KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐINH THỊ DIỄM TRINH MSSV: 17108851 NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ TẠI... HCM KHOA QUẢN TRỊ K
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh, điều này rất quan trọng cho sự phát triển cá nhân của sinh viên Nghiên cứu cũng sẽ đề xuất một số giải pháp quản trị nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp trong nhóm sinh viên này.
- Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
- Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp.Hồ Chí Minh
- Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh?
Những hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trong lĩnh vực kinh doanh tại Tp Hồ Chí Minh tập trung vào việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế Đối tượng khảo sát là sinh viên thuộc khối ngành kinh tế tại một số trường đại học trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát 200 sinh viên ngành kinh tế tại TP.HCM, với dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó đánh giá mức độ và chiều hướng tác động của từng yếu tố Nghiên cứu cũng đưa ra các đề xuất cho các trường học, học viện và trung tâm đào tạo khởi nghiệp nhằm xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp trong giới trẻ và nâng cao vai trò của doanh nhân trong sự phát triển của đất nước.
Chương 1: Tổng quan về đề tài Trình bày về lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tiếp đến là phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng cấu trúc bài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nêu các khái niệm và các lý thuyết có liên quan đến bài nghiên cứu Từ đó đưa ra các nhận xét, so sánh và đề xuất mô hình cũng như các giả thiết cho đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Thực hiện tiến trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thiết kế thang đo và cuối cùng là sử dụng các công cụ kiểm định và phân tích dữ liệu
Chương 4: Phân tích dữ liệu Phân tích dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
Chương 5: Kết luận Tóm tắt kết quả nghiên cứu, sau đó đưa ra hàm ý quản trị và hạn chế
Kết cấu nghiên cứu
2.1.1 Khái niệm về Người khởi nghiệp
Người khởi nghiệp, hay còn gọi là entrepreneur, là cá nhân sáng lập doanh nghiệp hoặc tổ chức mới nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ ra thị trường.
Người khởi nghiệp kinh doanh, theo định nghĩa của 1988, là người tạo dựng một công việc kinh doanh mới MacMillan & Katz (1992) bổ sung rằng họ là những người kiếm tiền thông qua việc bắt đầu và quản trị các công việc kinh doanh có tính rủi ro Những người này không chỉ lập ra doanh nghiệp mới mà còn phát triển nó, thể hiện sự năng động trong các hoạt động kinh tế và quản trị các thay đổi về kỹ thuật và tổ chức Để trở thành một nhà khởi nghiệp tiềm năng, cá nhân cần có những đặc trưng như sự sáng tạo, nhạy bén trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh, chấp nhận rủi ro và có xu hướng tìm kiếm sự cải tiến đổi mới để phát triển.
2.1.2 Khái niệm về Ý định khởi nghiệp
Ý định khởi nghiệp là trạng thái nhận thức trước khi thực hiện hành vi, thể hiện mức độ cam kết về việc tạo dựng doanh nghiệp mới (Krueger, 2003; 1993) Những người có ý định khởi nghiệp thường sẵn sàng nắm bắt cơ hội kinh doanh hấp dẫn (Shapero & Sokol, 1982) Hành động khởi nghiệp xảy ra khi cá nhân có thái độ tích cực và ý định mạnh mẽ, dẫn đến nỗ lực bắt đầu công việc kinh doanh Krueger & Brazael (1994) nhấn mạnh rằng người có ý định khởi nghiệp là người chấp nhận rủi ro và thực hiện các hoạt động cần thiết khi nhận ra cơ hội kinh doanh Ý định khởi nghiệp còn liên quan đến suy nghĩ và quyết định bắt đầu một công việc kinh doanh (Souitaris).
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các lý thuyết nghiên cứu
2.2.1 Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen năm 1991
Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) cho rằng hành vi con người là kết quả của ý định và khả năng kiểm soát Lý thuyết này đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu hệ thống thông tin và marketing, trước khi được các nhà nghiên cứu đưa vào lĩnh vực khởi nghiệp kinh doanh Dự định thực hiện hành vi bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính.
Thái độ của cá nhân đối với hành vi khởi nghiệp kinh doanh phản ánh mức độ đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của họ về việc này, không chỉ dừng lại ở cảm xúc mà còn bao gồm việc cân nhắc giá trị của khởi nghiệp Bên cạnh đó, ý kiến từ người xung quanh đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường áp lực xã hội mà cá nhân cảm nhận, ảnh hưởng đến quyết định thực hiện hoặc không thực hiện các hành vi khởi nghiệp.
Dự cảm của một cá nhân về sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè và người thân đối với quyết định khởi nghiệp của mình rất quan trọng Cách mà những người xung quanh thể hiện sự ủng hộ, quan tâm hay phản đối sẽ ảnh hưởng lớn đến hành động khởi nghiệp của cá nhân đó.
Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi được định nghĩa là quan niệm của cá nhân về mức độ khó khăn hay dễ dàng trong việc thực hiện các hành vi khởi nghiệp Điều này thể hiện khả năng của cá nhân trong việc thực hiện các hành động liên quan đến khởi nghiệp kinh doanh.
Thái độ cá nhân đối với hành vi Ý kiến những người xung quanh
Cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi Ý định
Hình 2.1: Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen, 1991
Nguồn: (Ajzen, 1991) 2.2.2 Thuyết sự kiện khởi nghiệp (SEE) của Shapero và Sokol năm 1982
Theo Shapero & Sokol (1982), khởi nghiệp là quá trình tạo dựng doanh nghiệp mới, chịu ảnh hưởng từ những thay đổi trong cuộc sống cá nhân Quyết định thành lập doanh nghiệp phụ thuộc vào những biến cố quan trọng và thái độ của cá nhân đối với khởi nghiệp, thể hiện qua cảm nhận về tính khả thi và mong muốn Dự định khởi nghiệp xuất hiện khi cá nhân nhận thấy cơ hội khả thi và có mong muốn nắm bắt Tuy nhiên, để chuyển đổi dự định thành hành động, cần có chất xúc tác từ những thay đổi trong cuộc sống, bao gồm các yếu tố đẩy tiêu cực như mất việc hay ly dị, và các yếu tố kéo tích cực như hỗ trợ tài chính hay tìm được đối tác tốt.
Một cá nhân có thể thay đổi cuộc sống khi có các yếu tố kéo và đẩy xuất hiện Tuy nhiên, việc thay đổi này có dẫn đến khởi nghiệp kinh doanh hay không phụ thuộc vào cảm nhận về mong muốn và tính khả thi của cá nhân Hai cảm nhận này có sự tương tác chặt chẽ với nhau.
Khởi nghiệp là một khát vọng mạnh mẽ, phản ánh sự hấp dẫn từ nhiều yếu tố như văn hóa, gia đình, và mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp Những suy nghĩ và cảm nhận cá nhân về khởi nghiệp thường được hình thành từ những ảnh hưởng tích cực xung quanh, tạo động lực cho việc theo đuổi ước mơ và phát triển bản thân.
Cảm nhận về tính khả thi khởi nghiệp phản ánh suy nghĩ cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi liên quan Sự hỗ trợ tài chính và tư vấn từ các tổ chức trong quá trình thành lập doanh nghiệp, cùng với ảnh hưởng từ các thần tượng doanh nhân, có thể nâng cao cảm nhận của cá nhân về tính khả thi của việc khởi nghiệp.
Hình 2.2: Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp Shapero và Sokol, 1982
Các mô hình lý thuyết về ý định khởi nghiệp, mặc dù có sự khác biệt trong định nghĩa các biến số, đều nhấn mạnh ba yếu tố quan trọng: cá nhân, môi trường và nguồn lực Để giải thích lý do dẫn đến khởi nghiệp, cá nhân cần có thái độ tích cực, mong muốn khởi nghiệp và cảm nhận về tính khả thi cùng sự tự tin Cảm nhận về tính khả thi trong mô hình SEE tương tự như cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi trong mô hình TPB, đều dựa trên nhận thức của cá nhân về năng lực bản thân.
Thay đổi trong công ty
Thiếu thoả mãn trong công việc
Có nguồn tài trợ chính
Nhân tố đẩy tiêu cực
Nhân tố kéo tích cực Được đề nghị hợp tác bởi đồng nghiệp, bạn bè
Cảm nhận về mong muồn
Cảm nhận về tính khả thi
Các công trình nghiên cứu liên quan
Các công trình nghiên cứu liên quan
2.3.1 Công trình nghiên cứu trong nước
2.3.1.1 Nghiên cứu của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012)
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại TP HCM dựa trên lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero & Sokol (1982) cho thấy rằng các yếu tố môi trường bên ngoài có tác động lớn đến ý định khởi nghiệp Kết quả chỉ ra bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định này, bao gồm: cảm nhận sự khao khát, điều kiện thị trường và tài chính, cảm nhận tính khả thi, và môi trường giáo dục đại học Trong số đó, cảm nhận sự khao khát được xác định là yếu tố có tác động mạnh nhất.
Hình 2.3: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP.HCM
Nguồn: (Nguyễn Doãn Chí Luân, 2012) 2.3.1.2 Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015)
Bài nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp tại thành phố Cần Thơ Tác giả đã thu thập dữ liệu từ 180 sinh viên kinh tế, những người đã tốt nghiệp và chưa từng khởi nghiệp kinh doanh, hiện đang sinh sống tại địa phương.
Cảm nhận sự khao khát Điều kiện thị trường và tài chính
Cảm nhận tính khả thi
Môi trường giáo dục đại học ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại thành phố Cần Thơ Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng và đề xuất mô hình với 13 yếu tố chính, bao gồm khả năng tài chính, khả năng tự chủ, tính sáng tạo, tính bền bỉ, tư duy làm chủ, khả năng chấp nhận rủi ro, tính tự tin, khả năng chịu đựng sự mơ hồ, nhu cầu thành đạt, nền tảng gia đình, giáo dục, chính sách chính phủ và địa phương, cùng với sự ham muốn kinh doanh Ngoài ra, tác giả cũng bổ sung thêm 4 yếu tố khác là giới tính, khoa học khởi nghiệp, tình trạng hôn nhân và thu nhập vào nghiên cứu.
Sau khi thực hiện EFA và áp dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá – hồi quy, nghiên cứu đã loại bỏ một số yếu tố không ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Kết quả cho thấy có sáu yếu tố chính tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tốt nghiệp tại Cần Thơ, bao gồm: động lực trở thành doanh nhân, nền tảng gia đình, chính sách của chính phủ và địa phương, tố chất doanh nhân, khả năng tài chính, và đặc điểm cá nhân.
Mô hình điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp tại thành phố Cần Thơ được trình bày trong Hình 2.4.
Nguồn: (Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên, 2015) Động lực trở thành doanh nhân
Chính sách chính phủ và địa phương
Khả năng tài chính Đặc điểm cá nhân Ý định khởi nghiệp của sinh viên
2.3.1.3 Nghiên cứu của Vũ Quỳnh Nam (2019)
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thái Nguyên được thực hiện thông qua khảo sát 250 sinh viên Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đã được áp dụng để xác định các yếu tố tác động Kết quả cho thấy ý định khởi nghiệp của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như kỳ vọng cá nhân, thái độ đối với khởi nghiệp, cảm nhận năng lực bản thân, chuẩn mực niềm tin, vốn tri thức và vốn tài chính.
Hình 2.5: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thái Nguyên
Nguồn: (Vũ Quỳnh Nam, 2019) 2.3.2 Công trình nghiên cứu nước ngoài
2.3.2.1 Nghiên cứu của Luthje và Franke (2004)
Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada dựa trên thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991), nhấn mạnh rằng việc thúc đẩy ý tưởng khởi nghiệp là yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Kỳ vọng của bản thân
Thái độ với khởi nghiệp
Cảm nhận năng lực bản thân
Ý định khởi nghiệp của sinh viên bị ảnh hưởng bởi hai nhóm yếu tố chính: yếu tố nội tại như tính cách và yếu tố bên ngoài như thị trường, tài chính và môi trường giáo dục Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố môi trường bên ngoài, đặc biệt là môi trường giáo dục, có tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada.
Hình 2.6: Mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada
Nguồn: (Luthje & Franke, 2004) 2.3.2.2 Nghiên cứu của Wongnaa và Seyram (2014)
Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học Bách khoa Kumasi cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng, bao gồm tính cách, sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, nghề nghiệp của ba mẹ, môi trường giáo dục, giới tính và khả năng tiếp cận tài chính Kết quả cho thấy sinh viên có tính cách hướng ngoại và ổn định cảm xúc có xu hướng khởi nghiệp cao hơn Sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh ý định khởi nghiệp Sinh viên có ba mẹ làm kinh doanh có khả năng khởi nghiệp cao hơn so với những người khác Giáo dục tinh thần kinh doanh cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp, với tỷ lệ sinh viên nam có tinh thần khởi nghiệp cao hơn so với sinh viên nữ Cuối cùng, điều kiện tiếp cận tài chính là một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua.
Môi trường giáo dục ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, với những sinh viên có nền tảng tài chính ổn định thường có xu hướng tham vọng hơn và mong muốn kinh doanh để kiếm tiền cao hơn so với những sinh viên có tài chính không ổn định.
Hình 2.7: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của sinh viên đại học Bách khoa
Kumasi khởi nghiệp trong tương lai
Nguồn: (Wongnaa & Seyram, 2014) 2.3.2.3 Nghiên cứu của Ambad và Damit (2016)
Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Malaysia, sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch làm khung lý thuyết Khảo sát được thực hiện trên 351 sinh viên tại một trường đại học công lập Năm biến độc lập được xem xét bao gồm: hỗ trợ giáo dục, chuẩn chủ quan, cơ chế chính sách, đặc điểm tính cách và kiểm soát hành vi Kết quả cho thấy đặc điểm tính cách là yếu tố có tác động mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
Hỗ trợ từ gia đình, bạn bè
Nghề nghiệp của ba mẹ
Tiếp cận tài chính Ý định khởi nghiệp của sinh viên
Hình 2.8: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả của các công trình nghiên cứu
Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) Phan Anh Tú và cs
(2015) Vũ Quỳnh Nam (2019) Luthje và Franke (2004/) Wongnaa và Seyram (2014) Ambad và Damit (2016)
Cảm nhận về tính khả thi X X X
Cơ chế chính sách Đặc điểm tính cách
Kiểm soát hành vi Ý định khởi nghiệp của sinh viên
Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
Thái độ với khởi nghiệp X X X
Cơ chế chính sách X Điều kiện thị trường X
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
2.4.1 Các giả thuyết nghiên cứu
Tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý tưởng khởi nghiệp, với nhiều ý tưởng kinh doanh phát triển từ các lỗ hổng của nền kinh tế Nguồn tài chính không chỉ tăng tỷ lệ khởi nghiệp mà còn là huyết mạch của quá trình kinh doanh; thiếu hụt tài chính có thể dẫn đến suy yếu hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh Tài chính cung cấp nguồn lực cần thiết để khởi đầu một doanh nghiệp, như đã được chứng minh trong các nghiên cứu của Wongnaa và Seyram (2014), Luthje và Franke (2004), cùng với Vũ Quỳnh Nam (2019) và Phan Anh.
Nghiên cứu của Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) cùng với Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) đã chỉ ra rằng yếu tố tài chính có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Do đó, giả thuyết H1 được đưa ra là: yếu tố tài chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
H1: Tài chính có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
Môi trường giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý tưởng khởi nghiệp cho sinh viên (Luthje & Franke, 2004) Các cá nhân được đào tạo bài bản có khả năng cao hơn trong việc theo đuổi cơ hội kinh doanh (Arenius & Minniti, 2005) PGS Huỳnh Quyết Thắng nhấn mạnh rằng trường đại học là nơi nuôi dưỡng tốt nhất cho sinh viên khởi nghiệp Sự đồng hành của giáo viên và bạn bè cùng chí hướng tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên biến ý tưởng thành dự án khả thi Các chương trình đào tạo và hoạt động giáo dục như khóa học kỹ năng lãnh đạo và làm việc nhóm có tác động tích cực đến khả năng khởi nghiệp Trong môi trường này, sinh viên thoải mái sáng tạo và thực hiện ý tưởng mà không lo ngại thất bại Kiến thức và kinh nghiệm thu được trong quá trình học tập ảnh hưởng lớn đến quan điểm sống sau này Nghiên cứu của Ambad và Damit (2016), Wongnaa và Seyram (2014), Luthje và Franke (2004), Vũ Quỳnh Nam (2019), Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) chỉ ra rằng môi trường giáo dục ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó hình thành giả thuyết H2.
H2: Môi trường giáo dục có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
Nhóm tác giả Linán, Rodriguez & Rueda-Cantuche (2005) cho rằng chuẩn mực chủ quan liên quan đến cảm giác áp lực và mức độ quan tâm xã hội trong việc ra quyết định kinh doanh Chuẩn mực này phụ thuộc vào sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè và cộng đồng đối với hành vi khởi nghiệp Môi trường sống, văn hóa xã hội và tổ chức có thể khuyến khích hoặc phản đối ý định khởi nghiệp, trong khi những lời động viên hay chỉ trích từ xã hội có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quyết tâm khởi nghiệp của cá nhân.
Chuẩn mực chủ quan đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng ý định khởi nghiệp và hành vi cá nhân, ảnh hưởng đến quyết định của họ Hành động của mỗi cá nhân bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội, quy tắc và chuẩn mực xã hội Nghiên cứu của Ambab và Damit (2016), Wongnaa và Seyram (2014), Vũ Quỳnh Nam (2019), cùng Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) đã chỉ ra rằng chuẩn mực chủ quan có tác động rõ rệt đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Từ đó, giả thuyết H3 được hình thành.
H3: Chuẩn mực chủ quan có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
2.4.1.4 Đặc tính cá nhân Đặc tính cá nhân là tính cách, đặc điểm riêng biệt và những phẩm chất vốn có của con người Tác giả Kirzner (1973) đúc kết được là hầu hết những người khởi nghiệp kinh doanh họ có tư duy nhạy bén để phát hiện ra các cơ hội kinh doanh tạo ra lợi nhuận mà trước đây không ai phát hiện ra Theo Luthje & Franke (2004), đặc tính cá nhân ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp dựa trên ba khía cạnh: nhu cầu thành đạt phản ánh mong muốn thành đạt của cá nhân, kiểm soát các hành vi kinh doanh và kết quả của hành vi đó phản ánh mức độ tự tin và quyền lực của cá nhân, chấp nhận rủi ro vả thách thức phản ánh sự sẵn sàng đối mặt với thách thức và chấp nhận sự rủi ro trong quá trình thực hiện hành động khởi nghiệp Theo kết quả nghiên cứu của Ambab và Damit (2016); Wongnaa và Seyram (2014); Luthje và Franke (2004); Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) đã chỉ ra rằng yếu tố Đặc tính cá nhân ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Từ đó, ta có giả thuyết H4 như sau:
H4: Đặc tính cá nhân có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
2.4.1.5 Cảm nhận tính khả thi
Cảm nhận tính khả thi, theo Ajzen & Fishbein (2000), là niềm tin và sự tự tin của cá nhân về khả năng thực hiện một hoạt động Trong khởi nghiệp, cảm nhận này được đánh giá qua khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, mức độ thành công trong kinh doanh, cũng như kiến thức và kinh nghiệm trong việc tiếp cận thông tin Linan (2004) và Krueger (1993) cho rằng cảm nhận tính khả thi là mức độ tin tưởng vào khả năng bắt đầu kinh doanh Ý định khởi nghiệp gắn liền với tính khả thi; một ý tưởng kinh doanh sẽ bị loại bỏ nếu thiếu tính khả thi, khó thực hiện và hiệu quả thấp Tính khả thi mang lại hy vọng cho ý tưởng và lòng quyết tâm thực hiện hành động kinh doanh, như được chỉ ra trong các nghiên cứu của Ambab và Damit (2016), Vũ Quỳnh Nam (2019), và Nguyễn Doãn Chí Luân.
(2012) đã chỉ ra rằng yếu tố Cảm nhận tính khả thi ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Từ đó, ta có giả thuyết H5 như sau:
H5: Cảm nhận tính khả thi có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
2.4.1.6 Thái độ với khởi nghiệp
Thái độ đối với khởi nghiệp thể hiện tính tích cực và động lực của cá nhân trong việc tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp khi có cơ hội, như đã được nêu bởi Krueger, Reilly & Carsrud (2000) và Tella.
Thái độ tích cực với việc khởi nghiệp, theo Issa (2013), thể hiện qua mong muốn thành lập doanh nghiệp thay vì làm công ăn lương Những cá nhân này thường hứng thú với hoạt động kinh doanh, dễ dàng nhận diện cơ hội khởi nghiệp và coi việc trở thành doanh nhân là mục tiêu quan trọng Thái độ tích cực được xem là yếu tố thúc đẩy ý định khởi nghiệp và gia tăng quyết tâm thực hiện hoạt động này (Linan & Chen, 2009) Shariff & Saud (2009) cho rằng thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp được hình thành từ nhiều yếu tố, bao gồm cả những yếu tố cản trở Nghiên cứu của Vũ Quỳnh Nam (2019), Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015), cùng Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) đã chỉ ra rằng thái độ với khởi nghiệp có ảnh hưởng rõ rệt đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó dẫn đến giả thuyết H6.
H6: Thái độ với khởi nghiệp có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh
2.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu định tính bao gồm 6 biến độc lập: Tài chính, Môi trường giáo dục, Chuẩn mực chủ quan, Đặc điểm tính cách, Cảm nhận tính khả thi, và Thái độ với khởi nghiệp.
Và biến phụ thuộc là Ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp
Hồ Chí Minh được mô tả cụ thể bên dưới
Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh.
Nguồn: Tác giả nghiên cứu đề xuất
Chuẩn mực chủ quan Đặc điểm tính cách
Cảm nhận tính khả thi
Thái độ với khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế
Chương 2 đã trình bày các khái niệm ý định khởi nghiệp kinh doanh và các lý thuyết về hành vi có kế hoạch, sự kiện khởi nghiệp để ứng dụng chúng vào bài nghiên cứu Sau đó, tác giả tổng hợp các nghiên cứu đã được công bố trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên, từ đó nhận diện cơ hội nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu Các yếu tố mà tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 yếu tố lần lượt là: (1) Tài chính, (2) Môi trường giáo dục, (3) Chuẩn mực chủ quan, (4) Đặc tính cá nhân, (5) Cảm nhận tính khả thi, (6) Thái độ với khởi nghiệp, và biến phụ thuộc là Ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Nghiên cứu định lượng sơ bộ đã được thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp 50 người để đo lường và đánh giá nội dung câu hỏi của các biến một cách chính xác bằng thang đo nháp Kết quả từ nghiên cứu này đã giúp hoàn thiện thang đo chính thức, phục vụ cho việc khảo sát và thu thập dữ liệu trong nghiên cứu Các biến trong bảng thiết kế câu hỏi được áp dụng theo thang đo Likert.
Mục đích của nghiên cứu định lượng là kiểm định giả thuyết trong mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh Nghiên cứu cũng nhằm xác định mức độ tác động của từng yếu tố, từ đó đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo các khái niệm nghiên cứu.
3.2.1.2 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ
Bảng 3.1: Kết quả đánh giá độ tin cậy sơ bộ bằng Cronbach’s Alpha
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Cronbach’s Alpha nếu loại biến
Môi trường giáo dục (EDU) – Cronbach’s Alpha = 0.874
Chuẩn mực chủ quan (SS) – Cronbach’s Alpha = 0.859
SS4 9.72 5.430 0.719 0.816 Phù hợp Đặc tính cá nhân (PC) – Cronbach’s Alpha = 0.911
Cảm nhận tính khả thi (PF) – Cronbach’s Alpha = 0.897
Thái độ với khởi nghiệp (A) – Cronbach’s Alpha = 0.864
A5 14.48 7.112 0.601 0.857 Phù hợp Ý định khởi nghiệp (EI) – Cronbach’s Alpha = 0.815
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Kết quả phân tích cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha tổng thể của tất cả các thang đo đều lớn hơn 0.6, và hệ số tương quan giữa các biến quan sát trong thang đo đều lớn hơn 0.3 Do đó, các thang đo này được xác nhận có độ tin cậy cao và có thể tiếp tục sử dụng cho các phân tích tiếp theo.
Phân tích nhân tố khám phá EFA
Bảng 3.2: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA biến độc lập sơ bộ
Biến quan sát Hệ số nhân tố tải
Phương sai trích % 17.669 14.624 12.821 11.119 9.735 8.846 Phương sai tích luỹ 17.699 32.293 45.114 56.232 65.967 74.813
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett các biến độc lập
Kiểm định KMO và Bartlett
Kiểm định Bartlett Gía trị Chi bình phương 1069.222
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Trong phân tích, hệ số KMO đạt 0.623, cho thấy các biến quan sát có mối tương quan và phân tích nhân tố đáng tin cậy Phân tích đã trích ra 6 nhân tố từ 29 biến quan sát, với hệ số tải nhân tố của các biến đều lớn hơn 0.5 Kết quả mức ý nghĩa Sig = 0.000, nhỏ hơn 0.05, đảm bảo tính chính xác, và 6 nhân tố có giá trị Eigenvalue cao.
> 1 và tổng phương sai trích là 74.813% > 50% đều đạt yêu cầu Nên trong phân tích khám phá EFA sơ bộ này không có biến quan sát nào bị loại
Bảng 3.4: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA phụ thuộc sơ bộ
Hệ số nhân tố tải
Mẫu nghiên cứu
Kiểm định KMO và Bartlett
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Hệ số KMO đạt 0.744, cho thấy 4 biến quan sát có mối tương quan đáng kể và phân tích nhân tố là đáng tin cậy Mức ý nghĩa Sig là 0.000, nhỏ hơn 0.05, cùng với các giá trị Eigenvalue lớn hơn 1 và tổng phương sai trích đạt 64.638%, vượt qua ngưỡng 50% Thang đo đã đáp ứng yêu cầu.
3.2.2 Nghiên cứu chính thức Được thực hiện bằng phương pháp khảo sát trực tiếp 220 sinh viên thuộc khối ngành kinh tế tại một số trường đại học tại Tp Hồ Chí Minh, nhằm để thu thập dữ liệu khảo sát cho bài nghiên cứu Dữ liệu thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát được dùng để đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA kiểm định giá trị thang đo và kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu thông qua mô hình hồi quy tuyến tính Và tất cả dữ liệu thu thập được sẽ xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
3.3.1 Phương pháp tính kích thước mẫu
Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), kích thước mẫu cho nghiên cứu phụ thuộc vào phương pháp phân tích dữ liệu, phương pháp ước tính và độ tin cậy mong đợi Các nhà nghiên cứu không xác định con số cụ thể cho số mẫu, mà chỉ đưa ra số mẫu cần thiết và các tham số ước lượng Đối với phân tích nhân tố, kích thước mẫu sẽ phụ thuộc vào số lượng biến được đưa vào phân tích.
Thiết kế công cụ khảo sát
Nghiên cứu này yêu cầu phân tích 33 biến quan sát, do đó cần tối thiểu 165 mẫu Để đảm bảo độ tin cậy cao, tác giả quyết định sử dụng kích thước mẫu là 200 Để đạt được số lượng mẫu này, tác giả sẽ phát ra 220 phiếu khảo sát trực tiếp.
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu Đối tượng cần khảo sát trong nghiên cứu này là sinh viên thuộc khối ngành kinh tế đang học tập và sinh sống tại TP.HCM Đây là đối tượng quen thuộc và tiềm năng trong các cuộc khảo sát về khởi nghiệp kinh doanh Theo GEM (2018) – một tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu về hoạt động khởi nghiệp kinh doanh cho rẳng, các doanh nhân thường khởi nghiệp trong độ tuổi từ 25 đến 40 tuổi Và ý định khởi nghiệp của họ đã có ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trưởng Chính vì thế, việc lựa chọn sinh viên sắp ra trường hay đang trong thời gian chờ nhận bằng tốt nghiệp để khảo sát là hợp lý
Tác giả đã thực hiện khảo sát đại diện tại 5 trường đại học kinh tế ở TP.HCM, đảm bảo tính đại diện của mẫu bằng cách kiểm soát cân đối giữa trường công lập và tư thục, cũng như giữa nam và nữ, và các ngành học khác nhau.
Thiết kế công cụ khảo sát
Sau khi tổng hợp các nghiên cứu liên quan, mô hình nghiên cứu sẽ được thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 bậc, từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý) Mục tiêu là loại bỏ những biến không phù hợp và xây dựng bảng câu hỏi chính thức.
Bảng 3.6: Thang đo các câu hỏi nghiên cứu
YẾU TỐ BIẾN QUAN SÁT MÃ HOÁ NGUỒN
Nên nắm bắt tình hình tài chính hiện tại để chuẩn bị tốt cho hoạt động khởi nghiệp
2016) Tài chính là huyết mạch trong hoạt động khởi nghiệp kinh doanh
Tôi có thể vay mượn tiền của người thân và bạn bè để khởi nghiệp kinh doanh
Tôi có thể tích luỹ vốn nhờ tiết kiệm, làm thêm F4 Tôi có thể huy động vốn từ các nguồn tài trợ khác
Trường đại học thực sự đã cung cấp cho tôi các kiến thức cơ bản về khởi nghiệp
Wong, 2004); (Ngô Thị Mỵ Châu, 2018)
Trường đại học là nơi lý tưởng để học về khởi nghiệp kinh doanh
Trường đại học đã có nhiều hoạt động khuyến khích sinh viên khởi nghiệp kinh doanh
Trường đại học thường xuyên tổ chức các buổi định hướng khởi nghiệp hơn để giúp sinh viên tự tin khởi nghiệp tốt hơn
Các môn học ở trường thực sự đã truyền cảm hứng cho tôi về ý định khởi nghiệp
Chuẩn mực chủ quan (SS)
Gia đình ủng hộ việc khởi nghiệp kinh doanh của tôi
Bạn bè ủng hộ việc khởi nghiệp kinh doanh của tôi
Gia đình và bạn bè sẽ giúp tôi khi gặp khó khăn trong kinh doanh
Mọi người xung quanh ủng hộ tôi khởi nghiệp kinh doanh
SS4 Đặc tính cá nhân
Tôi thích trải nghiệm những thứ mới mẻ PC1 (Lee et al.,
Tôi muốn đạt thành tựu cao trong công việc và được mọi người biết tới mình
Tôi sẵn sàng chấp nhận thách thức và rủi ro trong kinh doanh
Tôi muốn thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình thật hoàn hảo
Tôi nghĩ thành công hay thất bại là do bản thân, không phải do người khác hay tác động ngoại cảnh
Cảm nhận tính khả thi (PF)
Tôi tin mình sẽ khởi nghiệp thành công PF1 (Linan &
Tôi tin việc khởi nghiệp kinh doanh không quá khó khăn
Tôi chắc chắn có thể kiểm soát được hoạt động khởi nghiệp kinh doanh
Tôi biết cách để phát triển các dự án kinh doanh
PF4 Tôi có khả năng trở thành doanh nhân thành đạt PF5
Thái độ với khởi nghiệp (A)
Việc trở thành chủ doanh nghiệp làm cho tôi thấy hạnh phúc
Chen, 2009) Nếu có cơ hội và nguồn lực tôi sẽ thành lập doanh nghiệp do mình làm chủ
Việc trở thành chủ doanh nghiệp là định hướng nghề nghiệp và khát vọng của tôi
Trở thành doanh nhân thì sẽ có nhiều đóng góp cho xã hội
Trở thành doanh nhân có lợi hơn là bất lợi A5 Ý định khởi nghiệp
Tôi xác định sẽ thành lập một công ty trong tương lai
Tôi phải chuẩn bị mọi thứ để trở thành doanh nhân
Sau khi tốt nghiệp, tôi sẽ bắt đầu kinh doanh EI3 Tôi cố gắng sẽ khởi nghiệp và điều hành công việc của mình thật tốt
Nguồn: Tác giả dựa vào nghiên cứu trước và có điều chình 3.4.2 Cấu trúc bảng hỏi
Phương pháp phân tích dữ liệu
Mục đích thu thập thông tin cá nhân của người trả lời về giới tính, độ tuổi…Được thiết kế theo thang đo định danh
2 Thông tin về ý định khởi nghiệp kinh doanh
Bài viết này trình bày các câu hỏi và khái niệm nghiên cứu nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thiết kế theo thang đo Likert 5 bậc để thu thập thông tin một cách hiệu quả.
Để ghi nhận những ý kiến đóng góp không có trong các thang đo ở phần 2, tác giả mong muốn phát hiện những thông tin hữu ích mà mình chưa lường trước được.
Phương pháp phân tích dữ liệu
3.5.1 Kiểm định độ tin cậy của các thang đo qua Cronbach’s Alpha
Tác giả đánh giá độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha cho các biến quan sát của các yếu tố đề xuất, nhằm loại bỏ các biến không phù hợp và không liên quan Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), hệ số Cronbach’s Alpha cần nằm trong khoảng 0.6 đến 1.0 để đảm bảo các biến quan sát trong cùng một nhóm nhân tố có tương quan ý nghĩa Hệ số càng lớn thì độ tin cậy của thang đo càng cao; cụ thể, hệ số từ 0.6 trở lên cho thấy thang đo có thể sử dụng được, đặc biệt trong các nghiên cứu mới hoặc với người trả lời câu hỏi trong bối cảnh nghiên cứu Do đó, trong nghiên cứu này, thang đo có hệ số từ 0.6 được xem là tin cậy.
Cronbach’s Alpha từ 0.8 trở lên cho thấy thang đo lường có độ tin cậy tốt Tuy nhiên, nếu hệ số Cronbach’s Alpha vượt quá 0.95, điều này có thể chỉ ra rằng nhiều biến trong thang đo không có sự khác biệt rõ ràng.
Hệ số tương quan biến tổng cho thấy mối quan hệ giữa một biến quan sát và tất cả các biến quan sát khác trong thang đo Hệ số này càng cao thì sự tương quan giữa biến đó và các biến khác càng mạnh, giúp xác định biến nào nên giữ lại hoặc loại bỏ Tác giả đã quyết định loại bỏ các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 khỏi thang đo.
Thang đo chính thức được xây dựng và cấu trúc lại dựa trên các biến quan sát có độ tin cậy đạt tiêu chuẩn (Nguyễn Thu Thuỷ, 2015)
3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Tác giả sử dụng phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis) để kiểm định giá trị của thang đo, kiểm tra tính đơn hướng của từng thước đo và áp dụng phép quay góc Varimax với Eigenvalue >1.0 cho tất cả các tiêu chí đo lường nhằm xác định các nhân tố đại diện cho các biến (Nguyễn Thu Thuỷ, 2015) Phân tích nhân tố EFA giúp nhóm các biến có sự tương quan thấp với nhau thành các nhân tố, trong khi các biến có sự tương quan cao hơn được nhóm lại Quá trình này được thực hiện qua nhiều bước để hình thành các nhân tố đại diện mà vẫn giữ được đầy đủ thông tin.
Bước đầu tiên trong việc kiểm định sự thích hợp của phân tích nhân tố EFA là xem xét chỉ số KMO (Kaiser Meyer Olkin) Nếu chỉ số KMO lớn hơn 0.5, phân tích nhân tố được coi là thích hợp; ngược lại, nếu nhỏ hơn 0.5, phân tích sẽ không phù hợp với dữ liệu Thêm vào đó, nếu giá trị Sig nhỏ hơn 0.05, điều này cho thấy các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể.
Trong bước 2 của phân tích, các nhân tố có Eigenvalue lớn hơn 1.0 sẽ được giữ lại, trong khi những nhân tố có Eigenvalue nhỏ hơn 1.0 sẽ bị loại bỏ Mỗi biến trong nhân tố cần có trọng số (Factor loading) tối thiểu là 0.5; những biến quan sát có trọng số dưới 0.5 sẽ không được giữ lại Chỉ những biến có tổng phương sai trích (Variance Explained) lớn hơn 50% mới được giữ trong mô hình.
Bước 3: Kiểm định lại cấu trúc của thang đo, các khái niệm sau khi rút ra có thể tương quan với nhau
3.5.3 Phân tích hồi quy tuyến tính
Trước khi tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính, việc thực hiện phân tích hệ số tương quan Pearson là cần thiết để đo lường mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Phân tích này không chỉ cung cấp thông tin về mức độ quan trọng của mối tương quan mà còn giúp phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến khi các biến độc lập có sự tương quan mạnh Hệ số tương quan, ký hiệu là r, có giá trị trong khoảng -1 ≤ r ≤ 1, trong đó: r > 0 cho thấy mối tương quan đồng biến, r < 0 cho thấy mối tương quan nghịch biến, và r = 0 chỉ ra rằng không có mối tương quan giữa các biến.
|r| →1: chỉ ra rẳng mối quan hệ giữa biến độc lập với biến phụ thuộc càng chặt chẽ
|r|→0: chỉ ra rằng mối quan hệ giữa biến độc lập với biến phụ thuộc càng yếu, không chặt chẽ
Tác giả kiểm định mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và một biến phụ thuộc định lượng (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát được thể hiện qua phương trình: \$ Υ𝜄 = α + β1Χ1 + β2X2 + … + βκXκ \$.
Trong đó, Υ đại diện cho biến phụ thuộc định lượng, 𝛼 là hằng số, 𝛽𝜅 là hệ số của từng biến,
X là các biến độc lập
Kết quả của hồi quy được dùng để: Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy bội thông qua chỉ số 𝑅 2 Theo Favero & Belfiore
Theo nhận định năm 2019, 𝑅² điều chỉnh được điều chỉnh theo số bậc tự do để tránh việc đánh giá quá cao ảnh hưởng của việc thêm biến độc lập lên biến phụ thuộc Việc đánh giá ý nghĩa của mô hình được thực hiện thông qua kiểm định F.
Kiểm tra giả định về hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập có thể thực hiện thông qua giá trị độ chấp nhận (Tolerance) và hệ số phóng đại phương sai (VIF) Nếu hệ số VIF lớn hơn hoặc bằng 10 hoặc Tolerance nhỏ hơn hoặc bằng 0.1, điều này cho thấy có sự xuất hiện của hiện tượng đa cộng tuyến (Nguyễn Đình Thọ, 2011).
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp kinh doanh được xác định thông qua hệ số 𝛽 Nhân tố nào có hệ số 𝛽 lớn hơn sẽ cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến ý định khởi nghiệp.
Chương 3 mô tả về phương pháp nghiên cứu định lượng sơ bộ vả chính thức Trong đó, tác giả sử dụng nghiên cứu định lượng sơ bộ trên mẫu nhỏ để kiểm định độ tin cậy của các thang đo và loại bỏ các biến quan sát không phù hợp để từ đó mà sửa đổi và tiến hành chạy khảo sát chính thức trên diện rộng với 220 sinh viên, tiếp tục đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để loại bỏ biến rác Cuối cùng là kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ và mức độ tác động của các biến độc lập với biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu thông qua mô hình hồi quy đa biến.
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Phân tích dữ liệu sơ cấp
4.2.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu
Tác giả đã tiến hành khảo sát 220 phiếu khảo sát từ sinh viên đại học khối ngành kinh tế có ý định khởi nghiệp trong tương lai Sau khi thu hồi, 200 phiếu hợp lệ đã được thu thập, đáp ứng yêu cầu mẫu tối thiểu cho phân tích Dữ liệu từ 200 phiếu khảo sát này được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 để phục vụ cho nghiên cứu.
4.2.2 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu
Mẫu nghiên cứu bao gồm 200 sinh viên, nhằm thu thập thông tin nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, số năm học, trường đại học và chuyên ngành Tác giả đã thực hiện thống kê mô tả từ các phiếu khảo sát để đưa ra nhận xét về các đặc điểm này.
4.2.2.1 Thống kê mô tả về giới tính
Bảng 4.1: Thống kê mô tả về giới tính
Tần suất Phần trăm Phần trăm hợp lệ
Hình 4.1: Biểu đồ mô tả mẫu theo giới tính
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Kết quả khảo sát cho thấy, trong khối ngành kinh tế tại các trường đại học, sinh viên nam chiếm 49% và sinh viên nữ chiếm 51% Sự chênh lệch giới tính này không lớn, phản ánh nhu cầu khởi nghiệp giữa hai giới hiện nay là tương đương.
4.2.2.2 Thống kê mô tả về độ tuổi
Bảng 4.2: Thống kê mô tả về độ tuổi Độ tuổi
Tần suất Phần trăm Phần trăm hợp lệ
Hình 4.2: Biểu đồ mô tả mẫu theo độ tuổi
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Biểu đồ cho thấy độ tuổi từ 18 – 22 chiếm 79%, là nhóm có tỷ lệ cao nhất trong việc quan tâm đến khởi nghiệp, tiếp theo là độ tuổi 23 – 25 với 18%, trong khi các độ tuổi khác chỉ chiếm 3% Sự chênh lệch này cho thấy rằng sinh viên đại học là nhóm có ý định khởi nghiệp cao nhất.
4.2.2.3 Thống kê mô tả về số năm sinh viên đang học
Bảng 4.3: Thống kê mô tả số năm sinh viên đang học
Số năm sinh viên đang học
Tần suất Phần trăm Phần trăm hợp lệ
Hình 4.3: Biểu đồ mô tả mẫu theo số năm sinh viên đang học
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Kết quả khảo sát cho thấy, sinh viên năm 4 chiếm tỷ lệ cao nhất với 48.5%, tiếp theo là sinh viên năm 3 với 26.5% Sinh viên năm 2 chiếm 16.5%, trong khi sinh viên năm 1 chỉ chiếm 8.5%, cho thấy sự phân bố không đồng đều giữa các năm học.
4.2.2.4 Thống kê mô tả về trường đại học
Bảng 4.4: Thống kê mô tả về trường đại học
Hình 4.4: Biểu đồ mô tả mẫu theo trường đại học
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Theo biểu đồ, sinh viên ngành kinh tế tại trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM chiếm tỷ lệ cao nhất với 33.5%, tiếp theo là trường Đại học Tôn Đức Thắng với 22.5%, và sau đó là trường Đại học Kinh tế.
TP.HCM chiếm 15.5% Kế đến là trường Đại học Tài chính – Marketing chiếm 15% Sau cùng là trường Đại học Văng Lang chiếm 13.5%
Phần trăm hợp lệ Giá trị
Trường ĐH Kinh Tế TP.HCM
Trường ĐH Tôn Đức Thắng
Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM
4.2.2.5 Thống kê mô tả về chuyên ngành theo học
Bảng 4.5: Thống kê mô tả về chuyên ngành học
Tần suất Phần trăm Phần trăm hợp lệ
Quản trị kinh doanh 54 27.0 27.0 Kinh doanh quốc tế 36 18.0 18.0
Hình 4.5: Biểu đồ mô tả mẫu theo chuyên ngành theo học
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh chiếm tỷ lệ cao nhất với 27%, tiếp theo là sinh viên ngành Marketing với 26.5% Sinh viên ngành Kinh doanh quốc tế đứng thứ ba với 18%, trong khi sinh viên chuyên ngành Kế toán – Kiểm toán chiếm 17.5% Các ngành kinh tế khác chỉ chiếm 11%.
4.2.2.6 Thống kê mô tả về ý định khởi nghiệp
Bảng 4.6: Thống kê mô tả về ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp
Tần suất Phần trăm Phần trăm hợp lệ
Hình 4.6: Biểu đồ mô tả mẫu theo ý định khởi nghiệp
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021
Theo 200 phiếu khảo sát hợp lệ, 100% sinh viên ngành kinh tế bày tỏ ý định khởi nghiệp kinh doanh, cho thấy sự quan tâm mạnh mẽ của sinh viên đối với việc khởi nghiệp hiện nay.
4.2.3 Thống kê mô tả giá trị trung bình
Giá trị trung bình được xác định với bước nhảy K = 0.8 cho từng mức độ trên thang đo Likert 5 mức độ (Huỳnh Trường Nhật và Nguyễn Nhật Khiêm, 2017) Ý nghĩa của giá trị trung bình được phân tích theo từng mức độ cụ thể.
Rất không đồng ý: 1 ≤ Mean ≤ 1.8 Đồng ý: 3.4 ≤ Mean ≤ 4.2
Không đồng ý: 1.8 ≤ Mean ≤ 2.6 Rất đồng ý: 4.2 ≤ Mean ≤ 5.0
Bảng 4.7: Thống kê mô tả giá trị trung bình các biến
Mẫu Giá trị thấp nhất Giá trị cao nhất Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021 4.2.3.1 Thống kê nhân tố Tài chính
Tất cả các biến quan sát của nhân tố “Tài chính” đều có giá trị trung bình trên 3, dao động từ 3.10 đến 3.33 Biến F3 đạt giá trị trung bình cao nhất là 3.33, trong khi biến F5 có giá trị trung bình thấp nhất là 3.10.
Các giá trị nằm trong khoảng 2.6 ≤ Mean ≤ 3.4: Bình thường, chấp nhận sử dụng
4.2.3.2 Thống kê nhân tố Môi trường giáo dục
Tất cả các biến quan sát của nhân tố “Môi trường giáo dục” có giá trị trung bình đều trên
3 và giao động trong mức từ 3.52 đến 3.74 Trong đó biến EDU5 có giá trị lớn nhất (Mean) là 3.74 Còn biến EDU1 có giá trị nhỏ nhất (Mean) là 3.52
Các giá trị nằm trong khoảng 3.4 ≤ Mean ≤ 4.2: Đồng ý, chấp nhận sử dụng
4.2.3.3 Thống kê nhân tố Chuẩn mực chủ quan
Tất cả các biến quan sát của nhân tố “Chuẩn mực chủ quan” đều có giá trị trung bình trên 3, dao động từ 3.34 đến 3.48 Biến SS4 có giá trị trung bình cao nhất là 3.48, trong khi biến SS2 có giá trị trung bình thấp nhất là 3.34.
Các giá trị nằm trong khoảng 3.4 ≤ Mean ≤ 4.2: Đồng ý, chấp nhận sử dụng
4.2.3.4 Thống kê nhân tố Đặc tính cá nhân
Tất cả các biến quan sát của nhân tố “Đặc tính cá nhân” đều có giá trị trung bình trên 3, dao động từ 3.70 đến 3.93 Biến PC2 ghi nhận giá trị trung bình cao nhất là 3.93, trong khi biến PC1 có giá trị trung bình thấp nhất là 3.70.
Các giá trị nằm trong khoảng 3.4 ≤ Mean ≤ 4.2: Đồng ý, chấp nhận sử dụng
4.2.3.5 Thống kê nhân tố Cảm nhận tính khả thi
Tất cả các biến quan sát của nhân tố “Cảm nhận tính khả thi” đều có giá trị trung bình trên 3, dao động từ 3.31 đến 3.56 Biến PF4 đạt giá trị trung bình cao nhất là 3.56, trong khi biến PF3 có giá trị trung bình thấp nhất là 3.31.
Các giá trị nằm trong khoảng 3.4 ≤ Mean ≤ 4.2: Đồng ý, chấp nhận sử dụng
4.2.3.6 Thống kê nhân tố Thái độ với khởi nghiệp
Tất cả các biến quan sát của nhân tố “Thái độ với khởi nghiệp” đều có giá trị trung bình trên 3, dao động từ 3.06 đến 3.60 Biến A3 ghi nhận giá trị trung bình cao nhất là 3.60, trong khi biến A2 có giá trị trung bình thấp nhất là 3.06.
Các giá trị nằm trong khoảng 3.4 ≤ Mean ≤ 4.2: Đồng ý, chấp nhận sử dụng
4.2.3.7 Thống kê nhân tố Ý định khởi nghiệp
Tất cả các biến quan sát của nhân tố “ Ý định khởi nghiệp” có giá trị trung bình đều trên
3 và giao động trong mức từ 3.34 đến 3.63 Trong đó biến EI2 có giá trị lớn nhất (Mean) là 3.63 Còn biến EI1 có giá trị nhỏ nhất (Mean) là 3.34
Các giá trị nằm trong khoảng 3.4 ≤ Mean ≤ 4.2: Đồng ý, chấp nhận sử dụng
4.2.4 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha Để kiểm tra chính xác cũng như thống kê mức độ chặt chẽ của các biến quan sát trong thang đo đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP.HCM Tiến hành kiểm định độ tin cậy của các thang đo sẽ cho biết thang đo có phù hợp trong mô hình nghiên cứu hay không Đồng thời loại bỏ các biến quan sát không phù hợp làm giảm độ tin cậy của thang đo Các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng (Item- Total correlation) > 0.3 và hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo ≥ 0.6 sẽ được chấp nhận
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Cronbach’s Alpha nếu loại biến
Môi trường giáo dục (EDU) – Cronbach’s Alpha = 0.854
Chuẩn mực chủ quan (SS) – Cronbach’s Alpha = 0.757
SS4 10.15 4.249 0.622 0.662 Phù hợp Đặc tính cá nhân (PC) – Cronbach’s Alpha = 0.886
Cảm nhận tính khả thi (PF) – Cronbach’s Alpha = 0.850
Thái độ với khởi nghiệp (A) – Cronbach’s Alpha = 0.876
A5 13.30 8.595 0.804 0.828 Phù hợp Ý định khởi nghiệp (EI) – Cronbach’s Alpha = 0.824
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả, 2021 4.2.4.1 Kiểm định thang đo Tài chính (F)