Lời mở đầu Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lí, hoạt động lao động hoặc lao động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nư.
Trang 1Lời mở đầu
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập
và tổ chức quản lí, hoạt động lao động hoặc lao động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao Các quy định về việc tổ chức, thực hiện, cơ cấu quản lí của doanh nghiệp nhà nước được quy định tại Chương IV Luật doanh nghiệp 2014 Các quy định pháp luật điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước còn tồn tại những bất cập nhất định, cản trở sự phát triển, giảm lợi nhuận đem lại cho kinh tế đất nước Để làm rõ hơn về những hạn chế, bất
cập và đưa ra những giải pháp khắc phục, bài viết sẽ nghiên cứu về đề tài: “Bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp nhà nước – Một số kiến nghị, giải pháp.”
Nội dung.
I Bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về
doanh nghiệp nhà nước.
Ưu điểm doanh nghiệp nhà nước: Điểm mạnh của các doanh nghiệp nhà
nước chính là cách giải quyết vấn đề Nó mang tính thống nhất, đồng bộ, kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh trong nền kinh tế Ví dụ như khi tổng cầu của một loại hàng hóa nào đó trong thị trường vượt quá mức cung, chính phủ sẽ đều động các doanh nghiệp nhà nước tăng cường về sản xuất mặt hàng đó để đảm bảo cung ứng cho xã hội Ngược lại khi tổng cung vượt quá tổng cầu thì các doanh nghiệp nhà nước sẽ có sự thống nhất hạn chế sản xuất mặt hàng đó (có thể thay thế mặt hàng đó bằng một mặt hàng khác để sàn xuất nhằm tránh tình trạng thất nghiệp xảy ra) Nguồn lực tài chính vững chắc, quy mô lớn, tiếp cận thông tin thương mại, thị trường nhanh
Trang 2Nhược điểm doanh nghiệp nhà nước: Các doanh nghiệp nhà nước không
năng động sáng tạo vì các doanh nghiệp chỉ thụ động trong sản xuất, mọi quyền quyết định đều thuộc quản lí cấp trên Lợi nhuận có được cũng thuộc về nhà nước, các doanh nghiệp chỉ được hưởng mức lương ấn định Đây chính là nhược điểm
của doanh nghiệp nhà nước Nhân sự các công ty nhà nước đôi khi không có sự
năng động, và tính cạnh tranh công việc cao như doanh nghiệp ngoài nhà nước điều này ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của chính doanh nghiệp nhà nước
Những nhược điểm của doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành
về doanh nghiệp nhà nước là một trong những nguyên nhân có tác động mạnh mẽ nhất, cụ thể một số quy định như:
Thứ nhất, khái niệm doanh nghiệp nhà nước.
Theo khoản 8 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 quy định “Doanh nghiệp nhà
nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Vậy doanh nghiệp
do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ gồm những hình thức doanh nghiệp nào? Đến nay cách hiểu, định nghĩa thế nào là doanh nghiệp nhà nước còn có sự khác biệt, gây lúng túng cho các bên liên quan Tuy vậy, cách định nghĩa cơ bản vẫn bao gồm một số đặc điểm cơ bản như doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần vốn góp chi phối Luật Doanh nghiệp hiện hành đã phân thành 2 loại khác nhau để áp dụng cách tổ chức quản trị riêng Cụ thể, với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, thì Nhà nước thực hiện quyền và nghĩa
vụ tại doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu Với doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu
từ 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên thì áp dụng quản trị theo công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần, trong đó Nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ tại doanh nghiệp với tư cách
là thành viên công ty hoặc cổ đông Từ đó gây ra sự khó khăn trong quản lý, hình thức kế toán-kiểm toán, quyết định kinh doanh, cách điều hành đối với các doanh
Trang 3nghiệp, thậm chí cản trở hoạt động của doanh nghiệp Hiện, có tới chín Luật như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng quy định về chủ thể
“Doanh nghiệp Nhà nước” Nếu một doanh nghiệp nào đó thuộc về một trong những quy định trong các Luật nói trên cũng sẽ phải đáp ứng, thực hiện các quy định của các Luật Đơn cử, nếu một doanh nghiệp có một phần vốn Nhà nước tham gia và được công nhận là doanh nghiệp nhà nước thì sẽ phải thực hiện đấu thấu khi
có hoạt động mua sắm thiết bị, xây dựng, vận hành một dự án cụ thể Vì vậy việc xác định có phải doanh nghiệp nhà nước hay không? có một vai trò quan trọng Không những thế doanh nghiệp nhà nước có phải lúc nào cũng phải có 100% vốn nhà nướ hay không? Tuy nhiên việc pháp luật vẫn chưa rõ ràng trong việc xác định khái niệm doanh nghiệp nhà nước khiến cho việc hiểu và áp dụng chưa thống nhất trên thực tiễn
Thứ hai, về mô hình tổ chức công ty mẹ - công ty con.
Điều đầu tiên nhận thấy, mô hình tổ chức này tạo ra cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý, điều hành rất cồng kềnh, nhiều tầng, nấc Mô hình tổ chức nhiều tầng, nhiều nấc như hiện nay (chưa tính đến sự quản lý của nhà nước) tạo ra nhiều bất cập trong quản lý, điều hành Về mặt pháp lý, các doanh nghiệp con, doanh nghiệp thành viên có đủ điều kiện để tự chủ và độc lập phát triển Chính sự phát triển độc lập, tự chủ của công ty con, công ty thành viên tạo ra những mâu thuẫn trong mối quan hệ quản lý, điều hành đối với công ty mẹ (tập đoàn, tổng công ty)
Mô hình tổ chức như hiện nay biến công ty mẹ - các tập đoàn, tổng công ty trở thành bộ phận quản lý trung gian Quyền lực quản lý, điều hành tập trung vào bộ máy quản lý tại công ty mẹ - bộ máy quản lý trung gian dẫn đến nhiệm vụ, chức năng sản xuất, kinh doanh trực tiếp bị suy giảm (trừ các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có đặc tính kỹ thuật, công nghệ cao hoặc sử dụng các nguồn lực độc quyền) Trên thực tế, chức năng kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh của công ty mẹ thường rất rộng nhưng công ty mẹ chia sẻ hết cho công ty con, công ty mẹ không trực tiếp
Trang 4thực hiện lĩnh vực nào ngoài chức năng và lĩnh vực đầu tư, quản lý vốn Như vậy, công ty mẹ cùng một lúc đảm nhận hai vai trò là đại diện quản lý vốn của nhà nước
và là nhà đầu tư Điều này tạo điều kiện và môi trường để công ty mẹ mở rộng đầu
tư, thậm chí đầu tư ra ngoài ngành dẫn đến tình trạng thiếu kiểm soát, gây thất thoát nguồn vốn của nhà nước Đồng thời với đó là hiện tượng góp vốn chéo (các công ty con, công ty thành viên góp vốn vào nhau hoặc cùng góp vốn hình thành doanh nghiệp mới) Hiện tượng này làm tăng quy mô ảo, làm dòng tiền của công ty mẹ luân chuyển lòng vòng gây hiện tượng mất kiểm soát, gây lãng phí, thất thoát vốn
Thứ ba, quy định về hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước, nhiệm kì của hội đồng quản trị.
Về mặt lý thuyết, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước là Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, ủy ban nhân dân các cấp), hội đồng quản trị là người thay mặt Nhà nước.Nhưng như vậy thì có cần thiết phải hình thành một cơ quan mới nữa không? Tại sao không củng cố và hoàn thiện ban tổng giám đốc/ giám đốc của doanh nghiệp để rồi dùng tập thể đó thực thi các chức năng định giao cho hội đồng quản trị? Theo Điều lệ, tổng giám đốc/ giám đốc có bộ máy giúp việc với đầy đủ các phòng, ban chức năng, còn hội đồng quản trị sử dụng bộ máy của tổng giám đốc/ giám đốc, chỉ có thêm vài ba chuyên viên giúp việc và một nhóm nhân viên hành chính, quản trị chăm lo việc phục vụ lãnh đạo hàng ngày Điều đó có nghĩa là hội đồng quản trị không có ai giúp đánh giá phân tích những đề xuất của tổng giám đốc/ giám đốc đã được hàng chục, thậm chí hàng trăm chuyên gia trong bộ máy của tổng giám đốc/ giám đốc thực hiện trước đó Cơ cấu một bậc (tổng công ty hoặc công ty) mà hai nấc (tổng giám đốc/ giám đốc và hội đồng quản trị) quyền lực tạo
ra một sự ỷ lại nhất định ở cả hai nấc
Thứ tư, quy định về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Trang 5Việc chậm trễ trong cổ phần hóa là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế nhà nước thấp trong những năm gần đây, từ đó kéo tăng trưởng của nền kinh tế xuống thấp hơn mức trung bình của giai đoạn trước Quá trình cổ phần hóa chưa được thực hiện triệt để do Nhà nước vẫn sở hữu vốn chi phối mà lại giao quyền đại diện phần vốn Nhà nước cho chính người trực tiếp quản trị, điều hành doanh nghiệp Có thể nói đây chính là
“mảnh đất màu mỡ” để dẫn đến tình trạng tư lợi, lạm quyền, “vừa đá bóng, vừa thổi còi” Thực tế trên diễn ra cũng là do các cơ quan đại diện quản lý vốn nhà nước chưa thực sự tăng cường năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát doanh nghiệp
Ngoài ra, cách hiểu và áp dụng các văn bản pháp luật liên quan đến đấu giá, xác định giá trị doanh nghiệp hiện nay có Nghị định số 126, Nghị định số 32 của Chính phủ, Thông tư số 59 của Bộ Tài chính cũng gây lúng túng trong quá trình tiến hành cổ phần hóa…
II Một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp
nhà nước.
Nhìn nhận được những tồn tại và hạn chế của các quy định pháp luật về doanh nghiệp nhà nước, chúng ta cần có những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về khái niệm " doanh nghiệp nhà nước nên được sửa đổi theo hướng là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 50% vốn điều lệ quy định tại các Điều 88, 89 Chương IV Luật Doanh nghiệp.
Qua quá trình nghiên cứu, thấy rằng tâm lý của nhà đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng, không nên để có tình trạng nhà đầu tư tư nhân giữ đa số
cổ phiếu nhưng vẫn bị nhà nước kiểm soát, gây khó khăn, vướng mắc trong quản trị doanh nghiệp Theo đó, phương án hợp lý nhất là phương án có trên 50% vốn điều
lệ.Về bản chất kinh tế, doanh nghiệp nhà nước phải được hiểu là “công ty có 100%
Trang 6vốn điều lệ từ nhà nước” “Doanh nghiệp nhà nước” vẫn là một trong các loại hình doanh nghiệp mà Luật Doanh nghiệp quy định, theo đó, doanh nghiệp nhà nước tồn tại theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thứ hai, thay đổi mô hình quản lí doanh nghiệp nhà nước.
Về quản lý nhà nước, bắt buộc tách bạch sự điều hành trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước với khối “doanh nghiệp nhà nước” Nhà nước không được can thiệp vào kế hoạch sản xuất kinh doanh, vào bộ máy tổ chức Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, kể cả với các doanh nghiệp có 100% vốn đầu
tư từ nhà nước Những bộ luật Hình sự, Dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật đấu thầu, Luật cạnh tranh, Luật phá sản, Luật kế toán là nền tảng cơ bản để các doanh nghiệp vận hành, không loại trừ bất cứ doanh nghiệp nào Nhà nước, nếu là chủ đầu
tư thì chỉ được tác động vào doanh nghiệp thông qua người đại diện vốn theo các quy trình pháp luật đã ban hành Nhà nước chỉ thực hiện các chương trình kinh tế của nhà nước, thông qua đó, kêu gọi các doanh nghiệp có năng lực tham gia vì hiệu quả của cả doanh nghiệp và nhà nước
Thứ ba, hoàn thiện thể chế thay thế cho Hội đồng quản trị.
Việc thiết lập một cơ chế làm chủ thực sự ở doanh nghiệp nhà nước là rất cấp thiết Cách làm hợp lý nhất là, ở doanh nghiệp, thống nhất hội đồng quản trị và ban tổng giám đốc/ giám đốc , hay nói cách khác thành viên của hội đồng quản trị phải
có tổng giám đốc/ giám đốc, một số phó tổng giám đốc/ giám đốc các bộ phận cùng một số các chuyên gia độc lập
Thứ tư, hoàn thiện khung pháp luật về cổ phần hóa, thoái vốn đối với doanh nghiệp nhà nước.
Cho phép doanh nghiệp nhà nước thoái vốn đầu tư dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách kế toán của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi khoản dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính theo quy định và trên cơ sở phương án thoái vốn đã
Trang 7được chủ sở hữu xem xét, quyết định Chuyển nhượng các khoản đầu tư tại các công ty cổ phần chưa niêm yết có giá trị tính theo mệnh giá từ 10 tỷ đồng trở lên: doanh nghiệp được lựa chọn thuê công ty chứng khoán bán đấu giá, hoặc tự tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp Trường hợp đấu giá không thành công doanh nghiệp báo cáo chủ sở hữu xem xét, quyết định bán thỏa thuận
Rà soát, tổng hợp Danh mục các doanh nghiệp mà Nhà nước có vốn phải bán trong giai đoạn 2018-2020 để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Việc ban hành Danh mục này sẽ giúp tăng cường công khai, minh bạch và đẩy nhanh tiến độ bán vốn nhà nước tại các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh không cần phải nắm giữ vốn Đồng thời, để các nhà đầu tư trong và ngoài nước nắm được kế hoạch cổ phần hoá, thoái vốn của doanh nghiệp, lĩnh vực mà mình quan tâm trong thời gian 3 năm tới
để chuẩn bị kế hoạch đầu tư bài bản
Kết luận.
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, không những đòi hỏi các doanh nghiệp tư nhân mà còn các doanh nghiệp nhà nước cũng phải thay đổi kịp thời để thích nghi Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo được vai trò trong bối cảnh chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng hiện nay là vấn
đề rất lớn, phức tạp, đòi hỏi sự linh hoạt, quyết đoán và trách nhiệm Và trong đó hàng rào pháp lí là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng, các doanh nghiệp
có hoạt động được tốt hay không một phần lớn phụ vào các quy định pháp luật điều chỉnh Chính vì thề cần phát hiện, xử lí những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật của doanh nghiệp nhà nước và đưa ra giải pháp khác phục là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa thực tiễn cao
Trang 8Tài liệu tham khảo.
1 Luật doanh nghiệp 2014
2 Luật doanh nghiệp 2005
3 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014
4 Nghị định số 91/2015/NĐ-CP với quy định về đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp
5 Võ Văn Đức, Đinh Văn Trung (Đồng chủ biên): Tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2015
6 ThS Đinh Văn Trung - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh “Doanh nghiệp nhà nước” - Khái niệm và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Trang 9MỤC LỤC
Lời mở đầu 1 Nội dung 1
I Bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp nhà nước 1
II Một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp nhà nước 5 Kết luận 7 Tài liệu tham khảo 8