TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG ANH BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế và ý nghĩa Bước đột phá thứ nhất[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TIẾNG ANH
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: Phân tích 3 bước đột phá đầu tiên trong đổi mới
tư duy về kinh tế và ý nghĩa:
Trang 2HÀ NỘI, 2022
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 6
B NỘI DUNG 7
I Cơ sở của việc quyết định thay đổi tư duy kinh tế của Đảng 7
1 Cơ sở lý luận 7
2 Cơ sở thực tiễn 8
2.1 Ảnh hưởng của các chương trình cải cách của Liên Xô và công cuộc cải cách của Trung Quốc 8
2.2 Ảnh hưởng của tình hình trong nước 11
2.2.1 Tình hình Việt Nam sau năm 1975 11
2.2.2 Những hạn chế của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp 12
II Ba bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy kinh tế 14
1 Bước Đột Phá Thứ Nhất: Hội nghị Trung ương 6 (T8/1979) 14
1.1 Hoàn cảnh 14
1.2 Chủ trương 14
1.2.1 Trong công nghiệp 15
1.2.2 Trong nông nghiệp 19
1.3 Kết quả thực tiễn 21
1.4 Những đánh giá về bước đột phá thứ nhất 22
1.4.1 Ưu điểm 22
1.4.2 Hạn chế 22
1.5 Ý nghĩa 23
2 Bước Đột Phá Thứ Hai: Hội nghị Trung ương 8 T6/1985 23
2.1 Hoàn cảnh 24
2.2 Chủ trương 24
2.2.1 Tình hình vấn đề về giá – lương – tiền 25
2.2.2 Mục tiêu và phương hướng giải quyết vấn đề giá - lương - tiền 29
2.2.3 Biện pháp giải quyết vấn đề giá – lương – tiền 31
2.3 Kết quả thực tiễn 38
2.4 Những đánh giá về bước đột phá thứ hai 39
2.4.1 Ưu điểm 39
2.4.2 Nhược điểm 39
2.5 Ý nghĩa 42
3 Bước Đột Phá Thứ Ba: Hội nghị Bộ Chính trị Khóa V T8/1986 42
3.1 Hoàn Cảnh 42
3.2 Chủ Trương 42
3.2.1 Về Cơ Cấu Kinh Tế 42
3.2.2 Về Cải Tạo Xã hội Chủ nghĩa Và Củng Cố Quan Hệ Sản Xuất Mới 45
3.2.3 Về Cơ Chế Quản Lý Kinh Tế 49
Trang 33.3 Những đánh giá về bước đột phá thứ ba 52
C KẾT LUẬN 54 Danh mục tài liệu tham khảo 55
A MỞ ĐẦU
Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng trong cuộc chiến giành lại độc lậpdân tộc cũng như đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước theocon đường xã hội chủ nghĩa Chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, đã đưa mộtđất nước không có tên trên bản đồ thế giới (xứ thuộc địa ở Đông Dương) đã trởthành một Việt Nam vang danh toàn cầu, vị thế, uy tín trên trường quốc tế ngàycàng được nâng cao Tuy nhiên, cùng lúc đó, Việt Nam phải đối mặt vô vàn nhữngkhó khăn, thử thách Do ảnh hưởng của chiến tranh kéo dài, nước ta không thể hoànthành mục tiêu về mặt kinh tế, xã hội, đất nước bị bao vây, cô lập, đời sống nhândân hết sức khổ cực, lòng tin đối với Đảng, Nhà nước và chế độ từ đó cũng bị giảmsút Việc vận dụng đường lối, chủ trương được đưa ra có nhiều khuyết điểm, về kếhoạch hoá, về xây dựng chính sách cụ thể, về các biện pháp tổ chức và quản lý kinh
tế, quản lý xã hội Từ những khó khăn đó, Đảng ta đã tìm thấy những bất cập của cơchế, đồng thời phát hiện những điểm sáng của thực tiễn đặt ra và có được nhữngbước đột phá trong đổi mới tư duy về kinh tế Ba bước đột phá đầu tiên trong đóchính là nền tảng cho những bước tiến kinh tế về sau này, giúp đất nước ta đạt đượcnhững thành tựu nhất định, giữ vững ổn định xã hội, giữ vững chế độ, tạo lập đượcniềm tin trong nhân dân, đồng thời đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển củađất nước Những thắng lợi bước đầu được Đảng ta từng bước hoàn thiện, cụ thể hóađường lối đổi mới mà nội dung cơ bản, cốt lõi được thể hiện trong Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Bài nghiên cứu này của chúng tôi với mục tiêu là phân tích ba bước đột pháđầu tiên trong đổi mới tư duy về kinh tế Bài nghiên cứu chỉ ra hoàn cảnh, nội dung,kết quả và ý nghĩa của ba bước đột phá: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (15-23/8/1979), Hội nghị Trung ương 8 khóa V (1-7/6/1985), Hội nghị Bộ Chính trịkhóa V tháng 8-1986 Từ đó, có thể rút ra những điểm được và chưa được, so sánhđược thành tựu qua ba bước đột phá Cùng với đó, bài nghiên cứu giúp tăng thêmhiểu biết cho người làm bài nghiên cứu nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam nói chung
Trang 4về nền kinh tế nước nhà để vận dụng và phát triển vào đời sống, đóng góp cho đấtnước.
đã đưa ra những đường lối kinh tế quán triệt sâu sắc những nhiệm vụ cấp bách lúcbấy giờ, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót về tổ chức và quản lý kinh tế, quản lý xãhội Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm,khuyết điểm, đổi mới tư duy lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn,Đại hội đề ra đường lối đổi mới: Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công-nông nghiệp; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủcông nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện) Thực hiện
3 chương trình kinh tế bao gồm: Chương trình lương thực, thực phẩm; chương trìnhhàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuấtXHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế Cải tiến các chính sáchlưu thông, phân phối (giá, lương, tiền tài chính, ngân hàng) phải nhằm thúc đẩy sảnxuất phát triển mạnh theo đường lối của Đảng và phương hướng của kế hoạch Nhànước, kết hợp lợi ích của toàn xã hội với lợi ích của tập thể và cá nhân, khuyếnkhích người lao động hăng hái sản xuất, làm nhiều được hưởng nhiều, đồng thời bảođảm cho Nhà nước nắm được nguồn hàng, làm chủ được thị trường
Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo XHCN dựa trên 3 nguyên tắc:Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp Phảixuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh
tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Trong công cuộccải tạo XHCN, phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độcông hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối XHCN Những
Trang 5mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội IV chính là nền tảng, tiền đề chính cho ba bướcđột phá đầu tiên trong tư duy về kinh tế của Đảng ta sau này
đầu từ năm 1964 Trong chương trình cải cách lần thứ nhất diễn ra trong khoảng thời
gian 1927 - 1953 do Gi.Xta-lin lãnh đạo, Liên Xô chỉ trong 10 năm, từ một nước cónền kinh tế và công nghiệp lạc hậu trở thành cường quốc công nghiệp hàng đầu thếgiới nhờ vào chương trình công nghiệp hóa ưu tiên phát triển công nghiệp nặng cùngchủ trương hợp tác kinh tế và công nghiệp với các nước tư bản phát triển hàng đầu thếgiới, trước hết là Mỹ, trên cơ sở đường lối chính trị độc lập, tự chủ dưới sự lãnh đạotập trung thống nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô Bên cạnh đó, trong chương trình cảicách này, nhà lãnh đạo Liên Xô nhận thấy những hạn chế và khiếm khuyết của nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Liên Xô và đưa ra chủ trương tổ chức các cuộc thảoluận rộng rãi trên toàn Liên bang về lợi ích của phương pháp hạch toán kinh tế theo cơ
chế thị trường để triển khai rộng rãi phương pháp này trong thực tế Chương trình cải
cách thứ hai do N Khru-sốp lãnh đạo trong giai đoạn 1953 - 1964 gần như đã phủ
nhận hoàn toàn giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội rực rỡ nhất và thành công nhất ởLiên Xô trước đó, đưa Liên Xô lâm vào tình trạng khủng hoảng lý luận và nhận thức
về chủ nghĩa xã hội và tạo tiền đề cho công cuộc Cải tổ thời kỳ M Goóc-ba-chốp dẫn
tới sự sụp đổ của Liên Xô Chương trình cải cách lần thứ ba ở Liên Xô diễn ra trong
những năm 1964 - 1982 dưới sự trực tiếp chỉ đạo thực hiện của A Cô-xư-gin Chươngtrình áp dụng phương pháp hạch toán kinh tế theo cơ chế thị trường và trao quyền tựchủ cho các xí nghiệp đã từng được đề xuất trong cải cách lần thứ nhất và mang lại kếtquả ấn tượng, trong đó cơ chế quản lý kinh tế mới là động lực đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng kinh tế và xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, đồng thời góp phầnnâng cao đáng kể mức sống của người dân Tuy nhiên, sau đó, chương trình cải cáchnày đã bị ngừng lại
Trang 6Trung Quốc đã vạch ra đường đối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế,
xã hội thông qua Hội nghị Trung ương 3 khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc năm
1978 do Đặng Tiểu Bình khởi xướng Công cuộc đổi mới này lấy xây dựng kinh tế làmtrọng tâm, kiên trì nguyên tắc: Con đường xã hội chủ nghĩa - Chuyên chính nhân dân -
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Mao TrạchĐông Trong giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế từ năm 1978, Đảng Cộng sảnTrung Quốc với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị”, chuyển trọngtâm công tác từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “lấy xây dựng kinh tếlàm trung tâm” nhằm mục tiêu xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa Giai đoạn đầutập trung vào chuyển đổi thể chế kinh tế với việc “khoán ruộng đất”, “phát triển xínghiệp hương trấn” ở nông thôn, sau đó tiến hành mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinhdoanh của xí nghiệp quốc hữu ở thành phố, tiến hành mở cửa, xây dựng đặc khu kinh
tế, xây dựng các loại thị trường Thành tựu của công cuộc cải cách này ở thời điểm đóchưa thể nhìn nhận ngay tức khắc, tuy nhiên, cho tới nay, Trung Quốc đã đạt đượcthành tựu đáng nể về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, là quốc gia phát triển hàng đầuthế giới
Các chương trình cải cách kinh tế xã hội của Liên Xô và công cuộc cải cách củaTrung Quốc có ảnh hướng không nhỏ tới quyết định thay đổi tư duy kinh tế của Đảng
ta từ Đại hội Đảng lần IV cho tới các bước đột phá về kinh tế sau đó và công cuộc Đổimới năm 1986 Các chương trình cải cách ở Liên Xô được nhận xét là thiếu nhất quán
và chậm trễ trong quá trình tìm tòi mô hình phát triển phù hợp từng giai đoạn trên conđường đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí mâu thuẫn, thiếu tính cập nhật, thậm chí làchệch hướng, sai lầm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên
Xô Tuy vậy, một số chủ trương của Liên Xô thực hiện trong các cuộc cải cách này rấtđang học hỏi nếu Đảng ta có thể chọn lọc những gì phù hợp để áp dụng cho nước ta.Những bài học từ công cuộc cải cách của Trung Quốc cũng vậy, thời kì năm 1978, córất nhiều bài học để Đảng ta học tập và tiếp thu về về trọng tâm, nguyên tắc phát triểnđất nước, chính sách “mở cửa”, về thay đổi trong công nghiệp, nông nghiệp, phát triểnnội lực, tuy nhiên, vẫn còn một số nhược điểm phải nhắc đến như thiếu sự nhất quán,thiếu ổn định và liên tục hay sự khác biệt về chính sách vẫn còn tồn tại Có thể thấy,trong các chính sách được đưa ra của Đảng ta sau này có nhiều điểm tương đồng vớimột số tư duy, chính sách được áp dụng tại Liên Xô và Trung Quốc trong các cuộc cải
Trang 7cách trên Các quốc gia anh em theo chủ nghĩa xã hội đã lần lượt bước lên con đườngđổi mới kinh tế, xã hội là động lực, đốc thúc Đảng ta phải bắt đầu có những thay đổi.Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của những cuộc cải tổ, cải cách này đượcthực hiện, dù thành công hay thất bại, Đảng Cộng sản Việt Nam có thể có thêm kinhnghiệm cho các bước phục hồi và phát triển kinh tế tiếp theo.
2.2 Ảnh hưởng của tình hình trong nước
2.2.1 Tình hình Việt Nam sau năm 1975.
Về mặt chính trị, sau Đại thắng Xuân 1975, sau hơn 20 năm chiến đấu gian khổ,đất nước Việt Nam đã giành được hòa bình độc lập trọn vẹn, nhân dân Bắc Nam sumhọp một nhà Tiếp đến, Đảng đã nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ đầu tiền và bức thiếtnhất lúc bấy giờ, đó là hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước ngay cuối năm
1975, đầu năm 1976 Thống nhất về mặt nhà nước sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp củanền kinh tế trên cả nước, chính trị ổn định sẽ cơ sở vững chắc cho công cuộc thốngnhất, phục hồi, xây dựng và phát triển kinh tế, tiền vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.Tuy nhiên, ở miền Nam, các cơ sở của chủ nghĩa thực dân mới ở địa phương vùng mớigiải phóng cùng bao di hại xã hội vẫn còn tồn tại
Về kinh tế, tuy đất nước đã thống nhất, nhưng kinh tế hai miền trải qua chiếntranh tồn lại nhiều chênh lệch Trải qua hơn 20 năm (1954 - 1975) tiến hành cáchmạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xâydựng được những cơ sở vật chất - kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội Miền Bắctrong giai đoạn này vẫn đang tiếp tục áp dụng cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tậptrung quan liêu bao cấp và kinh tế phát triển với tốc độ khá, có nhiều cải thiện tuynhiên vẫn vấp phải nhiều khó khăn và tồn tại nhiều yếu kém Bên cạnh đó, cuộc chiếntranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ hết sức ác liệt, đã tàn phá nặng nề,gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc “Chiến tranh phá hoại của Mĩ đã phá hủy hầuhết những cái mà nhân dân ta đã tốn biết bao công sức để xây dựng nên, làm cho quátrình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại đến vài ba kế hoạch 5 năm” Miền Nam có nềnkinh tế trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản với nhiều thành phầnkinh tế song về cơ bản vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sảnxuất nhỏ và phân tán, phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bênngoài
Trang 8Đất nước mặc dù hoàn toàn giải phóng, nhưng cuộc chiến tranh của Mĩ đã gây
ra hậu quả nặng nề Nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá, bỏ hoang, chất độc hóahọc và bom mìn còn bị vùi lấp nhiều nơi Số người thất nghiệp lên tới hàng triệungười Số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong dân cư Đây cũng là một trong nhữngyếu tố quan trọng trong công cuộc quyết định hướng đi cho con đường phát triển kinh
tế nước nhà của các đồng chí lãnh đạo lúc bấy giờ
2.2.2 Những hạn chế của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp trong thời kỳ này.
Nước ta bắt đầu xây dựng và áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trungcho miền Bắc ngay khi miền Bắc giành được độc lập vào năm 1954 và tiến lên conđường xây dựng chủ nghĩa xã hội để tập trung sức người, sức của làm hậu phươngvững chắc chi viện cho miền Nam Sau năm 1975, khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng,
cả nước bước vào thời kì xây dựng và phát triển kinh tế - xá hội, do hậu quả nặng nềcủa chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta xác định tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tếtheo mô hình kế hoạch hóa tập trung trên cả nước
Cơ chế này có những ưu điểm thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại lúc đó của ViệtNam, nhưng thực chất lại tồn tại nhiều hạn chế, khuyết tật kìm hãm sự phát triển củaquốc gia sau này Mà những hạn chế đó lại được bộc lộ rõ ràng, gay gắt nhất thời điểmsau năm 1975, sau khi đất nước thống nhất
Khiếm khuyết đầu tiên của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp là
nó thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế,sáng tạo đối với người lao động, không kích thích được tính năng động, sáng tạo củacác đơn vị sản xuất, kinh doanh Do chế độ công hữu về tư liệu sản suất của mô hìnhnày khiến cho các tư liệu sản xuất của nền kinh tế quốc tế dân thành vô chủ, bởi vôchủ cho nên chúng được sử dụng lãng phí, bừa bãi, gây thiệt hại về kinh tế Doanhnghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của nhà nước, mọi phương hướng sản xuất,vật tư, vốn, giá thành, lương, nhân sự, đều do nhà nước quản lý Nhà nước giao chỉtiêu kế hoạch, cấp vốn, doanh nghiệp sản xuất nộp lại sản phẩm cho nhà nước Doanhnghiệp không có quyền tự chủ và gần như không có dấu ấn gì trong quá trình vậnhành, nghiên cứu thị trường, sản xuất kinh doanh, mà chỉ có nhiêm vụ sản xuất rasản phẩm được giao, đồng thời cũng không bị ràng buộc về trách nhiệm và kết quả sảnxuất kinh doanh Bởi vậy mà mất đi năng lực cạnh tranh và sáng tạo của một doanh
Trang 9nghiệp thực sự, đơn giản làm việc theo yêu cầu Bên cạnh đó, xã hội cũng xuất hiệntình trạng cầu nhiều - cung thiếu do bộ máy quản lý vô cùng cồng kềnh mà thậm chíkhông cần thiết
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan hệ H-T (hàng hóa - tiền tệ) chỉ
là hình thức, nhà nước quản lý kinh tế theo chế độ “cấp phát - giao nộp” Điều này làmcho loại hàng hóa đặc biệt là sức lao động hay bằng phát minh sáng chế không đượccoi là hàng hóa về mặt pháp lý Bởi vậy mà người lao động cũng không thể được trảcông xứng đáng cho sức lao động hay sáng tạo mà mình bỏ ra Bên cạnh đó, người laođộng là trở thành người làm thuê cho các doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, là lựclượng chính, bỏ sức lao động của mình tạo ra của cải cho xã hội nhưng của cải đó lạikhông thuộc về họ, bởi cơ chế mọi của cải làm ra đều được phân phối bình quân Quacác hình thức như bao cấp qua giá, bao cấp qua chế độ tem phiếu, bao cấp theo chế độcấp phát đã biến chế độ tiền lương thành hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích ngườilao động, nảy sinh cơ chế “xin – cho”, tăng gánh nặng đối với ngân sách Ngoài ra, cóthể nói, mô hình này làm hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kìmhãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, gây rối loạn trong phân phối lưu thông
và gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội như tham ô, lãng phí Đây chính làcăn nguyên cho vấn đề giá - lương - tiền trong kinh tế nước ta lúc bấy giờ cầu nhiềucung thiếu
Tiếp đó, cơ chế này cũng góp phần lớn tạo nên nạn quan liêu, lộng quyền trongđội ngũ cán bộ công chức của các cơ quan hành chính nhà nước Bộ máy nhà nướccồng kềnh, nhiều cấp trung gian, lại kém năng động sinh ra đội ngũ quản lý kém nănglực, cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động.Điều này cũng liên quan tới việc làm triệt tiêu động lực kinh tế của người lao độngđược đề cập phía trên
Về kinh tế đối ngoại, giao lưu thương mại của nước ta khi áp dụng mô hìnhkinh tế kế hoạch hóa tập trung rất hạn chế, chủ yếu chỉ trao đổi ngoại thương với cácnước XHCN với thực chất là trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng, không có giao dịch cógiá trị ngoại tệ Nhà nước cũng thực hiện độc quyền ngoại thương, hay thực tế màhiểu, là một nền kinh tế khép kín
Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên việc
áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại thì cơ chế
Trang 10quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho nền kinh tế các nước xãhội chủ nghĩa, trong đó có nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung thực sự phù hợp với nước tatrong giai đoạn đầu áp dụng, bởi cơ chế này đã đáp ứng được những yêu cầu tất yếucủa thời chiến, tạo sức mạnh tổng hợp, tận dụng tối đa sức mạnh của toàn dân, gópphần quan trọng trong thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.Tuy nhiên, sau năm 1975, khi đất nước đã được thống nhất, toàn vẹn, cơ chế đó khôngcòn phù hợp nữa, và việc duy trì cơ chế khiến cho kinh tế nước ta lâm vào tình trạngrối ren, khủng hoảng nghiêm trọng Mọi lĩnh vực kinh tế đều có vấn đề, trong nôngnghiêp, công nghiệp, tài chính (giá - lương - tiền), thương mại, đều gặp phải ách tắc
Điều này đặt vấn đề cho Đảng ta cần phải đưa ra những quyết định đúng đắn,phù hợp để xây dựng và phát triển kinh tế, cần phải thay đổi dứt khoát, nhìn nhận đượcnhững hạn chế, sai lầm của mình để có thể bước những bước vững chắc trên conđường xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là nguyên nhân trực tiếp cho quyết định thayđổi tư duy kinh tế của Đảng, dẫn tới những bước đột phá về kinh tế trong Hội nghịTrung ương lần 6 năm 1979, Hội nghị Trung ương lần 8 năm 1985 và Hội nghị BộChính trị khóa V năm 1986
II Ba bước đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy kinh tế
1 Bước Đột Phá Thứ Nhất: Hội nghị Trung ương 6 (T8/1979)
1.1 Hoàn cảnh
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và hoàn thành thốngnhất đất nước về mặt nhà nước, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn đất nướcđộc lập, thống nhất Đây là con đường phát triển hợp quy luật nước ta, là điều kiện tiênquyết để đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội “Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữvai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng
là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa”
Đứng trước những khó khăn về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, Ban Chấphành Trung ương Đảng đã quyết định triệu tập Hội nghị lần thứ sáu, khóa IV(8-1979)nhằm tập trung bàn về phương hướng phát triển nông nghiệp, hàng tiêu dùng và côngnghiệp địa phương để khắc phục tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng thiết yếu và thúcđẩy công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp phát triển
Trang 111.2 Chủ trương
Chủ trương đổi mới kinh tế được quyết định trong Hội nghị là khắc phục nhữngkhuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, phá bỏnhững rào cản, tìm kiếm lối thoát” cho nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng, trì trệ để cho
“sản xuất bung ra”tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển…; đồng thời được tự
do lưu thông hàng hóa, xóa bỏ “ngăn sông, cấm chợ”
1.2.1 Trong công nghiệp
1.2.1.1 Tình hình- Nguyên nhân
Từ những năm 1979 - 1985, nhiều địa phương ở miền Nam, trong đó có Long
An và TPHCM, đã “xé rào”, định hình nền kinh tế “bù giá” Nhưng tất cả đều là làm
“chui”, làm thử có kết quả mới đưa ra Trung ương bàn Cụ thể, đứng trước tình hìnhthiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực do viện trợ từ nước ngoài những năm 1980 giảm dần,Nhà nước không thể cung cấp đủ đầu vào cho nông dân phân bón, xăng dầu, thuốc trừsâu và vật tư chiến lược cho các đơn vị sản xuất, nhiều nơi đã chủ động “bung ra”, tựtìm nguồn cung cấp đầu vào ở thị trường tự do Đầu vào cho sản xuất phải mua bằnggiá đắt, dẫn đến Nhà nước không thể đòi nông dân và nhà sản xuất bán sản phẩm choNhà nước theo giá thấp Từ chỗ Nhà nước không bảo đảm được cung cấp đầu vào thìcũng không thể kế hoạch hóa đầu ra, và bắt buộc phải công nhận sự tồn tại của thịtrường tự do với mặt bằng giá cao hơn Nhà nước quy định Thực tế này đã đẩy Nhànước vào chỗ không mua đủ và cũng không nhập khẩu đủ lương thực để bảo đảm cungcấp cho lực lượng phi nông nghiệp, trong đó có một bộ phận rất lớn cán bộ, công nhânviên và quân đội Đến đây vấn đề lớn nhất là giá- lương -tiền
Rõ nét nhất là cơ chế giá cả Sự áp đặt chủ quan, tùy tiện trong định giá đã tạo
ra sự chênh lệch lớn giữa giá thị trường tự do với giá chỉ đạo của nhà nước Khoảnchênh lệch ấy chính là miếng mồi béo bở cho các hoạt động bòn rút hàng từ tay nhànước sang túi các cá nhân Đời sống của cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũtrang ngày càng khó khăn
Năm 1979, lương của công nhân viên chức chỉ là 51,95 đ/tháng Tức là với mứclương này nếu năm 1976 tương đương 70 kg gạo thì năm 1979 chỉ là 11 kg Trong khi
đó, thu nhập bình quân của một lao động trong nông nghiệp là 105 đ/tháng, của mộttiểu thương kinh doanh nhỏ là 573 đ/tháng, kinh doanh vừa 702 đ/tháng và kinh doanhlớn là 877 đ/tháng Lương quá thấp nên công nhân viên chức tìm mọi cách để lo toan
Trang 12cuộc sống gia đình Vì lương kịp theo giá nên Hàng ngàn công nhân, viên chức, giáoviên xin nghỉ hoặc tự bỏ việc để đi buôn, làm ruộng hoặc làm thuê kiếm sống.
Lúc đó, một số tỉnh thành ở phía nam mà cụ thể là Long An đã có những quyếtđịnh táo bạo Sau khi lĩnh toàn bộ định mức hiện vật trong tháng về, mặt hàng xà bôngđược chọn để bán ra thị trường Để tránh đầu cơ và đề phòng tình huống xấu bất ngờ,
xà bông được chia để bán làm 3 lần Giá bán cao gấp 10 lần giá phân phối và tươngđương giá chợ Lương của viên chức tháng đó đã được cộng thêm định mức của mặthàng xà bông theo giá thị trường Ai muốn mua xà bông thì ra chợ, thoải mái lựa chọn,không phải lo mua dự trữ Vì thế giá xà bông đã giảm rất nhiều Lần đầu tiên một mặthàng không phân phối nhưng cũng không thiếu ngoài chợ hay cửa hàng quốc doanh.Bước thử nghiệm đã thành công Tiếp theo đó, trong 3 tháng cuối năm 1979, tất cả cácmặt hàng phân phối (trừ gạo) đều được Long An bán ra thị trường Toàn bộ số hiện vậtcủa cán bộ, viên chức được quy ra tiền theo giá thị trường và cộng vào lương hằngtháng Giải pháp “bù giá vào lương” đã gây một hiệu ứng tích cực
1.2.1.2 Phương hướng
Với tình hình trên Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25 CP (1/1981) vềquyền sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh vàQuyết định số 26 CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm vàvận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của nhà nước
Cải tiến công tác kế hoạch hoá: trên cơ sở phương hướng và nhiệm vụ sản
xuất, kinh doanh mới và phù hợp với điều kiện hiện nay, xí nghiệp quốc doanh xã hộichủ nghĩa phải không ngừng mở rộng phạm vi kế hoạch hoá, phát huy tính chủ động
Trang 13của mình nhằm tận dụng các năng lực hiện có và tiềm năng, đạt hiệu quả kinh tế ngàycàng cao.
Ngoài nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, Nhà nước khuyến khích xí nghiệp chủđộng sản xuất thêm sản phẩm chính, sản phẩm phụ, làm các công việc có tính chấtcông nghiệp (đối với xí nghiệp sản xuất) hoặc mở rộng diện kinh doanh (đối với xínghiệp thương nghiệp) nếu xí nghiệp còn năng lực sản xuất và có khả năng tự cungứng những điều kiện vật chất
Như vậy, kế hoạch của xí nghiệp bao gồm ba phần: Phần Nhà nước giao có vật
tư bảo đảm; Phần xí nghiệp tự làm; Phần sản xuất phụ
Hạch toán giá thành và giá cả:
- Hạch toán giá thành:
Đối với các xí nghiệp sản xuất ổn định, hoạt động theo chỉ tiêu kế hoạch Nhànước giao và được Nhà nước cung ứng tương đối đầy đủ điều kiện vật chất, phải thựchiện hạch toán kinh tế và tính toán giá thành sản phẩm theo đúng chế độ hiện hành dựatrên những định mức về hao phí vật chất đã được quy định và tính theo giá chỉ đạo củaNhà nước Phải ra sức phấn đấu thực hiện tiết kiệm trong sản xuất và quản lý để nângcao mức lợi nhuận
Đối với các xí nghiệp vừa thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, vừathực hiện phần kế hoạch tự làm bằng nguyên liệu mà xí nghiệp tự thu mua được, cần
kế toán riêng khoản chi về nguyên vật liệu tự mua Trên cơ sở đó mà xác định giáthành và giá bán sản phẩm
- Về giá cả:
Đối với những sản phẩm sản xuất theo kế hoạch Nhà nước giao, có vật tư bảođảm, sẽ căn cứ vào giá thành kế hoạch hợp lý và lợi nhuận xí nghiệp định mức để quyđịnh giá bán buôn xí nghiệp Các giá bán buôn công nghiệp, chiết khấu thương nghiệp
và giá bán lẻ (hoặc giá bán buôn vật tư, nếu là tư liệu sản xuất) đều phải theo giá chỉđạo
Đối với những sản phẩm sản xuất theo kế hoạch tự làm thì giá bán buôn xínghiệp phải dựa trên cơ sở giá thành tính theo giá mua nguyên, vật liệu thoả thuận vàlợi nhuận xí nghiệp định mức tính trên cơ sở giá thành này Lợi nhuận định mức (tínhtheo số tuyệt đối) được tính gấp từ hai đến bốn lần lợi nhuận định mức đối với sảnphẩm sản xuất theo kế hoạch Nhà nước giao
Trang 14Hội đồng Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ chủ quản, Bộ Tài chính , Uỷ banVật giá Nhà nước quy định mức tăng cụ thể về định mức lợi nhuận, phù hợp với từngngành, từng xí nghiệp
Quyết định 26 CP (1/1981)
- Các Bộ quản lý sản xuất, kinh doanh, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phốcăn cứ các nguyên tắc nói trên và tình hình đặc điểm của ngành kinh tế kỹ thuật vàtừng đơn vị trực thuộc để ban hành các định mức lao động (định mức ngành hoặc địnhmức địa phương) và đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm và đơn giá lũy tiến,
để thi hành cho cả năm 1981
Ngoài lương khoán, thu nhập của công nhân, viên chức trong xí nghiệp còn cóthể được tăng thêm do việc bổ sung tiền thưởng trích từ quỹ lương hoặc từ lợi nhuận xínghiệp Cơ sở để trả lương khoán, lương sản phẩm và tiền thưởng phải căn cứ vào sựghi chép, hạch toán và kiểm tra chặt chẽ số lượng và chất lượng sản phẩm khi nhậpkho
- Các Bộ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ vào đặc điểm tình hìnhsản xuất của từng ngành, từng cơ sở, hướng dẫn việc áp dụng các hình thức trả lươngkhoán, lương theo sản phẩm thích hợp như khoán công việc, khoán tập thể hoàn thànhmột bản thành phẩm, khoán sản phẩm cuối cùng, lương trả theo sản phẩm trực tiếp cho
cá nhân, lương theo sản phẩm lũy tiến, lương theo sản phẩm gián tiếp
Các hình thức trả lương nói trên có thể áp dụng cho toàn bộ dây chuyền sảnxuất, cho các phân xưởng chính, phụ, phụ trợ trong xí nghiệp
Trong việc trả lương khoán, lương theo sản phẩm, phải chú ý gắn lợi ích củamỗi người lao động, kể cả người lao động phục vụ cho việc sản xuất ra sản phẩm đó(quản lý, cung ứng, kỹ thuật, y tế, giữ trẻ, cấp dưỡng, bảo vệ, v.v ) với kết quả sảnphẩm cuối cùng, bảo đảm các mối quan hệ hợp tác sản xuất, kinh doanh và quản lýđược tốt
Đối với trường hợp không thể trả lương theo sản phẩm được mà phải trả lươngtheo thời gian thì áp dụng việc trả lương theo thời gian định mức có thưởng
- Các cơ quan quản lý sản xuất, kinh doanh, có thể áp dụng hình thức trả lươnggắn với kết quả sản xuất cuối cùng theo các loại hình thức sau đây:
Đối với một số xí nghiệp sản xuất có tính chất khai thác, có thể áp dụng cáchlàm khoán và trả lương khoán tập thể theo sản phẩm cuối cùng
Trang 15Đối với các ngành sản xuất có tính chất chế biến có thẻ áp dụng các hình thứctrả lương khoán tập thể thích hợp.
Đối với ngành xây dựng, cần áp dụng hình thức khoán gọn công trình, hay hạngmục công trình, khoán khối lượng công việc riêng lẻ cho tổ, cá nhân, khoán theo từngdây chuyền sản xuất cho đội, tổ
Trong ngành vận tải, cần trả lương khoán theo các định mức tổng hợp sốtấn/kilômét hay hành khách/kilômét, kết hợp với định mức tiêu hao xăng dầu, bảo quản
xe, tàu; có thể khoán cho mỗi xe, tàu và mỗi chuyến xe, tàu
Trong ngành cung ứng vật tư, thương nghiệp, dịch vụ, có thể trả lương theodoanh số (tính bằng hiện vật hoặc bằng giá trị ) kết hợp với việc khen thưởng về chấtlượng phục vụ như đảm bảo chất lượng phục vụ, thời gian và thái độ phục vụ
- Tiền thưởng từ quỹ lương được tăng lên bằng 10%:
Các xí nghiệp phải coi trong việc thưởng tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, nhất làtiết kiệm điện năng, nhiên liệu và các loại vật tư nhập khẩu Xí nghiệp phải tích mộtphần số tiền thu được do tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu dưới định mức đểthưởng cho người có thành tích
1.2.2 Trong nông nghiệp
1.2.2.1 Tình hình – Nguyên nhân
Sau năm 1954, tình hình sản xuất nông nghiệp miền Bắc nói chung và tỉnh VĩnhPhúc nói riêng đã đạt được một số kết quả quan trọng Tuy nhiên, nền nông nghiệpmiền Bắc đang chịu tác động mạnh mẽ bởi cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, mệnhlệnh, hành chính, công tác quản lý trong hợp tác xã mà nội dung chủ yếu là cơ chế
“khoán việc” dần dần bộc lộ nhiều khuyết điểm, dẫn đến sản xuất nông nghiệp sa sút,đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, trong đó
là việc áp dụng cơ chế tập trung bao cấp đối với hợp tác xã Đến đầu thập niên 60,phương thức quản lý lao động ở tất cả các hợp tác xã rơi vào bế tắc khi trình độ quản
lý của người quản lý (ban chủ nhiệm hợp tác xã) không đáp ứng yêu cầu, nhiều vấn đềbất hợp lý bắt đầu lộ diện ngay trong chính những địa phu Tình trạng thiếu tráchnhiệm, “cha chung không ai khóc” trong quản lý, bảo vệ tài sản, công cụ sản xuấtkhiến một phần đất đai bị bỏ hoang, sức kéo (trâu bò) giảm sút, công cụ (cày cuốc)chóng hư hỏng Việc “dong công, phóng điểm” khiến thu nhập của người trực tiếp sản
Trang 16xuất bị ăn bớt bởi các nhà quản lý Tình trạng “lãn công”, đi muộn, về sớm, lười biếng,
ỉ lại… dần thành bệnh của những người nông dân vốn “hai sương, một nắng”
Trước tình hình trên và từ kinh nghiệm thực tế, qua lắng nghe, tập hợp mọi ýkiến của người nông dân cùng với tư duy đổi mới, sáng tạo, đồng chí Kim Ngọc,người đứng đầu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, đã nhận thấy trong cơ chế vận hành kinh tếnông nghiệp lúc đó chứa đựng nhiều nội dung không phù hợp, xa rời thực tiễn, khônggắn với lợi ích thiết thân của người nông dân Hậu quả tất yếu là nông nghiệp đìnhđốn, hợp tác xã tan rã, đời sống nông dân ngày càng khó khăn, thiếu lương thực trầmtrọng Sau một thời gian trăn trở, tìm tòi đổi mới trong quản lý nông nghiệp, ngày10/9/1966, dưới sự chủ trì của đồng chí Kim Ngọc, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ra Nghị quyết
số 68- NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiệnnay”, sau này nhân dân gọi là “khoán hộ”
“Khoán hộ” đã giải quyết một vấn đề rất cơ bản là giải phóng sức sản xuất đang
bị kìm hãm bởi cơ chế quản lý không phù hợp, xa rời thực tiễn sản xuất nông nghiệp;phát huy sự chủ động, năng động, những tiềm năng dồi dào trong nhân dân, khắc phụctình trạng dân chủ hình thức, biến người nông dân thành người chủ đích thực trong sựràng buộc bởi yếu tố lợi ích Tuy vậy, ở thời điểm đó “khoán hộ” bị coi là “đốt cháygiai đoạn”, không phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa của Trungương và được coi là một sự “vượt rào”, vi phạm “nghiêm trọng” đường lối của Đảng
về phát triển nông nghiệp thời bấy giờ, nên không thể triển khai rộng rãi Trên thực tế,
“khoán hộ” ở Vĩnh Phúc vẫn lan tỏa, được vận dụng “chui” không chỉ ở Vĩnh Phúc mà
cả một số địa phương ở miền Bắc
1.2.2.2 Phương hướng
Thực hiện tinh thần làm cho “sản xuất bung ra" của Đảng, Chính phủ đã lầnlượt công bố một loạt những quyết định mới về kinh tế như: Quyết định ngày16/8/1979 về việc bãi bỏ các trạm kiểm soát có tính chất ngăn sông cấm chợ, ngăn cảnviệc lưu thông hàng hoá Quyết định ngày 10/9/1979 về việc khuyến khích tận dụngruộng đất trong nông nghiệp vào sản xuất Quyết định ngày 3/10/1979 về chính sáchkhuyến khích phát triển chăn nuôi trâu bò không hạn chế về số lượng, sản phẩm chănnuôi được tự do sử dụng, trao đổi mua bán, xóa bỏ mọi hình thức cấm vận trâu bò.Quyết định ngày 13/10/1979 về việc mở rộng kinh doanh theo nguyên tắc hợp đồngkinh tế hai chiều giữa nhà nước và cơ sở sản xuất Ngoài sản phẩm nộp nghĩa vụ và
Trang 17hợp đồng, khuyến khích trao đổi theo giá thoả thuận Quyết định ngày 5/11/1979 vềchính sách phân phối thu nhập trong hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, thừanhận phân phối bằng tiền và hiện vật, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao độngnhằm kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển.
Trước hiện tượng “khoán chui” trong hợp tác xã nông nghiệp ở một số địaphương, sau khi tổ chức thí điểm, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW (1-1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nôngnghiệp Theo Chỉ thị, mỗi xã viên nhận mức khoán theo diện tích và tự mình làm cáckhâu, cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn những khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm.Thu hoạch vượt mức khoán sẽ được hưởng và tự do mua bán
1.3 Kết quả thực tiễn
Chỉ thị 100 ban hành, nông nghiệp như được "cởi trói", bước đầu khơi dậy tinhthần làm chủ, phấn khởi của người lao động, tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp pháttriển và các địa phương, các cấp và nhân dân nhiệt liệt tán thành Sản lượng lương thựcbình quân từ 13,4 triệu tấn/năm thời kỳ 1976-1980 tăng lên 17 triệu tấn/năm thời kỳ1981-1985; những hiện tượng tiêu cực, lãng phí trong sản xuất nông nghiệp giảm điđáng kể Việc thực hiện “khoán mới” đã kích thích người nông dân hăng hái sản xuất,chủ động trong công việc, tích cực chăm sóc, thâm canh nên năng suất và sản lượngcây trồng đều tăng; tận dụng được thời gian, nguồn lao động và đất đai; việc đóngthuế, bán sản phẩm cho Nhà nước ở nhiều cơ sở làm nhanh gọn hơn trước
Quyết định 25/CP cùng với Quyết định 26/CP đã bước đầu tạo ra động lực mớicho lĩnh vực công nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêngcông nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5%
Thực hiện những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, ý thức tựgiác của người lao động được nâng cao, tác động tốt đến hiệu quả sản xuất, kinh doanhcủa địa phương Nhờ vậy, sản xuất từng bước có phát triển, đời sống các tầng lớp nhândân đã phần nào giảm bớt khó khăn Tuy nhiên, tình hình vẫn còn nhiều yếu tố mất ổnđịnh Nền kinh tế của cả nước vẫn chìm sâu vào khủng hoảng Những hạn chế trêntrước hết là do khả năng lãnh đạo và năng lực quản lý của ta còn nhiều mặt hạn chế.Nhưng nguyên nhân sâu xa còn do những chủ trương đổi mới lúc bấy giờ vẫn tronggiai đoạn thử nghiệm, tìm tòi, mang tính chất từng mặt, từng phần, chưa triệt để, toàn
Trang 18diện, việc thực hiện của địa phương cũng chỉ là góp phần trải nghiệm nhằm tổng kếtthực tiễn để tiếp tục hoàn chỉnh thêm đường lối đổi mới của Đảng.
Những quyết định này đã giúp tháo gỡ những cơ chế kìm hãm sự phát triển làmcho sản xuất bung ra Đề ra những phương hướng và giải pháp để giải phóng sức laođộng và giải hỏa cho lưu thông trong bối cảnh đang bị kìm hãm Vạch ra đường hướng
để gỡ bỏ những ách tắc về cơ chế, không chỉ đối với sản xuất hàng tiêu dùng mà cònđối với mọi lĩnh vực, không chỉ với công nghiệp địa phương hay sản xuất hàng tiêudùng, mà còn cả nông nghiệp thương nghiệp, tài chính và tiền tệ
do các cấp có thẩm quyền quyết định Mọi sự thay đổi trong kế hoạch và tổ chức thựchiện đều phải báo cáo lên cơ quan chủ quản Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phátvốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thìNhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu Bởi vậy cho nên bước đột phá này chỉ tính chất cục
Trang 19bộ, bộ phận chứ chưa toàn diện và triệt để những quyết định này chỉ đối với một sốngành trong nông nghiệp, công nghiệp hay phân phối mà chưa toàn diện.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện các quyết định lại vấp phải tình trạng nhữngngười lãnh đạo tại các cấp dưới không thực hiện vì vậy không có tính đồng bộ, cho nên
dù những quyết định này đã được đưa ra từ năm 1979 nhưng cho đến những năm 1983,
1984, 1985 tình trạng kinh tế việt năm lại trở nên khủng hoảng nặng nề Lạm phát bịđẩy lên mức 700-800%, tem phiếu phân phối thiếu thốn, người dân không đủ lươngthực Bốn mặt hàng dân dụng phụ thuộc lớn vào viện trợ của Liên Xô là xăng dầu;lương thực, bột mì; bông xơ phục vụ ngành dệt; phân bón thì lượng viện trợ giảm dần.Kinh tế đất nước gần như kiệt quệ
1.5 Ý nghĩa
Hội nghị trung ương 6 được coi là dấu mốc đầu tiên đánh dấu sự khởi đầu về cả
tư duy lẫn đường lối kinh tế, đây là điểm khởi đầu có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó đã
hé mở ra một số hướng đi mới mà trước đây thường bị coi là cấm kỵ Và từ đó đấtnước từng nước đi tiếp đến đổi mới toàn diện và triệt để hơn trong những năm sau
Những Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 vừa như một luồng gió mới, vừanhư một lá bùa "hộ mệnh" để các địa phương, các ngành thêm năng động sáng tạotrong việc "phá rào" nhằm tìm kiếm những giải pháp khắc phục những ách tắc trongsản xuất, lưu thông, giải tỏa những bức xúc trong cuộc sống Hội nghị Trung ương lầnthứ 6 năm 1979 chính là cú hích dẫn tới hàng loạt sự đột phá tiếp theo trong đời sốngkinh tế
2 Bước Đột Phá Thứ Hai: Hội nghị Trung ương 8 T6/1985
Được diễn ra tại Đại hội V của Đảng, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hànhTrung ương là một mốc đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng và nhân dân
ta trên mặt trận kinh tế Tại đây, toàn thể ban lãnh đạo của Đảng cùng phối hợp với cácbên nghiên cứu điều tra đã đưa ra được những nhận thức, tư duy mới, phát triển hơngóp phần đóng góp vào việc hoàn thành phương hướng, chiến lược mới sao cho phù
hợp với thực tiễn đất nước lúc bấy giờ Hội nghị này được coi là bước đột phá thứ hai
trong quá trình tìm tòi, đổi mới kinh tế của Đảng
2.1 Hoàn cảnh
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám được diễn ra trong một hoàncảnh khá thuận lợi khi sau hai hội nghị lần thứ sáu và bảy, nhiều địa phương và cơ sở
Trang 20sản xuất đã mạnh dạn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện hạch toán, kinh doanh
xã hội chủ nghĩa Việc áp dụng chính sách mới sau hai hội nghị trước đã cho thấynhiều chuyển biến tích cực; việc bù giá vào lương, đưa lương vào giá đã tạo điều kiệnthuận lợi để chuyển sang cơ chế quản lý mới
2.2 Chủ trương
Tại Hội nghị này, Trung ương chủ trương triệt để xoá bỏ quan liêu bao cấptrong giá và lương là yêu cầu hết sức cấp bách, là khâu đột phá có tính quyết định đểchuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa nhằm thúc đẩysản xuất phát triển, làm chủ thị trường xã hội và cải thiện một bước đời sống nhân dân
ta
Cụ thể hơn, nội dung xóa quan liêu, bao cấp trong giá và lương là tính đủ chiphí hợp lý trong giá thành sản phẩm; giá cả bảo đảm bù đắp chi phí thực tế hợp lý,người sản xuất có lợi nhuận thoả đáng và Nhà nước từng bước có tích luỹ; xoá bỏ tìnhtrạng Nhà nước mua thấp, bán thấp và bù lỗ; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệthống, khắc phục tình trạng thả nổi trong việc định giá và quản lý giá Thực hiện cơchế một giá, xoá bỏ chế độ bao cấp bằng hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt độngsản xuất, kinh doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Giá, lương, tiền coi
là khâu đột phá để chuyển đổi cơ chế Thực hiện trả lương bằng tiền có hàng hoá bảođảm, xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, thoát ly giá trị hàng hoá Xoá bỏcác khoản chi của ngân sách trung ương, địa phương mang tính chất bao cấp tràn lan.Nhanh chóng chuyển hẳn công tác ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xãhội chủ nghĩa
Thực tế cho thấy, các chủ trương trên của Hội nghị Trung ương 8 lần này đãthừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật sản xuất hàng hóa trong nền kinh tếquốc dân Các Hội nghị Trung ương 6 (7/1984) và 7 (12/1984) trước đó đã từng bướcchủ trương xác định kế hoạch bước đầu làm tiền đề cho Hội nghị Trung ương 8
Tỉnh Long An là địa phương đầu tiên mạnh dạn thí điểm đề án giá lương tiền, nhanh chóng xóa bỏ cơ chế bao cấp, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, rồi lôi kéo lựclượng tư thương hợp với thương nghiệp nhà nước hình thành mạng lưới lưu thônghàng hoá
Trang 21-2.2.1 Tình hình vấn đề về giá – lương – tiền
Từ sau ngày giải phóng miền Nam, điều kiện kinh tế - tài chính của nước tathay đổi căn bản: viện trợ không hoàn lại hầu như không còn nữa; số vốn vay dài hạncủa các nước anh em và bè bạn để nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và hàng tiêu dùng
bị giảm đi nhiều Hai cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới phía tây nam và phía bắcnước ta cùng những hoạt động phá hoại về nhiều mặt đã gây cho ta nhiều thiệt hại.Dân số lại tăng lên quá nhanh Vì vậy, thu nhập quốc dân sử dụng bình quân đầungười, sau khi đã giảm đột ngột 20% năm 1975, vẫn tiếp tục giảm mỗi năm 2-3%.Trong khi đó thì nhu cầu tiêu dùng xã hội tăng hơn trước, nhu cầu quốc phòng và chi
về xây dựng cơ bản vẫn phải duy trì ở mức cao
Từ sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IV(tháng 9-1979), Đảng và Nhà nước đã đề ra một số chủ trương, chính sách về sản xuất
và phân phối lưu thông; một số ngành, địa phương và cơ sở đã mạnh dạn áp dụng
những cách làm mới nhằm tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy sản xuất phát triển, đẩy mạnh
thu mua nắm hàng, cải thiện một bước nền tài chính quốc gia, giải quyết một số vấn
đề cấp bách về giá và lương Tuy nhiên, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước
về vấn đề phân phối lưu thông còn có những mặt hạn chế rất cơ bản:
Vẫn giải quyết các vấn đề giá, lương và các vấn đề kinh tế khác trên cơ sở tiếp
tục duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu - bao cấp:
Chúng ta đã tiếp tục kế hoạch hoá và quản lý đơn thuần dựa vào chế độ cấpphát và giao nộp, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức, giả tạo Duy trì quá lâu chế độphân phối hiện vật với giá rất thấp, đến mức gần như cho không và diện cung cấp trànlan Tiền lương không còn có ý nghĩa kích thích lao động
Trong các hình thức bao cấp thì bao cấp qua giá là nghiêm trọng hơn cả: mua
và bán với giá quá thấp; vật tư và hàng hoá Nhà nước bán ra phổ biến là không bùđược chi phí sản xuất; hàng trăm tỷ đồng chênh lệch giá biến thành nguồn thu nhập bổsung của nhiều người trong xã hội, nuôi dưỡng thị trường tự do và chợ đen, làm giàucho bọn gian thương và những phần tử thoái hoá, biến chất trong bộ máy nhà nước
Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị đề ra nội dung cải tiến phân phối lưu thôngbao gồm ba bước, mà bước một là ổn định tình hình kinh tế và đời sống, thực hiện cânbằng ngân sách và tiền mặt, chuẩn bị các điều kiện để cải cách giá và lương
Trang 22Thực tiễn chứng minh rằng việc chia ra ba bước như vậy là không đúng: không
thể ổn định được tình hình kinh tế và đời sống, cân bằng được ngân sách và tiền mặt, trong khi vẫn duy trì bao cấp qua giá và lương.
Thực hiện các nghị quyết và chỉ thị của Bộ Chính trị, năm 1981 -1989, Nhànước đã điều chỉnh tương đối toàn diện hệ thống giá (trừ giá cung cấp, chủ yếu đối với
9 mặt hàng thiết yếu) Mặt bằng giá năm 1981 -1982 được nâng lên 5 -7 lần đã phảnánh tương đối sát giá trị hàng hóa, sức mua thực tế của đồng tiền và sát với giá thịtrường lúc đó Hoạt động của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa được mở rộng, thu muađẩy mạnh, nắm hàng vào tay Nhà nước, điều chỉnh tỷ giá công - nông hợp lý hơn; làmcho các xí nghiệp (công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải ) từ bị lỗ đã bắt đầu cólãi; giảm bớt khó khăn cho ngân sách nhà nước trong điều kiện nền kinh tế đang cóbước chuyển biến quan trọng
Do không quán triệt quan điểm xoá bỏ quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch
toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, cho nên đã cải tiến giá và lương một cách
nửa vời: không tính đủ các yếu tố chi phí sản xuất vào giá thành, còn duy trì bù lỗ tràn
lan và hạch toán kinh tế giả tạo; duy trì giá mua và giá bán thấp; duy trì chế độ cungcấp hiện vật là chính với giá cung cấp giả tạo và diện bao cấp quá rộng
Sau khi điều chỉnh giá và lương, vẫn tiếp tục áp dụng cơ chế "tĩnh" đối với giá và
lương, trong khi tình hình kinh tế chung đòi hỏi một cơ chế "động" Kết quả là: hệ
thống giá Nhà nước tiếp tục tách rời giá trị, bù lỗ sản xuất kinh doanh ngày càng lớn,bội chi ngân sách và tiền mặt ngày càng tăng, sức mua của tiền lương danh nghĩa ngàycàng giảm sút
Tiến hành điều chỉnh giá, lương một cách đơn độc, chắp vá, không gắn với cải
cách cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, tăng cường thương nghiệp
xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải tạo và quản lý thị trường Chúng ta đã buông lỏngquản lý thị trường, không làm chủ được giá cả, để cho giá tăng lên quá nhanh, vượt rakhỏi sự kiểm soát của Nhà nước
Nhà nước phân phối hàng hóa dựa vào hệ thống tem phiếu Lương đi làm của
người lao động cũng được quy ra lương thực Tuy nhiên, chợ đen vẫn hoạt động nhỏ
lẻ, bị xem là bất hợp pháp nên hàng hóa ở chợ không nhiều và có giá rất cao Qua từng
giai đoạn áp dụng và phổ biến chế độ tem phiếu rộng khắp thì đồng tiền cũng mất
giá dần dần.
Trang 23Ví dụ, nếu lấy tiền lương năm 1978 làm chuẩn thì năm 1980, số tiền lương nàychỉ còn 51,1%, đến năm 1984 chỉ còn 32,7% Với nền kinh tế - xã hội – văn hóa donhà nước nắm và quyết định, thời bao cấp gồm nhiều hình thức bao cấp khác nhau.
Về giá, những nguyên nhân trên đã gây những hậu quả nghiêm trọng:
Thu nhập của khu vực kinh tế quốc doanh chỉ đủ trả lương công nhân, viênchức của bản thân nó ở mức rất thấp, không đủ sống, không có đóng góp cho Nhànước, không có tích luỹ cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
Máy móc, thiết bị, nhà xưởng ngày càng hao mòn, hư hỏng; thu về khấu hao tàisản cố định không đủ chi cho sửa chữa, càng không thể tái tạo, khôi phục tài sản cốđịnh Chúng ta đang ăn dần cả vào vốn
Việc cấp vật tư với giá thấp, bù lỗ về hàng cung cấp cho công nhân để đổi lạiviệc giao nộp sản phẩm theo giá thấp làm cho giá thành và giá tiêu thụ sản phẩm thấp
xa so với giá trị thực của nó; do đó, mọi tính toán về hiệu quả kinh tế đều bị sai lệch,hạch toán kinh tế chỉ là hình thức, giả tạo Đó là những sợi dây trói buộc xí nghiệp vào
cơ chế quan liêu, thủ tiêu quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp
Xuất khẩu càng nhiều thì ngân sách phải bù lỗ càng lớn Một bộ phận khôngnhỏ tiền vay nợ nước ngoài đã bị phung phí qua bao cấp theo giá quá thấp
Duy trì giá mua và giá bán thấp mang tính chất bao cấp làm cho Nhà nước khónắm hàng, nắm tiền, đó là nguồn gốc gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực, rối ren trong xãhội Vật tư hàng hoá của Nhà nước biến thành đối tượng mua đi bán lại kiếm chênhlệch giá Ngân sách và tiền mặt ngày càng bội chi lớn
Về tiền lương cũng có rất nhiều bất cập và trở thành vấn đề nóng bỏng:
Tiền lương của cán bộ, công nhân, viên chức không được điều chỉnh tương ứngvới mức tăng giá năm 1981-1982, và sau đó phụ cấp lương không tăng kịp thời và thoảđáng, trong lúc giá Nhà nước có điều chỉnh (từ cuối 1984) và nhất là giá thị trườngbiến động mạnh (phần quan trọng của tiền lương công nhân, viên chức còn phải chitiêu trên thị trường tự do) Do đó, tiền lương thực tế liên tục bị giảm sút, không đủ táisản xuất sức lao động, làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong nội bộ giai cấpcông nhân Sự chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các ngành nghề, các vùng vàgiữa các tầng lớp dân cư ngày càng bất hợp lý
Chế độ lương hiện vật gây ra nhiều lãng phí và tiêu cực, vi phạm nghiêm trọngquyền làm chủ của người lao động đối với đồng lương và thu nhập của mình
Trang 24Những bất cập về lương thể hiện ngay ở chất lượng đời sống thực tế của ngườidân
Câu chuyện “Trăm thứ, thứ gì cũng phân”
“Ám ảnh” là 2 từ bà Nguyễn Thị Phượng (Ngô Quyền, Hải Phòng) dùng mỗikhi nhớ về đời sống gia đình những năm đầu thập niên 80 Là công nhân bậc 3 tại Nhàmáy Sắt tráng men nhôm, lương tháng của bà khi ấy được 56 đồng “Một chiếc quạtcóc cũng có giá 35 đồng, nếu mua thì nhà nhịn ăn cả tháng Dành dụm nửa năm, tôimới mua được chiếc quạt dùng cho bọn nhỏ”, bà Phượng kể
Những hôm không tăng ca đêm ở nhà máy, bà Phượng lại tất tả đi may quần áothuê buổi tối ở mấy tiệm gần nhà, cốt để kiếm thêm vài đồng chi tiêu cho gia đình 5thành viên “Kiểu gì cũng phải sống Tìm đủ mọi cách, mọi việc làm thêm để tăng thunhập”, bà Phượng nhớ lại
Chuyện của gia đình bà Phượng là ví dụ điển hình cho cuộc sống khó khăn củahàng triệu gia đình Việt Nam trong bối cảnh kinh tế tù túng trước Đổi mới Hàng hóakhi ấy không được mua bán tự do trên thị trường hay vận chuyển dễ dàng từ địaphương này sang địa phương khác
Sống trong cảnh "trăm thứ, thứ gì cũng phân", người tiêu dùng phải nhận quaphân phối nhu yếu phẩm hằng ngày từ cân gạo, lạng thịt cho tới chiếc tăm… Temphiếu, sổ mua lương thực (sổ gạo) trở thành tài sản còn quý hơn cả vàng Nhiều người
dù có tiền cũng khó có chỗ chi tiêu khi mà khái niệm "chợ" cũng trở nên xa lạ "Hồi ấylàm gì có sổ tiết kiệm vì tiền lương ăn còn chả đủ, gạo còn chẳng có mà ăn Có cuốn
sổ mua hàng là quý lắm, quý hơn mọi thứ”, bà Phượng hoài niệm
Về ngân sách và tiền tệ cũng có những tồn tại và ảnh hưởng xấu:
Số bội chi ngân sách trong bốn năm 1981 - 1984 là 15,6 tỷ đồng, số tiền mặt bộichỉ của ngân hàng cho ngân sách 23,2 tỷ đồng, tổng cộng bội chi gần 40 tỷ đồng Nhànước, nhất là trung ương, đứng trước khó khăn rất lớn về ngân sách và tiền mặt, đồngtiền ngày càng mất giá, phát hành bị động, thu chi mất cân đối nghiêm trọng
Đồng tiền lạm phát và giảm giá, ngân sách liên tục chi, càng đẩy giá thị trườngtăng nhanh, gây sức ép lên giá nhà nước và đối với ngân sách, làm cho bội chỉ nặnghơn, thị trường và giá cả hỗn loạn
Từ tình hình trên, cần rút ra bài học bao trùm là: phải dứt khoát xoá bỏ tập
trung quan liêu - bao cấp, thực hiện đúng chế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế