phân bố ứng suất trong kết cấu đập BTĐL Do thí nghiệm xác định mô đun đàn hồi tương đối khó, nói chung đều được xác định thông qua cường độ kháng nén của BTĐL Công thức kinh nghiệm xác định mô đun đàn hồi đều đưa ra từ kết quả thống kê thực nghiệm Đối với
bê tông nói chung các quốc gia khác nhau có công thức xác định khác nhau, ví dụ: Quy phạm Trung Quốc [29]: c
Quy phạm ACI của Mỹ [41]: Ec 4,73 fc (GPa) (1.6)
Tiêu chuẩn BS8110 của Anh [46]: c c
Trang 23Theo TCXDVN 356-2005 [32] giá trị của Ec phụ thuộc vào cấp độ bền chịu nén của bê tông và trong khoảng từ (21 ~ 40) 103 MPa
Do cường độ kháng nén của BTĐL phụ thuộc tỉ lệ N/CKD và hàm lượng PGK/CKD,
vì vậy mô đun đàn hồi của BTĐL tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày có thể được xác định theo công thức (1.9) và (1.10) [14]:
1.2.4.1 Từ biến của BTĐL
Khi kết cấu BTĐL chịu tác dụng của tải trọng không đổi trong thời gian dài, biến dạng BTĐL tăng lên theo thời gian được gọi là từ biến Thời kỳ đầu gia tải, từ biến của BTĐL tăng lên khá nhanh sau đó dần dần giảm xuống, một vài năm sau tăng lên rất chậm BTĐL sau khi dỡ tải, một phần biến dạng hồi phục tức thời, biến dạng này nhỏ hơn biến dạng đàn hồi phát sinh khi gia tải ban đầu Trong một khoảng thời gian sau khi dỡ tải, biến dạng vẫn có thể tiếp tục hồi phục gọi là hồi phục từ biến Biến dạng không có khả năng hồi phục gọi là biến dạng dư
BTĐL bất kể là chịu nén, chịu kéo hoặc chịu uốn đều có hiện tượng từ biến, nguyên nhân phát sinh từ biến nói chung là do tính bám dính của cốt liệu đá và XM dưới tác dụng của tải trọng trong một thời gian dài bị nới lỏng Biến dạng do từ biến dưới tác dụng của đơn vị ứng suất gọi là độ từ biến, thông thường khoảng (10~300)10-6 MPa
Trang 24Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến giá trị từ biến như chủng loại XM, tính chất cốt liệu, tỉ lệ N/XM, tỉ lệ vữa, chất phụ gia cùng với ngày tuổi bê tông khi gia tải, giá trị ứng suất, thời gian duy trì tải trọng, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường, hình dạng và kích thước kết cấu, v.v…
1.2.4.2 Co ngót của BTĐL
Khi BTĐL rắn chắc trong không khí, thể tích của nó có thể giảm nhỏ, hiện tượng này gọi là co ngót Co ngót là biến dạng phát sinh do thể tích thay đổi mà bê tông không chịu ngoại lực Thông thường cho rằng co ngót bê tông là do thể tích bản thân khối kết dính bị co ngót và bê tông co ngót thể tích do mất nước Thời kỳ đầu co ngót phát triển rất nhanh, sau đó dần dần chậm lại, tổng thể quá trình co ngót có thể kéo dài 2 năm trở lên Khi BTĐL không thể tự do co ngót, trong bê tông phát sinh ứng suất kéo dẫn đến phá hoại nứt
Nhân tố ảnh hưởng đến co ngót của BTĐL chủ yếu có nhiệt độ và độ ẩm môi trường xung quanh, hình dạng và kích thước mặt cắt cấu kiện, tỉ lệ cấp phối, tính chất cốt liệu, tính chất XM, điều kiện bảo dưỡng nên tính toán chính xác co ngót bê tông rất khó khăn
1.2.4.3 Giá trị kéo dãn giới hạn của BTĐL
Giá trị kéo dãn giới hạn của BTĐL (p) tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày có liên quan đến cường độ kháng kéo của BTĐL có thể được xác định theo công thức (1.11) và (1.12) dưới đây [14]:
Trang 251.2.5 Tính năng cơ học của BTĐL theo thời gian
Quan hệ ứng suất - biến dạng của vật liệu BTĐL là biểu thức toán học miêu tả quy luật vận động và quan hệ giữa lực, nhiệt độ, biến dạng, v.v… của nội bộ kết cấu trong không gian và thời gian
BTĐL là vật liệu hỗn hợp được tạo thành từ XM, PGK, cốt liệu thô, cốt liệu mịn và nước Khi mới hình thành, trong bê tông đã tồn tại các khuyết tật như các lỗ rỗng, vết nứt nhỏ, v.v Dưới tác dụng của tải trọng ngoài, do tập trung ứng suất tại các khuyết tật nên chúng dần dần phát triển, từ đó dẫn đến quan hệ ứng suất - biến dạng của phần
tử cốt liệu từng bước đi chệch quan hệ tuyến tính và xuất hiện đặc tính cơ bản của phi tuyến tính Đồng thời do các thành phần vật liệu bê tông có đặc trưng phân bố ngẫu nhiên, vì vậy bất kể là phân bố khuyết tật ban đầu hay là quá trình diễn biến khuyết tật
về sau đều không thể ngăn ngừa đặc trưng ngẫu nhiên sẵn có của bê tông Phi tuyến tính và ngẫu nhiên là hai đặc trưng cơ bản của quan hệ ứng suất - biến dạng bê tông Hiện nay quan hệ ứng suất - biến dạng của vật liệu bê tông nói chung và BTĐL nói riêng có thể phân thành mấy nhóm mô hình sau [42][48]:
- Mô hình cơ học đàn hồi tuyến tính và phi tuyến tính;
- Mô hình cơ học tính dẻo;
- Mô hình cơ học phá hủy
Do tính phức tạp của vật liệu BTĐL, hiện nay vẫn chưa có một mô hình vật liệu BTĐL duy nhất được mọi người công nhận Nói chung căn cứ vào đặc điểm chịu lực, phạm
vi ứng suất và độ chính xác tính toán, v.v của kết cấu phân tích để lựa chọn mô hình thích hợp Đương nhiên để xác định chính xác cần phải tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để xác lập các hàm biểu diễn quá trình phát triển các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL theo thời gian ứng với cấp phối được lựa chọn tối ưu cho từng công trình cụ thể
Trang 261.3 Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới
Trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến 1970 có những cách sử dụng vật liệu có thể coi là tiền đề của BTĐL Cụ thể, năm 1961 hỗn hợp bê tông không độ sụt được rải bằng xe ủi đã áp dụng cho đập Alpe Gera tại Italia và đập Manicongan ở Canada Hỗn hợp bê tông được đầm chặt bằng các loại đầm dùi gắn sau máy ủi hoặc đầm chặt bằng máy ủi [43] Cũng trong năm 1961 hỗn hợp cát đá trộn với XM được rải và đầm bằng các thiết bị thi công đập đất để xây dựng tường quây của đập Thanh Môn, Đài Loan [4] Tuy nhiên BTĐL chỉ thực sự được chú ý khi giáo sư Raphael trình bày báo cáo
“Đập trọng lực tối ưu” vào năm 1970 [57], trong đó nêu ra phương pháp thi công
nhanh đập BTTL bằng cách sử dụng thiết bị đắp đập đất và một số công trình ở Mỹ đã đưa vào nghiên cứu BTĐL trong phòng và nghiên cứu thiết kế thử nghiệm trên hiện trường Những nỗ lực trên tạo nền tảng cho việc xây dựng đập BTĐL đầu tiên trong những năm 1980
Từ 1972 đến 1974, Cannon R.W [47] đã có những đóng góp đáng kể về nghiên cứu BTĐL Kết quả thí nghiệm đã đưa ra khái niệm bê tông nghèo XM, vận chuyển bằng ô
tô, san gạt bằng xe ủi và đầm bằng lu rung Sau đó Hiệp hội kỹ sư quân đội Hoa Kỳ (USACE) đã thi công các lô bê tông thử nghiệm ở đập Lost Creek năm 1977 Năm
1980, lần đầu tiên Mỹ sử dụng BTĐL để xây dựng đập Willow Creek, bang Oregon Đập cao 52 m, dài 543 m, khối lượng BTĐL 331.000 m3 Đến 1999, tại Mỹ có hàng chục đập BTĐL
Ở Anh, Dunstan bắt đầu nghiên cứu tích cực trong phòng thí nghiệm về BTĐL trong những năm 1970 [43] Tiếp đó, Hiệp hội nghiên cứu và thông tin công nghiệp xây dựng (CIRIA) của Anh đã tiến hành dự án nghiên cứu rộng về BTĐL có sử dụng tro bay với hàm lượng lớn Các kết quả nghiên cứu được đưa ra thử nghiệm ở trạm xử lý nước Tamara - Coruwall (1976) và thử nghiệm tại công trình đập Wimbledall (1979)
Ý tưởng về sử dụng BTĐL có hàm lượng lớn tro bay sau này được Cục khai hoang Mỹ (USBR) sử dụng làm cơ sở cho việc thiết kế đập Upper Stillwater cao 90 m, dài 815
m, khối lượng BTĐL 1.125.000 m3 Đặc điểm của công nghệ BTĐL của Mỹ (thường gọi là RCC) là thiên về sử dụng BTĐL nghèo XM (hàm lượng CKD dưới 100 kg/m3)
Trang 27Để chống thấm cho đập, thường sử dụng kết cấu tường bê tông thượng lưu bằng bê tông thường đúc sẵn lắp ghép hoặc đổ tại chỗ bằng cốp pha trượt, kèm theo màng chống thấm bằng vật liệu hữu cơ
Năm 1974, các kỹ sư Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu sử dụng BTĐL với mục đích rút ngắn thời gian thi công và hạ giá thành công trình đập bê tông Công trình đập BTĐL đầu tiên của Nhật là Shimajigawa, cao 89 m, dài 240 m, khối lượng BTĐL 165.000 m3trong tổng số 317.000 m3 của bê tông đập Đến cuối 1992 đã có 30 đập BTĐL được thi công ở Nhật
Đến nay Nhật Bản đã hình thành trường phái BTĐL gọi là RCD gồm thiết kế mặt cắt đập, tính toán thành phần bê tông, công nghệ thi công và khống chế nhiệt độ đập Đặc
điểm của phương pháp RCD là sử dụng kết cấu “vàng bọc bạc” Lõi đập là BTĐL, vỏ
đập bao bọc bằng bê tông thường chống thấm cao
Năm 1980, Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu áp dụng công nghệ BTĐL Mặc dù áp dụng công nghệ BTĐL tương đối muộn nhưng Trung Quốc là nước có tốc độ phát triển công nghệ này rất nhanh Sau khi xây dựng xong đập BTĐL đầu tiên vào năm
1986 (đập Khanh Khẩu), Trung Quốc bước vào cao trào xây dựng đập BTĐL Hiện nay đập BTĐL của Trung Quốc nói chung về mặt số lượng, chất lượng, chiều cao, kỹ thuật đều đứng hàng đầu thế giới Các chuyên gia Trung Quốc đã xây dựng tương đối hoàn chỉnh trường phái công nghệ BTĐL của mình tên gọi RCCD Phương pháp này gồm thiết kế mặt cắt đập, quy trình thiết kế, chọn vật liệu và thi công, quy trình thử nghiệm kiểm tra BTĐL tại hiện trường
Theo thống kê của Hội đập lớn thế giới (ICOLD), tính đến năm 2009, Châu Á có số lượng đập BTĐL nhiều nhất (52,8%,), tiếp đó là Châu Mỹ (25,6%), xem hình 1.1[50] Theo tạp chí HydroWord có trên 650 đập BTĐL đã được xây dựng trên toàn thế giới, Trung Quốc là nước dẫn đầu về số lượng đập BTĐL với 165 đập (2012) trong đó có
40 đập cao trên 100 m, sau đó là Nhật, Mỹ, Braxin và Tây Ban Nha
Trang 28Hình 1.1 Đập BTĐL được xây dựng trên thế giới tính đến năm 2009 [50]
Cho tới nay, đập BTĐL được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới, ở nơi có nhiệt độ môi trường từ rất thấp cho đến rất cao và cả những vùng có mưa lũ lớn Trước đây, đập BTĐL sử dụng BTĐL nghèo CKD được sử dụng tại một số đập cao dưới 60 m ở
Mỹ Ngày nay, các đập BTĐL được xây dựng trên thế giới chủ yếu sử dụng BTĐL có lượng CKD trung bình và giàu CKD như các nước Tây Âu, Trung Quốc, Nhật Bản
1.3.2 Tình hình xây dựng đập BTĐL tại Việt Nam
Từ những năm 1990 Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu ứng dụng BTĐL Năm 1990 Viện Khoa học Thủy lợi đã nghiên cứu PGK cho BTĐL, ngày 16/10/1995 Bộ Thủy lợi (cũ) ra quyết định số 1570 QĐ/QLXD phê duyệt nghiên cứu khả thi công trình thủy lợi Tân Giang (Ninh Thuận) thống nhất phương án công trình đầu mối là đập BTTL Trên
cơ sở quyết định số 1570 QĐ/QLXD, Công ty cổ phần tư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu thiết kế đập Tân Giang theo hai phương án BTTL truyền thống và BTĐL Đây là lần đầu tiên BTĐL được nghiên cứu vào công trình thực tế ở Việt Nam Ngày 20/9/1997 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra quyết định số
2425 NN/ĐTXD/QĐ phê duyệt đập đầu mối công trình Tân Giang là đập BTĐL Do nhiều lý do, khi thi công, đập Tân Giang được chỉnh thành đập CVC và đã thi công hoàn thành vào năm 2003 Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu thiết kế đập BTĐL Tân Giang đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu về thiết kế đập BTĐL, sử dụng tro bay và phụ gia
Công trình đập BTĐL xây dựng đầu tiên của Việt Nam là đập thủy điện Pleikrông tại tỉnh Kon Tum với chiều cao 71 m được thiết kế bởi công ty cổ phần Tư vấn xây dựng
Trang 29điện 1, công trình khởi công năm 2003, đã hoàn thành vào năm 2009 Tiếp đó hàng loạt công trình đập thủy điện được xây dựng bằng BTĐL như thủy điện Bản Vẽ, hồ chứa nước Định Bình, công trình thủy điện Sê San 4, công trình thủy điện A Vương, thủy điện Sơn La Tính đến nay đã có trên 20 đập BTĐL đã và đang được xây dựng tại Việt Nam (xem bảng 1.1)
Bảng 1.1 Các đập BTĐL đã và đang được xây dựng ở Việt Nam [34]
TT Tên công trình Chiều cao (m) Địa điểm XD Ghi chú
Trang 301.4 Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL
1.4.1 Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt BTĐL trên thế giới
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của nhiệt và ứng suất do nhiệt đối với đập BTĐL nên từ những năm 80 của thế kỷ 20 đã có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu về vấn
đề này Điển hình có nghiên cứu của Barret và Tatro (1992) [45][58] đã đề xuất
phương pháp phân tích nhiệt và ứng suất cho đập BTĐL Các tác giả đã mô tả kỹ thuật phân tích dựa trên phần tử hữu hạn để đánh giá các tác động của nhiệt độ, từ biến và
co ngót trong thi công đập BTĐL Về sau này các nghiên cứu chủ yếu là kiểm soát nhiệt độ và ứng suất nhiệt đập BTĐL hoặc ứng dụng cho một công trình cụ thể [51][52][54][56][61][63][65][66]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt BTĐL tại Việt Nam
Công tác nghiên cứu về BTĐL tại Việt Nam trong thời gian qua đã có những tiến bộ nhất định đặc biệt trong các vấn đề như nghiên cứu thiết kế chế tạo cấp phối BTĐL, nghiên cứu sử dụng PGK tro bay nhiệt điện và Puzơlan thiên nhiên, nghiên cứu chống thấm cho BTĐL, nghiên cứu công nghệ thi công,v.v Vấn đề nhiệt và ứng suất nhiệt trong quá trình thi công BTĐL cũng đã có nhiều tác giả trong nước nghiên cứu, điển
hình như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Như Quý và cộng sự [27] về nhiệt độ cách
nhiệt trong BTĐL Với cấp phối bê tông đối chứng không sử dụng tro bay có ΔT = 24,9°C, trong đó cấp phối sử dụng 65 kg XM + 100 kg (120 kg) tro bay có ΔT = 8,l°C, cấp phối bê tông sử dụng 85 kg XM + 100 kg (120 kg) tro bay có ΔT = 12,7°C Khi sử dụng tro bay cho phép giảm nhiệt độ cách nhiệt của BTĐL nói riêng và BTKL nói
chung một cách có hiệu quả; Nguyễn Tiến Đích [13] đã đề cập đến công tác bê tông
trong điều kiện khí hậu nóng ẩm Việt Nam và đưa ra khuyến cáo về nhiệt cho BTKL;
Đỗ Hồng Hải [15] nghiên cứu sử dụng Puzơlan Long Phước tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
để chế tạo BTKL đập Lòng Sông Trong nghiên cứu đã sử dụng Puzơlan Long Phước
và tro bay đến 35% khối lượng CKD Kết quả đo nhiệt độ bê tông trong khối đổ sử dụng Puzơlan và tro bay được nêu trong bảng 1.2 Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể thay thế tro bay bằng Puzơlan thiên nhiên nghiền mịn trộn ở tỷ lệ 35,4 ~ 40% để sản xuất XM ít tỏa nhiệt dùng cho đập bê tông trọng lực, phù hợp với tiêu chuẩn TCVN 6069:2007
Trang 31Bảng 1.2 Nhiệt độ bê tông tại các khối đổ sử dụng Puzơlan
oC sau đổ
2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24 35% Puzơlan
Long Phước 43 50,5 48 47 46 44 42 40 39 38,5 37,5 37 35% tro bay
Phả Lại 45 50 47 46 45 43 41 39 38,5 38 37 36,5
Các nghiên cứu của tác giả Lê Quang Hùng và Nguyễn Quang Hiệp [17][19] về sử
dụng tro bay làm PGK cho chế tạo BTĐL cho đập và mặt đường Đối với BTĐL làm đường có cường độ kháng nén từ 30~50 MPa ở tuổi 28 ngày thì tỷ lệ tro bay nên sử dụng từ 10~20% so với khối lượng CKD Với BTĐL làm đập có cường độ kháng nén
từ 15~25 MPa ở tuổi 90-180 ngày thì tỷ lệ tro bay nên sử dụng từ 30~50% so với khối lượng CKD; Khi sử dụng tro bay nhiệt độ bê tông giảm đáng kể (từ ΔT = 25°C xuống còn ΔT = 17°C) Như vậy khi sử dụng tro bay từ 30~50% cho phép tăng tốc độ thi công mà vẫn khống chế được nhiệt độ khối đổ trong phạm vi cho phép
Trong quá trình nghiên cứu thiết kế đập BTĐL Sơn La [7], TVTK chỉ quan tâm đến vấn đề nhiệt và khống chế nhiệt trong quá trình thi công Nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Quang Hùng [20] phục vụ cho tìm nguyên nhân nứt đập Sơn La cũng mới chỉ
xét đến tải trọng do chất tải
Lê Anh Vân, Nguyễn Văn Mạo [24][39] đã nghiên cứu phát triển nhiệt độ, đề xuất một
số giải pháp khống chế nhiệt cho RCCD và thực tiễn ứng dụng ở đập Pleikrông Các giải pháp được đưa ra chủ yếu về phân khe trong quá trình thi công Nghiên cứu của
Đinh Hữu Dụng, Nguyễn Văn Mạo [12] đã phân tích ảnh hưởng của nhiệt độ và các tải
trọng trong quá trình lên đập đến trường ứng suất của đập BTĐL trong quá trình thi công Trong đó xét đến tính chất của vật liệu bê tông thay đổi theo thời gian thi công, các tác động chính được xét đến là tác động đồng thời cả nhiệt và tải trọng sinh ra trong quá trình thi công đập Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở bài toán cụ thể cho đập
BTĐL Sơn La Tác giả Đỗ Văn Lượng [23] đã nghiên cứu về sự phát triển nhiệt độ và
ứng suất nhiệt để ứng dụng vào công nghệ thi công đập bê tông trọng lực ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu góp phần không nhỏ cho việc khống chế ứng suất nhiệt đập BTKL
Trang 32sử dụng CVC, tuy nhiên ứng dụng cho BTĐL sẽ có những khác biệt đáng kể do quá trình nhiệt thủy hóa BTĐL chậm và nhiệt độ lớn nhất giảm hơn so với CVC
Trong nghiên cứu sản xuất BTĐL đã có nhiều nghiên cứu nhằm khống chế nhiệt và ứng suất nhiệt trong BTĐL theo hướng tối ưu hóa cấp phối sử dụng và thực hiện các biện pháp nhằm giảm nhiệt trong quá trình thi công và dưỡng hộ BTĐL Cụ thể:
Nguyễn Trí Trinh: "Nghiên cứu tính toán khống chế nhiệt đập BTĐL Định Bình, tỉnh
Bình Định", đề tài sản xuất thực tế HEC1 2006 [37]; "Nghiên cứu tính toán khống chế nhiệt đập bê tông Phước Hòa, tỉnh Bình Phước", đề tài sản xuất thực tế Viện KHTL,
2008 [38];
Võ Văn Lung, Đặng Quốc Đại, "Nghiên cứu tính toán khống chế nhiệt đập BTĐL
Nước Trong, tỉnh Quảng Ngãi", đề tài sản xuất thực tế HEC-1, 2010 [22];
Công ty TVXD Điện 1: "Nghiên cứu tính toán khống chế nhiệt đập BTĐL Sơn La, tỉnh
Sơn La" [8]; "Nghiên cứu tính toán khống chế nhiệt đập BTĐL Bản Chát, đập BTĐL Lai Châu, tỉnh Lai Châu" [9] [10];
Công ty TVXD Điện 2, "Nghiên cứu tính toán khống chế nhiệt đập BTĐL Đồng Nai 3,
tỉnh Đắk Nông" [11]
Một nghiên cứu gần đây của tác giả Lê Quốc Toàn [35] nghiên cứu ảnh hưởng của một
số chỉ tiêu cơ lý BTĐL đến tiến độ thi công đập bê tông trọng lực ở Việt Nam Tác giả
đã xây dựng được modul số liệu đầu vào trong phần mềm ANSYS tính toán nhiệt trong BTĐL khối lớn để khẳng định các chỉ tiêu cơ lý theo thời gian ảnh hưởng đến tốc độ thi công đập, kiểm định tốc độ thi công hợp lý cho đập BTĐL Đồng Nai 4 Tác giả đã tính toán xác định kịch bản thi công hợp lý với các đập có điều kiện tương tự,
cụ thể là: nhiệt độ ban đầu của hỗn hợp vữa BTĐL (21oC, 23oC và 25oC), chiều dày lớp đổ sau đầm lèn (0,30m), tốc độ đổ BTĐL (số lớp đổ trong 1 đợt đổ: 3, 4 và 5 lớp)
và thời gian nghỉ giãn cách giữa các đợt đổ BTĐL (2, 4 hoặc 5 ngày tùy theo mùa của năm) phù hợp với diễn biến của các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL Đề xuất nhiệt độ hỗn hợp BTĐL khống chế trước khi đổ là 23oC, 1 lớp đổ sau đầm dày 0,3m và đổ 3 lớp liên tục v.v… có nhiều ưu điểm bởi kết quả tính toán cho thấy ứng với các điều kiện
Trang 33của kịch bản thì nhiệt và ứng suất nhiệt phát sinh trong khối BTĐL vẫn nằm trong mức cho phép Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức kiến nghị chung cho tất
cả các loại đập BTĐL, chưa xét đến yếu tố điều kiện tự nhiên, điều kiện vật liệu của mỗi một vùng đặc thù ở Việt Nam
1.5 Vấn đề nứt do nhiệt đối với đập BTĐL
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về BTĐL nhưng trong quá trình xây dựng đập BTĐL tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều vấn đề ảnh hưởng đến tuổi thọ của đập điển hình là vấn
đề nứt BTĐL trong quá trình xây dựng Theo các tài liệu đã công bố các vết nứt xuất hiện trên đập BTĐL tại Việt Nam chủ yếu có [1][25]:
Nứt bề mặt
Phần lớn vết nứt phát sinh trong đập BTĐL là nứt bề mặt, chủ yếu là do ứng suất kéo phát sinh do chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài bề mặt và bảo dưỡng không kịp thời
Nứt song song mặt đập
Phát sinh chủ yếu tại vị trí tiếp giáp giữa các lớp đặc biệt là gần thượng hạ lưu mặt bóc
lộ mùa đông và mặt nghỉ thi công thông thường, nghiêm trọng có thể xuất hiện vết nứt xuyên thượng hạ lưu, trong vùng khí hậu lạnh khó ngăn ngừa loại vết nứt này Vết nứt này chủ yếu là do ứng suất chênh lệch nhiệt gây ra và có liên quan đến chiều dài khối đập, đập càng dài ứng suất càng lớn, do khối đập BTĐL khá dài, ứng suất nhiệt phát sinh do chênh lệch nhiệt độ thượng hạ lưu vượt quá cường độ kháng kéo của BTĐL
Nứt xuyên
Vết nứt này thông thường ở vị trí tiếp xúc giữa bê tông và nền đá, hướng lên kéo dài vào trong thân đập và mang tính chất kết cấu Vết nứt có khả năng bắt đầu với mùa lạnh đầu tiên, cũng có thể phát sinh do bề mặt bê tông được phơi ra trong môi trường biên độ nhiệt giảm nhanh so với nhiệt độ ngày và phát triển không ngừng dưới tác dụng của ứng suất nhiệt và tải trọng
Nứt hành lang
Thường xuất hiện ở gần hành lang, hướng vuông góc với bề mặt Nguyên nhân chủ yếu là mép trong hành lang tiếp xúc với nước hoặc không khí, nhiệt độ nước mùa lạnh
Trang 34hoặc nhiệt độ không khí thấp hơn nhiều nhiệt độ ổn định trong đập, ở phạm vi gần hành lang xuất hiện chênh lệch nhiệt độ lớn, hiện tượng này gọi là quá lạnh Trong thời kỳ thi công, bề mặt hành lang bị phơi dễ xuất hiện nứt bề mặt, phạm vi kiềm chế cường độ của nền đập trọng lực thi công lên đều khá lớn, ứng suất kiềm chế cũng khá lớn làm cho vết nứt phát triển hướng vào trong thân đập
Theo tổng kết hầu hết các loại vết nứt trên đều có liên quan đến nhiệt độ cả trong và ngoài khối đập
1.6 Vấn đề cần nghiên cứu đặt ra đối với luận án
Như trên đã trình bày trong quá trình xây dựng đập BTĐL đã xảy ra một số hiện tượng nứt đập mà theo đánh giá sơ bộ chủ yếu đến từ nguyên nhân phát sinh nhiệt trong quá trình thi công BTĐL dẫn đến nứt đập do ứng suất nhiệt Trong điều kiện thời tiết nước
ta biên độ dao động nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè là rất lớn, chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm lớn, khí hậu khô hanh, ít mưa Hiện tượng co khô, co ngót nhiệt độ, do thi công, do chất lượng vật liệu xây dựng… đều có thể sẽ gây ra nứt bê tông làm ảnh hưởng đến chất lượng bê tông BTĐL và đặc biệt là ảnh hưởng đến độ
bền và tuổi thọ công trình Vì vậy, “Nghiên cứu giải pháp giảm ứng suất nhiệt của
bê tông đầm lăn trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện tại Việt Nam” là
Trang 35CHƯƠNG 2 NHIỆT VÀ KHỐNG CHẾ ỨNG SUẤT NHIỆT TRONG
ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN 2.1 Đặt vấn đề
Một đặc tính quan trọng của BTKL là trạng thái nhiệt dẫn tới ứng suất nhiệt Do bê tông có tính dẫn nhiệt kém, nên nhiệt độ trong BTKL nếu không được phân tán một cách nhanh chóng sẽ tăng lên rất cao Sự tăng hay giảm của nhiệt độ trong khối bê tông sẽ dẫn tới sự thay đổi thể tích và phát sinh ứng suất nhiệt Khi ứng suất nhiệt lớn hơn khả năng chịu kéo cho phép của bê tông thì kết cấu sẽ bị nứt Chính vì vậy khi thiết kế và thi công các công trình khối lớn nói chung, đập bê tông trọng lực nói riêng cần phải đặc biệt lưu ý đến sự phát sinh ứng suất nhiệt; cần áp dụng các biện pháp công nghệ hợp lý để ngăn ngừa nứt do nhiệt, nhằm đảm bảo tính chỉnh thể, tính thẩm
mỹ, khả năng chống thấm và tuổi thọ của công trình Trong Chương này sẽ trình bày
cơ sở khoa học của vấn đề nhiệt, nứt do nhiệt và khống chế nhiệt đập BTĐL để làm tiền đề cho nghiên cứu giảm ứng suất nhiệt phù hợp với điều kiện Việt Nam
2.2 Nguồn phát sinh nhiệt trong BTĐL
Phát sinh nhiệt trong BTĐL là do nhiệt thủy hóa của XM và phụ thuộc vào thành phần khoáng và hàm lượng của nó có trong XM:
Q = aC3S(%) + bC2S(%) + cC3A(%) + dC4AF(%) (J/g) (2.1)
Các hệ số a, b, c, d là nhiệt thủy hóa của khoáng vật XM có thể lấy theo tổng kết ở bảng 2.1, còn tỷ lệ thành phần khoáng có trong XM thông thường được cho ở bảng 2.2 [59]
Từ bảng 2.1 và bảng 2.2 cho thấy lượng nhiệt thủy hóa của XM là do các thành phần khoáng chủ yếu của XM là C3A, C3S tiếp theo là C4AF và C2S XM nhiều thành phần
C3A và C3S sẽ có nhiệt thủy hóa lớn, tốc độ phát nhiệt cũng nhanh Trong tiêu chuẩn
XM Poóc lăng nhiệt của Hội thí nghiệm vật liệu Hoa Kỳ (ASTM) quy định tổng thành phần khoáng C3A + C3S nhỏ hơn 58% có thể không yêu cầu thí nghiệm nhiệt thủy hóa [44] Vì vậy có thể nói thông qua điều chỉnh thành phần khoáng của vật liệu XM có
Trang 36thể giảm nhiệt thủy hóa của vật liệu XM từ đó giảm được ứng suất nhiệt phát sinh trong quá trình thủy hóa vật liệu BTĐL
Bảng 2 1 Nhiệt thủy hóa của các thành phần khoáng có trong XM (J/g)
Nghiên cứu của tác giả a (C3S) b (C2S) c (C3A) d (C4AF)
2.3 Vấn đề trao đổi nhiệt đối với BTĐL
2.3.1 Trao đổi nhiệt bằng dẫn nhiệt
Trao đổi nhiệt bằng dẫn nhiệt là quá trình trao đổi nhiệt giữa các phần của một vật hay giữa các vật có nhiệt độ khác nhau khi chúng tiếp xúc với nhau Hình thức trao đổi nhiệt diễn ra trong khối bê tông là từ phần này sang phần khác, diễn ra ở nơi tiếp xúc giữa bê tông với nền, giữa bê tông với ván khuôn và giữa bê tông với không khí hoặc nước
Phương trình vi phân dẫn nhiệt được thiết lập trên cơ sở định luật bảo toàn năng lượng
và định luật Fourier với các giả thiết là vật liệu đồng chất, đẳng hướng; các đại lượng vật lý không đổi; vật xem là hoàn toàn cứng, nghĩa là sự thay đổi thể tích do nhiệt độ gây nên rất nhỏ và các phần vĩ mô của vật không có sự chuyển động tương đối
Phương trình vi phân dẫn nhiệt viết dưới dạng tổng quát là:
Trang 37: hệ số dẫn nhiệt của vật liệu, với bê tông = (1,1 ÷ 2,3) kcal/m.h.oC;
C: nhiệt dung riêng của vật liệu, với bê tông C = (0,22 ÷ 0,27) kcal/kg.oC;
: khối lượng riêng của vật liệu (kg/m³);
x,y,z : tọa độ điểm đang xét;
qv: công suất sinh nhiệt (kcal/m3.h)
- Toán tử Laplace của hàm T
Phương trình (2.2) là phương trình vi phân dẫn nhiệt tổng quát, nhiệt độ có quan hệ với không gian và thời gian Giải phương trình vi phân này, ta được nghiệm tổng quát dưới dạng T = f(x,y,z,t), kết hợp với các điều kiện ban đầu và điều kiện biên xác định được nghiệm cụ thể của từng bài toán
Điều kiện ban đầu là quy luật phân bố nhiệt độ trong vật thể tại thời điểm ban đầu, dùng biểu thức dưới đây:
Trang 38lx, ly, lz – pháp tuyến ngoài bề mặt biên
Khi , từ công thức trên T – TC = 0, hay T = TC, lúc này trở thành biên loại 1
2.3.2 Trao đổi nhiệt đối lưu
Trao đổi nhiệt đối lưu là quá trình trao đổi nhiệt được thực hiện nhờ sự chuyển động của chất lỏng hay chất khí giữa các vùng có nhiệt độ khác nhau Trao đổi nhiệt đối lưu luôn kèm theo hiện tượng dẫn nhiệt, vì trong nội bộ chất lỏng hoặc chất khí không thể tránh khỏi có những phần tử có nhiệt độ khác nhau tiếp xúc với nhau
Trao đổi nhiệt đối lưu giữa bề mặt vật rắn với chất lỏng hoặc chất khí chuyển động gọi
là tỏa nhiệt đối lưu Trong công trình thủy lợi, trao đổi nhiệt đối lưu là sự tỏa nhiệt từ
bề mặt công trình với không khí hoặc từ bề mặt công trình với môi trường nước Trong trường hợp bề mặt bê tông có ván khuôn thì sự tỏa nhiệt sẽ diễn ra trên bề mặt ván khuôn với môi trường
Theo định luật Fourier thì quan hệ giữa nhiệt lượng Q truyền qua bề mặt đẳng nhiệt F trong một đơn vị thời gian có thể xác định theo biểu thức:
F
Để thuận tiện trong tính toán thường dùng công thức ở dạng:
Trang 39hay Q = .F.(Tw – Tf) (kcal/h) (2.9)
trong đó:
: hệ số toả nhiệt (kcal/m².h.oC);
F : diện tích bề mặt trao đổi nhiệt (m²);
Tw: nhiệt độ bề mặt vách (oC);
Tf : nhiệt độ trung bình của chất lỏng (oC)
Trao đổi nhiệt đối lưu là một quá trình phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hình dạng, kích thước bề mặt trao đổi nhiệt, nhiệt độ bề mặt vật, nhiệt độ nước, nhiệt độ không khí, vận tốc của nước và không khí, , C, của vật rắn,v.v
2.3.3 Trao đổi nhiệt bức xạ
Trao đổi nhiệt bức xạ là quá trình trao đổi nhiệt được thực hiện bằng sóng điện từ Quá trình trao đổi nhiệt bằng bức xạ liên quan đến hai lần chuyển hóa năng lượng: nhiệt năng biến thành năng lượng bức xạ và năng lượng bức xạ biến thành nhiệt năng Khác với trao đổi nhiệt bằng dẫn nhiệt và trao đổi nhiệt bằng đối lưu, cường độ trao đổi nhiệt bức xạ không chỉ phụ thuộc vào độ chênh nhiệt độ, mà còn phụ thuộc vào giá trị tuyệt đối nhiệt độ của vật thể Trao đổi bằng nhiệt bức xạ giữa các vật còn có thể diễn
ra trong chân không
Ánh sáng mặt trời ảnh hưởng đến nhiệt độ môi trường, nó làm thay đổi nhiệt độ bề mặt công trình Sự tăng thêm biên độ dao động nhiệt ở bề mặt công trình do ánh sáng mặt trời w
Qo - năng lượng lớn nhất của ánh sáng (kcal/m².h);
w - hệ số truyền nhiệt đến bề mặt (kcal/m².h.oC)
Trang 402.4 Cơ chế nứt do nhiệt trong bê tông khối lớn
Trong quá trình thủy hóa XM làm thay đổi nhiệt độ của khối bê tông sẽ dẫn đến sự biến đổi hình dạng của khối Nếu biến đổi hình dạng bị kiềm chế sẽ sinh ra ứng suất, gọi là ứng suất nhiệt Nếu ứng suất nhiệt là ứng suất kéo, thường gây nứt bê tông vì bê tông chịu kéo rất kém Trong đập BTĐL thường tồn tại hai loại vết nứt do nhiệt đó là nứt bề mặt và nứt xuyên từ nền
2.4.1 Nứt bề mặt
Trong quá trình bê tông đông cứng, do XM thuỷ hoá làm nhiệt độ của khối bê tông tăng cao, mặt ngoài của khối bê tông tỏa nhiệt nhanh, bên trong tỏa nhiệt chậm, sinh chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng dẫn đến thể tích các vùng biến đổi khác nhau, kiềm chế lẫn nhau Nhất là trường hợp bê tông mới đổ xong, nhiệt độ bên ngoài đột ngột hạ thấp làm cho mặt ngoài của khối bê tông co lại, trong lòng khối bê tông nở ra, dẫn đến chênh lệch biến dạng trong và ngoài khối lớn Kết quả là trong lòng khối bê tông sinh ứng suất nén, bề mặt sinh ứng suất kéo Ứng suất nhiệt lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào sự chênh lệch nhiệt độ, biểu thị trên hình 2.1
Khi ứng suất kéo xuất hiện ở mặt ngoài vượt quá trị số cho phép sẽ xảy ra nứt Đó là nứt bề mặt Nứt mặt thường không sâu và có khả năng “khép lại” khi nhiệt độ trong khối bê tông giảm dần
(a) Phân bố nhiệt độ (b) Phân bố ứng suất
1-Ứng suất kéo; 2-Ứng suất nén
Hình 2.1 Ứng suất nhiệt tại bề mặt khối bê tông