1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Pháp luật việt nam về doanh nghiệp xã hội bất cập và kiến nghị Lớp QTL46B1

41 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội bất cập và kiến nghị
Tác giả Nguyễn Minh Phương, Phạm Xuân Thu, Nguyễn Võ Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Nguyễn Yến Phương, Nguyễn Trịnh Như Quỳnh
Người hướng dẫn ThS. Lê Nhật Bảo
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật chủ thể kinh doanh
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 119 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu (8)
    • 2.1 Giả thuyết về nghiên cứu (8)
    • 2.2. Câu hỏi nghiên cứu (9)
  • 3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu (9)
    • 3.1 Mục đích nghiên cứu (9)
    • 3.2 Đối tượng nghiên cứu (9)
    • 3.3 Phạm vi nghiên cứu (10)
  • 4. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài (10)
  • 5. Kết cấu của đề tài (10)
    • 1.1. Bất cập về sự phổ biến, thực trạng phát triển của DNXH hiện nay (11)
    • 1.2. Kiến nghị về sự phổ biến, thực trạng phát triển của DNXH hiện nay (15)
    • 2.1. Bất cập về quy định pháp luật về các loại hình tổ chức của dnxh (18)
    • 2.2. Kiến nghị về quy định pháp luật về các loại hình tổ chức của DNXH (20)
    • 3.1. Bất cập về quyền và nghĩa vụ của DNXH (22)
    • 3.2. Kiến nghị về quyền và nghĩa vụ của DNXH (24)
    • 4.1. Bất cập về quy định thành lập DNXH (27)
    • 4.2. Kiến nghị về quy định thành lập DNXH (29)
    • 5.1. Bất cập về hoàn thiện quy định pháp luật về giám sát hoạt động của DNXH (30)
    • 5.2. Kiến nghị về hoàn thiện quy định pháp luật về giám sát hoạt động của DNXH BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CỦA DNXH (32)
    • 6.1. Những bất cập hiện nay về việc hoàn thiện quy định pháp luật về tổ chức lại, chấm dứt hoạt động của DNXH (35)
    • 6.2. Những kiến nghị về việc hoàn thiện quy định pháp luật về tổ chức lại, chấm dứt hoạt động của DNXH (36)
  • KẾT LUẬN (0)
    • A. Văn bản pháp luật (38)
      • A.1. Văn bản pháp luật Việt Nam (38)
      • A.2. Văn bản pháp luật nước ngoài (39)
    • B. Tài liệu tham khảo (39)
      • B.1. Tài liệu trên Internet (39)
      • B.2. Tài liệu trên youtube (40)

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Nhóm “Effort leads to success” chúng tôi xin cam đoan bài tiểu luận với chủ đề ” Pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội – bất cập và kiến nghị” của các thành viên trong nhóm hợp tác vi.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI 11: PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI – BẤT

CẬP VÀ KIẾN NGHỊ

BÀI TIỂU LUẬN

Trang 2

BÀI TIỂU LUẬN

Trang 3

Nhóm: Effort leads to success Lớp: QTL46B1

Giảng viên: ThS Lê Nhật Bảo

Bộ môn: Pháp luật chủ thể kinh doanh

5 Nguyễn Yến Phương 2153401020205

6.

Nguyễn Trịnh Như Quỳnh 2153401020218

ĐỀ TÀI 11: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

– BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Nhóm “Effort leads to success” chúng tôi xin cam đoan bài tiểu luận với chủ đề:” Pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội – bất cập và kiến nghị” của các thành viêntrong nhóm hợp tác viết thành, được thực hiện dưới sự dẫn dắt của ThS Lê Nhật Bảo Những phân tích về bất cập và kiến nghị được đề xuất dựa trên quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tìm tòi của các thành viên trong nhóm và các công trình đã trích dẫn nguồn

ở danh mục tài liệu tham khảo

Tác giả bài tiểu luận

Effort leads to success

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ST

(Community Interest Company)

Quy chế về Công ty vì lợi ích cộng đồng

2005 của Vương quốc Anh

(The Community Interest Company

Regulations 2005)

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu 6

2.1 Giả thuyết về nghiên cứu 6

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 7

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Đối tượng nghiên cứu 7

3.3 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 8

5 Kết cấu của đề tài 8

BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ SỰ PHỔ BIẾN, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA DNXH HIỆN NAY 9

1.1 Bất cập về sự phổ biến, thực trạng phát triển của DNXH hiện nay 9

1.2 Kiến nghị về sự phổ biến, thực trạng phát triển của DNXH hiện nay 13

BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC CỦA DNXH 16

2.1 Bất cập về quy định pháp luật về các loại hình tổ chức của dnxh 16

2.2 Kiến nghị về quy định pháp luật về các loại hình tổ chức của DNXH 18

BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA DNXH 20

3.1 Bất cập về quyền và nghĩa vụ của DNXH 20

3.2 Kiến nghị về quyền và nghĩa vụ của DNXH 22

BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ QUY ĐỊNH THÀNH LẬP DNXH 25

4.1.Bất cập về quy định thành lập DNXH 25

4.2 Kiến nghị về quy định thành lập DNXH 27

Trang 7

BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ

GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA DNXH 29

5.1 Bất cập về hoàn thiện quy định pháp luật về giám sát hoạt động của DNXH 29

5.2 Kiến nghị về hoàn thiện quy định pháp luật về giám sát hoạt động của DNXH BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CỦA DNXH 33

6.1.Những bất cập hiện nay về việc hoàn thiện quy định pháp luật về tổ chức lại, chấm dứt hoạt động của DNXH : 33

6.2 Những kiến nghị về việc hoàn thiện quy định pháp luật về tổ chức lại, chấm dứt hoạt động của DNXH : 34

KẾT LUẬN 36

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

A Văn bản pháp luật 37

A.1 Văn bản pháp luật Việt Nam 37

A.2 Văn bản pháp luật nước ngoài 37

B Tài liệu tham khảo 37

B.1 Tài liệu trên Internet 37

B.2 Tài liệu trên youtube 38

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Có thể thấy rằng, nhìn chung các Doanh nghiệp xã hội (DNXH) giống với các mô hình doanh nghiệp thông thường vì đều được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp Tuy nhiên, mục tiêu lớn nhất mà DNXH muốn hướng đến là giải quyết các vấn đề xã hội, hướng đến lợi ích chung của cộng đồng Bên cạnh đó, DNXH không đặt mục tiêu lợi nhuận của mình lên hàng đầu mà DNXH sẽ dùng phần lợi nhuận ấy để giải quyết các vấn đề xã hội, tạo cơ hội việc làm và xóa đói giảm nghèo thông qua những chiến lược phát triển bền vững

DNXH là một khái niệm khá mới mẻ đối với nước ta nhưng không thể không phủ nhận vai trò quan trọng mà DNXH đối với kinh tế, xã hội được khẳng định bằng việc luật hóa DNXH lần đầu tiên trong LDN 2014 và gần đây nhất là LDN 2020 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2022) Mặc dù LDN đã đưa ra một khuôn khổ pháp lý với những chính sách ưu đãi đặc biệt khuyến khích sự phát triển của DNXH Thế nhưng, việc chỉ

có duy nhất một điều luật cụ thể đề cập đến DNXH vẫn chưa đủ để điều chỉnh các vấn

đề liên quan đến DNXH có thể kể đến như: việc thiếu đi một khái niệm về DNXH, cùng với sự thiếu sót về các quy định, hướng dẫn cụ thể cho DNXH,… Nó từng bước khiến cho DNXH ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn và trở thành rào cản không hề nhỏ cho bước phát triển của các DNXH tại Việt Nam

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Những bất cập và kiến nghị của DNXH ởViệt Nam” để thông qua đó với mong muốn so sánh, phân tích những bất cập về DNXH mà hiện nay pháp luật nước ta đang gặp phải Từ đó, đề ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hành lang pháp lý, đồng thời hỗ trợ cho các DNXH ở Việt Nam ngày càng phát triển

2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu

2.1 Giả thuyết về nghiên cứu

Những quy định của pháp luật về DNXH ở Việt Nam còn chưa đầy đủ, một số vấn

đề cần có sự lý giải rõ ràng, cụ thể, đồng thời cần có thêm những nghiên cứu bổ sung

về DNXH - một khái niệm khá mới tại Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh về DNXH còn nhiều điểm bất cập và hạn chế, chưa thực sự phù hợp khi áp dụng trên thực tế Có thể tham khảo kinh nghiệm pháp luật từ một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới để học hỏi và lựa chọn áp dụng phù hợp với Việt Nam

Trang 9

Thực trạng phát triển của các DNXH tại Việt Nam hiện nay vẫn còn khá khiêm tốn

so với các quốc gia khác, có thể là do còn thiếu các quy định pháp luật về mô hình này, đồng thời cũng chưa có quá nhiều ưu đãi khuyến khích phát triển DNXH so với doanh nghiệp thương mại truyền thống Do đó, cần kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý về DNXH, xây dựng những chính sách, ưu đãi riêng để giúp DNXH tháo gỡ những vướng mắc, hỗ trợ, giúp DNXH phát triển không những trong kinh doanh mà còn trong các hoạt động vì mục đích cộng đồng

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Tiểu luận được thực hiện nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu:

Thứ nhất: DNXH được hình thành và phát triển trên thế giới và tại Việt Nam như thế nào? Mô hình DNXH có khác gì so với doanh nghiệp thường và các loại hình tổ chức tương tự?

Thứ hai: Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về DNXH như thế nào?

Thứ ba: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật đối với DNXH ở Việt Nam hiện nay có gì phù hợp và chưa phù hợp? Tại sao?

Thứ tư: Để phát triển DNXH ngày càng tốt hơn thì cần kiến nghị đề xuất gì?

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích về hành lang pháp lý, việc áp dụng những quy định của pháp luật Việt Nam trên thực tiễn Qua đó, rút ra những kết luận và đưa ra những ý kiến đề xuất để góp phần hoàn thiện hơn về cơ sở pháp lý nước ta đối với các DNXH Ngoài ra, còn cóthể nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của DNXH tại Việt Nam hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những quy phạm pháp luật quy định về DNXH của nước tahiện nay trong LDN năm 2020 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2022), cùng một số văn bản hướng dẫn Không những thế, kế thừa và tham khảo những kinh nghiệm, quy định của các quốc gia khác trên thế giới đối với DNXH Qua đó, tìm hiểu thực tiễn việc áp dụngcác quy định của pháp luật về DNXH để tìm ra những bất cập, khó khăn trong quá trình tiến hành áp dụng những quy định này Và đồng thời đóng góp kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn loại hình DNXH ở nước ta

Trang 10

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận chủ yếu là LDN năm 2020 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2022); Nghị định số 96/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của LDN Ngoài ra còn có một số điều luật, chính sách của các quốc gia trên thế giới

mà điển hình là Vương quốc Anh Và từ đó nhận xét về sự phát triển của DNXH trên toàn bộ lãnh thổ nước ta

4 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

LDN năm 2020 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã đánh dấu sự phát triển cũng như dần hoàn thiện hơn về mặt pháp lý của các loại mô hình doanh nghiệp ở nước ta DNXH lần đầu được pháp luật Việt Nam quy định tại LDN năm 2014 và sau hơn 6 năm tại LDN năm 2020 DNXH cũng đã được nhắc đến Tuy đến năm 2022 LDN đã cónhững sửa đổi, bổ sung nhất định nhưng đối với DNXH thì không có điểm thay đổi nào Ở LDN mới nhất thì chỉ có duy nhất một Điều 10 là có nhắc đến DNXH nhưng trên thực tế xoay quanh vấn đề DNXH còn rất nhiều rào cản mà pháp luật Việt Nam hiện nay chưa đề cập đến Ý nghĩa lớn nhất của việc nghiên cứu đề tài này chính là việc đem đến nguồn thông tin cần thiết, hữu ích về những bất cập và thực trạng của DNXH trên thực tế Bên cạnh đó, còn có những đóng góp kiến nghị hoàn thiện DNXHnước ta cả về mặt pháp lý lẫn việc thực thi trên thực tế

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu luận gồm

Trang 11

PHẦN 1 BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ SỰ PHỔ BIẾN, THỰC TRẠNG PHÁT

TRIỂN CỦA DNXH HIỆN NAY

Nếu như các doanh nhân xây dựng nên các tổ chức, doanh nghiệp thông thường vì lợi nhuận mà sản xuất ra hàng hoá dịch vụ để cung cấp vào thị trường thì các DNXH lại được thành lập với mục đích hiện thực hóa ý tưởng của chủ doanh nghiệp nhằm hướng đến mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội và tạo ra tác động xã hội Đây được xem

là một loại mô hình doanh nghiệp đầy tiềm năng và đóng vai trò to lớn trong việc đónggóp thiết thực cho kinh tế, góp phần thực hiện an sinh xã hội và thúc đẩy sự phát triển của xã hội Câu hỏi được đặt ra là tầm ảnh hưởng, mức độ phổ biến và thực trạng phát triển của DNXH hiện nay như thế nào? Làm cách nào để đem loại hình doanh nghiệp này được công chúng biết đến mạnh mẽ là điều mà tất cả mọi người đều quan tâm.DNXH lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh từ thế kỷ thứ XVII nhưng chỉ phát triển mạnh mẽ trên thế giới kể từ đầu năm 1980 Trong xu hướng toàn cầu hoá thì đây là thời kỳ người ta nói đến xã hội hậu công nghiệp Phong trào DNXH được thúc đẩy lan rộng một cách nhanh chóng trên toàn thế giới

Ở Việt Nam, DNXH đã được thành lập và tồn tại khá lâu rồi Về mặt pháp lý, cụm

từ “DNXH” xuất hiện trong LDN năm 2014, tiếp tục kế thừa ở LDN 2020, có cả khung pháp lý của luật về DNXH ở Việt Nam Mặc dù trong thực tế muốn giải quyết các vấn đề của nhức nhối của xã hội thì không thể phủ nhận được tầm quan trọng của các DNXH Thế nhưng với nhiều người, khái niệm này khá là mới không chỉ ở Việt Nam mà còn ở trên toàn thế giới Nhiều người chưa hiểu đúng về ý nghĩa của nó cũng như nhà nước cũng chưa có sự quan tâm đúng mức Hiểu biết về DNXH chính là một việc cần thiết để đưa DNXH phổ biến hơn trong xã hội, thúc đẩy DNXH phát triển Từ

đó chúng ta tìm ra những giải pháp thiết thực để giải quyết khó khăn và tìm ra hướng giải quyết sáng suốt

1.1.Bất cập về sự phổ biến, thực trạng phát triển của DNXH hiện nay

Theo số liệu thống kê của “DNXH tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách” được công bố năm 2012, tại Việt Nam có khoảng 200 tổ chức được xem có đầy

đủ các đặc điểm cơ bản của DNXH Tuy nhiên theo số liệu thống kê từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, tới tháng 4 năm 2020, cơ quan nhận được đăng ký hoạt động chỉ

có hơn 100 DNXH và chi nhánh, văn phòng đại diện của DNXH Thực trạng có sự chênh lệch như vậy bởi có khá nhiều tổ chức có hoạt động và đặc điểm tương tự DNXH nhưng không thực hiện đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh Trong đó,

Trang 12

nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và hiểu biết về DNXH hiện nay còn quá đơn giản, chưa đủ để điều chỉnh loại hình doanh nghiệp mới mẻ này.

Ở Việt Nam, các DNXH vẫn còn ở quy mô khá nhỏ, khó để phát triển ở một quy

mô lớn hơn Cách đây khoảng 5 năm có một báo cáo tại Mexico thống kê những DNXH được thành lập, thì trên 70% doanh nghiệp sau một năm hoạt động đã không còn tồn tại Chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp là tồn tại sau một năm và chỉ có 9% doanh nghiệp tồn tại sau 5 năm hoạt động.1 Hầu hết ở Việt Nam, các DNXH đều có quy mô hoạt động nhỏ về nguồn nhân lực, nguồn tài chính lẫn doanh số lợi nhuận Theo thống kê từ Ban Các vấn đề xã hội và môi trường thì tới năm 2019 có đến 70% DNXH có quy mô dưới 20 nhân viên Theo Báo cáo nghiên cứu “Hiện trạng DNXH tại Việt Nam”, có 40% DNXH có doanh thu dưới 1 tỷ đồng; chiếm 19% là các DNXH đạt doanh thu thu về trong khoảng 1 đến 5 tỷ đồng; DNXH có doanh thu tổng thể từ 5 đến 25 tỷ đồng chiếm 23%; chỉ khoảng 12% DNXH đạt mức doanh thu hơn 25 tỷ đồng Đặt trong mối tương quan so sánh với DNXH của một vài nước trên thế giới, thìDNXH Việt Nam vẫn chỉ trong giai đoạn chuyển mình, do đó quy mô hoạt động lẫn doanh thu vẫn còn rất nhỏ Như vậy, mặc dù DNXH hướng tới mục tiêu bền vững nhưng mà phải cùng lúc theo đuổi hai mục tiêu kép là xã hội và lợi nhuận nên các DNXH nếu không được quan tâm và hỗ trợ đúng mức thì sẽ rất khó để hoạt động lâu dài

Hiện nay, các DNXH luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn vì kết hợp giữa yếu

tố lợi nhuận và phi lợi nhuận Chủ doanh nghiệp phải hướng tới cả hai mục tiêu kép: vừa tạo tác động xã hội, vừa phải có lợi nhuận để họ độc lập về tài chính Hai khó khăn nổi trội nhất của DNXH là nguồn lực về tài chính và nguồn lực về nhân sự

Về nguồn lực tài chính, chủ DNXH để tìm kiếm những nhà đầu tư dự án của mình hoặc là đầu tư góp vốn với mình rất khó bởi vì đa số nhà đầu tư quan tâm đến lợi nhuận mà DNXH là doanh nghiệp hướng đến mục tiêu xã hội quan trọng hơn lợi nhuận Khác với các tổ chức từ thiện là nhận nguồn tiền từ các mạnh thường quân hay chính phủ, mà DNXH đưa giải pháp kinh doanh để giải quyết các vấn đề xã hội và chia sẻ trách nhiệm xã hội với nhà nước, với Chính phủ Vì có quá nhiều các vấn đề xãhội nên rất khó để giải quyết được hết cũng như dòng tiền cung cấp vào cũng không đủ

để đáp ứng nhu cầu xã hội cần Thông thường các DNXH ở Việt Nam tồn tại rất nhiều doanh nghiệp có một biên độ lợi nhuận thấp, dòng tiền cũng là vấn đề nên họ gặp rất lànhiều khó khăn khi vay vốn từ ngân hàng Các cơ chế vay vốn của ngân hàng cho các

1 Kênh Youtube “Doanh nghiệp xã hội”, truy cập tại link https://www.youtube.com/watch?v=XnP1yFPxQho

Trang 13

doanh nghiệp này không được hỗ trợ lắm không cũng như là chưa có quỹ của nhà nước để góp vốn hoặc tài trợ cho những cái dự án Mặt khác, một số điều khoản quy định pháp luật thể hiện rõ sự hạn chế trong quá trình thực thi, khiến các nhà đầu tư có

sự cân nhắc khi tiến hành đăng ký hoạt động và thành lập theo mô hình DNXH Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi và đầu tư phát triển mô hình DNXH chưa nhiều, chưa đủ mạnh, đủ lớn để thu hút các nhà đầu tư

Nếu doanh nghiệp thông thường hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thì DNXH chỉ có thể coi lợi nhuận là một nấc thang dẫn đến mục tiêu lớn hơn là giúp đỡ, hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống Thêm vào đó do thành lập trên cơ sở ý nguyện giải quyết các vấn đề xã hội nên thông thường vốn đầu tư vào DNXH được đóng góp

từ những người sáng lập với tình trạng thiếu vốn và khả năng tiếp cận nguồn vốn cũng không cao Nếu tài chính là vấn đề khó khăn bậc nhất mà một doanh nghiệp phải đối mặt thì ở DNXH, vấn đề đó càng lớn hơn gấp bội lần

Về nguồn lực nhân sự, để tìm kiếm nhân sự hoạt động cho các DNXH rất khó Thứ nhất là những người làm ở các doanh nghiệp kinh doanh bình thường sẽ có kỹ năng như: kinh doanh bán hàng, quản lý,…nhưng lại không có những kỹ năng về xã hội hoặc là họ sẽ khó hòa nhập với cộng đồng mà họ thụ hưởng Ví dụ như một dự án hướng đến đối tượng thụ hưởng là người khuyết tật thì đòi hỏi nguồn nhân sự phải thấu hiểu được cuộc sống, suy nghĩ của người khuyết tật để rồi hỗ trợ, đưa cái chương trình đến với họ Vấn đề ở đây là có những người rất đam mê nhưng không có kỹ năng, cũng có những người có kỹ năng nhưng lại không nhiệt huyết với dự án của DNXH Bởi DNXH là sự kết hợp giữa kinh doanh và hoạt động xã hội, giữa trái tim

và khối óc, giữa phẩm chất của doanh nhân với sự thấu cảm của người làm cộng đồng

để giải quyết các vấn đề xã hội Vì thế đòi hỏi ở những người công tác tại DNXH vừa phải có tâm vừa phải có tầm mới có thể gắn bó hợp tác lâu dài

Một điểm vô cùng nổi bật của DNXH là luôn kiên định với mục tiêu xã hội của mình Nếu như một DNXH đang hoạt động mà cảm thấy điều kiện kinh tế cũng như nguồn lực quá eo hẹp thì lại chuyển đổi sứ mệnh thì không được coi là DNXH nữa Ví

dụ như một DNXH thấy mình thuê người khuyết tật làm việc không có năng suất, rất nhiều khó khăn ập đến Và thế là họ thuê người bình thường vào làm để tăng năng suất

và tăng lợi nhuận thì rõ ràng họ không còn đi với cái sứ mệnh ban đầu của họ nữa Thì lúc ấy doanh nghiệp này không còn là bản chất của DNXH nữa

Bởi vì DNXH vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ tại Việt Nam Điều này dẫn đến hàng loạt những khó khăn thách thức mà các DNXH phải đối mặt Trước hết là sự hoài nghi của mọi người về bản chất và mục đích của DNXH Vì thiếu đi sự tin tưởng

Trang 14

và công nhận của cộng đồng tạo ra những rào cản cho DNXH khi hợp tác với bên thứ

ba Việc chưa có nhận thức đầy đủ cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt khuôn khổ pháp lý cho DNXH, tạo ra rào cản trong việc thu hút và tiếp cận các nguồn đầu tư tài chính, các ưu đãi chính sách, thiếu hụt nguồn nhân lực phù hợp.Đối với bản thân nội tại DNXH, một khi đã được thành lập thì vấn đề tồn tại và pháttriển là một mối bận tâm vô cùng lớn khi cùng một lúc phải theo đuổi cả hai mục tiêu kinh tế và xã hội khiến doanh nghiệp này rơi vào tình trạng luôn phải đi tìm nguồn tài chính để vận hành bộ máy hoạt động tạo ra lợi nhuận để cung cấp lại cho cộng đồng yếu thế

Có một thực tế là nếu DNXH chạy theo lợi nhuận thì sẽ không đảm bảo được việc hoạt động xã hội của mình Đây là một thách thức khi một DNXH quá thành công về kinh doanh sẽ dễ dẫn đến nguy cơ là họ sẽ bị hút theo hoạt động kinh doanh đó mà saonhãng mục tiêu xã hội Tuy nhiên điều này lại hiếm xảy ra trên thực tế Bản thân ngườigiữ lửa, người lãnh đạo doanh nghiệp đó hiểu rất rõ mục đích của mình là gì và đa phần các DNXH hiện nay ở Việt Nam hầu như chưa nhìn thấy có DNXH nào thực sự thành công mà chạy theo lợi nhuận Bí quyết thành công của DNXH chính là tập trungvào các mục tiêu xã hội mà họ đề ra

Đứng trước nhiều khó khăn như vậy thì câu hỏi đặt ra là có nên khởi nghiệp với DNXH hay không? Điều đó tuỳ thuộc vào lựa chọn của chúng ta Nếu như bạn cảm thấy là mình chưa sẵn sàng hoặc chưa đủ tình yêu sứ mệnh xã hội đó thì không nên Theo tôi nghĩ thì việc đăng ký loại hình DNXH ngay từ khi mới thành lập doanh nghiệp hay là đăng ký sau này không quan trọng, quan trọng là mình có yêu cái sứ mệnh đó hay không và mình có cam kết và mình có làm được những cách tạo được tácđộng xã hội hay không mà thôi

Về phạm vi hoạt động, các DNXH ở Việt Nam hiện nay mở rộng quy mô cũng như phạm vi: không những hoạt động trong nước còn vươn ra thị trường nước ngoài, không chỉ tập trung khu vực thành thị, trung tâm Thành phố lớn mà còn tới các vùng nông thôn có nhiều tiềm năng phát triển để đầu tư Theo Báo cáo nghiên cứu “Hiện trạng DNXH tại Việt Nam”, khoảng hơn một nửa DNXH có cơ quan trụ sở chính đặt tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, gần một nửa còn lại hoạt động ở khu vực nông thôn Cũng theo báo cáo chính xác của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thì tính tới cuối tháng 4 năm 2020, các tỉnh, thành phố không có DNXH, chi nhánh, văn phòng đại diện của DNXH đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh vẫn chiếm tỷ lệ cao; bởi vì hầu hết đều tập trung ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số tỉnh, thành phố lớn Điều

Trang 15

này cho thấy, dù mở rộng phạm vi nhưng DNXH vẫn còn tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn, tỉnh thành trực thuộc Trung ương.

Cũng theo báo cáo số liệu trên, tính tới đầu tháng 5 năm 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần là hình thức mà DNXH lựa chọn đăng ký nhiều nhất với

cơ quan đăng ký kinh doanh Trên thực tế, DNXH vẫn hoạt động dưới nhiều hình thức khác như HTX, hộ kinh doanh, tổ chức phi lợi nhuận…nhưng do pháp luật hiện nay chỉ chấp nhận doanh nghiệp là hình thức pháp lý của DNXH vậy nên các DNXH không đăng ký thành lập với bất cứ hình thức nào khác ngoài quy định

Ta thấy rằng Việt Nam là một mảnh đất màu mỡ để cho DNXH gieo vào đó một hạtgiống để một xã hội phát triển bền vững và an toàn Tuy nhiên sự phát triển của

DNXH tại Việt Nam chỉ vừa bước qua giai đoạn sơ khai và vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn mà doanh nghiệp cần phải giải quyết cho sự tồn tại và phát triển của chính mình

Những khó khăn mà DNXH phải đối mặt rất lớn Thực tế là có không ít DNXH không thể phát triển được thị phần, không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong cùng một lĩnh vực, thậm chí có những doanh nghiệp phải chuyển đổi loại hình sang doanh nghiệp khác Vậy thì làm cách nào để DNXH có thể vượt qua những khó khăn đó Bản thân mỗi DNXH cần tìm ra cho mình một hướng đi riêng, một giải pháp sáng tạo, tận dụng để biến những khuyết điểm thành ưu điểm

Ví dụ như ở Việt Nam có những công ty làm về marketing, thuê người khuyết tật làm nhân sự Chủ DNXH hiểu được lợi thế của người khuyết tật là những người hướngnội nên tính sáng tạo cao hơn người bình thường và họ làm sản phẩm rất tỉ mỉ chu đáo nên là rất nhiều những công ty họ thấy cái lợi thế đó của cộng đồng người khuyết tật

Và cũng có những doanh nghiệp thấy được ưu thế của những nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm đến việc tạo giá trị tác động xã hội nên khi nghe một cái dự án như vậy họ thấy thích thì họ sẽ đầu tư, ủng hộ Cho nên đối với DNXH này thì yếu tố tìm kiếm những đối tác để kết hợp và đi cùng với nhau rất là quan trọng

Đa phần các DNXH đều áp dụng mô hình tài chính, mô hình kinh doanh khá đa dạng Họ có thể có những mảng dịch vụ để đem lại nguồn thu về mặt tài chính nhưng đồng thời họ cũng có thể đan xen với những hoạt động mà nguồn thu từ các khoản tài trợ, hỗ trợ của cộng đồng

1.2.Kiến nghị về sự phổ biến, thực trạng phát triển của DNXH hiện nay

Trang 16

Từ những kết quả nghiên cứu dựa vào thực tế về cơ cấu cũng như phương thức hoạtđộng của DNXH ở Việt Nam từ khi mới hình thành tới nay có thể đưa ra một số giải pháp như sau:

Đầu tiên chính là các DNXH cần nhận được sự quan tâm ủng hộ và hỗ trợ của Đảng

và Nhà nước Đảng và Nhà nước nên quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội Đảng và Nhà nước đã khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật về sự quan tâm và chú ý coi trọng phát triển chính sách cũng như tạo điều kiện cho các DNXH phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần đem đến không chỉ lợi ích về kinh tế mà còn là giá trị nhân văn cho xã hội

Thứ hai, cần nâng cao trình độ hiểu biết của người dân Việt Nam cùng với tinh thầntương thân tương ái vốn có từ trước đã góp phần làm cho người dân nhận thức một cách rõ ràng hơn việc giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường là trách nhiệm của Nhà nước và của toàn thể nhân dân Từ đó, họ vận dụng những kiến thức đã biết cùng với tinh thần sẵn sàng sẻ chia một phần nghĩa vụ xây dựng đất nước và góp phần hỗ trợ Nhà nước nỗ lực giải quyết những vấn đề cập nhật mang tính xã hội, từ đó phát triển DNXH của riêng mình

Thứ ba là về thị trường vốn tài chính đa dạng và phù hợp hơn với các DNXH Các DNXH rất đa dạng và họ đang phát triển ở rất nhiều mức độ, giai đoạn khác nhau Có những giai đoạn nhất định mà DNXH phải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn tài trợ hoặc của các nhà đầu tư thiên thần Có những doanh nghiệp ở giai đoạn phát triển cao hơn thì DNXH cần các khoản vốn như là vốn có tỷ suất ưu đãi và thủ tục của nó cần nhanh gọn và giảm bớt yêu cầu thủ tục về thế chấp, tài chính,….Và khi DNXH đã pháttriển mạnh rồi thì họ lại cần có những chương trình hỗ trợ để trở thành khách hàng củanhà nước, cần những gói đầu tư lớn cho các doanh nghiệp đã phát triển Thị trường tài chính cho DNXH hiện giờ còn rất mỏng và khá rải rác Đó là điều tôi nghĩ chính sách nhà nước cần tập trung

Thứ tư là trong quá trình hoạt động, DNXH có những đặc thù nhất định nên rất nhiều các tổ chức băn khoăn loay hoay không biết là mình nên hoạt động dưới hình thức như thế nào thì hiện nay nhà nước cũng chưa có cơ chế, khung pháp lý cho các tổ chức hoạt động dưới hình thức này Và khi đã thành lập rồi thì DNXH còn thiếu về năng lực, kinh nghiệm, trải nghiệm Vì DNXH còn khá là mới nên vẫn chưa có trường lớp, khoá học bài bản nào đào tạo để giúp cho DNXH thành công hơn trên con đường của mình Vì thế, tôi kiến nghị cần có khoá đào tạo ban đầu về khởi nghiệp các

DNXH, quản chế chiến lược tài chính cho DNXH,….để giúp các DNXH giảm bớt rủi

Trang 17

ro và tăng cơ hội thành công lên Tôi cũng rất mong nhà nước sẽ có những chương trình hỗ trợ trực tiếp cho những người khởi sự DNXH.

Điều cuối cùng rất quan trọng đó là trước khi chúng ta bàn đến khuôn khổ luật phápnào thì cần sự công nhận chính thức của nhà nước về vai trò, khả năng mà DNXH có thể đóng góp cho việc phát triển đất nước nói chung cũng như giải quyết các vấn đề xãhội và môi trường Hy vọng nhà nước sẽ có những hành động công nhận những

DNXH đã làm tốt nhiệm vụ, sứ mệnh của mình là đem đến giá trị cho xã hội

Tôi rất mong muốn vào một ngày nào đó khi DNXH ngày càng phát triển bền vững,trở thành đối tác tin cậy của nhà nước thì họ có thể thực hiện được những chương trình, những mục tiêu sứ mệnh cao cả mà nhà nước muốn hướng đến cũng như khắc phục những vấn đề nhức nhối trong xã hội: Xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân,… Ví dụ như ở nước Anh, chính phủ xem doanh nghiệp như một đối tác tin cậy và quan trọng trong việc thực hiện các chương trình xã hội của mình Và ở trong mối quan hệ này, nhà nước trở thành bên chi trả, là khách hàng; còn các DNXH là nơi cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả nhất cho khách hàng là nhà nước Trong thời gian tới nếu tiếp tục phát huy những thuận lợi và quan tâm đề ra chính sách khắc phục khó khăn giúp DNXH vươn mình phát triển thì

sẽ là một bước tiến lớn góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nước ta trong tương lai

Trang 18

PHẦN 2 BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC

LOẠI HÌNH TỔ CHỨC CỦA DNXH 2.1 Bất cập về quy định pháp luật về các loại hình tổ chức của dnxh

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 LDN 2020 (sửa đổi, bổ sung 2022) thì DNXH phải đáp ứng tiêu chí là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này Như vậy có thể hiểu các loại hình tổ chức của DNXH phải là các loại hình doanh nghiệp được quy định trong LDN 2020 (sửa đổi, bổ sung 2022) bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Mặc dù nhà nước ban hành ra điều luật về các loại hình tổ chức của DNXH như vậy là để dễ dàng hơn trong việc quản lý xã hội nhưng trong thực tế, quan điểm “DNXH là doanh

nghiệp” dường như vẫn còn nhiều mâu thuẫn cần giải quyết

Theo khoản 10 Điều 4 LDN 2020 (sửa đổi, bổ sung 2022), doanh nghiệp là tổ chức

có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theoquy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.2 Từ đó có thấy doanh nghiệp khác với những tổ chức khác ở đặc điểm được thành lập vì mục đích kinh doanh Và theo quy định pháp luật thì kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch

vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận (Khoản 21 Điều 4 LDN năm

2020 - sửa đổi, bổ sung 2022) Qua đó cho thấy mục đích sinh lợi chính là mục tiêu lớn nhất mà các doanh nghiệp muốn hướng đến Vì vậy, nếu áp dụng những quan điểm

về “doanh nghiệp” và “kinh doanh” lên DNXH thì chưa thực sự phù hợp DNXH đặt mục tiêu, sứ mệnh xã hội lên hàng đầu ngay từ khi doanh nghiệp được thành lập, được lập ra để giải quyết mục tiêu xã hội cụ thể, phục vụ cho một cộng đồng hay nhóm xã hội được công nhận, chứ không phải phục vụ riêng cho cá nhân Nói cách khác, lợi nhuận không phải mục tiêu quan trọng nhất mà DNXH đặt ra Đây cũng là đặc điểm phân biệt DNXH với các doanh nghiệp thương mại khác Còn trong quy định của phápluật hiện hành thì trước hết DNXH là “doanh nghiệp”, như thế sẽ gây ra sự mâu thuẫn trong khái niệm DNXH vì bản chất DNXH hướng đến mục đích phi lợi nhuận, vì lợi ích chung còn khái niệm doanh nghiệp lại gắn liền với mục ích thương mại, đầu tư sinh lời

2 Luật doanh nghiệp (Luật số: 59/2020/QH14) ngày 17 tháng 6 năm 2020 (sửa đổi bổ sung 2022)

Trang 19

Ngoài ra, quan điểm DNXH là doanh nghiệp còn dẫn đến tình trạng không thống nhất, chồng chéo trong quy định pháp luật Doanh nghiệp được thành lập nhằm thực hiện chức năng kinh doanh với mục tiêu chính là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư được Điều 75 BLDS 2015 xếp vào nhóm pháp nhân thương mại Trong khi đó, với quy định về pháp nhân phi thương mại rằng “vẫn có thể tìm kiếm lợi nhuận nhưng đó không là mục tiêu chính và điều quan trọng là nếu có lợi nhuận thì không được chia cho các thành viên” tại Điều 76 BLDS 2015 lại rất phù hợp với các đặc điểm của DNXH Như vậy, nếu xét theo quy định của LDN, “DNXH là doanh nghiệp” phải là pháp nhân thương mại, nhưng nếu xét theo BLDS, thì DNXH lại thỏa mãn là pháp nhân phi thương mại Điều này cho thấy cách quy định trên của LDN đã đưa đến sự mâu thuẫn khi xác định tư cách pháp lý của DNXH, gây khó khăn cho việc xác định, nghiên cứu cũng như quản lý mô hình này.

Quy định về hình thức pháp lý của DNXH cũng còn nhiều vướng mắc Trên thực tế hiện nay có nhiều tổ chức như trung tâm, hiệp hội, câu lạc bộ, đội, nhóm, đang thực hiện hoạt động kinh doanh và cũng đang hoạt động vì cộng đồng, vì xã hội tương tự như các đặc điểm của DNXH nhưng không đáp ứng được các hình thức pháp lý được quy định trong LDN nên cũng không được công nhận là DNXH Do pháp luật hiện hành chỉ chấp nhận hình thức pháp lý của DNXH là doanh nghiệp (bao gồm : công ty

cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên trở lên, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân) nên số lượng đăng ký thành lập DNXH còn nhiều hạn chế, hiện nay, ở nước ta tổ chức được công nhận là DNXH còn chiếm tỉ lệ rất nhỏ Vẫn còn rất nhiều tổ chức có hình thức hoạt động như DNXH nhưng bởi vì quy định phạm vi của LDN nên lựa chọn không chuyển đổi thànhDNXH Như vậy, cách quy định “DNXH là doanh nghiệp” đã loại trừ một số “DNXH thực tế”, đi ngược lại với tinh thần khuyến khích phát triển DNXH của nước ta

Đồng thời việc quy định hình thức pháp lý cũng gây ra nhiều khó khăn cho DNXH, gây ra sự gò bó trong quá trình sáng tạo, phát huy các ý tưởng dự án xã hội vì lợi ích cộng đồng của các nhà quản lý doanh nghiệp Cần phải cân bằng giữa những quy định của pháp luật và các mục tiêu mà DNXH hướng đến Thêm vào đó, thủ tục pháp lý đốivới các doanh nghiệp thường phức tạp, rườm rà, tốn kém nhiều chi phí đối với doanh nghiệp cũng là câu hỏi khó cần thời gian giải đáp khi lợi nhuận không phải là mục tiêuchính của các DNXH Các doanh nghiệp này thường có quy mô nhỏ, vốn điều lệ thấp nên thường không có bộ phận pháp chế chuyên trách, chưa có đủ kinh phí để thuê đơn

vị tư vấn luật chuyên nghiệp Việc không thấu hiểu các quy định của pháp luật về doanh nghiệp khiến các DNXH lúng túng khi thực hiện các thủ tục pháp lý hoặc thực

Trang 20

hiện các quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh Đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro pháp lý khiến các doanh nghiệp này phải chịu các chếtài xử phạt Vì thế nên nhiều DNXH không thể thực hiện chuyển đổi hoặc không thể tiếp tục duy trì được phải chấm dứt hoạt động Chính vì vậy, các tổ chức hoạt động tương tự như các DNXH ở Việt Nam thường chọn tổ chức và hoạt động theo hình thức quỹ, trung tâm hơn là các loại hình doanh nghiệp được quy định trong luật.

Tóm lại, những quy định của LDN hiện hành có ưu điểm là tạo thuận lợi cho nhà nước quản lý doanh nghiệp một cách thống nhất, nhưng vẫn còn tạo nên nhiều ảnh hưởng lớn cho các DNXH Phần lớn các tổ chức hoạt động dưới hình thức tương tự như DNXH đang gặp phải nhiều vấn đề về hình thức pháp lý nếu muốn đăng ký trở thành DNXH như luật định Vì vậy, điều này phần nào đã trở thành một rào cản ngăn cản sự phát triển về số lượng của các DNXH Bên cạnh đó, chính vì pháp luật chưa đủ chặt chẽ đã tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp lợi dụng danh “DNXH” để hưởng lợi nhằm cạnh tranh không lành mạnh, làm ảnh hưởng đến bức tranh chung về DNXH

2.2 Kiến nghị về quy định pháp luật về các loại hình tổ chức của DNXH

Hiện nay, LDN hiện hành chỉ liệt kê ra các đặc trưng để xác định DNXH mà chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý cụ thể, rõ ràng cho khái niệm này Trong số các đặc trưng pháp lý được ghi nhận, hai đặc điểm của DNXH là hướng đến mục tiêu xã hội, môi trường và cách thức phân phối lợi nhuận nhìn chung là phù hợp Tuy nhiên, việc xác định đặc trưng đầu tiên của “DNXH là doanh nghiệp” qua đó là chưa phù hợp và không phản ánh đúng bản chất của DNXH Dẫn đến thực trạng các quy định pháp luật

về DNXH không tương thích với thực tiễn hoạt động và gây ra nhiều bất cập, chồng chéo trong quy định pháp luật Đối với đặc trưng “DNXH là doanh nghiệp” thì Việt Nam nên tham khảo quy định của nước Anh khi quốc gia này xác định rõ DNXH không phải là doanh nghiệp mà chỉ là một kiểu tổ chức có thực hiện hoạt động kinh doanh Do đó, các nhà làm luật nên xem xét, thống nhất lại đặc trưng pháp lý của DNXH sao cho phù hợp với bản chất của DNXH trên thực tế, xây dựng và hoàn thiệnpháp luật về doanh nghiệp nói chung và pháp luật về DNXH nói riêng, từ đó giúp thúcđẩy DNXH phát triển

Bên cạnh đó, việc DNXH chỉ được thừa nhận tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp theo luật định bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân cũng gây ra những hạn chế, thực tế hiện nay có rất nhiều hình thức tổ chức tương tự như DNXH nhưng họ lại lựa chọn không chuyển đổi thành DNXH do không đủ các yêu cầu về hình thức pháp lý như luật định Mặt khác, vì mục

Ngày đăng: 20/05/2023, 08:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w