BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP PH
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ
CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG 4.0
Mã số đề tài: 20/1.4 TMDL 01
Chủ nhiệm đề tài: Th.S LÊ THỊ THƯƠNG
Đơn vị thực hiện: KHOA THƯƠNG MẠI –DU LỊCH
Tp Hồ Chí Minh, 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường 20/1.4 TMDL 01, nhóm tác giả đã
nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ rất tận tình Với tấm lòng chân thành, chúng tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Quản lý
khoa học và hợp tác quốc tế, lãnh đạo khoa Thương mại du lịch, Công nghệ thông tin, Thư
viện cùng giảng viên của 2 khoa liên quan đến chuyên ngành Thương mại điện tử đã tận tình
hỗ trợ và tạo mọi điều kiện giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Thời gian nghiên cứu không dài, điều kiện khách quan không thuận lợi, vì vậy kết quả
nghiên cứu không tránh khỏi sai sót, nhóm tác giả rất mong nhận được sự góp ý từ các nhà
khoa học, quản lý, các giảng viên và sinh để đề tài hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
I Thông tin tổng quát
1.1 Tên đề tài: Thực trạng và biện pháp phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành Thương mại điện tử, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0
1.2 Mã số: 20/1.4 TMDL 01
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
(học hàm, học vị) Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 ThS Lê Thị Thương Khoa Thương mại –Du lịch Chủ nhiệm đề tài
2 PGS TS Phan Thị Tố Oanh Khoa Thương mại –Du lịch Thành viên
3 TS Mai Thanh Hùng Khoa Thương mại –Du lịch Thành viên
4 ThS Phan Thanh Huyền Khoa Thương mại –Du lịch Thành viên
5 ThS Đặng Trung Kiên Khoa Thương mại –Du lịch Thành viên
1.4 Đơn vị chủ trì: Khoa Thương mại –Du lịch
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng… năm 2020 đến tháng năm 2021
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có): Không
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 20 triệu đồng
II Kết quả nghiên cứu
Trang 5MỤC LỤC
CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 9
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU 11
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 13.
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 13
1 Tính cấp thiết của đề tài 13
2 Mục tiêu của đề tài 17
2.1 Mục tiêu tổng quát……….17
2.2 Mục tiêu cụ thể……… 17
3 Giả thuyết khoa học 17
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 17
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 18
5.1 Đối tượng nghiên cứu 18
5.2 Khách thể nghiên cứu………18
6 Phạm vi nghiên cứu 18
6.1 Phạm vi nội dung: 18
6.2 Phạm vi khách thể khảo sát 18
6.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu: 18
7 Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu 18
7.1 Phương pháp luận 18
7.2 Phương pháp nghiên cứu 19
8 Công cụ nghiên cứu 20
9 Tính mới của đề tài 20
10 Đóng góp của đề tài 21
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP 4.0 22
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính cấp thiết tiến hành nghiên cứu 22
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về kĩ năng tự học ở nước ngoài 22
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về kĩ năng tự học ở trong nước 25
1.2.Khái niệm cơ bản 28
1.2.1 Kỹ năng, kỹ năng tự học 28
Trang 61.2.2 Phát triển kỹ năng tự học của sinh viên 31
1.3 Lý luận về kỹ năng tự học của sinh viên 33
1.3.1 Tầm quan trọng của kỹ năng tự học 33
1.3.2 Cấu trúc của kỹ năng tự học 34
1.3.3 Một số đặc trưng của ngành TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.0 35
1.3.4 Đặc điểm cơ bản của sinh viên ngành TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.038 1.4 Phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên TMĐT 46
1.4.1 Quan điểm tiếp cận phát triển kỹ năng tự học 46
1.4.2 Con đường phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên TMĐT 48
1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.0 50
1.5.1.Yếu tố khách quan 50
1.5.2.Yếu tố chủ quan 54
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH THƯƠNG MẠI –ĐIỆN TỬ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4.0 58
2.1.Giới thiệu vài nét về trường ĐHCN TP HCM và ngành TMĐT của trường 58
2.1.2 Giới thiệu về khoa Thương mại – Du lịch 59
2.1.3 Giới thiệu về ngành Thương mại Điện tử 60
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 61
2.2.1 Mục đích và nội dung nghiên cứu thực trạng 61
2.2.2 Mẫu nghiên cứu 62
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 62
2.3 Thực trạng phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT, trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp 4.0 66
2.3.1.Thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh 66
2.3.2 Thực trạng về sự phát triển kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0 71
2.3.3 Đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lý về thực trạng việc phát triển kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT 91
Trang 72.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT, trường
Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0 95
2.4.1 Về giảng viên 94
2.4.2 Về chương trình đào tạo 95
2.4.3 Cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường 96
2.4.4 Văn hóa nhà trường 97
2.4.5 Về sinh viên ngành TMĐT 98
2.5 Đánh giá chung thực trạng phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ Công nghiệp 4.0 99
2.5.1 Mặt mạnh 99
2.5.2 Mặt yếu 100
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4.0 103
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 103
3.1.1 Định hướng chung 103
3.1.2 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 104
3.2 Một số biện pháp cụ thể 105
3.2.1 Nâng cao nhận thức, thái độ đối với việc phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên ngành TMĐT ở trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh 105
3.2.2 Phát triển kỹ năng thiết lập mục tiêu và kế hoạch thực hiện mục tiêu tự học trên lớp và ngoài lớp 108
3.2.3 Phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên TMĐT thông qua việc phát triển chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp dạy học 109
3.2.4 Phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên qua việc tổ chức tự học trên lớp 114
3.2.5 Phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên TMĐT qua hoạt động trải nghiệm và thực tế ngoài lớp 117
3.2.6 Phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên qua đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ 118
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của một số biện pháp đề xuất 120
3.3.1 Mục đích khảo sát 120
3.3.2 Nội dung và đối tượng khảo sát 120
Trang 83.3.3 Phương pháp khảo sát 120
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 128
1 Kết luận chung 128
1.1 Về lý luận 128
1.2.Về thực trạng 128
1.3.Về yếu tố ảnh hưởng 129
1.4.Về biện pháp 129
2.Khuyến nghị 130
2.1 Với Bộ Giáo dục Đào tạo và Bộ Công Thương 130
2.2.Với trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh 130
2.3 Với Giảng viên: 130
2.4 Với sinh viên 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
TÓM TẮT ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4.0……… 137
III Sản phẩm đề tài, công bố và kết quả đào tạo 139
IV Tình hình sử dụng kinh phí 139
V Kiến nghị ( về phát triển các kết quả nghiên cứu của đề tài) 139
VI Phụ lục sản phẩm 140
PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU 141
PHỤ LỤC 1: BẢNG KHẢO SÁT 141
PHỤ LỤC 2: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 151
PHỤ LỤC 3: PHIẾU KHẢO NGHIỆM 159
PHẦN II BÁO CÁO CHI TIẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 167
PHẦN III PHỤ LỤC ĐÍNH KÈM 168
Trang 9CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
1 Bảng 2.1 Mức độ quan trọng của kỹ năng tự học đối với sự phát triển bản
2 Bảng 2.2 Mức độ nhận biết về các kỹ năng tự học của sinh viên ngành
3 Bảng
2.3a
Về mức độ và kết quả việc xây dựng mục tiêu tự học theo thời
4 Bảng
2.3b Mức độ rõ ràng về mục tiêu tự học của sinh viên TMĐT 72
5 Bảng 2.4 Về mức độ và kết quả kỹ năng lập kế hoạch thực hiện mục tiêu tự
6 Bảng 2.5 Thực trạng mức độ và kết quả phát triển kỹ năng tự học qua học
7 Bảng 2.6 Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh theo
8 Bảng 2.7 Số giờ tự học/ngày của sinh viên ngành TMĐT 81
9 Bảng 2.8 Việc lựa chọn không gian tự học của sinh viên TMĐT 83
10 Bảng 2.9 Thực trạng phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo và phát triển các ý
11 Bảng
2.10
Thực trạng về kết quả thực hiện kỹ năng giao tiếp và làm việc
Đánh giá của sinh viên năm 1 năm 4 về thực trạng việc phát triển
Ảnh hưởng của cơ sở vật chất, thiết bị trong trường tới phát triển
17 Bảng
2.17
Ảnh hưởng của văn hóa nhà trường tới phát triển kỹ năng tự học
18 Bảng
2.18
Ảnh hưởng của các yếu tố nội tại bản thân sinh viên tới sự phát
19 Bảng 3.1
Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của nhóm biện pháp nâng cao nhận thức, thái độ đối với việc phát triển kỹ năng tự học
117
20 Bảng 3 2
Kết quả khảo nghiệm về biện pháp phát triển kỹ năng thiết lập mục tiêu và kế hoạch thực hiện mục tiêu tự học trên lớp và ngoài 118
Trang 11sinh viên TMĐT thông qua phát triển chương trình đào tạo và đổi mới PPDH theo hướng tăng cường dạy tự học cho sinh viên
22 Bảng 3 4 Kết quả khảo nghiệm biện phát phát triển kỹ năng tự học cho sinh
viên qua việc tự học trên lớp và ngoài lớp 121
23 Bảng 3 5
Kết quả khảo nghiệm biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên qua hoạt động trải nghiệm bên ngoài lớp, ngoài trường 122
24 Bảng 3 6 Kết quả khảo nghiệm biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh
viên qua đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất 123
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhận thức chung về tầm quan trọng của kỹ năng tự học đối với sự
phát triển bản thân và nghề nghiệp của sinh viên TMĐT 65 Biểu đồ 2.2 Mức độ phù hợp về mục tiêu tự học của sinh viên ngành TMĐT 72 Biểu đồ 2.3
Thực trạng thời gian tự học của sinh viên năm 2, trường ĐHCN
Trang 13PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của kỹ năng tự học đóng vai trò quyết định chất lượng nghề nghiệp cũng như nhân cách mỗi sinh viên Tổ chức hoạt động dạy học hướng tới coi trọng sự phát triển kỹ năng tự học hiệu quả là trách nhiệm không chỉ của sinh viên mà còn nhiệm vụ chủ yếu của giảng viên, là sứ mạng của của các trường đại học trong thời kỳ công nghiệp 4.0 hiện nay
Theo Nguyễn Cảnh Toàn (2001): “Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của chính bản thân người học một cách chủ động, tích cực cao nhất kể cả trong nhà trường, ngoài nhà trường…nhằm thay đổi bản thân và đạt mục tiêu đã đặt ra’’ [34] Cũng theo ông kỹ năng tự học là khả năng vận dụng hiệu quả những kiến thức, những cách thức, những kinh nghiệm của xã hội trong những điều kiện học tập khác nhau nhằm phát triển tối đa bản thân và góp phần phát triển xã hội
Kỹ năng tự học là yếu tố quyết định chất lượng học tập, chất lượng đào tạo Nó là con đường tối ưu để sớm đưa sự nghiệp giáo dục và nền kinh tế nước ta tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới Thực tế giảng dạy cho thấy dù giảng viên có dạy giỏi, có kiến thức sâu rộng và trình độ nghiệp vụ vững vàng đến mấy, nếu sinh viên (SV) không chịu khó học tập, đào sâu nghiên cứu, mở rộng thêm kiến thức bằng cách học tập độc lập thì chất lượng học tập cũng không thể cao Điều kiện học tập tại nhà trường như nhau, cùng chung xu hướng xã hội nhưng kết quả học tập của sinh viên khác nhau rõ rệt, điều đó phần lớn là do kỹ năng tự học của mỗi sinh viên Vì vậy, cách thức rèn luyện kỹ năng (KN) tự học cho sinh viên được đề cập trong đề tài này sẽ góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) của giảng viên và nâng cao chất lượng đào tạo
Trong mỗi cá nhân đều tiềm ẩn hệ thống kỹ năng tự học, kỹ năng đó được phát triển hay không là nhờ vào cách thức học tập của họ Cách học nhồi nhét sẽ làm người học thui chột khả năng tự học; trái lại, cách học tự tìm tòi, nghiên cứu, tăng cường quan sát, chú trọng sự phát triển óc tư duy, vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống sẽ phát triển tốt các kỹ năng tự học của sinh viên
Ở các trường đại học Việt Nam hiện nay đang đào tạo sinh viên theo tín chỉ Phương thức đào tạo theo tín chỉ lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương
Trang 14trình Người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị trường lao động ngoài xã hội[66] Tuy nhiên, bên cạnh những điểm vượt trội nói trên thì đào tạo theo tín chỉ vẫn còn một vài hạn chế như: Các môn học thường chia nhỏ 2 hoặc 3 hoặc 4…tín chỉ, nên ảnh hưởng đến tính hệ thống của chương trình toàn khóa, mặt khác sinh viên gặp khó khăn trong sự gắn kết theo khóa học, trong tham gia các hoạt động có tính tập thể Chính hạn chế này cũng đòi hỏi sự nỗ lực và tự học ở mỗi sinh viên phải cao hơn hình thức đào tạo theo niên chế trước kia
Trong đào tạo theo tín chỉ cách thức dạy - tự học luôn được coi trọng Người dạy phải tịch cực đổi mới phương pháp dạy học thì mới giúp người học( sinh viên) đưa ra các lựa chọn phù hợp, từ đó hiệu quả học tập sẽ tốt hơn Hiệu quả của các hành động học tập tự học cao hay thấp tùy thuộc vào kỹ năng thực hiện các hành động đó Vì vậy việc hình thành kỹ năng trong học tập có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy - tự học
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra (từ năm 2000) dựa trên các ngành công nghệ vật lý, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, với trọng tâm là công nghệ số sử dụng internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), phân tích dữ liệu lớn (SMAC) Cuộc cách mạng này đang làm thay đổi mọi mặt hoạt động của con người và tác động sâu sắc đối với ngành thương mại điện tử, thúc đẩy sự tăng tốc và phân hóa mạnh, cũng như phân khúc thị trường béo bở, đầy thách thức Bên cạnh đó tính toàn vẹn dữ liệu và tính bảo mật là các vấn đề rất nóng gây bức xúc trong thương mại điện tử toàn cầu hiện nay [47]
Thương mại điện tử, hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC, là sự mua bán sản
phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính Thương mại điện tử dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho, và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu Thương mại điện tử hiện đại thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết
bị di động như là điện thoại [50]
Ở Việt Nam, ngành Thương mại Điện tử là ngành mới được đào tạo tại một số trường đại học với 2 đặc trưng rất rõ: “Đó là ngành đào tạo thể hiện sự giao thoa của ngành CNTT
Trang 15thị, bán lẻ trực tuyến, trao đổi dữ liệu giữa các doanh nghiệp)”(Kutz,M.2016) Vì thế các nhà quản trị đại học cũng như giảng viên vẫn còn loay hoay tìm cho mình hướng dạy học giúp sinh viên ngành Thương mại Điện tử theo kịp tốc độ phát triển như vũ bão của công nghệ số và yêu cầu khắt khe của thị trường lao động ngành này Trong khi đó sự ra đời và phát triển mạnh mẽ các tập đoàn, công ty kinh doanh sử dụng thương mại điện tử trên thế giới và cả ở Việt Nam
thay đổi từng ngày đến chóng mặt như: Amazon.com; Ebay; Walmart; Alibaba; Target.com;
Bestbuy.com; Flipkart.com; Costco; Etsy; IKEA; Cũng như các trang web thương mại điện
tử lớn ở Việt Nam hiện nay như: Shopee; Tiki; Lazada; Thế giới di động; Sendo; FPT Shop;
Điện máy xanh; CellphoneS; Vật giá Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với vấn đề
đào tạo nhân lực Thương mại Điện tử ở các trường đại học trong đó có trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 30/12/2012: Bộ GD & ĐT quyết định chấp thuận việc thành lập ngành TMĐT của trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh và Đại học Thương mại Hà Nội là 2 trường đại học đầu tiên trong cả nước được phép đào tạo ngành TMĐT Từ năm 2013 đến thời điểm tháng 12/2020, khoa Thương mại –Du lịch trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh đã tuyển sinh được 8 khóa đại học ngành TMĐT (Khóa
9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16), tổng số sinh viên hiện là: 1.309 sinh viên (Trong đó, có 110 sv đang ở trạng thái "Thôi học") Tổng số sinh viên ngành TMDT đã tốt nghiệp (Từ Khóa 9 đến tháng 12/2020): 335 sinh viên
Với số lượng cử nhân TMĐT tốt nghiệp ra trường như vậy chưa thể đáp ứng yêu cầu của thị trường nhân lực cho các doanh nghiệp có sử dụng, ứng dụng thương mại điện tử Mặt khác sinh viên TMĐT khi tốt nghiệp tự đánh giá là vẫn chưa đủ kỹ năng giải quyết những vấn
đề khó do thực tiễn xã hội và yêu cầu của ngành TMĐT đặt ra, phải mất một số năm đào luyện trong môi trường thực tế mới có thể thích nghi
- Số liệu khảo sát ý kiến sinh viên sau khi ra trường vào tháng 9 năm 2020 của Khoa Thương mại – Du lịch:
+ Năm 2018: có việc làm 92,7 %, không có việc làm 7,3 %
* 88,5 % sinh viên được khảo sát cho rằng công việc hiện làm phù hợp với chuyên ngành học
* 11,5 % sinh viên được khảo sát cho rằng công việc hiện làm không phù hợp với chuyên ngành học
+ Năm 2019 tỷ lệ sinh viên có việc làm 85,4 %, không có việc làm 14,6 %
Trang 16*79 % sinh viên được khảo sát cho rằng công việc hiện làm phù hợp với chuyên ngành học
*21 % sinh viên được khảo sát cho rằng công việc hiện làm không phù hợp với chuyên ngành học
Ngoài ra, qua tham khảo ý kiến đánh giá của TS Trần Anh Tuấn Viện trưởng Viện
Chiến lược Công nghệ thông tin TP Hồ Chí Minh 2018 cho thấy: Kỹ thuật viên - chuyên viên thiết kế lập trình web; Chuyên viên quản trị, xây dựng các hệ thống giao dịch thương mại, kinh doanh trực tuyến tại các công ty, doanh nghiệp; Chuyên viên lập dự án, hoạch định chính sách phát triển công nghệ thông tin; Kỹ thuật viên bảo trì về Công nghệ thông tin hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu của thị trường
Qua thực tế dạy học các học phần của sinh viên ngành TMĐT tại trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh, qua các đánh giá thăm dò hàng năm của giảng viên Khoa TMDL nhóm nghiên cứu có tham khảo và đã nhận diện một số hạn chế cơ bản của kỹ năng tự học của sinh viên như: Chưa nhận diện chính xác mục tiêu tự học và việc lập kế hoạch thực hiện các mục tiêu tự học toàn khóa; Kỹ năng tư duy sáng tạo trong quá trình học tập và tự học chưa cao; Kỹ năng chọn những vấn đề cần tự học ở bên ngoài trường, ngoài doanh nghiệp chưa tốt, còn lúng túng, chưa sát với yêu cầu của xã hội và thị trường lao động Đặc biệt khi nghiên cứu
“Thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0” (Bài báo KH đã đăng tại tạp chí khoa học IUH
số 43B/2020) chúng tôi thấy:
+ Trên 90% SV cho rằng tự học và kỹ năng tự học rất quan trọng với sự phát triển bản thân họ
nhưng về các phương pháp tự học của sinh viên ở mức độ tốt khá khiêm tốn: 8% - 11,6% đạt tốt (PP lập kế hoạch, PP học ngoài XH; PP Seminar, PP tự đánh giá); Thời gian dành cho
tự học 1-2 h/ngày là 39,2%; Yếu tố ảnh hưởng nhiều tới chất lượng tự học của sinh viên là: PPDH của giảng viên, chất lượng phòng thực hành, thư viên, tốc độ internet …
Với lý luận và thực tiễn nêu trên cho thấy: Số liệu khảo sát ý kiến sinh viên TMĐT khi tốt nghiệp của Khoa TMDL có tỉ lệ có việc làm khá cao, nhưng theo nghiên cứu của một số tác giả khác thì vẫn còn có những bất cập trong quá trình đào tạo và sử dụng lao động tại các doanh nghiệp liên quan đến ngành TMĐT
Xuất phát từ những lý do nêu trên, nhóm chúng tôi chọn: “Thực trạng và biện pháp
phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành Thương mại Điện tử, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0“ làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Trang 172 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên ngành Thương mại điện tử tại trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành Thương mại điện tử đáp ứng yêu cầu xã hội trong thời kì hội nhập công nghiệp 4.0 hiện nay
2.2.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên ngành Thương mại Điện tử, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0
3 Giả thuyết khoa học
Kỹ năng tự học của sinh viên ngành Thương mại điện tử, trường Đại học Công nghiệp
TP Hồ Chí Minh đạt mức trung bình khá đến khá tốt Nếu đánh giá đúng thực trạng và đưa ra được các biện pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi sẽ phát triển được kỹ năng tự học của sinh viên ngành Thương mại điện tử, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời
kỳ công nghiệp 4.0 ở mức cao hơn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ năng tự học của sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0
4.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành Thương mại Điện tử, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0
4.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên ngành Thương mại Điện tử, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0
Trang 185 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và biện pháp phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT
Nghiên cứu một số kỹ năng chung của sinh viên ngành thương mại điện tử dựa trên
chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo của trường ban hành theo quyết định số ĐHCN ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Hiệu trưởng trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
1025/QĐ-6.2 Phạm vi khách thể khảo sát
Khảo sát và điều tra trên mẫu gồm:
- 80 sinh viên hệ đại học năm nhất ngành TMĐT ( K16)
- 80 sinh viên hệ đại học năm 4 ngành TMĐT ( K13)
- 20 GV giảng dạy cho ngành TMĐT
- 8 CBQL (3CBQL Khoa TMDL; 3 CBQL khoa CNTT; 2 CBQL thư viện)
6.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu:
1 năm từ khi đề tài được duyệt và số liệu sinh viên tốt nghiệp trong 2 năm trở lại (2018-2019)
7 Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận sau:
- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động – nhân cách: nghiên cứu sự phát triển kỹ năng tự học
của sinh viên gắn liền với hoạt động học tập, hoạt động thực tập nghề nghiệp và đặc điểm nhân cách sinh viên
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: nghiên cứu sự phát triển kỹ năng tự học của sinh viên
ngành TMĐT trong mối quan hệ tác động qua lại với thành tố của kỹ năng và nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng tự học
Trang 19- Nguyên tắc tiếp cận phát triển: nghiên cứu kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT
không ở trong trạng thái tĩnh mà luôn có thể thay đổi dưới tác động của nhiều yếu tố Đặc biệt, khi có các biện pháp thích hợp, sinh viên ngành TMĐT hoàn toàn có thể cải thiện kỹ năng này
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: hệ thống hóa và làm rõ các nội dung lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu Cách thực hiện:
- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu khoa học, sách báo, giáo trình… liên quan đến đề tài
để làm rõ các nội dung sau:
- Phân tích, tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu về kỹ năng tự học trong và ngoài nước
- Xây dựng và hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ năng tự học của sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0
- Xác định nội dung và tiêu chí nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng tự học của sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0
- Xác định một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học của sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp chính của đề tài
Mục đích: thu thập thông tin và đánh giá được thực trạng mức độ kỹ năng tự học của
sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0 và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này; tìm ra biện pháp phát triển kỹ năng tự học của sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0 mang tính cần thiết
và khả thi cao
Cách thực hiện: Từ việc nghiên cứu lý luận và hỏi ý kiến các chuyên gia, người nghiên
cứu xây dựng phiếu thăm dò ý kiến, phiếu khảo sát thực trạng, phiếu quan sát và bảng câu hỏi phỏng vấn Tiến hành điều tra thử và phân tích độ tin cậy của thang đo Thu số liệu chính thức,
xử lý số liệu, tiến hành quan sát, phỏng vấn và bình luận kết quả Việc điều tra bằng bảng hỏi được tiến hành qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Soạn thảo phiếu thăm dò ý kiến để tìm hiểu sơ bộ một số vấn đề liên quan
đến kỹ năng tự học của sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0 Chọn 20 sinh viên để phát phiếu thăm dò ý kiến Từ phiếu thăm dò này sẽ xây dựng phiếu khảo sát thử
Trang 20Giai đoạn 2: Xây dựng bảng hỏi lần 1 và tiến hành khảo sát thử để kiểm tra độ tin cậy Giai đoạn 3: Hoàn thiện bảng hỏi chính thức và tiến hành khảo sát trên mẫu đã chọn
Cách thực hiện: người nghiên cứu sẽ dự một số giờ của giảng viên và quan sát các biểu hiện
kỹ năng tự học trên lớp của sinh viên, ghi chép vào phiếu quan sát và đánh giá dựa vào biểu hiện của các kỹ năng thành phần Kết quả quan sát sẽ được phân tích, so sánh và dùng làm rõ hơn các kết quả thu được từ phương pháp định lượng
7.2.2.4 Phương pháp xử lý dữ liệu
Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS 23.0 để xử lý các dữ liệu thu được từ phiếu khảo sát thực trạng trong nghiên cứu kết hợp với một số công thức tính trung bình và độ lệch chuẩn
Đối với các dữ liệu thu được qua quan sát và phỏng vấn, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu nội dung dữ liệu
8 Công cụ nghiên cứu
- Phiếu thăm dò ý kiến, phiếu khảo sát thực trạng
- Bảng hỏi trong phỏng vấn, các chủ đề trò chuyện, trao đổi
- Phiếu quan sát
- Phần mềm SPSS for window 23.0 và công thức tính giá trị trung bình; tính %
9 Tính mới của đề tài
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò của tự học và đề ra các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho học sinh, sinh viên theo một số môn cụ thể và chủ yếu tập trung vào các bước hay cách thức ( theo qui trình) để sao cho hiệu quả tự học được thay đổi tích cực qua một số nhóm kỹ năng sau: KN Xây dựng kế hoạch tự học; KN Nghe và ghi chép
Trang 21tập…Đến nay chưa có tác giả nào kể cả trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề kỹ năng tự học của sinh viên ngành Thương mại Điện tử Mặt khác dựa vào sự khác biệt của chuẩn đầu ra của sinh viên ngành Thương mại Điện tử với sinh viên các ngành đào tạo khác Với trọng tâm và
hướng đi mới là “Lấy cách rèn luyện và phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên trong xu thế
hội nhập công nghiệp 4.0 làm cốt lõi”Trong đó tập trung vào:
+ Nhóm kỹ năng hình thành động cơ, thái độ tự học trong thời kỳ công nghiệp 4.0 + Nhóm kỹ năng thiết kế mục tiêu tự học và kế hoạch thực hiện các mục tiêu tự học đặt
ra một cách khoa học, hợp lý giữa: Học trên lớp, học ở nhà, học ngoài XH, nghỉ ngơi vui chơi, giải trí
+ Nhóm kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong lập kế hoạch và quản lý việc tự học của bản thân
+ Nhóm kỹ năng tư duy sáng tạo, phát triển ý tưởng mới trong giao tiếp, học tập và làm việc nhóm
+ Nhóm kỹ năng đánh giá việc tự học của bản thân trền nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin
Với hướng đi này nhóm nghiên cứu chúng tôi muốn đề cập tới làm sao để phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên TMĐT trong bối cảnh mới, thời đại mới Thời đại bùng nổ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bigData, vật liệu mới, công nghệ sinh học…Thời đại con người coi trọng về chất lượng, hiệu quả, tốc độ và cảm xúc, tâm lý Giúp sinh viên có nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập, thăng tiến và khẳng định giá trị bản thân
10 Đóng góp của đề tài
* Về lý luận: Hệ thống hóa được các vấn đề về kỹ năng tự học của sinh viên và đưa ra
được các biện pháp phát triển kỹ năng tự học đặc trưng của sinh viên ngành Thương mại Điện
tử trong thời kỳ hội nhập công nghiệp 4.0
* Về thực tiễn: Đề tài đánh giá khá chính xác được thực trạng kỹ năng tự học của sinh
viên ngành TMĐT, từ đó đề xuất các biện pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi
Áp dụng cho sinh viên TMĐT năm 2,3,4 và khóa tiếp theo của trường Đại học Công nghiệp
TP Hồ Chí Minh
Trang 22PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP 4.0
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính cấp thiết tiến hành nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về kĩ năng tự học ở nước ngoài
Tự học và các kĩ năng tự học là một trong những vấn đề mang tính lịch sử được nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau ngay từ khi giáo dục chưa trở thành một khoa học
Ở phương Đông, từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quan trọng của tự học, trong đó đứng đầu là: Khổng Tử (551-479,TCN) nhà giáo dục kiệt xuất Trung Hoa cổ đại Ông đã dạy học trò: Không khao khát vì không muốn biết thì không gợi cho, không cảm thấy xấu hổ vì không rõ thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa
Ở phương Tây, nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc J A Comenxky (1592-1670) ông tổ của nền giáo dục cận đại đã khẳng định: Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng, cần “phải làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học trong học sinh” Vào thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX các nhà giáo dục nổi tiếng thế giới như: J J Rutxo (1712-1778), J H Petstalogi (1746-1827), K.D Usinxky (1824-1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình
đã khẳng định: Tự học là con đường quan trọng mà người học giành lấy tri thức bằng con đường khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ, là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức, nhằm đảm bảo cho người học đạt kết quả học tập
J Deway (1859 – 1925) nhà sư phạm nổi tiếng của Mỹ quan niệm: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”, trong dạy học ông đề cao hoạt động của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn.[16]
Từ những nền tảng nghiên cứu này, các nhà giáo dục học thế kỷ 20 đã không ngừng nghiên cứu và bổ sung những lý thuyết mới mẻ, cụ thể hơn về vai trò của tự học và cách thức hình thành kỹ năng tự học cho người học Những nghiên cứu về kỹ năng tự học của sinh viên cũng lần lượt được công bố
Hai nhà nghiên cứu A.A Gorosepki và M.T.Lubinsia đã trình bày đầy đủ lý luận về cách thức tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên qua tác phẩm “Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học” Tác giả R Retske trong cuốn sách “Học tập hợp
Trang 23Tác giả N A Rubaskin với tác phẩm "Tự học như thế nào" thì đi sâu vào việc hướng dẫn phương pháp đọc sách [32]
Năm 1980, A.A Sappington cùng các cộng sự của mình đã công bố kết quả nghiên cứu việc hình thành các kỹ năng tự học như đọc, ghi chép tóm tắt, ôn tập, đặt câu hỏi cho 19 sinh viên tại một đại học ở Birmingham (Anh quốc) Kết quả, sau khoá học, các sinh viên này đạt kết quả cao hơn hẳn so với các sinh viên không được đào tạo kỹ
năng tự học
Năm 1996, J Hattie, J Biggs, N Purdie tiếp tục công bố kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên 51 sinh viên sau khi được đào tạo về các kỹ năng tự giải quyết nhiệm vụ học tập, kỹ năng quản lý việc tự học, kỹ năng tự hình thành động cơ học tập và kỹ năng tự nhận diện bản thân Hiệu quả của khoá đào tạo rất rõ ràng với kết quả học tập của sinh viên
Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” [44]
Đặc biệt nhà tâm lý học Mỹ Carl Roger đã cho ra đời cuốn "Phương pháp dạy và học
hiệu quả" trong đó trình bày chi tiết, tỉ mỉ với dẫn chứng minh hoạ và thực nghiệm về các
phương pháp dạy học để hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên như: cung cấp tài liệu, dùng bảng giao ước, chia nhóm dạy học, hướng dẫn cho người học cách nghiên cứu tài liệu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự đánh giá việc học của mình [35]
Năm 1986 hai nhà giáo dục của Ấn Độ là Sharman và Shakti Ahmed, trong tác phẩm
“Phương pháp dạy học ở đại học” đã trình bày hoạt động tự học là một hình thức dạy - học có hiệu quả cao Thông qua thực hiện các nhiệm vụ nhận thức để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ được xác định Đó là quá trình điều khiển hoạt động tự học của sinh viên một cách gián tiếp [35]
Tác giả Goroxepxki và Lubixowra (1987) với công trình nghiên cứu “Tổ chức công
việc tự học của sinh viên đại học”, NXB ĐHSP Hà Nội cũng đánh giá cao vai trò tự học, kĩ
năng tự học của sinh viên [43]
Ngoài ra chúng ta còn thấy một số tác giả khác đề cập đến tự học, kỹ năng tự học của sinh viên ở các góc nhìn khác như:
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Parineetha P Bhat (2007) [41], đã tiến hành khảo sát nhằm đánh giá hiệu quả của việc tự học đối với kết quả học tập của sinh viên Việc khảo sát được tiến hành trên hai nhóm đối tượng: sinh viên có điểm số cao trong học tập và sinh
Trang 24viên có điểm số thấp Kết quả cho thấy đối với nhóm đối tượng sinh viên giỏi, việc tự học giúp cho sinh viên nắm vững kiến thức, hứng thú với việc học và có thành tích cao hơn Tuy nhiên đối với nhóm sinh viên còn lại, việc tự học không giúp nhiều trong việc cải thiện kết quả học tập do thiếu các kỹ năng cần thiết như kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng ghi nhớ Ông kết luận rằng để giúp sinh viên đạt hiệu quả cao trong quá trình tự học, sinh viên cần phải được trang bị các kỹ năng học tập cần thiết
Bên cạnh đó tác giả Greveson và Spencer (2005) cho rằng: yếu tố như môn học, xã hội, văn hóa và giáo dục, kinh nghiệm, nhận thức riêng của cá nhân cũng như các kỹ năng học tập đều ảnh hưởng đến việc tự học) [42]
Đề cập đến việc tự học đối với khả năng học tập suốt đời của sinh viên, Rimma Sagitova (2014), [48] đã cho rằng để phát triển kỹ năng tự học của sinh viên thì chương trình học cần được xây dựng các môn học tự chọn theo ba nhóm Nhóm một giúp sinh viên phát triển khả năng nhận thức nhu cầu học tập, xác định được hoạt động phù hợp cho việc tự học và xây dựng được kế hoạch tự học Nhóm hai giúp sinh viên phát triển kỹ năng tìm kiếm, thu thập, lựa chọn, xử lý thông tin phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu Nhóm ba bao gồm các
kỹ năng như truyền đạt lại thông tin, so sánh, phân loại, tổng hợp, phân tích thông tin
Tác giả Sirajul Kandhro (2015), nghiên cứu về ảnh hưởng của việc học nhóm và tự học đến khả năng học tập của sinh viên tại trường đại học [45] Tác giả tập trung nghiên cứu về hiệu quả của việc tự học thông qua hai hình thức tự học theo nhóm và tự học cá nhân Theo kết quả nghiên cứu, ông nhận thấy cả hai hình thức này đều giúp sinh viên nâng cao khả năng học tập Đối với việc tự học thông qua học nhóm, sinh viên có thể chia sẻ kiến thức với nhau và giúp nhau hoàn thành việc học Sinh viên không chỉ nâng cao kiến thức mà còn phát triển được khả năng suy nghĩ và sự tự tin khi thảo luận cùng các thành viên trong nhóm Đối với việc tự học cá nhân, sinh viên cảm thấy thoải mái khi quản lý thời gian học tập cũng như lựa chọn chủ
đề học dựa theo kế hoạch học tập của mình
Nghiên cứu của Klizaite Jurate và Arlauskienne Renata (2015) [43], về thái độ của sinh viên ngành xã hội đối với việc tự học đã chỉ ra rằng sinh viên thường có thái độ chưa tích cực
Vì thế giảng viên cần khuyến khích việc tự học của sinh viên thông qua phương pháp học dựa trên giải quyết vấn đề (problem-based learning) hoặc giải quyết dự án (project-based learning), phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp mô phỏng…
Một góc nhìn khác của tác giả Larry Ferlazzo ( 2013) về Tự học: Chiến lược giảng dạy
Trang 25đề chiến lược dạy học của giảng viên là yếu tố cơ bản hình thành động cơ học tập đúng đắn cho sinh viên Khi có động cơ tốt trong học tập thì việc tự học và có được các kỹ năng tự học
sẽ hiệu quả hơn [51]
Tác giả Peter Hollins (2018) với tác phẩm “ Khoa học của sự tự học” [47] đi sâu tìm hiểu việc tổ chức tự học và vai trò to lớn của tự học đối với sự phát triển cá nhân Theo ông tự học cần được nghiên cứu một cách logic, hệ thống Việc tự học cũng cần thiết kế theo một chu trình với các thành tố, yếu tố có quan hệ biện chứng và hỗ trợ nhau thì tự học mới phát huy hết sức mạnh bên trong của nó
UNESCO đã nêu bốn trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người Để thực hiện được bốn trụ cột đó cần lấy tự học làm trọng tâm
Tóm lại: Các tác giả ngoài nước vẫn tập trung tìm hiểu về tự học, kỹ năng tự học của sinh viên ở một số tiêu chí: Động cơ, thái độ tự học; vai trò, ý nghĩa của tự học; việc dạy học của giảng viên đối với hình thành tự học và kỹ năng tự học của sinh viên; cách tổ chức tự học
và hình thành kỹ năng tự học như thế nào cho hiệu quả…
Dù dưới góc nhìn nào thì các công trình nghiên cứu về tự học và kỹ năng tự học trên thế giới trên đều cho rằng việc tự học rất quan trọng đối với sinh viên, giúp sinh viên nâng cao khả năng học tập của mình và phát triển khả năng học tập suốt đời Tuy nhiên để việc tự học đạt hiệu quả thì sinh viên cần phải được trang bị những kỹ năng học tập cần thiết và được tổ chức khoa học trong môi trường học tập và môi trường giáo dục phù hợp
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về kĩ năng tự học ở trong nước
Tại Việt Nam, tự học đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài cả về lí luận và thực tiễn Mặc dù đi sau so với giáo dục thế giới, nhưng những thành quả nghiên cứu
về hoạt động tự học nói chung và tự học dành cho sinh viên cũng rất phong phú
Trong diễn văn khai mạc ngày 7/9/1957 tại lớp học lý luận khoá I Trường Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới việc tự học của người cách mạng: “ Phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó,
cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”
Các tác giả như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Trọng Luận, Nguyễn Kỳ …đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tự học của người học Các tác giả đều khẳng định: Tự học có vai trò rất quan trọng trong quá trình đào tạo
Trang 26Trong cuốn “Tổ chức qúa trình dạy học đại học”, tác giả Lê Khánh Bằng (1993) đã đề cập đến vấn đề tổ chức tự học cho sinh viên đại học, trong đó tác giả đề xuất và giải quyết những vấn đề: ý nghĩa của việc tự học của sinh viên thời nay; cơ sở lý luận của việc tự học, cách tự học trong một số tình huống cụ thể Tác giả khẳng định trong qúa trình học tập ở đại học, sinh viên phải xây dựng được cho mình ý chí và năng lực tự học suốt đời[2]
Tác giả Đặng Bá Lãm (1987) đã đề xuất một số biện pháp sư phạm để giảng viên nâng cao chất lượng học cho sinh viên là: hướng dẫn phương pháp tự học, hình thành thói quen đọc sách, có kế hoạch kiểm tra việc tự học của sinh viên
Tác giả Trần Minh Hằng (2011) với đề tài "Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên sư phạm” đã dày công tập hợp cơ sở lý luận về tự học, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng tự học của sinh viên sư phạm và mô tả cụ thể cách tiến hành các kỹ năng tự học cơ bản như: xây dựng kế hoạch tự học, đọc sách kèm theo ghi chép thi kiểm tra, đánh giá
Tác giả Nguyễn Thị Xuân Thuỷ (2012) với nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng tự học tập cho sinh viên đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ”
Tác giả Hoàng Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Phương Thanh (2017) với “Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ" đều làm rõ sự khác biệt của đào tạo tín chỉ so với niên chế và những yêu cầu thay đổi trong dạy và học ở hình thức đào tạo mới này Các tác giả chủ trương rèn các kỹ năng tự học cho sinh viên trước khi đến lớp, trong khi học tại lớp và sau khi rời lớp học
Tác giả Quản Trọng Minh nghiên cứu đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao hoạt động tự học của sinh viên đại học Quân Y Tác giả Dương Công Minh nghiên cứu đề tài:Tổ chức kỹ năng tự học cho học sinh dân tộc hệ dự bị đại học Mai Văn Khơi nghiên cứu đề tài: Các biện pháp cải tiến quản lý hoạt động tự học của học viên ở trường đại học Ngoại Ngữ Quân Sự
Trần Văn Sơn nghiên cứu đề tài: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú trường ĐHSG, Thái Thị Bi nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm trường Đại học An Giang
Theo tác giả Lê Trọng Tuấn (2016) nghiên cứu: “Phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên các trường đại học dự bị dân tộc” Tác giả chỉ rõ những đặc điểm đặc trưng của sinh viên dân tộc hệ dự bị đại cũng như nghiên cứu sâu nội dung các kỹ năng tự năng tự học, hình thức
Trang 27tộc Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp giúp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên dân tộc trong các trường dự bị đại học
Tác giả Đào Lan Hương (2017), trường CĐSP Bắc Ninh nghiên cứu: “ Động cơ tự học cho sinh viên trong quá trình học tập các học phần Tâm lý – Giáo dục học tại trường Cao đẳng
Lê Nin” tại đại học Tiền Giang
Nguyễn Thị Thanh Tùng - Lê Thị Lan Hương - Lê Thị Hường, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2018): Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tự học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả Lê Thị Ngọc Bích (2019), Học viện An ninh nhân dân “ Một số biện pháp quản
lý hoạt động tự học của học viên quốc tế tại học viện An ninh nhân dân
Tác giả Nguyễn Đức Giang, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Thị Hồng Nhung - Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội (2019) Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá năng lực tự học và qui trình tổ chức phát triển năng lực tự học cho sinh viên các trường sư phạm
Hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên đều khẳng định vai trò của tự học và đề ra các biện pháp, giải pháp tổ chức hoạt động tự học cho học sinh, sinh viên theo một số môn cụ thể và chủ yếu tập trung vào các bước hay cách thức ( theo qui trình) để sao cho hiệu quả tự học được thay đổi tích cực qua tập trung nhiều một số nhóm kỹ năng sau: + KN Xây dựng kế hoạch tự học
+ KN Nghe và ghi chép bài giảng
+ KN Đọc sách, tài liệu và ghi chép
+ KN trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập…
Tuy nhiên, ở góc độ phát triển kĩ năng tự học cho sinh viên các tác giả chưa tập trung nhiều, chưa xem xét một cách sâu sắc và toàn diện Đặc biệt là phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên ngành Thương mại Điện tử trong thời kỳ công nghiệp 4.0 chưa có tác giả nào nghiên cứu Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các nhà khoa học nghiên cứu về tự học và kỹ năng tự
Trang 28học, chúng tôi đưa ra được những biện pháp có tính khả thi và căn cứ khoa học giúp sinh viên ngành TMĐT học tập tốt hơn, đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp 4.0
1.2.Khái niệm cơ bản
1.2.1 Kỹ năng, kỹ năng tự học
1.2.1.1.Kỹ năng
Có rất nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề khái niệm kỹ năng Có thể chia thành hai khuynh hướng cơ bản sau:
- Khuynh hướng thứ nhất: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, của
hành động hay hoạt động, coi kỹ năng như là một phương thức, phương tiện thực hiện hành động phù hợp mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững.Theo khuynh hướng này, người có kỹ năng là người nắm vững tri thức về hành động và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu mà ít tính đến kết qủa của hành động Tiêu biểu cho cách tiếp cận này có các tác giả như: V.A.Kruchetxki, A.G.Covaliov, Trần Trọng Thuỷ….Cụ thể:
V.A.Kruchetxki cho rằng “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước” [32] Theo ông, kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, kỹ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà trong cả những điều kiện đã thay đổi A.G.Covaliov cho rằng “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động “ [16] Theo các tác giả, kết qủa của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết qủa tương ứng
Khi bàn về kỹ năng, tác giả Trần Trọng Thuỷ cũng cho rằng “kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng” [16]
- Khuynh hướng thứ hai: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực hành động của con
người, kỹ năng được xem như là những phẩm chất tâm lý Vì vậy, nó có tính ổn định, mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo Theo khuynh hướng này, coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc tạo ra kết qủa với chất lượng cần thiết, trong một thời gian nhất định, trong điều kiện mới Đại diện cho khuynh hướng này có các tác giả như: Levitov, Kixegov, Platanov, Golubev, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành…Cụ thể:
Levitov quan niệm “Kỹ năng là sự thực hiện có kết qủa một tác động nào đó hay một
Trang 29những điều kiện nhất định”[8] Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết qủa Levitov cho rằng, để hình thành kỹ năng, con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tiễn
Các tác giả Platanov và Golubev quan niệm “Kỹ năng là năng lực của con người thực hiện công việc có kết qủa với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng” [8] Theo các tác giả, kỹ năng không mâu thuẫn với vốn tri thức mà được hình thành trên cơ sở của chúng
Tác giả Phan Quốc Lâm nhận định, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (phương thức hành động chung – khái niệm, hiểu biết) để giải quyết một nhiệm vụ, tình huống mới có bản chất với tình huống điển hình nhưng bị che lấp bởi những yếu tố không bản chất, không quan trọng Nói cách khác, kĩ năng là con đường, cách thức để tri thức lý thuyết trở lại thực tiễn Kỹ năng bao giờ cũng phải dựa trên một cơ sở hiểu biết (mục đích, cách thức, và những điều kiện để giải quyết nhiệm vụ…), đó là kiến thức của chủ thể [20]
Theo từ điển Tiếng Việt (1992), kỹ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [31]
Từ điển Tâm lý học, kỹ năng là “ năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [31]
Như vậy, khái niệm kỹ năng được rất nhiều tác giả quan tâm và có nhiều góc nhìn khác
nhau Trên cơ sở những quan niệm về kỹ năng nêu trên, chúng tôi quan niệm rằng: Kỹ năng là
khả năng cá nhân biết vận dụng hiệu quả những tri thức và kinh nghiệm được tích lũy trong hoạt động đa dạng của mình Sự hình thành và phát triển kỹ năng phụ thuộc rất nhiều vào động cơ và sự nỗ lực luyện tập của mỗi cá nhân
Vì vậy khi xem xét kỹ năng cần lưu ý những điểm sau:
- Kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hành động, hoạt động cụ thể
- Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quan trọng để xác định
sự mức độ phát triển kỹ năng
- Kỹ năng không phải là cái bẩm sinh của mỗi cá nhân, đó là quá trình vận dụng tri thức
và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đề ra Kỹ năng là kết quả của một quá trình luyện tập
1.2.1.2 Kỹ năng tự học
Trang 30Theo Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức đóng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc của mình đảm nhận, cho sự tiến bộ xã hội…”[8]
Còn Lưu Xuân Mới(2000) lại cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã quy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân như có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học”[23]
Ở các trường đại học, tự học được coi là một hình thức tổ chức dạy học, mang đậm tính
cá nhân nhằm giúp sinh viên nắm vững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp đã chọn qua học ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo chương trình hoặc ngoài chương trình Khi người học tích cực, tự giác phát huy hết năng lực – phẩm chất của mình vào quá trình chiếm lĩnh tri thức thì khi đó cá nhân đó đang tiến hành tự học Trong quá trình tự học, người học có thể tiến hành hoạt động tự học dưới nhiều hình thức khác nhau trong những điều kiện khác nhau Vì vậy có thể hiểu, tự học là quá trình người học học với sự chủ động, tích cực cao nhất kể cả trong nhà trường, ngoài nhà trường…nhằm thay đổi bản thân và đạt mục tiêu đã đặt ra, đồng thời thích nghi với xu hướng nghề nghiệp và xã hội trong giai đoạn mới (CMCN 4.0)
Tác giả Cao Thị Nga (2011), tự học thường diễn ra theo ba hình thức sau[24]:
Hình thức 1: Hoạt động tự học của người học dưới sự điều khiển trực tiếp của người dạy và những phương tiện kỹ thuật trên lớp Đây là hình thức tự học ở mức độ thấp
Hình thức 2: Tự học của người học diễn ra có sự điều khiển gián tiếp của người dạy Đây là hình thức tự học mức độ trung bình
Hình thức 3: Không có sự hướng dẫn trực tiếp hay gián tiếp của thầy, cô mà vẫn đạt kết quả tốt Đây là mức độ tự học cao
Trang 31Tự học có ý nghĩa rất to lớn Nhờ hoạt động tự học mà sinh viên có thể hình thành được những năng lực cơ bản để có thể “học tập suốt đời”
b Kỹ năng tự học là gì?
Kỹ năng tự học là một trong những kỹ năng quyết định kết quả học tập của mỗi sinh viên
Để có được kỹ năng tự học tốt phải có một quá trình khá dài luyện tập, đòi hỏi sự nỗ lực ý chí cao độ…bên cạnh đó cần sự hỗ trợ của rất nhiều yếu tố khác Vì vậy phát triển kỹ năng tự học
cho sinh viên là nhiệm vụ rất quan trọng của giảng viên trong các trường đại học
Theo Lê Khánh Bằng: “Kỹ năng tự học là những phương thức thể hiện hành động tự học thích hợp, tương ứng với mục đích và những điều kiện hoạt động, hình thành kỹ xảo đúng trong hoạt động tự học, đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên đạt được kết quả” [3]
Trên cơ sở nêu trên chúng ta có thể nhận đinh: Kỹ năng tự học là những cách thức thể
hiện hành động tự học phù hợp với mục tiêu và những điều kiện cụ thể, qua đó hình thành kỹ xảo đúng trong hoạt động tự học đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên đạt được kết quả mong đợi
1.2.2 Phát triển kỹ năng tự học của sinh viên
1.2.2.1.Khái niệm sinh viên
Sinh viên (Sturdent) là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học tập [45]
Sinh viên có tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 Tư duy khá phát triển, giàu ước mơ
và hoài bão Yêu thích các hoạt động giao tiếp, hoạt động tập thể, thích tìm tòi, khám phá và thử sức trên mọi lĩnh vực Nhạy cảm trước cái mới và dễ bị chi phối bởi yếu tố tiêu cực có tính chất kích động, lạ, mới, hấp dẫn Nhân cách bị chi phối nhiều bởi ngành nghề đã chọn Vì vậy,
để phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên cần chú ý nhiều đến những đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi này
1.2.2.2 Khái niệm về phát triển
Theo quan điểm triết học:
Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc
và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn [46]
Trang 32
Theo quan điểm Tâm lý học:
Phát triển là quá trình mỗi cá thể đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa được phân hóa đến được phân hóa theo những qui luật khác nhau của sự hình thành các yếu tố, các hiện tượng, các đặc điểm tâm lý khác nhau theo từng giai đoạn, lứa tuổi Có sự phụ thuộc, chi phối, tác động lẫn nhau, được sắp xếp theo một thứ bậc đảm bảo hoạt động tâm lý của con người phát triển với tư cách là một chủ thể có ý thức [29]
Theo chúng tôi: Phát triển là sự vận động biểu hiện theo chiều hướng đi lên của các sự vật
hiện tượng trong thế giới khách quan là quá trình thay đổi, chuyển hóa từ mức độ này sang mức độ khác ngày càng hoàn thiện hơn
- Khả năng nhận dạng tình huống, nhiệm vụ, bài tập
Do đó, quá trình hình thành kỹ năng là làm cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác của hành động nhằm làm biến đổi và sáng tỏ thông tin ẩn chứa trong những nhiệm vụ, bài tập cụ thể phải giải quyết, đối chiếu và giải quyết chúng một cách hiệu qủa bằng những phương thức hành động tổng quát đã lĩnh hội [17,72]
Theo lý thuyết Tâm lý học, hình thành và phát triển kỹ năng trong dạy học: Thực chất
là làm cho sinh viên nắm vững hệ thống các thao tác học tập cụ thể tương ứng với những nội dung học tập xác định Để hình thành kỹ năng cho người học, trước hết, người giảng viên phải cung cấp cho các em có kiến thức, sau đó tổ chức cho các em luyện tập
Để sinh viên hình thành và phát triển các kỹ năng, trong quá trình học tập người giảng viên nên tổ chức hoạt động học theo 3 công đoạn chính, kế tiếp nhau:
Hình thành Luyện tập Sử dụng
- Giai đoạn 1: Giao nhiệm vụ và hình thành động cơ học tập cho người học
- Giai đoạn 2: Hướng dẫn người học giải quyết nhiệm vụ học Trong quá trình người học thực hiện nhiệm vụ học tập, người dạy theo dõi, giúp đỡ, đồng thời đưa ra nhận xét, đánh giá quá trình và kết quả làm việc của người học Tổ chức cho người học thực hiện công
đoạn luyện tập
Trang 33- Giai đoạn 3: Yêu cầu người học sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào học tập để lĩnh
hội kiến thức và hình thành kỹ năng mới [9]
Sau này nhà tâm lý học Dave R.H (1970) phát triển lý thuyết của mình từ Bloom và
đề xuất kỹ năng qua 5 mức độ như sau:
+ Mức độ 1(Bắt chước): Quan sát bắt chước, lặp lại một kỹ năng nào đó theo mẫu còn
khó khăn, sai sót nhiều
+ Mức độ 2 (Thao tác): Hoàn thành một kỹ năng theo chỉ dẫn, còn bắt chước máy móc,
tốc độ chậm, còn vài sai sót nhỏ trong quá trình hoạt động
+ Mức độ 3 (Chính xác): Lặp lại một cách chính xác, nhịp nhàng, đúng đắn, thực hiện độc
lập không cần hướng dẫn
+ Mức độ 4 (Phối hợp): Kết hợp được nhiều kỹ năng theo thứ tự xác định một cách nhịp
nhàng, ổn định
+ Mức độ 5(Tự động hóa): Hoàn thành một hay nhiều kỹ năng một cách dễ dàng và tự
nhiên, không đòi hỏi gắng sức về trí tuệ và thể lực [54]
Do vậy có thể hiểu phát triển kỹ năng tự học là quá trình biến đổi, tăng tiến hệ thống
các kỹ năng tự học của sinh viên từ mức thấp đến mức cao, từ chưa phù hợp đến phù hợp làm cho việc học tập của các em trở nên có hiệu quả và đáp ứng yêu cầu của tổ chức, xã hội trong giai đoạn đó
1.3 Lý luận về kỹ năng tự học của sinh viên
1.3.1 Tầm quan trọng của kỹ năng tự học
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời đã dạy: “Học hỏi là công việc phải tiếp tục suốt đời”, trong đó phải “Lấy tự học làm cốt” [22] Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc
biệt quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định tạo nên trí tuệ Bằng tấm gương tự học
và học tập suốt đời, Bác Hồ đã để lại nhiều bài học và những kinh nghiệm quý báu cho các thế
hệ noi theo
Tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách cho sinh viên Các nhà tâm lý học duy vật biện chứng cho rằng: bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý con người là quá trình tiếp thu và lĩnh hội hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà loài người đã phát hiện, tích lũy và tồn tại dưới dạng hệ thống hóa tri thức khoa học Theo lý thuyết hoạt động thì tâm lý con người chỉ được hình thành, phát triển và bộc lộ trong quá trình học tập của cá nhân, có nghĩa là sinh viên phải trực tiếp tham gia vào hoạt động
Trang 34Hình thành và phát triển tự học và kỹ năng tự học cho sinh viên là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học đối với người giảng viên trong các trường đại học Trong quá trình hoạt động dạy học (DH) giảng viên (GV) không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu sinh viên ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho sinh viên tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Giúp sinh viên không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: Càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, phương pháp dạy học cốt lõi chính là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên
Kỹ năng tự học quyết định kết quả học tập của sinh viên và giúp sinh viên thuận lợi, có nhiều cơ hội chọn được việc làm, vị trí thích hợp với khả năng, hứng thú của mình Nếu không
có kỹ năng tự học tốt thì sinh viên không thể hoàn thành nhiệm vụ học tập theo phương châm
“biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Nhờ có được kỹ năng tự học mà sinh viên
có thể hình thành được những năng lực cơ bản để có thể “học tập suốt đời”, sau khi ra trường
có thể tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội
Những ai coi trọng giá trị bản thân mình, có mong muốn được cống hiến cho xã hội thì người đó mới hiểu được rằng chỉ có tự học và biết cách tự học tốt mới có thể đạt được các mục tiêu đặt ra Sự học trong nhà trường là cần thiết, nhưng sự học sau khi rời ghế nhà trường lại cần thiết hơn Do vậy tự học và cách tự học (kỹ năng tự học) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển cá nhân và xã hội
1.3.2 Cấu trúc của kỹ năng tự học
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về cấu trúc kỹ năng tự học:
Tác giả Vũ Trọng Rỹ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói chung và sinh viên nói riêng gồm 4 nhóm [55]:
- Kỹ năng nhận thức
- Kỹ năng thực hành
- Kỹ năng tổ chức
- Kỹ năng kiểm tra đánh giá
Theo nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ( 2018), kỹ năng tự học có thể được phân thành 4 nhóm đó là [55]:
Trang 35- Nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch)
- Nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch
- Nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
+ Góc nhìn của Lê Trọng Tuấn (2016) [39] Cấu trúc kỹ năng tự học gồm các kỹ năng sau:
- Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học
- Kỹ năng lựa chọn tài liệu
- Kỹ năng lựa chọn hình thức tự học
- Kỹ năng xử lý thông tin
- Kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
- Kỹ năng trao đổi, chia sẻ thông tin
- Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá việc tự học
Theo chúng tôi có thể chia kỹ năng tự học của sinh viên thành các nhóm sau đây:
+ Nhóm kỹ năng hình thành động cơ tự học trong thời kỳ cách mạng 4.0
+ Nhóm kỹ năng thiết kế mục tiêu tự học và kế hoạch thực hiện các mục tiêu tự học đặt
ra một cách khoa học, hợp lý giữa: Học trên lớp, học ở nhà, học ngoài XH, nghỉ ngơi vui chơi, giải trí
+ Nhóm kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong lập kế hoạch và quản lý việc tự học của bản thân
+ Nhóm kỹ năng tư duy sáng tạo, phát triển ý tưởng mới trong giao tiêp, học tập và làm việc nhóm
+ Nhóm kỹ năng đánh giá việc tự học của bản thân trền nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin trong mối quan hệ với các đối tượng khác nhau trong học tập
1.3.3 Một số đặc trưng của ngành TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.0
1.3.3.1.Vài nét về công nghiệp 4.0
Tại "Diễn đàn Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4" do Bộ Công thương tổ chức ngày 11/4/2016, Theo tác giả Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã nói: “Cơ hội của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 là vô tận, bởi nó sẽ thay đổi cơ bản tất cả mọi thứ trong cuộc sống hiện nay Khái niệm đầu tiên khi nói về Cách mạng Công nghiệp 4.0 là sự kết nối, kết nối mọi nơi mọi lúc giữa người với người, người với vật, đặc biệt quan trọng là giữa vật với vật "Công nghệ 4.0 gắn chặt với năng lực trí tuệ Trong phần lớn của cải sản xuất ra cho
xã hội thì của cải do trí tuệ sáng tạo chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng GDP Như vậy,
Trang 36thách thức ở đây, nếu muốn ứng dụng được công nghệ 4.0 thì con người phải có trí tuệ thì mới tham gia vào được quá trình sản xuất
Công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện thời trong việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong
công nghệ sản xuất Nó bao gồm các hệ thống không gian mạng thực-ảo (cyber-physical
system), Vật và điện toán đám mây và điện toán nhận thức (cognitive computing) Qua Internet
Vạn Vật, các hệ thống thực-ảo giao tiếp và cộng tác với nhau và với con người trong thời gian thực, và với sự hỗ trợ của Internet Dịch vụ, dịch vụ nội hàm và dịch vụ xuyên tổ chức được cung cấp cho các bên tham gia chuỗi giá trị sử dụng [50]
Với góc nhìn của các chuyên gia, cuộc cách mạng 4.0 có các đặc trưng cơ bản sau: Sự kết hợp giữa hệ thống thực với hệ thống ảo; là nền sản xuất thông minh, năng suất lao
động vượt trội; khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động thông minh, dựa trên công nghệ
số, xử lý dữ liệu lớn, kết nối không dây; lượng thông tin tăng theo hàm số mũ, công nghệ và sản phẩm thay đổi theo tốc độ hàm số mũ; tạo nên cách mạng về tổ chức các chuỗi sản xuất - giá trị sản phẩm có hàm lượng tri thức cao (sản phẩm thông minh); tạo hệ thống sản xuất thông minh, mạng lưới giá trị toàn cầu kết nối giữa con người với con người, con người với máy thiết bị, máy thiết bị với máy thiết bị, các doanh nghiệp và khách hàng [49]
Đối với Việt Nam, CMCN 4.0 đang mang lại cơ hội khẳng định giá trị và thương hiệu
cá nhân người lao động, giúp tăng năng suất lao động, cải thiện hệ thống kết nối thông tin, tiết kiệm chi phí quản lý, chi phí sản xuất, mang lại lợi ích to lớn cho nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Tuy nhiên, cách mạng 4.0 có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn, đặc biệt là ở khả năng phá vỡ thị trường lao động khi công nghệ và tự động hóa thay thế dần con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa, dẫn đến sự rối loạn không chỉ trong môi trường kinh doanh mà còn ở thị trường lao động Vì lẽ đó việc dạy học hướng tới coi trọng phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học cần được coi trọng hơn Phải tìm ra những đột phá, những hướng đi mới để sinh viên tốt nghiệp có thể thích ứng tốt các yêu cầu của thời đại công nghệ số bùng nổ như hiện nay đồng thời có đủ niềm tin và khả năng học tập suốt đời
1.3.3.2 Một số đặc trưng ngành TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.0
Thương mại điện tử (E-com merce) là một hình thức kinh doanh thương mại trên cơ sở mạng máy tính toàn cầu Nó được dự báo là phương thức hoạt động chủ yếu trong nền kinh tế
số Ra đời trên cơ sở phát triển mạng Internet và công nghệ thông tin (CNTT), thương mại
Trang 37văn bản quan trọng” khung thương mại điện tử toàn cầu” thì thuật ngữ thương mại điện tử
(E-com merce) mới được sử dụng rộng rãi
Tác giả Nguyễn Hoài Anh và Ao Thu Hoài (2010) cho rằng: Thương mại điện tử theo nghĩa rộng có thể được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng các phương tiện điện tử [1]
Theo nghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo) Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người
Từ các quan niệm trên, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thương mại điện tử như sau:
“ Thương mại điện tử là hình thức thực hiện, quản lý và điều hành kinh doanh thương mại của các thành viên trên thị trường đang được phát triển mạnh trên thế giới thông qua và với sự trợ giúp của các phương tiện điện tử, vi tính, công nghệ thông tin và mạng truyền thông”[1]
Có rất nhiều mô hình thương mại điện tử khác nhau trong thời kỳ CM 4.0 như: Doanh nghiệp với doanh nghiệp; Doanh nghiệp với người tiêu dùng; Người tiêu dùng với người tiêu dùng; Người tiểu dùng với doanh nghiệp
So với các hoạt động thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số đặc trưng
+ Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực
Trang 38+ Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường
+ Trong thương mại điện tử, độ lớn về qui mô và vị trí của các doanh nghiệp trở nên không quan trọng
+ Hàng hóa trong thương mại điện tử rất đa dạng Ngoài hàng hóa và dịch vụ “vật thể” trong các giao dịch thông thường khác, trong thương mại điện tử còn có cả hàng hóa đặc thù của mình đó là “ hàng hóa số” và “dịch vụ số’ Hàng hóa và dịch vụ số là những hàng hóa và dịch vụ có thể phân phối qua cơ sở hạ tầng mạng, bao gồm: các dữ liệu, các số liệu thống kê, thông tin, âm thanh, hình ảnh, phần mềm máy tính, kinh doanh trong bảo hiểm, tài chính, an ninh và các loại hàng hóa khác
+ Thương mại điện tử dùng không gian ảo để tiến hành các hoạt động mang tính thương mại giữa các bên tham gia Ở đó người bán và người mua khám phá lẫn nhau và tiến hành giao dịch thông qua mạng viễn thông và Internet
+ Tốc độ giao dịch nhanh chóng và thương mại điện tử là nguồn tài nguyên khổng lồ
1.3.4 Đặc điểm cơ bản của sinh viên ngành TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.0
1.3.4.1 Đối tượng tuyển sinh ngành TMĐT
Chủ yếu là các khối A0, A1, D1
+ A0: Toán, Lý Hóa
+ A1: Toán, Lý, Anh
+ D1: Toán, Văn, Anh
1.3.4.2 Vị trí việc làm và nơi công tác của sinh viên ngành TMĐT [60]
* Sinh viên ngành TMĐT ra trường có thể làm việc ở những vị trí việc làm:
+ Chuyên viên quản trị, xây dựng các hệ thống giao dịch thương mại, kinh doanh trực tuyến tại các công ty, doanh nghiệp; Giám đốc thông tin (CIO), Giám đốc E- Marketing;
+ Chuyên viên lập dự án, hoạch định chính sách phát triển công nghệ thông tin;
+ Tư vấn viên cho các công ty tư vấn, đề xuất giải pháp, xây dựng và bảo trì các dự án công nghệ thông tin liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử hoặc quản trị doanh nghiệp điện tử;
+ Cán bộ nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin ở các viện, trung tâm,
cơ quan nghiên cứu của các Bộ, Ngành;
+ Giảng viên ngành Thương mại điện tử tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp
Trang 39+ Ngoài ra còn có thể làm một số vị trí khác: Nhân viên kinh doanh các dịch vụ truyền thông quảng cáo, Nhân viên chăm sóc khách hàng online, Nhân viên nhập liệu, Nhân viên marketing online tổng hợp, Nhân viên shall website, Nhân viên chạy quảng cáo google, facebook…
* Sinh viên ngành TMĐT ra trường có thể làm việc ở những nơi sau:
+ Phòng Marketing, Phòng nghiệp vụ kinh doanh, Phòng Kế hoạch tại các công ty, doanh nghiệp kinh doanh, thương mại;
+ Công ty tin học, công nghệ thông tin liên quan đến việc thực hiện các giải pháp công nghệ trong kinh doanh, thương mại;
+ Trường đại học, Viện nghiên cứu, Trung tâm công nghệ, Sở ban ngành liên quan đến công nghệ thông tin…
1.3.4.3 Chuẩn đầu ra sinh viên TMĐT tại trường ĐHCN Tp Hồ Chí Minh (Theo quyết
định số 1025/QĐ-ĐHCN ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Hiệu trưởng trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh)
Để đáp ứng yêu cầu nhân lực cho xã hội nói chung và ngành Thương mại Điện tử nói riêng trong thời kỳ công nghiệp 4.0 Trường ĐHCN Tp Hồ Chí Minh đã xây dựng chuẩn đầu
ra cho sinh viên ngành Thương mại Điện tử như sau:
Khi tốt nghiệp, sinh viên có khả năng:
A- Vận dụng được kiến thức đại cương về KHXH và KHTN vào hoạt động Thương mại
điện tử
B- Vận dụng được những kiến thức nền tảng của khối ngành kinh tế, công nghệ thông tin
để thực hiện các hoạt động của lĩnh vực thương mại điện tử
C- Vận dụng được kiến thức chuyên ngành Thương mại điện tử để giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động thương mại điện tử trong môi trường trong nước và quốc tế
D- Sử dụng được các công cụ và các ứng dụng thương mại điện tử phổ biến
E- Tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả để hoàn thành mục tiêu chung
F- Thể hiện hiểu biết về các vấn đề đương đại
G- Giao tiếp hiệu quả trong môi trường nghề nghiệp
H - Tuân thủ đạo đức và chuẩn mực nghề nghiệp
I- Định hướng học tập suốt đời
1.3.4.4 Một số kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT
Trang 40Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động rất lớn đến thị trường lao động và ảnh hưởng không nhỏ tới tiêu chí và yêu cầu việc làm của các doanh nghiệp sử dụng nhân lực ngành TMĐT Căn cứ vào chuẩn đầu ra của ngành TMĐT ở các trường trường đại học tại Việt Nam, cùng với yêu cầu của xã hội trong thời kỳ công nghiệp 4.0 Sinh viên TMĐT cần phải nâng cao kỹ năng tự học mới có thể thích ứng tốt yêu cầu phát triển như vũ bão của cuộc CM 4.0 đồng thời có được vị trí việc làm tốt, cơ hội thăng tiến Trên cơ sở đó chúng tôi đề cập tới một
số kỹ năng tự học chung của sinh viên TMĐT gồm: Kỹ năng thiết kế mục tiêu tự học; Kỹ năng lập kế hoạch thực hiện các mục tiêu tự học; Kỹ năng khai thác tài liệu học tập; Kỹ năng
tự học trên lớp; Kỹ năng tự học ngoài lớp; Kỹ năng tư duy sáng tạo và phát triển các ý tưởng sáng tạo; Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm; Kỹ năng tự đánh giá về tự học của bản thân
a Kỹ năng thiết kế mục tiêu tự học của sinh viên TMĐT
Nếu mỗi sinh viên muốn thành công trong nghề nghiệp đã chọn, cần phải đặt mục tiêu phát triển nghề và quản trị mục tiêu đó suốt cả đời Không có mục tiêu nghề nghiệp, cá nhân sẽ thiếu tập trung và định hướng sự phát triển nghề nghiệp cũng như cuộc sống, bạn sẽ bất ổn và
dễ có các quyết định sai lầm Ngoài ra mục tiêu nghề nghiệp còn là thước đo bản thân có thành công hay không?
Trong kỷ nguyên số hóa hiện nay, ngành TMĐT là ngành có tốc độ phát triển rất mạnh
mẽ và có nguồn nguyên liệu khổng lồ Việc sinh viên có kỹ năng thiết lập mục tiêu tự học cho bản thân cực kỳ quan trọng Nếu có được mục tiêu đúng đắn sinh viên thuận lợi theo kịp tốc
độ và nhu cầu cũng như xu hướng của nghề nghiệp, ít gặp rủi ro, có nhiều cơ hội thành công Điều quan trọng là giúp sinh viên có nhiều cơ hội học tập để thấu hiểu và định vị bản thân nhanh, chính xác, đúng đắn Từ đó mới có chiến lược phát triển cá nhân phù hợp
Mục tiêu tự học đúng đắn, đòi hỏi sinh viên TMĐT phải biết cách nhận diện vấn đề, phát hiện vấn đề cần tự học Sau đó cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề tự học quan trọng và cần thiết với bản thân mình như thế nào? Trong hoạt động, công việc nào? Ở bối cảnh nào? Khả năng khả thi có cao không? Những khó khăn, thuận lợi hay rủi ro có thể ? Vì vậy khi thiết kế mục tiêu tự học sinh viên TMĐT cần chú ý các nguyên tắc sau:
-Mục tiêu phải giúp bạn tạo ra động lực(động cơ) đúng đắn và mạnh mẽ Động lực là chìa khóa để đạt mục tiêu
-Phải đạt mục tiêu theo nguyên tắc SMART: Mục tiêu phải cụ thể, phải đo lường được, phải khả thi, phải tương thích, phải có thời hạn cụ thể ( thời gian) Bên cạnh đó còn phải có