1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh

106 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh
Tác giả Võ Hồ Như Nguyệt
Người hướng dẫn TS. Đàm Trí Cường
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chuyên ngành Quản trị Kinh Doanh
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI (15)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (15)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (16)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (16)
      • 1.2.2 Mục tiêu cụ thể (16)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (17)
    • 1.4. Đối tượng nghiên cứu (17)
    • 1.5. Phạm vi nghiên cứu (17)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu (18)
      • 1.6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính (18)
      • 1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng (18)
    • 1.7. Kết cấu bài nghiên cứu (18)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (18)
    • 2.1. Các khái niệm chung (21)
      • 2.1.1. Khái niệm về Khởi nghiệp kinh doanh (21)
      • 2.1.2. Khái niệm Ý định khởi nghiệp (21)
      • 2.1.3. Mối quan hệ giữa giáo dục và ý định khởi nghiệp (22)
    • 2.2. Các lý thuyết nghiên cứu (22)
      • 2.2.1. Thuyết hành vi dự định (TPB) (22)
      • 2.2.2. Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (SEE) (24)
    • 2.3. Các mô hình nghiên cứu trước liên quan về ý định khởi nghiệp (25)
      • 2.3.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài (25)
      • 2.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (27)
    • 2.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất (30)
      • 2.4.1. Các giả thuyết nghiên cứu (30)
      • 2.4.2. Mô hình nghiên cứu (34)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (18)
    • 3.1. Thiết kế nghiên cứu (38)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (39)
      • 3.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính (39)
      • 3.2.2. Thang đo nghiên cứu (39)
      • 3.2.3. Nghiên cứu định lượng (41)
        • 3.2.3.1. Phương pháp chọn mẫu (42)
        • 3.2.3.2. Thiết kể bảng câu hỏi (43)
    • 3.3. Phương pháp thu thập dữ liệu (43)
    • 3.4. Phương pháp xử lý số liệu (44)
      • 3.4.1. Đánh giá độ tin cậy thang đo (44)
      • 3.4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (44)
      • 3.4.3. Phân tích tương quan – hồi quy (45)
        • 3.4.3.1. Phân tích tương quan (45)
        • 3.4.3.2. Phân tích hồi quy đa biến (46)
    • 3.5. Ưu điểm và hạn chế của các phương pháp nghiên cứu (47)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (18)
    • 4.1. Phân tích dữ liệu (50)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu (51)
      • 4.2.1. Thống kê mô tả mẫu (51)
        • 4.2.1.1. Kết quả thống kê mô tả về năm học của sinh viên (51)
        • 4.2.1.2. Kết quả thống kê mô tả về giới tính (52)
        • 4.2.1.3. Kết quả thống kê mô tả về trường Đại học (53)
      • 4.2.2. Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha (53)
        • 4.2.2.1. Thang đo các khái niệm (53)
        • 4.2.2.2. Thang đo ý định khởi nghiệp (56)
      • 4.2.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA (56)
        • 4.2.3.1. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) biến độc lập (57)
        • 4.2.3.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) biến phụ thuộc (60)
      • 4.2.4. Phân tích tương quan (61)
      • 4.2.5. Phân tích hồi quy (64)
        • 4.2.5.1. Đánh giá sự phù hợp của mô hình (64)
        • 4.2.5.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình (65)
        • 4.2.5.3. Kết quả phân tích hồi quy (65)
        • 4.2.5.4. Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (67)
    • 4.3. Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính (70)
      • 4.3.1. Kiểm định sự khác biệt theo số năm đang theo học (70)
      • 4.3.2. Kiểm định sự khác biệt theo giới tính (71)
      • 4.3.3. Kiểm định sự khác biệt theo trường Đại học đang theo học (71)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HÀM Ý QUẢN TRỊ (74)
    • 5.1. Kết luận (74)
    • 5.2. Đề xuất hàm ý quản trị (74)
      • 5.2.1. Nhóm yếu tố “Tính cách cá nhân” (74)
      • 5.2.2. Nhóm yếu tố “Cảm nhận sự khát khao” (76)
      • 5.2.3. Nhóm yếu tố “Môi trường giáo dục Đại học” (77)
    • 5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (78)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)

Nội dung

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH VÕ HỒ NHƯ NGUYỆT 17097101 NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ TẠI ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MIN

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các khái niệm chung

2.1.1 Khái niệm về Khởi nghiệp kinh doanh

Khởi nghiệp kinh doanh đòi hỏi tính độc lập, tự chủ và sự sáng tạo, đồng thời cần có thái độ làm việc luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới cho doanh nghiệp.

1988), hoặc là việc một cá nhân nắm bắt được cơ hội kinh doanh mới (Nguyễn Thị Thu Thủy,

Khởi nghiệp, hay còn gọi là Startup, là thuật ngữ dùng để chỉ các công ty đang trong giai đoạn đầu của quá trình kinh doanh Điều này thường liên quan đến các công ty công nghệ đang trong quá trình hình thành và phát triển.

2.1.2 Khái niệm Ý định khởi nghiệp Ý định được xem là yếu tố tác động đến mức độ thực hiện hành vi, nó chỉ ra mức độ một cá nhân sẵn sàng thử và nỗ lực thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991) Theo Krueger (1993), ý định là yếu tố tiêu biểu trong việc thể hiện mức độ một hành vi có được thực hiện trong tương lai hay không Ý định khởi nghiệp được định nghĩa khác nhau từ nhiều tác giả khác nhau Khi một cá nhân có nhận thức về hành động khởi nghiệp một cách tích cực, có suy nghĩ và ý định về hành động đó thì hành động khởi nghiệp sẽ diễn ra Một ý định kiên quyết là tiền đề dẫn tới nỗ lực để bắt đầu khởi sự với công việc kinh doanh (Shapero và Sokol, 1992) Theo Bird

Ý định khởi nghiệp là quá trình mà cá nhân tập trung vào việc hình thành và thiết lập hoạt động kinh doanh, với những người có ý định này thường là những người tiên phong trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh hấp dẫn (1998) Theo Krueger (2003), ý định là trạng thái nhận thức trước khi thực hiện hành vi khởi nghiệp Souitaris và cộng sự (2007) định nghĩa ý định khởi nghiệp là quyết định bắt đầu một công việc kinh doanh Kuckertz và Wagner (2010) cho rằng ý định khởi nghiệp xuất phát từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng nguồn lực và môi trường thuận lợi để xây dựng doanh nghiệp Fayolle (2013) nhấn mạnh rằng ý định khởi nghiệp là động lực chính để tạo ra một doanh nghiệp mới.

Lập kế hoạch hành động là bước quan trọng trong khởi nghiệp, nơi ý định khởi nghiệp được hiểu là dự định và hoạt động của cá nhân nhằm tạo lập doanh nghiệp trong tương lai.

2.1.3 Mối quan hệ giữa giáo dục và ý định khởi nghiệp

Hiện nay, các trường đại học trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam, đang ngày càng chú trọng đến việc tích hợp các môn học về tinh thần khởi nghiệp Nghiên cứu của Noth (2002) và Garba cho thấy tầm quan trọng của việc giáo dục khởi nghiệp trong việc phát triển kỹ năng và tư duy sáng tạo cho sinh viên.

Giáo dục tinh thần doanh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nghề nghiệp và tạo ra các doanh nhân thành đạt (2010) Nghiên cứu của Brice (2004) cho thấy ý định khởi nghiệp tăng dần theo cấp độ học vấn của 351 sinh viên Quản trị kinh doanh Tương tự, Gadam (2008) phát hiện rằng cảm nhận về môi trường giáo dục đại học có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của 255 học viên cao học tại Hyderabad, Ấn Độ Tại môi trường đại học, sinh viên được trang bị kiến thức chuyên môn, từ đó thúc đẩy ý định khởi nghiệp và phát triển những ý tưởng, bước đi đúng đắn.

Các lý thuyết nghiên cứu

The research is grounded in two key theories: Ajzen's (1991) Theory of Planned Behavior (TPB) and Shapero and Sokol's (1982) Entrepreneurial Event (SEE) theory.

2.2.1 Thuyết hành vi dự định (TPB)

Thuyết hành vi dự định (TPB) của Aijen (1991) được phát triển dựa trên thuyết hành động hợp lý (TRA; Aijen và Fishbein, 1975) Theo tác giả, ba yếu tố chính bao gồm thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi sẽ ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi.

Hình 2.1: Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB)

Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp phản ánh cảm giác tích cực hoặc tiêu cực của mỗi cá nhân về vấn đề này Cảm giác này chịu ảnh hưởng từ các yếu tố tâm lý và môi trường xung quanh, góp phần định hình quyết định khởi nghiệp của họ.

- Tiêu chuẩn chủ quan: là yếu tố đo lường sự tác động của xã hội lên hành vi thực hiện ý định khởi nghiệp của một cá nhân

Nhận thức kiểm soát hành vi là cảm nhận của cá nhân về mức độ khó khăn hay dễ dàng trong việc thực hiện hành vi Theo Ajzen (1991), yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi; nếu cá nhân tin rằng cảm nhận của mình là chính xác, thì kiểm soát hành vi cũng có thể dự đoán hành vi đó.

Thái độ đối với hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi Ý định hành vi Hành vi

2.2.2 Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (SEE)

Mô hình nghiên cứu của Shapero và Sokol (1982) có tính hữu dụng cao và thường được áp dụng trong các nghiên cứu về khởi nghiệp Lý thuyết này chỉ ra rằng các yếu tố hoàn cảnh cá nhân và thái độ của cá nhân đối với khởi nghiệp ảnh hưởng đến quyết định thành lập doanh nghiệp của họ.

Hình 2.2 Thuyết sự kiện khởi nghiệp - SEE

Nhân tố đẩy tiêu cực

Cảm nhận về mong muốn

Cảm nhận về tính khả thi

Nhân tố đẩy tích cực

Thay đổi trong công việc

Bất mãn trong công việc Được đề nghị hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp

Có nguồn tài trợ tài chính

Các mô hình lý thuyết về ý định khởi nghiệp đã được phát triển với độ tin cậy cao, đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu hành vi khởi nghiệp Những mô hình này nhấn mạnh sự kết hợp của ba yếu tố: cá nhân, môi trường và nguồn lực, để giải thích nguyên nhân hình thành ý định khởi nghiệp Do đó, nghiên cứu này sẽ dựa vào lý thuyết về dự định khởi nghiệp làm cơ sở lý luận cho các khái niệm liên quan.

Các mô hình nghiên cứu trước liên quan về ý định khởi nghiệp

2.3.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Mô hình nghiên cứu của Shapero và Sokol (1982) chỉ ra rằng hành vi khởi nghiệp phụ thuộc vào ba yếu tố chính: cảm nhận sự khác biệt, xu hướng hành động và cảm nhận tính khả thi.

Hình 2.3 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp

Shapero và Sokol (1982) cho rằng cảm nhận về khát khao và tính khả thi đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của cá nhân Những yếu tố này có thể thúc đẩy cá nhân quyết định thực hiện hành vi khởi nghiệp.

Mô hình nghiên cứu của Krueger và Brazeal (1994) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sở hữu các kỹ năng kinh doanh trước khi khởi sự một doanh nghiệp Nghiên cứu này chỉ ra rằng những kỹ năng này là yếu tố quyết định cho sự thành công trong việc khởi nghiệp.

Cảm nhận sự khát khao

Cảm nhận tính khả thi Ý định khởi nghiệp

12 ra sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về môi trường tới quyết định thành lập doanh nghiệp

Ba yếu tố tác động đến quyết định này là: sự khát khao, tính khả thi, xu hướng hành động

Hình 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của Krueger và Brazeal (1994)

Nghiên cứu của Luthje và Franke (2004) đã phân tích ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada dựa trên thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) Kết quả cho thấy hai yếu tố chính là đặc điểm cá nhân và môi trường bên ngoài, bao gồm môi trường giáo dục, tài chính và xã hội, có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đặc biệt, môi trường giáo dục được xác định là yếu tố có tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Hình 2.5 Mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada

Mô hình của Mat và cộng sự (2015) nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại Đại học Kuala Lumpur, Malaysia Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực và thách thức mà họ phải đối mặt.

Xu hướng hành động Ý định khởi nghiệp Đặc điểm cá nhân Thị trường Tài chính Môi trường giáo dục Ý định khởi nghiệp của sinh viên

Bài viết chỉ ra rằng có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, bao gồm nhận thức kiểm soát hành vi, nhu cầu thành đạt, chuẩn chủ quan và hỗ trợ khởi nghiệp.

Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại trường Đại học Kuala Lumpur

Nguồn: Mat và cộng sự, 2015

2.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Phạm Thành Công (2010) chỉ ra rằng nhu cầu thành đạt, khả năng am hiểu thị trường, định hướng xã hội và tính chịu đựng nhẫn nại đều ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Trong đó, khả năng am hiểu thị trường và định hướng xã hội có tác động lớn nhất Nghiên cứu khẳng định rằng tính cách và kỹ năng cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp.

Nghiên cứu của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011) chỉ ra rằng tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng bởi bảy yếu tố chính: nhu cầu thành đạt, nhu cầu tự chủ, định hướng xã hội, sự tự tin, khả năng am hiểu thị trường, khả năng sáng tạo và khả năng thích ứng.

Nhận thức kiểm soát hành vi

Hỗ trợ khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp của sinh viên

Hình 2.7 Mô hình các yếu tố tác động đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự, 2011

Nghiên cứu của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982) Tác giả chỉ ra rằng các yếu tố như cảm nhận sự khát khao, tính khả thi, môi trường giáo dục đại học, điều kiện thị trường và tài chính đều có tác động đến ý định khởi nghiệp, trong đó cảm nhận sự khát khao được xem là yếu tố quan trọng nhất.

Khả năng am hiểu thị trường Định hướng xã hội

Khả năng sáng tạo Ý định khởi nghiệp của sinh viên

Hình 2.8 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Nguyễn Doãn Chí Luân, 2012

Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) đã khảo sát 233 sinh viên năm nhất và năm hai của khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh tại Trường Đại học Cần Thơ để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp Kết quả cho thấy các nhân tố này được sắp xếp theo thứ tự quan trọng giảm dần: Thái độ và sự hiệu quả, Giáo dục và thời cơ khởi nghiệp, Nguồn vốn, Quy chuẩn chủ quan, và Nhận thức kiểm soát hành vi.

Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017) đã chỉ ra bảy nhóm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ, bao gồm: Đặc điểm tính cách, Thái độ cá nhân, Nhận thức và thái độ, Giáo dục khởi nghiệp, Nhận thức và kiểm soát hành vi, Quy chuẩn thái độ, và Quy chuẩn chủ quan.

Cảm nhận sự khát khao Điều kiện thị trường và tài chính

Cảm nhận tính khả thi

Môi trường giáo dục đại học Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

Hình 2.9 Mô hình ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật

Nguồn: Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy, 2017

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Mai và cộng sự (2018) đã chỉ ra rằng các yếu tố như Chương trình giáo dục, Kiến thức và kinh nghiệm, Quy chuẩn chủ quan, Thái độ, Tính cách, và Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ sinh viên ngành Quản trị kinh doanh ở Hà Nội Dựa trên lý thuyết hành vi hoạch định TPB, khảo sát 434 nữ sinh viên cho thấy Thái độ cá nhân và Chương trình đào tạo là hai yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến ý định khởi nghiệp của họ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Nguồn: tác giả đề xuất

Xác định vấn đề nghiên cứu Cơ sở lý thuyết

Mô hình và thang đo chính thức

Cronbach’s Alpha Đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo

Kiểm định EFA Điều chỉnh mô hình và thang đo

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình hồi quy

Loại các biến có trọng số nhân tố (EFA) nhỏ Kiểm tra các yếu tố trích được Điều chỉnh mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Loại các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ (nhỏ hơn 0.3)

Kiểm tra hệ số Cronbach’s Alpha

Kiểm tra độ phù hợp của mô hình

Kiểm tra giả thuyết nghiên cứu của mô hình hồi quy

Kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy

Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Mục tiêu của nghiên cứu định tính là kiểm tra tính phù hợp của các thang đo trong nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế Nghiên cứu nhằm điều chỉnh các thang đo và cải thiện cách sử dụng từ ngữ trong bảng câu hỏi, từ đó xây dựng bảng câu hỏi phù hợp với môi trường và đối tượng nghiên cứu Qua quá trình này, nghiên cứu sẽ làm rõ ý nghĩa của từng câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức Bằng cách sàng lọc các mô hình lý thuyết và tham khảo các nghiên cứu đáng tin cậy, nghiên cứu sẽ xác định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng trong mô hình lý thuyết ban đầu.

Tiến hành thảo luận với giảng viên, xây dựng nên mô hình nghiên cứu đề xuất cho đề tài

Nghiên cứu tại Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sáu yếu tố chính Các yếu tố này bao gồm tiêu chuẩn xã hội, nhận thức về tính khả thi, môi trường giáo dục đại học, điều kiện tài chính, tính cách cá nhân và cảm nhận sự khát khao.

Các biến quan sát cho các khái niệm này sẽ được đánh giá bằng thang đo Likert 5 điểm, trong đó 1 là Hoàn toàn không đồng ý, 2 là Không đồng ý, 3 là Bình thường, 4 là Đồng ý, và 5 là Hoàn toàn đồng ý.

Bảng 3.1 Bảng mã hóa thang đo

XH Tiêu chuẩn xã hội

Quyết định khởi nghiệp của tôi sẽ nhận được sự ủng hộ từ gia đình và bạn bè, điều này mang lại động lực lớn cho tôi trong hành trình khởi nghiệp Sự hỗ trợ từ những người thân yêu không chỉ giúp tôi tự tin hơn mà còn tạo ra một môi trường tích cực để phát triển ý tưởng kinh doanh.

XH3 Quyết định khởi nghiệp của tôi sẽ được những người có tầm ảnh hưởng đến tôi ủng hộ

XH4 Nghề nghiệp của người thân có ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của tôi

NT Nhận thức tính khả thi

NT1 Nếu khởi nghiệp kinh doanh tôi tin rằng sẽ thành công Shapero và Sokol

(1982) NT2 Khởi nghiệp kinh doanh là không khó đối với tôi

NT3 Vốn tri thức của tôi được khai thác tốt nhất khi khởi nghiệp kinh doanh

NT4 Tôi biết cách để phát triển một dự án kinh doanh

NT5 Tôi tin rằng mình có đủ khả năng để khởi nghiệp thành công

MT Môi trường giáo dục Đại học

MT1 Những kiến thức về khởi nghiệp được nhà trường cung cấp đầy đủ

(2004) MT2 Chương trình học ở trường giúp tôi có đủ khả năng để khởi nghiệp

MT3 Trường tôi thường xuyên có những hoạt động định hướng khởi nghiệp cho sinh viên

MT4 Kĩ năng khởi nghiệp của tôi được phát triển nhờ nhà trường

DK Điều kiện tài chính

DK1 Tôi có vốn tự có (tiết kiệm, làm thêm…) Luthie và Franke

(2004) DK2 Tôi có thể huy động vốn từ những nguồn khác

DK3 Tôi có thể vay mượn từ bạn bè, người thân

DK4 Tôi có khả năng tích lũy vốn

TC Tính cách cá nhân

TC1 Kinh doanh là thú vị đối với tôi Luthie và Franke

(2004) TC2 Tôi có thể đối mặt với trở ngại trong kinh doanh

TC3 Tôi dám đương đầu với rủi ro trong kinh doanh

TC4 Tôi thường chọn những nghề nghiệp đòi hỏi sự khám phá, sáng tạo

TC5 Tôi có đủ năng lực để quản lý doanh nghiệp

CN Cảm nhận sự khát khao

CN1 Là một doanh nhân có nhiều lợi ích đối với tôi Shapero và Sokol

(1982) CN2 Nghề kinh doanh hấp dẫn đối với tôi

CN3 Nếu có cơ hội tôi sẽ trở thành doanh nhân

CN4 Tôi sẽ có nhiều đóng góp cho xã hội khi là một doanh nhân

CN5 Khi là doanh nhân tôi sẽ thỏa mãn được các đòi hỏi của bản thân

YD Ý định khởi nghiệp của sinh viên

YD1 Tôi luôn xác định sẽ khởi nghiệp trong tương lai Luthie và Franke

(2004) YD2 Tôi sẽ cố gắng để công ty được thành lập sớm nhất có thể

YD3 Tôi thực sự nghiêm túc khi nghĩ đến việc thành lập công ty riêng

YD4 Tôi sẽ tự mình kinh doanh sau khi tốt nghiệp

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện thông qua phỏng vấn với mẫu nghiên cứu nhỏ nhằm đánh giá tính phù hợp của các yếu tố trong mô hình Mục tiêu là đảm bảo rằng sinh viên hiểu đúng ý nghĩa của các phát biểu trước khi tiến hành điều tra chính thức.

Có 28 sát được chấp nhận và đủ điều kiện để tiến hành điều tra chính thức, với hệ số Cronbach’s Alpha đều lớn hơn 0.3, và các biến quan sát đều hội tụ trong ma trận xoay.

Nghiên cứu chính thức được tiến hành để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế, đồng thời đánh giá mức độ tác động của những yếu tố này đến ý định khởi nghiệp của họ.

Mẫu trong nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện Theo Tabachnick và Fidell

Theo Nguyễn Đình Thọ (2012), để đạt được kết quả tốt nhất trong phân tích hồi quy, kích thước mẫu cần thỏa mãn công thức n >= 50 + 8p, trong đó n là kích thước mẫu tối thiểu và p là số lượng biến độc lập Nghiên cứu này có 6 biến độc lập, do đó kích thước mẫu tối thiểu được tính là n >= 50 + 8*6 = 98 quan sát Ngoài ra, để thực hiện phân tích nhân tố EFA, kích thước mẫu cũng cần đủ lớn (Nguyễn Đình Thọ, 2014).

Theo Hair và cộng sự (2006), để áp dụng Phân tích yếu tố khám phá (EFA), kích thước mẫu tối thiểu cần đạt 50, lý tưởng nhất là 100, với tỷ lệ quan sát trên biến đo lường là 5:1 Điều này có nghĩa là mỗi biến đo lường cần ít nhất 5 quan sát, và tốt nhất là tỷ lệ 10:1 trở lên Trong nghiên cứu này, với 31 biến quan sát, số mẫu tối thiểu cần thiết là n = 5 x 31.

Để thực hiện nghiên cứu, tác giả kết hợp hai phương pháp xác định cỡ mẫu, yêu cầu tối thiểu 155 quan sát do EFA cần kích thước mẫu lớn hơn so với hồi quy Tác giả đã phát ra 350 phiếu khảo sát cho sinh viên năm ba và năm tư ngành kinh tế tại Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Trong số 350 bảng câu hỏi, 327 bảng được thu hồi, nhưng 31 bảng không hợp lệ và bị loại, dẫn đến 296 bảng trả lời phù hợp.

3.2.3.2 Thiết kể bảng câu hỏi

Nội dung bảng câu hỏi (Phụ lục) được thiết kế gồm 3 phần như sau:

Phần mở đầu của bài viết sẽ giới thiệu ngắn gọn về đề tài và mục đích nghiên cứu, nhấn mạnh ý nghĩa của thông tin cung cấp cho lĩnh vực nghiên cứu Đồng thời, tác giả cũng sẽ đưa ra lời cam đoan về tính chính xác của thông tin và gửi lời cảm ơn đến những người đã hỗ trợ trong quá trình thực hiện nghiên cứu.

Phần I: Thông tin chung Phần này nhằm xác định thông tin cá nhân người trả lời để đảm bảo đối tượng khảo sát đúng yêu cầu

Phần II: Nội dung chính Phần này sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

Phần kết: Lời cảm ơn.

Phương pháp thu thập dữ liệu

Thu thập dữ liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua mạng:

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp bao gồm việc phát trực tiếp bảng câu hỏi cho từng sinh viên, cho phép họ tự điền câu trả lời và sau đó thu lại bảng trả lời.

Phương pháp phỏng vấn qua mạng bao gồm việc thiết kế bảng câu hỏi trên Google Docs và gửi liên kết đến các đối tượng khảo sát qua email.

Thu thập dữ liệu thứ cấp là quá trình lấy thông tin từ sách, báo, internet và các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh" Dữ liệu này sẽ được tổng hợp và chọn lọc để xây dựng mô hình nghiên cứu Đầu tiên, cần kiểm tra thông tin chung của các bảng câu hỏi sau khi thu thập để đảm bảo đúng đối tượng điều tra Đồng thời, việc đảm bảo tính chính xác của bảng khảo sát cũng rất quan trọng.

Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sơ bộ với 30 người để điều chỉnh văn phong và từ ngữ trong bảng hỏi, nhằm đảm bảo dễ hiểu và đạt tiêu chuẩn cho khảo sát chính thức Nghiên cứu được thực hiện với 30 tác giả, những người chỉ chọn một mức độ, ví dụ như mức độ 1 hoặc mức độ 5, tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian: từ ngày 1/04/2021 đến ngày 10/04/2021.

Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi thu thập, dữ liệu sẽ được sàng lọc và kiểm tra để loại bỏ các bảng trả lời không hợp lệ Các bảng trả lời hợp lệ sẽ được mã hóa, nhập liệu và làm sạch dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0, áp dụng một số phương pháp phân tích.

3.4.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo Đầu tiên chúng ta cần đánh giá độ tin cậy của thang đo (Nguyễn Đình thọ, 2012) Các thang đo được đánh giá độ tin cậy bằng công cụ Cronbach’s Alpha giúp loại đi những biến quan sát không đạt độ tin cậy Kết hợp sử dụng hệ số tương quan biến tổng để loại ra những biến không ảnh hưởng nhiều đến khái niệm cần đo (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng thang đo lường có độ tin cậy tốt khi Cronbach’s Alpha từ 0,8 đến gần 1, và có thể sử dụng được khi từ 0,7 đến gần 0,8 Một số nghiên cứu cũng cho rằng Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là chấp nhận được, đặc biệt khi khái niệm đo lường là mới trong bối cảnh nghiên cứu (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995) Trong nghiên cứu này, tác giả chọn thang đo có độ tin cậy Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6, và loại bỏ các biến có hệ số tương quan nhỏ hơn 0,3 (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995; dẫn theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Thang đo được chấp nhận khi hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha đạt yêu cầu.

3.4.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích nhân tố giúp nhóm các biến có sự tương quan thấp thành những nhân tố đại diện có ý nghĩa hơn, đồng thời vẫn giữ nguyên thông tin của tập biến ban đầu.

Sau khi kiểm định và loại bỏ các biến có độ tin cậy thấp, các biến còn lại sẽ được sử dụng để phân tích nhân tố Theo Gerbing và Anderson (1998) được trích dẫn bởi Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007), các biến quan sát có trọng số (factor loading) nhỏ hơn 0.5 trong EFA sẽ bị loại bỏ, đồng thời kiểm tra tổng phương sai trích (>P%) Tiêu chuẩn kiểm định giá trị hội tụ theo Hair và cộng sự (2006) cũng sẽ được áp dụng.

Chỉ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) được sử dụng để đánh giá sự phù hợp của phân tích nhân tố (EFA) Để EFA được coi là thích hợp, chỉ số KMO cần phải lớn hơn 0,5 và mức ý nghĩa quan sát phải nhỏ hơn 0,05 (sig < 0,05) Điều này cho thấy các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau, theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005).

Eigenvalue đại diện cho mức độ biến thiên mà mỗi nhân tố giải thích trong mô hình phân tích Chỉ những nhân tố có Eigenvalue lớn hơn 1 mới được giữ lại, trong khi các nhân tố có Eigenvalue nhỏ hơn 1 sẽ bị loại bỏ Mô hình được coi là chấp nhận được khi tổng phương sai trích đạt trên 50% (Nguyễn Đình Thọ, 2014).

Hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5 sẽ bị loại bỏ Để tạo ra sự khác biệt giữa các nhân tố, sự khác biệt hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố phải đạt ít nhất 0,3 (Jabnoun và Altamimi, 2003) Chỉ giữ lại những biến có tổng phương sai trích lớn hơn 50%.

3.4.3 Phân tích tương quan – hồi quy

Các thang đo đạt yêu cầu sẽ được sử dụng trong phân tích tương quan Pearson, do các biến được đo bằng thang đo khoảng Tiếp theo, phân tích hồi quy sẽ được thực hiện để kiểm định các giả thuyết.

Hệ số tương quan Pearson được sử dụng để đo lường mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Nếu hệ số này lớn, điều đó cho thấy có sự liên kết giữa các biến, cho phép áp dụng phân tích hồi quy tuyến tính Giá trị tuyệt đối của hệ số Pearson càng gần 1 thì mối tương quan tuyến tính giữa hai biến càng chặt chẽ, trong khi giá trị bằng 0 cho thấy không có mối liên hệ nào.

Phân tích hồi quy trong hệ tuyến tính cần xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập, vì những tương quan này có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phân tích, đặc biệt là gây ra hiện tượng đa cộng tuyến (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005).

Nguyễn Đình Thọ (2014) chỉ ra rằng trong mô hình hồi quy đa biến, các biến độc lập không hoàn toàn không có mối quan hệ với nhau, mà hệ số tương quan r giữa các cặp biến độc lập thường khác 1 Điều này cho thấy trong phân tích hồi quy đa biến, các biến cần phải phân biệt và thường có mối liên hệ với nhau trong nghiên cứu thực tiễn.

3.4.3.2 Phân tích hồi quy đa biến

Mô hình hồi quy bội, theo Nguyễn Đình Thọ (2012), thể hiện mối quan hệ giữa nhiều biến độc lập định lượng và một biến phụ thuộc định lượng Nghiên cứu áp dụng phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Square - OLS) để đưa các biến độc lập vào mô hình hồi quy và phân tích các kết quả thống kê liên quan Tác giả sẽ phân tích tác động của 06 biến độc lập trong nghiên cứu này, với quy trình phân tích hồi quy bội được thực hiện một cách hệ thống.

Phương pháp Enter: là phương pháp đưa các biến vào mô hình một lượt và xem xét các kết quả thống kê liên quan

Hệ số 𝑅² hiệu chỉnh là công cụ quan trọng để đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy Theo nghiên cứu của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Hồng Ngọc (2008), nếu hệ số 𝑅² gần 1, mô hình sẽ càng phù hợp, trong khi nếu 𝑅² gần 0, mô hình sẽ ít phù hợp hơn.

Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình

Xác định các hệ số của phương trình hồi quy bội, đó là các hệ số hồi quy riêng phần

Kiểm định giả thuyết về phân phối chuẩn của phần dư bao gồm việc đánh giá giá trị trung bình là 0 và độ lệch chuẩn là 1, thông qua việc phân tích biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa.

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phân tích dữ liệu

Mẫu khảo sát được thu thập bằng phương pháp thuận tiện thông qua bảng câu hỏi Tổng cộng có 200 bảng câu hỏi được phát trực tiếp và 150 bảng được gửi qua Google Docs qua email Trong số 350 bảng phát ra, 327 bảng đã được thu hồi, trong đó có 31 bảng không hợp lệ và không đúng đối tượng nghiên cứu, do đó bị loại Kết quả cuối cùng là 296 bảng trả lời phù hợp.

Bảng 4.1 Bảng hình thức thu thập dữ liệu

Số lượng phát ra Số lượng thu về Số lượng hợp lệ

Nguồn: tác giả tổng hợp

Kết quả nghiên cứu

4.2.1 Thống kê mô tả mẫu

4.2.1.1 Kết quả thống kê mô tả về năm học của sinh viên

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ thể hiện độ tuổi

Nguồn: tác giả điều tra và phân tích

Theo khảo sát, sinh viên năm 4 chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,6% (209 sinh viên), tiếp theo là sinh viên năm 3 với 29,4% (87 sinh viên) Đặc biệt, sinh viên khối ngành kinh tế có ý định khởi nghiệp chủ yếu là sinh viên năm 4.

Sinh viên năm 3 Sinh viên năm 4

4.2.1.2 Kết quả thống kê mô tả về giới tính

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thể hiện giới tính

Nguồn: tác giả điều tra và phân tích

Theo thống kê mô tả, sinh viên nữ chiếm tỷ lệ cao hơn với 70,3% (208 sinh viên), trong khi sinh viên nam chỉ chiếm 29,7% (88 sinh viên) Điều này cho thấy rằng trong khối ngành kinh tế, số lượng sinh viên nữ có ý định khởi nghiệp tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn so với sinh viên nam.

4.2.1.3 Kết quả thống kê mô tả về trường Đại học

Biểu đồ 4.3 Biểu đồ thể hiện trường Đại học

Nguồn: tác giả điều tra và phân tích

Nghiên cứu tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 100% sinh viên đang theo học tại trường.

4.2.2 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha Đầu tiên sẽ phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha Phân tích Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau Phân tích này cần thiết cho thang đo vì nó được sử dụng để loại các biến không phù hợp trước khi phân tích nhân tố khám phá EFA Các biến có hệ số tương quan tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại và thang đo được chấp nhận khi có trị số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên (Nunnally và Burnstein, 1994)

4.2.2.1 Thang đo các khái niệm

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho các khái niệm nghiên cứu

Trường Đại học Công Nghiệp TP HCM

Biến quan sát Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach’s Alpha nếu loại biến

Thang đo “Tiêu chuẩn xã hội”: Cronbach’s Alpha = 0,760

Thang đo “Nhận thức tính khả thi”: Cronbach’s Alpha = 0,759

Thang đo “Môi trường giáo dục Đại học”: Cronbach’s Alpha = 0,664

Thang đo “Điều kiện tài chính”: Cronbach’s Alpha = 0,670

Thang đo “Tính cách cá nhân”: Cronbach’s Alpha = 0,726

Thang đo “Cảm nhận sự khát khao”: Cronbach’s Alpha = 0,769

Nguồn: kết quả phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả

Tiêu chuẩn xã hội cho thấy kết quả phân tích Cronbach’s Alpha đạt 0,760, vượt mức 0,6 Tất cả các hệ số tương quan biến tổng của 4 biến quan sát đều lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể loại bỏ để tăng giá trị Cronbach’s Alpha Do đó, tất cả các biến này sẽ được giữ lại cho phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo cho thấy tính khả thi cao với giá trị 0,759, vượt ngưỡng 0,6 Tất cả 5 biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể loại bỏ để tăng giá trị Cronbach’s Alpha Do đó, tất cả các biến này sẽ được giữ lại để tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho môi trường giáo dục Đại học là 0,664, vượt mức 0,6, với tất cả các hệ số tương quan biến tổng của 4 biến quan sát đều lớn hơn 0,3, cho thấy không có biến nào cần loại bỏ Tương tự, trong điều kiện tài chính, Cronbach’s Alpha đạt 0,670, cũng lớn hơn 0,6, và các hệ số tương quan biến tổng của 4 biến quan sát đều lớn hơn 0,3, do đó tất cả các biến này được giữ lại cho phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo tính cách cá nhân đạt 0,726, vượt ngưỡng 0,6 Tất cả các hệ số tương quan biến tổng của 5 biến quan sát đều lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể loại bỏ để tăng giá trị Cronbach’s Alpha Do đó, tất cả các biến này sẽ được giữ lại cho phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo khát khao đạt 0,769, vượt ngưỡng 0,6, cho thấy độ tin cậy cao Tất cả 5 biến quan sát đều có hệ số tương quan lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể loại bỏ để tăng giá trị Cronbach’s Alpha Do đó, tất cả các biến này sẽ được giữ lại cho phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

4.2.2.2 Thang đo ý định khởi nghiệp

Bảng 4.3 Bảng kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo ý định khởi nghiệp

Biến quan sát Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach’s Alpha nếu loại biến

Thang đo “Ý định khởi nghiệp”: Cronbach’s Alpha = 0,708

Nguồn: kết quả phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo đạt 0,708, vượt mức 0,6, cho thấy độ tin cậy cao Tất cả các hệ số tương quan giữa biến tổng và 4 biến quan sát đều lớn hơn 0,3, và không có biến nào làm giảm giá trị Cronbach’s Alpha, do đó tất cả các biến này sẽ được giữ lại để tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA

Kết quả Cronbach’s Alpha ở phần trước cho thấy trong 31 biến quan sát đều đạt yêu cầu để phân tích nhân tố khám phá EFA

Kiểm định Bartlett dùng để kiểm định giả thuyết 𝐻 0 đặt ra trong phân tính này là các biến không có tương quan với nhau trong tổng thể

Trị số KMO được sử dụng để xác định tính phù hợp của kích thước mẫu cho phân tích nhân tố Nếu trị số KMO lớn hơn 0,5, điều này cho thấy rằng phân tích nhân tố là thích hợp (Hair và cộng sự, 2006).

Giá trị sig trong kiểm định Bartlett nhỏ hơn 0,05 cho thấy chúng ta bác bỏ giả thiết 𝐻 0, tức là các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể (Hair và cộng sự, 2006).

Chọn các nhân tố có giá trị Eigenvalue >1 và tổng phương sai trích được > 50% (Gerbing và Anderson, 1998)

4.2.3.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) biến độc lập

Khi phân tích factor cho 27 biến quan sát độc lập, phương pháp được sử dụng là phương pháp trích yếu tố Principal Component Analysis với phép xoay Varimax

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett các biến độc lập

Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) 0,780

Kiểm định Bartlett của thang đo

Giá trị Chi bình phương 1927,304 df 351

Sig – mức ý nghĩa quan sát 0,000

Nguồn: kết quả phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả

Kết quả kiểm định KMO cho chỉ số Kaiser-Meyer-Olkin đạt 0,780, vượt mức 0,5, cho thấy phân tích nhân tố là thích hợp Đồng thời, giá trị sig = 0,000 trong kiểm định Bartlett nhỏ hơn 0,05, dẫn đến việc bác bỏ giả thiết 𝐻 0 Điều này chứng tỏ các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau, khẳng định tính phù hợp của phân tích nhân tố EFA.

Bảng 4.5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) của các biến độc lập

Hệ số nhân tố tải

Phương sai trích tích lũy

Bằng phương pháp rút trích thành phần chính và phép quay Varimax, đã rút ra 06 nhân tố từ 27 biến quan sát, với hệ số tải của các nhân tố đều lớn hơn 0,5 và đạt giá trị Eigenvalues.

Tổng phương sai trích đạt 52,662%, vượt qua ngưỡng 50%, cho thấy 52,662% biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 6 yếu tố Điều này khẳng định rằng tất cả các biến quan sát trong 6 thang đo khái niệm nghiên cứu đều có vai trò quan trọng.

Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính

Kiểm định này nhằm khám phá sự khác biệt về ý định khởi nghiệp dựa trên đặc điểm cá nhân Đối với việc so sánh giữa sinh viên năm 3 và năm 4 tại trường Đại học, sẽ áp dụng phép kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể, phân tích theo giới tính nam và nữ.

4.3.1 Kiểm định sự khác biệt theo số năm đang theo học

Kiểm định sự đồng nhất của phương sai (Levene’s test) được tiến hành với giả thuyết H0: phương sai của 2 tổng thể đồng nhất

Bảng 4.15 Kết quả kiểm định sự khác biệt theo số năm theo học về ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp

Giả thuyết phương sai bằng nhau

Giả thuyết phương sai không bằng nhau

Sự khác biệt trung bình

Nguồn: kết quả phân tích dữ liệu của tác giả

Kết quả kiểm định với mức ý nghĩa 0,361 lớn hơn 0,05 cho thấy phương sai giữa sinh viên năm 3 và sinh viên năm 4 không khác nhau Do đó, trong kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể (Independent-samples T-test), ta sử dụng kết quả kiểm định t với giả thuyết phương sai bằng nhau (equal variances assumed) có ý nghĩa (2-đuôi) là 0,750 lớn hơn 0,1 Kết quả này chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa về trị trung bình giữa sinh viên năm 3 và sinh viên năm 4 đối với ý định khởi nghiệp.

4.3.2 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính

Kiểm định sự đồng nhất của phương sai (Levene’s test) được tiến hành với giả thuyết H0: phương sai của 2 tổng thể đồng nhất

Bảng 4.16 Kết quả kiểm định sự khác biệt theo số năm theo giới tính về ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp

Giả thuyết phương sai bằng nhau

Giả thuyết phương sai không bằng nhau

Sự khác biệt trung bình

Nguồn: kết quả phân tích dữ liệu của tác giả

Kết quả kiểm định với mức ý nghĩa 0,132 lớn hơn 0,05 cho thấy phương sai giữa nam và nữ không khác nhau Do đó, trong kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể (Independent-samples T-test), chúng ta sử dụng kết quả kiểm định t với giả thuyết phương sai bằng nhau (equal variances assumed) có ý nghĩa (2-đuôi) là 0,993 lớn hơn 0,1 Kết quả này cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về trị trung bình giữa sinh viên nam và nữ đối với ý định khởi nghiệp.

4.3.3 Kiểm định sự khác biệt theo trường Đại học đang theo học

Kiểm định sự đồng nhất của phương sai (Levene’s test) được tiến hành với giả thuyết H0: phương sai của 2 tổng thể đồng nhất

Bảng 4.17 Kết quả kiểm định sự khác biệt theo số năm theo giới tính về ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp

Giả thuyết phương sai bằng nhau

Giả thuyết phương sai không bằng nhau

Sự khác biệt trung bình

Nguồn: kết quả phân tích dữ liệu của tác giả

Kết quả kiểm định với mức ý nghĩa 0,132 lớn hơn 0,05 cho thấy phương sai giữa nam và nữ không khác nhau Do đó, trong kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể (Independent-samples T-test), chúng ta sẽ sử dụng kết quả kiểm định t với giả thuyết phương sai bằng nhau (equal variances assumed), có ý nghĩa (2-đuôi) là 0,993 lớn hơn 0,1 Kết quả này cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về trị trung bình giữa sinh viên nam và nữ đối với ý định khởi nghiệp.

Chương 4 trình bày kết quả phân tích dữ liệu bao gồm mô tả đặc điểm của mẫu, kiểm định các thang đo, giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Mẫu khảo sát hợp lệ gồm 296 bảng trả lời, cho thấy 3 trong 6 giả thuyết ban đầu bị loại bỏ, bao gồm Tiêu chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi và Điều kiện tài chính Ba giả thuyết còn lại là Tính cách cá nhân, Cảm nhận sự khát khao và Môi trường giáo dục đại học có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày đăng: 19/05/2023, 22:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w