TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Căn cứ Tà Thiết là khu di tích lịch sử Quốc Gia, là nơi lưu trữ hình ảnh, hiện vật, tư liệu sinh động, được thưởng thức những món ăn mang tính đặc trưng vùng mi
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Ngọc Hùng
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 12 tháng 3 năm 2022
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Lê Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng
2 TS Đinh Thanh Sang - Phản biện 1
3 TS Lê Hồng Thía - Phản biện 2
4 TS Lê Hoàng Anh - Ủy viên
5 TS Nguyễn Thị Thanh Trúc - Thư ký
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHCN&QLMT
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Võ Hoàng Minh MSHV: 17111931
Ngày, tháng, năm sinh: 05/11/1985 Nơi sinh: Bình Phước
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã số: 60.85.01.01
I TÊN ĐỀ TÀI: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn tài nguyên
khu di tích Tà Thiết, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Đánh giá hiện trạng, tiềm năng, cũng như tồn tại và thách thức trong phát triển du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử tại khu di tích Tà Thiết
- Đề xuất một số giải pháp ứng phó và phục hồi, phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên ở khu di tích Tà Thiết
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 937/QĐ-ĐHCN, ngày 07
tháng 07 năm 2021 của Hiệu trưởng trường Đại học Công nghiệp, TP HCM
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: ngày 21 tháng 12 năm 2021
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Học viên xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GVHD TS.Vũ Ngọc Hùng
về sự chỉ dẫn tận tình trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy tại Trường Đại học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh và BQL khu di tích Tà Thiết đã tận tình hỗ trợ tài liệu, đóng góp ý kiến cũng như động viên tôi rất nhiều và nhiệt tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn đến gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để yên tâm học tập, hoàn thành nhiệm vụ và các bạn học viên đã chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ hết mình trong quá trình cá nhân tôi thực hiện luận văn
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Căn cứ Tà Thiết là khu di tích lịch sử Quốc Gia, là nơi lưu trữ hình ảnh, hiện vật, tư liệu sinh động, được thưởng thức những món ăn mang tính đặc trưng vùng miền núi, thưởng lãm những giai điệu cồng chiêng, những điệu múa dân gian Nghiên cứu thực hiện nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch, phát triển du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử tại khu di tích Tà Thiết
Nghiên cứu thực hiện việc đánh giá định tính và định lượng, dữ liệu thu thập từ các cuộc điều tra, phỏng vấn, thu thập tài liệu và đánh giá mô hình SWOT
Kết quả nghiên cứu, các nguồn vốn sinh kế ảnh hưởng đến hệ sinh thái của khu căn
cứ nhưng ảnh hưởng không đáng kể Nguồn vốn sinh kế tại khu di tích Tà Thiết thuận lợi phát triển du lịch sinh thái, nhưng có nhiều khó khăn, tồn tại mà người dân địa phương, chính quyền địa phương cần nổ lực phát huy những lợi thế sẳn để phát triển du lịch địa phương thành điểm đến hấp dẫn, thu hút khách du lịch
Thách thức lớn nhất hiện nay là việc ứng phó và phục hồi, phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên trong thời kỳ đại dịch Covid -19, cân bằng giữa thị trường du lịch trong nước và quốc tế; việc mở rộng, đa dạng thị trường khách; xây dựng quỹ dự phòng khủng hoảng; liên kết hợp tác trong việc xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch Thực hiện các giải pháp hỗ trợ hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên, cùng các mô hình nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên ở khu di tích Tà Thiết hậu Covid
Trang 6ABSTRACT
Ta Thiet base is a national historical relic site, a place to store images, artifacts, vivid documents, enjoy typical mountainous dishes, enjoy gong melodies, folk dances Research conducted to conserve tourism resources, develop eco-tourism in combination with preserving historical relics at Ta Thiet relic site
According to the research results, the livelihood capital sources affect the ecology
of the base area, but the effect is not significant The source of livelihood capital at
Ta Thiet relic site is favorable for ecotourism development, but there are many difficulties and problems that local people and local authorities need to make efforts
to promote the available advantages to develop tourism local tourism into an attractive destination, attracting tourists
The biggest challenge now is the response, recovery, and sustainable development
of eco-tourism, associated with resource conservation during the Covid-19 pandemic, balancing the domestic and international tourism markets ; the expansion and diversification of customer markets; building a crisis reserve fund; cooperate in building and developing tourism products Implement support solutions to support sustainable eco-tourism development, associated with resource conservation, along with models to promote develop sustainable eco-tourism, associated with resource conservation in Ta Thiet post-Covid relic area
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan luận văn là sản phẩm nghiên cứu, tìm hiểu của riêng cá nhân
học viên Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được trình bày là của cá
nhân học viên và được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, có nguồn gốc rõ ràng và
theo đúng quy định Các tài liệu, số liệu được trích dẫn được chú thích rõ ràng, đáng
tin cậy, các tài liệu tham khảo được trích dẫn theo đúng quy định của mẫu từ phòng
Sau Đại học Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM
Học viên cam đoan không đạo văn dưới bất kỳ hình thức nào, kết quả trình bày
trong luận văn là trung thực và học viên hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ nội
dung nghiên cứu
Học viên
Võ Hoàng Minh
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
1 Giới thiệu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Cơ sở pháp lý 4
1.1.2 Khái niệm Du lịch sinh thái 4
1.1.3 Nguyên tắc cơ bản phát triển du lịch sinh thái 5
Trang 91.1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với DLST 7
1.1.5 Bảo tồn di tích lịch sử 8
1.2 Hiện trạng du lịch sinh thái gắn liền với di tích 8
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 14
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Nội dung nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Đánh giá về nguồn vốn sinh kế của cộng đồng dân cư tại khu di tích lịch sử Tà Thiết 31
3.1.1 Đánh giá nguồn vốn sinh kế của cộng đồng dân cư tại khu di tích lịch sử Tà Thiết 31
3.1.2 Phân tích chi tiết về các nguồn vốn của cộng đồng dân cư tại khu di tích Tà Thiết 33
3.2 Đánh giá hiện trạng, tiềm năng và những thách thức trong việc khai thác DLST tại khu di tích lịch sử Tà Thiết 45
3.2.1 Đánh giá về hiện trạng tài nguyên, đa dạng sinh học tại khu di tích lịch sử Tà Thiết 45
3.2.2Đánh giá thực trạng hoạt động DLST tại di tích lịch sử Tà Thiết 49
3.2.3 Đánh giá tiềm năng của khu di tích Tà Thiết để phát triển du lịch sinh thái 53
3.3 Đánh giá tồn tại trong phát triển du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn DLST tại khu di tích Tà Thiết 56
3.3.1 Những tồn tại trong công tác quản lý 56
Trang 103.3.2 Những tồn tại trong khả năng phát triển du lịch 57
3.3.3 Những tồn tại trong chính sách đầu tư và phát triển 58
3.4 Phân tích SWOT đối với hoạt động DLST tại khu di tích Tà Thiết 58
3.4 Đề xuất một số giải pháp ứng phó và phục hồi, phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên trong thời kỳ đại dịch Covid -19 ở khu di tích Tà Thiết 68
3.4.1 Giải pháp ứng phó, phục hồi phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên trong thời kỳ đại dịch Covid -19 ở khu di tích Tà Thiết 68
3.4.2 Giải pháp hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên ở khu di tích Tà Thiết 69
3.4.3 Đề xuất một số mô hình nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên ở khu di tích Tà Thiết 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 93
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 103
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Vị trí địa lý huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước [19] 15
Hình 2.2 Sơ đồ quy hoạch sử dụng đất huyện Lộc Ninh đến năm 2025 [20] 17
Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu 26
Hình 2.4 Khu vực điều tra khảo sát 28
Hình 3.1 Nghề nghiệp của các hộ gia đình xung quanh khu di tích Tà Thiết 34
Hình 3.2 Trình độ học vấn của các hộ gia đình xung quanh khu di tích Tà Thiết 35
Hình 3.3 Nhân khẩu các hộ gia đình xung quanh KDT Tà Thiết 36
Hình 3.4 Cơ cấu phần trăm nhà ở tại xã Lộc Thành và Lộc Thịnh 37
Hình 3.5 Tiện nghi sinh hoạt của các hộ gia đình 38
Hình 3.6 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 39
Hình 3.7 Cơ cấu cây trồng nông nghiệp 40
Hình 3.8 Hiện trạng chăn nuôi của các hộ dân 41
Trang 12
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả điều tra các nguồn vốn sinh kế của cộng đồng dân cư vùng đệm
khu DTLS Tà Thiết 32
Bảng 3.2 Các loài cây tiêu biểu tại khu di tích Tà Thiết 46
Bảng 3.3 Các loài động vật tiêu biểu tại khu di tích Tà Thiết 47
Bảng 3.4 Phân tích SWOT đối với hoạt động DLST tại khu di tích Tà Thiết 59
Bảng 3.5 Đánh giá SWOT mô hình quản lý tích hợp có sự tham gia của cộng đồng 82
Trang 13LMU : Đơn vị đất đai
TCN : Trước công nguyên
TNTN : Tài nguyên thiên nhiên
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc SKBV : Sinh kế bền vững
VQG : Vườn quốc gia
WHS : Cộng đồng lưu trữ
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu
Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển du lịch và bảo vệ môi trường Xác định được vai trò và tầm quan trọng đó, trong những năm qua Bình Phước đã triển khai nhiều biện pháp bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học gắn với nhiệm vụ phát triển du lịch bền vững Hiện nay ngành du lịch đang phát triển mạnh mẽ không chỉ ở các nước trên thế giới mà ngay cả ở Việt Nam trong đó có du lịch sinh thái Đây là loại hình du lịch thu hút cộng đồng dựa vào thiên nhiên và bản sắc văn hóa bản địa Thông qua việc truyền thông quảng bá hình ảnh thiên nhiên, giá trị văn hóa đến gần với khách du lịch bản địa và nước ngoài, du lịch sinh thái còn là điều kiện cũng như cơ hội mang lại giá trị kinh tế cho địa phương, Quốc Gia, đặc biệt là những hộ dân trong khu vực [1] Căn cứ Tà Thiết là khu di tích lịch sử Quốc Gia với diện tích 16 km2 được xây dựng
từ năm 1973 thời kháng chiến chống Mỹ, thuộc huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Khu Tà Thiết có không gian yên tĩnh, không khí trong lành, địa bàn rộng và bằng phẳng Đến với khu di tích Tà Thiết ta còn được tận mắt thấy những hình ảnh, hiện vật, tư liệu sinh động, được thưởng thức những món ăn mang tính đặc trưng vùng miền núi, đồng thời có dịp sẽ được thưởng lãm những giai điệu cồng chiêng, những điệu múa dân gian và các hoạt động văn hóa bản địa Chính vì vậy mà khu di tích
Tà Thiết đã thu hút khách du lịch đến tham quan, cũng như các học sinh, sinh viên khắp cả nước đến học tập và nghiên cứu
Việc phát triển mạnh mẽ tài nguyên du lịch tại căn cứ Tà Thiết, nếu phát triển du lịch với mục đích đơn thuần là kinh tế sẽ có nguy cơ đe dọa môi trường sinh thái và
nền văn hóa bản địa Chính vì điều đó mà tác giả đã thực hiện đề tài: “Giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn tài nguyên khu di tích Tà Thiết, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước” nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch, và sự phát
triển bền vững dài hạn, khuyến khích và tạo các cơ hội tham gia của người dân địa
Trang 15phương, đồng thời đánh giá tiềm năng, hiện trạng, cũng như tồn tại, thách thức trong phát triển du lịch sinh thái, kết hợp bảo tồn di tích lịch sử tại khu di tích Tà Thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu các điều kiện tài nguyên, đa dạng sinh học và các nguồn lực sinh kế người dân thuộc khu di tích lịch sử Tà Thiết, nhằm đưa ra các giải pháp ứng phó và phục hồi, phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên trong thời kỳ đại dịch Covid -19 ở khu di tích Tà Thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với khu di tích Tà Thiết
- Các nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất tại khu khu di tích Tà Thiết
Trang 163.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu khu di tích Tà Thiết thuộc xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
- Thời gian nghiên cứu: Thời gian 6 tháng sau khi có quyết định giao đề tài
- Địa điểm thực hiện: Xã Lộc Thành và xã Lộc Thịnh huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn là công trình nghiên cứu có đưa ra các phương pháp đánh giá cụ thể với đối tượng là hiện trạng tài nguyên, ĐDSH (Đa dạng sinh học), cũng như các tiềm năng, tồn tại, thách thức trong phát triển du lịch sinh thái tại khu di tích Tà Thiết Luận văn tạo cơ sở khoa học để có thể áp dụng cho các mô hình quản lý bảo tồn tại các khu bảo tồn khác dựa vào cộng đồng địa phương
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu các nguồn lực sinh kế, các tiềm năng, tồn tại, thách thức trong phát triển du lịch sinh thái tại khu di tích Tà Thiết Để từ đó, đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên ở khu di tích Tà Thiết Đóng góp vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững các di tích lịch
sử, các khu du lịch sinh thái cấp Quốc Gia nói chung và khu di tích Tà Thiết nói riêng
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cơ sở pháp lý
- Luật Du lịch 2017 có quy định về tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm du lịch
và hoạt động du lịch; quyền, nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến du lịch; quản lý nhà nước về du lịch
- Theo quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 18/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùng Đông Nam Bộ đến 2020, tầm nhìn 2030 thì di tích Căn cứ Quân ủy Bộ chỉ huy quân giải phóng miền Nam Việt Nam là điểm duy nhất của tỉnh được quy hoạch vào điểm du lịch quốc gia
- Quyết định số 2743/QĐ-TTg ngày 29-12-2011 về phê duyệt “chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
- Chỉ thị số 14/CT- TTg ngày 02 tháng 7 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch…
- Chỉ thị số 18/CT- TTg ngày 04 tháng 9 năm của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, bảo đảm an ninh, an toàn cho khách du lịch
1.1.2 Khái niệm Du lịch sinh thái
Từ những năm 1987, khái niệm DLST (Du lịch sinh thái) đã ra đời, du lịch sinh thái
là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được khám phá" [2]
Trang 18Theo Wood năm 1991 thì DLST là: "Du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang
sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương" [2]
Theo định nghĩa của Nêpan: " Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào nó" [2]
Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: "Du lịch sinh thái là việc đi lại
có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường mới được xem là Du lịch sinh thái" [2]
Định nghĩa của Việt Nam về Du lịch sinh thái: "Du lịch sinh thái là loại hình dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho
nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương" [2]
1.1.3 Nguyên tắc cơ bản phát triển du lịch sinh thái
Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái là [2]:
- Các hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên về những đặc điểm sinh thái khu vực
và văn hoá bản địa Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hoá du lịch
Trang 19- Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động du lịch sinh thái tiềm
ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề đó bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải
là ưu tiên hàng đầu thì ngược lại Du lịch sinh thái coi đây là 1 nguyên tắc cơ bản, cần tuân thủ vì:
+ Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của du lịch sinh thái
+ Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình, sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch sinh thái
- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng
Đây được xem là 1 trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động du lịch sinh thái, bởi các giá trị văn hoá bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hoá truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái
- Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái Nếu như các loại du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động đều thuộc về các Công ty du lịch thì ngược lại du lịch sinh thái sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương
Trang 20Ngoài ra, du lịch sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, chỗ ở, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khác…thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương
1.1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với DLST
Theo Drumm (2002), những yếu tố dưới đây có vai trò quyết định đối với việc tổ chức thành công hoạt động DLST [3]:
- Ít gây ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên của khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia
- Thu hút sự tham gia của các cá nhân, cộng đồng, khách DLST, các nhà điều hành tour và các cơ quan, tổ chức phi chính phủ
- Tôn trọng văn hóa truyền thống địa phương
- Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương và các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành tour tư nhân
- Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của VQG (Vườn quốc gia) và tăng cường thu nhập của người dân địa phương nhằm giảm sức ép lên tài nguyên VQG
- Giáo dục những người tham gia về vai trò củra họ trong công tác bảo tàng
- VQG cũng như các di tích lịch sử đều được bảo tồn và phát triển bền vững
Cũng theo Lê Huy Bá (2009) để phát triển DLST có những yêu cầu cơ bản sau [4]:
– Phát triển DLST cần có sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính
đa dạng sinh học cao
– Du lịch sinh thái đòi hỏi người hướng dẫn viên phải am hiểu các đặc điểm sinh thái tự
Trang 21nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương tại điểm đến Các nhà điều hành du lịch phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý của những điểm đến DLST và cộng đồng địa phương
– Du lịch sinh thái phải thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch – Du lịch sinh thái phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về sức chứa (dưới góc độ sức chứa vật lý, tâm lý, xã hội, quản lý)
1.1.5 Bảo tồn di tích lịch sử
Theo Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các di tích lịch sử là tài sản vô giá trong kho tàng di sản lâu đời của dân tộc Việt Nam là để bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử trong việc giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam Góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hoá dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới [5]
1.2 Hiện trạng du lịch sinh thái gắn liền với di tích
1.2.1 Hiện trạng DLST gắn liền với di tích trên Thế Giới
Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới xem du lịch là một ngành công nghiệp không khói Du lịch không chỉ là một ngành kinh tế mà còn mang nhiều yếu tố về
xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng ngân sách địa phương và truyền bá giá trị văn hóa của bản sứ hay cả dân tôc
Hiện nay trên Thế Giới các di tích lịch sử đều được mở rộng và kết hợp với loại hình du lịch Khách du lịch cũng ý thức được việc phải gìn giữ và bảo tồn tài nguyên trong khu di tích, một phần do ý thức tự giác người dân cao; một phần nhờ
có hệ thống quản lý của nhà nước chặt chẽ, hợp lý Nhưng các khu di tích lịch sử
Trang 22gấn liền với khu du lịch sinh thái thì vẫn còn hạn chế, hầu hết là du lịch sinh thái gắn liền với VQG, khu BTTN và di sản văn hóa
+ Thành phố cổ Avdat, trên sa mạc Negev, Israel: Di sản Thế giới được UNESCO công nhận là Avdat là một trong những địa điểm quan trọng nhất của thời kỳ Nabataean, Roman và Byzantine ở Negev Nó được định cư lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, khi các bộ tộc người Nabataean du mục bắt đầu định cư
và tiếp nhận các tuyến buôn bán gia vị qua khu vực Sau đó, thị trấn phát triển mạnh dưới thời La Mã và sau đó chiếm đóng Byzantine cho đến khi cuối cùng bị bỏ rơi sau khi người Ả Rập chiếm được thị trấn vào năm 634 [6]
Chính vì nền lịch sử lâu năm, khí hậu khắc nghiệp mà nơi đây đã thu hút những khách du lịch có cảm hứng trãi nghiệm, tìm hiểu và nghiên cứu về vùng đất này + Chùa Ninna-Ji, Nhật Bản: Ninnaji là một trong nhiều ngôi đền lớn ở Kyoto được liệt kê là Di sản Thế giới Đây là ngôi đền đầu của Trường Omuro của phái Shingon của Phật giáo và được thành lập năm 888 bởi hoàng đế trị vì Trong nhiều thế kỷ, một thành viên của Gia đình Hoàng gia đã từng là linh mục đầu của Ninnaji, và đền thờ còn được gọi là Cung điện Omuro Imperial [7]
Do nhiều cuộc chiến tranh và hoả hoạn tàn phá Kyoto trong suốt lịch sử của nó, không có tòa nhà nào từ nền tảng của đền thờ vào thế kỷ 9 vẫn tồn tại Các tòa nhà
cổ nhất có từ đầu thời kỳ Edo vào đầu những năm 1600, bao gồm hội trường chính (Kondo), Kannon Hall, cửa chính Niomon, cổng nội thất Chumon và ngôi chùa năm tầng [8]
Chùa Ninna cũng nổi tiếng với một khu rừng trồng tại địa phương, cuối nở cây anh đào được gọi là Omuro Cherries Bởi vì cây đang nở muộn, nên Ninnaji là nơi tốt
để đến khách du lịch thăm vào cuối mùa hoa anh đào của Kyoto, thường vào khoảng giữa tháng 4
+ Theo Theodore R Hazen, đã thực hiện quy hoạch đề tài: “Bảo tồn các nhà máy lịch sử tại Barnitz Mill, Cumberland County, Pennsylvania” Nhà máy là hiện vật
Trang 23quan trọng như bất kỳ bảo tàng nào Cho khách truy cập xem bằng cách đi qua một nhà máy thực tế và truyền đạt lịch sử, những thay đổi của nó và con người của nó Việc bảo tồn nhà máy lịch sử bấy giờ gặp vấn đề lớn là không có hướng dẫn hoặc tiêu chuẩn nào được đặt ra cho việc khôi phục nhà máy lịch sử Nói chung, các yếu
tố khác nhau được phục hồi theo cách chúng sẽ có trong các cấu trúc lịch sử khác Sau khi hoàn thành, nhà máy sẽ mở cửa cho công chúng và cho các chuyến đi thực
tế của trường học trong giờ bình thường, và hoạt động với sự hỗ trợ của các nhân viên tình nguyện toàn thời gian, bán thời gian và được đào tạo dưới sự chỉ đạo của địa điểm [9]
+ Ben Ma (2019) và cộng sự, đã thực hiện đề tài: “Bảo tồn, du lịch sinh thái, nghèo đói và bất bình đẳng thu nhập - Một nghiên cứu điển hình về các khu bảo tồn thiên nhiên ở Qinling, Trung Quốc” Kết quả nghiên cứu của ông, cho thấy rằng các cộng đồng địa phương của các KBTTN (Khu bảo tồn thiên nhiên) có mức nghèo cao hơn
và mức thu nhập thấp hơn so với mức trung bình của cả nước Các KBTTN đã làm giảm đáng kể thu nhập ròng của các hộ gia đình cư trú trong KBT (Khu bảo tồn), và hầu hết những giảm sút này là do chuyển đổi đất canh tác sang đất bảo tồn Các KBTTN cũng làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng về thu nhập của các cộng đồng địa phương và mức độ bất bình đẳng bên trong các KBTTN cao hơn đáng kể so với bên ngoài Về tác động của du lịch sinh thái, du lịch sinh thái có thể làm giảm đói nghèo nhưng lại làm tăng bất bình đẳng về thu nhập, đặc biệt là đối với những hộ gia đình cư trú trong KBT [10]
+ Yue Zhang (2018), và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu: “Chiến lược quy hoạch khu danh thắng số dưới góc độ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể” Nêu lên quan điểm di sản văn hóa phi vật thể có đặc điểm tính vùng miền, tính độc đáo và tính sinh động Việc bảo vệ và kế thừa nó đang phải đối mặt với nhiều thách thức và có thể được giải quyết bằng cách tích hợp với các khu vực danh lam thắng cảnh Việc xây dựng các khu vực danh lam thắng cảnh kỹ thuật số là một cách hiệu quả để đạt được đôi bên cùng có lợi Dựa trên các đặc điểm tài nguyên và phân tích định vị thị trường của Khu công nghiệp Văn hóa Celadon, các mục tiêu xây dựng và chiến
Trang 24lược đối phó của khu vực danh lam thắng cảnh được đề xuất bằng cách giới thiệu một cách có hệ thống công nghệ kỹ thuật số trong quy hoạch khu vực danh lam thắng cảnh, khởi động dự án, mô hình quản lý du lịch và các khía cạnh khác để tạo
ra một khu vực cảnh quan thực tế ảo ba chiều đầu tiên về văn hóa [11]
+ Eva Parga-Dans và cộng sự năm 2020 đã tiến hành nghiên cứu: “Giá trị xã hội của di sản: Cân bằng mối quan hệ phát huy và bảo tồn tại Di sản Thế giới Altamira, Tây Ban Nha” Từ dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng hai cuộc khảo sát, một cuộc khảo sát tập trung vào khách truy cập, với tổng số 1047 cuộc khảo sát hợp lệ
và một cuộc khảo sát khác về dân số Tây Ban Nha với tư cách là cộng đồng lưu trữ WHS, với tổng số 1000 cuộc khảo sát hợp lệ Việc phân tích các cuộc khảo sát này cho thấy cách thức tồn tại, các khía cạnh giá trị thẩm mỹ, kinh tế và di sản của di sản văn hóa có thể xây dựng thương hiệu xung quanh WHSs Do đó, khía cạnh giá trị xã hội của di sản văn hóa ảnh hưởng đến tiềm năng thị trường của các WHS, mà tiềm năng thị trường có liên quan chặt chẽ đến trình độ học vấn của một xã hội nhất định Những phát hiện này cung cấp thông tin và hiểu biết có giá trị cho các học giả, các nhà quản lý điểm đến và các nhà hoạch định chính sách trong cuộc tranh luận
về việc bảo tồn và xây dựng thương hiệu du lịch của Altamira Điều này sẽ cho phép các bên liên quan khác nhau xác định các cơ hội để phát triển hiệp đồng giữa quảng bá du lịch và bảo tồn di sản, để vừa củng cố hình ảnh thương hiệu của một WHS vừa bảo tồn di sản của nó [12]
1.2.2 Hiện trạng DLST gắn liền với di tích lịch sử ở Việt Nam
Việt Nam sở hữu tiềm năng vượt trội trong việc phát triển các khu du lịch sinh thái nhờ vào những giá trị tự nhiên và nhân văn đặc sắc Đặt biệt là DLST kết hợp với khu di tích lịch sử Quốc Gia, điển hình:
+ Khu DLST Cần Giờ, TPHCM: Khu DLST thuộc huyện Cần Giờ, là một trong những căn cứ của quân ta thời chiến tranh Với sự đa dạng về động vật quý hiếm cũng như tài nguyên rừng, đồng thời vị trí địa lý cách xa trung tâm Thành Phố phù hợp để xây dựng khu DLST Không những mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư
Trang 25khó khăn trong khu vực mà là cơ hội để khách du lịch đến tìm hiểu, nghiên cứu và tăng thêm hiểu biết thực tế về lịch sử nước nhà Khu DLST nằm trong địa phận TP.HCM nên các công tác đầu tư và quản lý thuận lợi và hiệu quả [13]
Là một trong những bản khó khăn của xã Phú Lệ (Quan Hóa), thông qua việc phát triển loại hình du lịch sinh thái cộng đồng, tỉ lệ hộ nghèo tại bản Hang hiện chỉ còn 17/60 hộ, trong đó có 6 hộ làm du lịch Trong 6 tháng đầu năm, lượng du khách đến cụm du lịch sinh thái bản Hang ước đạt trên 1.500 lượt khách, doanh thu đạt trên
250 triệu đồng Đến với bản Hang, du khách có thể hòa mình vào bầu không khí mát mẻ, trong lành, tham quan hệ thống hang động, sông, suối hoang sơ, thơ mộng, thưởng thức các món ăn đậm đà bản sắc dân tộc, thỏa sức ngắm nhìn những nếp nhà sàn truyền thống… [14]
Chỉ tính riêng trong năm qua, huyện Thường Xuân đã đầu tư, xây dựng 7 cơ sở kinh doanh lưu trú, thu hút trên 72.000 lượt khách, doanh thu từ phát triển du lịch đạt trên 1 tỷ đồng (tập trung vào du lịch tâm linh tại di tích lịch sử văn hóa đền Cầm Bá Thước và Bà chúa Thượng ngàn; du lịch lòng hồ Cửa Đạt)
Bên cạnh những thuận lợi, bước đầu xây dựng cũng có những khó khăn Các khu du lịch sinh thái gắn với di tích đều có mối quan hệ nhất định với cộng đồng dân cư tại
đó, đặc biệt là những vùng dân cư đã từ lâu đời sống từ nguồn thu nhập chính từ khu di tích (đi rừng, lấy củi, trồng trọt, làm nương, ) thì việc thuyết phục người dân để xây dựng là khó khăn cho các nhà đầu tư và quản lý Các vùng núi, vùng sâu vùng xa, sự hiểu biết của người dân còn kém nên việc thỏa thuận cũng như để người dân hiểu và hợp tác thì cơ cấu quản lý phải nhạy bén và sâu sắc
Mặc dù loại hình DLST gắn liền với di tích lịch sử phát triển chậm hơn các loại hình khác, song hoạt động tương đối ổn định và có chiều hướng tăng nhanh Cơ cấu quản lý của nhà nước đúng đắn và kịp thời, kết hợp chặt chẽ với cộng đồng dân cư địa phương đã tạo ra những khu DLST hiệu quả và mang lại lợi ích kinh tế đáng kể Đồng Thanh Hải, Phùng Văn Phê (2015) “Nghiên cứu đã phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và định hướng phát triển DLST cho KBT”
Trang 26Thiết kế được 4 tuyến chính và 2 tuyến kết nối cho du lịch dã ngoại thiên nhiên thám hiểm kết hợp với tham quan tìm hiểu văn hóa địa phương Năm giải pháp chính để phát triển du lịch sinh thái kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học nhằm tạo điều kiện cho người dân nghèo trong và ngoài KBT cải thiện đời sống: Giải pháp về quản lý, giải pháp về cơ chế chính sách, về đào tạo, về tiếp thịvà giải pháp về hợp tác đầu tư [15]
-Nguyễn Trọng Hiếu (2015) “Phát triển du lịch sinh thái kết hợp du lịch về nguồn ở vườn quốc gia Lò Gò -Xa Mát tỉnh Tây Ninh” Kết quả nghiên cứu cho thấy, Vườn Quốc gia (VQG) Lò Gò -Xa Mát có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái (DLST) và du lịch về nguồn (DLVN) Do việc khai thác tiềm năng này chưa được chú ý đúng mức nên việc phát triển du lịch còn chậm và hướng kết hợp giữa phát triển DLST với DLVN gần như còn bỏ ngỏ Trên cơ sở phân tích tiềm năng để phát triển loại hình DLST kết hợp DLVN, bài viết đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch ở VQGLò Gò -Xa Mát [16]
Huỳnh Khắc Điệp (2017) “Nghiên cứu tiềm năng phát triển khu du lịch sinh thái bền vững dựa vào văn hóa cộng đồng tại vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận” Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng mô hình “du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng” trong đó Ban quản
lý Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ôngkết hợp với các Công ty lữ hành đứng ra tổ chức du lịch sinh thái, ký kết hợp đồng với các nhóm cộng đồng địa phương tham gia thực hiện và cung cấp các dịch vụ du lịch với ưu tiên phát triển các loại hình du lịch leo núi thám hiểm, đi bộ trong rừng kết hợp tham quan các sinh cảnh độc đáo,
du lịch tâm linh hành hương viếng nhà thờ Đức Mẹ Tà Paovà du lịch vui chơi giải trí, giao lưu văn hoá với cộng đồng địa phương trong khu vực vùng đệm của khu bảo tồn, với các giải pháp đồng bộ như: xây dựng các loại hình, dịch vụ, các tuyến, điểm du lịch sinh thái hợp lý, phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở vật chất,
kỹ thuật song song với bảo vệ, tôn tạoTài nguyên môi trường rừng và thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi
Trang 27trường của con người, tạo ra nguồn thu nhập để phục vụ công tác bảo tồn và đa dạng hoá các loại hình du lịch của tỉnh Bình Thuận [17]
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Tổng quan KDT Tà Thiết
Căn cứ Tà Thiết thuộc xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước là khu di tích lịch sử Quốc Gia với diện tích 16km2, đại bàn rộng, bằng phẳng Huyện Lộc Ninh có diện tích 853,29 km², dân số năm 2019 sơ bộ là 104,638 người, mật độ dân
số đạt khoảng 134 người/km² [18]:
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Lộc Ninh có tọa độ và ranh giới [18]:
- Vĩ độ Bắc: 11029’33’’ – 12005’00’’
- Kinh độ Đông: 106024’57’’
- Phía tây và phía Bắc giáp Campuchia
- Một phần nhỏ ranh giới phía Tây- Nam giáp tỉnh Tây Ninh
- Phía Đông giáp huyện Bù Đốp và huyện Phước Long
- Phía Nam giáp huyện Bình Long
Trang 28Hình 2.1 Vị trí địa lý huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước [19]
1.3.1.2 Địa hình
Huyện Lộc Ninh có địa hình cao về phía Bắc và thấp dần về phía Nam Lộc Ninh có
2 con sông lớn chay qua là sông Măng tạo thành biên giới tự nhiên giữa Việt Nam
và Cămpuchia, sông bé tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Lộc Ninh với huyện Phước Long Ngoài ra còn có Suối Cần Lê là ranh giới giữa huyện Lộc Ninh với huyện Bình Long và trên 20 con suối lớn nhỏ trên địa bàn huyện [18]
Trên địa bàn xã có dự án khu di tích lịch sử và du lịch sinh thái Bộ chỉ huy miền Tà Thiết Quy mô của dự án có tổng diện tích 3.854,6 ha, bao gồm 6 phân khu chính: Phân khu vùng lõi di tích lịch sử 450 ha, khu du lịch dịch vụ và khu tái hiện Bình Phước thu nhỏ 425 ha, khu vườn cây trái Nam bộ 180 ha, khu bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên 545 ha, khu đầu tư phát triển cao su với diện tích gần 1.400 ha
1.3.1.3 Điều kiện tự nhiên
Nhiệt độ: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt Nhiệt độ bình quân
trong năm cao đều và ổn định từ 25,8 - 26,2°C Nhiệt độ bình quân thấp nhất 21,5 –
Trang 2922°C Nhiệt độ bình quân cao nhất từ 31,7 - 32,2°C Nhìn chung sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, song chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm thì khá lớn, khoảng 7 đến 9° C nhất là vào các tháng mùa khô Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 3,4,5 (từ 37-37,2°C) và thấp nhất vào tháng 12 là 19°C [18]
Nằm trong vùng dồi dào nắng Tổng số giờ nắng trong năm từ 2400 - 2500 giờ Số giờ nắng bình quân trong ngày từ 6,2 - 6,6 giờ Thời gian nắng nhiều nhất vào tháng
1, 2, 3, 4 và thời gian ít nắng nhất vào tháng 7, 8, 9
Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ 2.045 – 2.325 mm Mùa
mưa diễn ra từ tháng 5 - 11, chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất 376 mm (tháng 7) Mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10 - 15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2, 3
Trên cơ sở chồng xếp 06 bản đồ đơn tính bằng kỹ thuật thông tin địa lý (GIS), bản
đồ đơn vị đất đai huyện Lộc Ninh được thành lập ở tỷ lệ 1/25.000, với 62 đơn vị đất đai (LMU) Trong đó: Đất hình thành trên đá bazan và đá bọt bazan (Fk, Fu, Ru) có
27 đơn vị đất đai (LMU), với tổng diện tích 36.861,00 ha Vùng đất hình thành trên mẫu đất phù sa cổ (X, Fp) có 22 LMU, với 40.874,15 ha Vùng đất phù sa (P) có 01 LMU, với diện tích 43,00 ha, nhóm đất hình thành trên mẫu chất dốc tụ hoặc bị gley (D, Xg) có 12 LMU, với diện tích 5.955,00 ha [20]
Trang 30Hình 2.2 Sơ đồ quy hoạch sử dụng đất huyện Lộc Ninh đến năm 2025 [20]
1.3.1.5 Tài nguyên du lịch
Năm 2019, số khách du lịch trong nước đến Bình Phước, cụ thể: Khách du lịch nghỉ qua đêm 492.722 lượt người, tăng 276.543 lượt người, tăng 127,92% so với năm 2018; khách trong ngày 387.138 lượt người, tăng 210.277 lượt người, tăng 118,89%; số lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 440.672 lượt người, tăng 119.248 lượt người, tăng 37,10%; số lượt khách do các cơ sở lữ hành phục vụ 192.289 lượt khách, tăng 38.636 lượt khách, tăng 25,31% so với năm 2018
Doanh thu du lịch năm 2019 đạt 570,7 tỷ đồng, tăng 38,35% so với năm 2018, trong đó: Doanh thu của các cơ sở lưu trú đạt 399,49 tỷ đồng, tăng 34,89%; doanh thu của các cơ sở lữ hành đạt 171,21 tỷ đồng, tăng 47,18% so với năm 2018
1.3.1.6 Các công trình, hạng mục tham quan của khu căn cứ [21]:
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hầu hết các công trình của căn
cứ đã bị hư hỏng, được trùng tu, khôi phục lại Hiện nay, di tích phân bố trong rừng
Tà Thiết, với tổng diện tích 380ha, chia làm ba cụm chính:
- Cụm ngoài gồm Nhà ở của Thượng tướng Trần Văn Trà và Hầm chữ A
Trang 31- Cụm giữa gồm Bếp Hoàng Cầm, Hầm Giao ban, Nhà ở của Thiếu tướng Lê Văn Tưởng, Nhà ở của Chính ủy Phạm Hùng
- Cụm cuối gồm có: Hội trường, Nhà Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Nhà Trung tướng Lê Đức Anh
Hội trường: được xây dựng ở cụm cuối của căn cứ, cách bếp Hoàng Cầm khoảng
500m về phía Nam, cách nhà của Thiếu tướng Nguyễn Thị Định 150m về phía Bắc, cách nhà của Đại tướng Lê Đức Anh 100m về phía Đông Bắc Hội trường
có chiều dài 12,8m, rộng 6,8m, tổng diện tích 87,4m2 (Diện tích bao gồm cả giao thông hào là: 26,3m x 30m = 789m2), một phần nhà được đào âm xuống lòng đất (độ sâu 0,9m) để sử dụng vào việc tổ chức các hoạt động liên quan, phần mái làm nổi trên mặt đất
Bếp Hoàng Cầm: có nhiều ưu điểm, phù hợp với yếu tố bí mật của các khu căn
cứ cách mạng, do anh nuôi tên Hoàng Cầm sáng chế ra năm 1953 Bếp Hoàng Cầm gồm 3 loại: bếp Đại Táo, Trung Táo và Tiểu Táo, loại bếp được xây dựng tại căn cứ Tà Thiết là bếp Đại Táo Bếp được xây dựng theo trục Bắc Nam, dài 15,6m, rộng 7m, tổng diện tích 109,2m2 (Diện tích bao gồm cả giao thông hào là: 30m x 33m = 990m2), với kiến trúc kiểu nửa chìm nửa nổi, tức một phần diện tích nổi trên mặt đất và một phần diện tích được đào âm dưới lòng đất (độ sâu 1m) Lối lên xuống của bếp được bố trí ở đầu hồi phía Bắc Kết cấu vì kèo, cột được làm bằng chất liệu bê tông cốt sắt giả gỗ, các đòn tay, thanh rui để lợp mái được làm bằng gỗ
Hầm Giao ban: là hầm bí mật được xây dựng trong các căn cứ cách mạng để tổ
chức các buổi họp mang tính bí mật tuyệt đối Hầm cách nhà của Thượng tướng Trần Văn Trà 400m về phía Đông Nam, cách Nhà Chính ủy Phạm Hùng 50m về phía Đông Bắc, cách bếp Hoàng Cầm 100m về phía Tây Bắc Hầm được xây dựng âm hoàn toàn dưới lòng đất, tổng diện tích 36,26m2, dài 9,8m, rộng 3,7m, chiều cao 2,1m Hầm xây theo chiều Bắc Nam, cửa lên/xuống mở ở hai đầu phía Bắc và phía Nam Mỗi cửa cao 1,3m, rộng 0,9m có mái che rộng 1,8m, dài 2,8m, cao 1,7m Các cột, vì kèo, xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ Các đòn tay, thanh rui lợp được làm bằng gỗ Mái được lợp bằng lá Trung quân
Trang 32 Hầm chữ A: bao gồm hai phần chính: Hầm chữ A và giao thông hào, được phục
hồi năm 1995 với kết cấu bằng bê tông cốt thép, xi măng Miệng hầm rộng 1m, cao 1,2m sâu 1,4m Phần hầm chính dài 4,2m rộng 2,3m, được gia cố bằng các cây xà, đúc bằng bê tông cốt thép, trên nóc hầm phủ kín bằng đất tự nhiên Giao thông hào dài 20m, rộng 0,9m, hình gấp khúc bốn đoạn, bắt đầu phần phía Tây của Hầm chữ A kéo dài về phía Đông, đi sâu vào rừng tự nhiên (tổng diện tích 9m x 11,7m = 105,3m2)
Nhà Thượng tướng Trần Văn Trà: có chiều dài là 9,5m, chiều rộng 9m, tổng
diện tích là 85m2 (Diện tích bao gồm cả giao thông hào là 39,7m x 8,7m = 345,39m2) Kết cấu nhà làm theo kiểu năm nóc, bốn mái, có ba vì kèo chia nhà làm hai gian chính Các cột, vì kèo, xà ngang, xà dọc đều được kết cấu bằng bê tông cốt thép, giả gỗ Các đòn tay, thanh rui để lợp nhà được làm bằng gỗ
Nhà đồng chí Chính ủy Phạm Hùng: có chiều dài 10m, chiều rộng 8m, tổng diện
tích 80m2 (Diện tích bao gồm cả giao thông hào là 15,5m x 19,3m = 299,15m2), kiểu nhà hai mái và hai chái hai đầu Đây là kiểu nhà trệt, có hầm âm và hầm chữ
A Các vật dụng được đặt trên nền đất để tiện làm việc, nghỉ ngơi Ở đầu hồi phía Bắc có một hầm âm, kết nối với hầm chữ A (đặt ở chính giữa nền nhà) Hầm âm rộng 1,5m, cao 2,4m và sâu 1,4m Các cột, vì kèo, xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ Các đòn tay, thanh rui lợp được làm bằng gỗ Mái được lợp bằng lá Trung quân
Nhà đồng chí Lê Văn Tưởng: được khôi phục, trùng tu năm 2009 Đầu hồi quay
theo hướng Bắc Nam, lối lên xuống bố trí ở đầu hồi phía Nam Nhà có ba gian, dài 9m, rộng 6,5m, tổng diện tích 58,5m2 (Diện tích bao gồm cả giao thông hào
là 19m x 26,6m = 505,4m2) Trong nhà có một hầm chữ A ở vách phía Tây, cách vách phía Nam 2,5m Hầm cao 1,1m, rộng 0,9m Hầm được kết nối với một giao thông hào thoát hiểm dài 30m dẫn vào rừng Các cột, vì kèo, xà được làm bằng
bê tông cốt thép giả gỗ Các đòn tay, thanh rui lợp được làm bằng gỗ Mái được lợp bằng lá Trung quân
Nhà Đại tướng Lê Đức Anh: có kiểu kiến trúc nửa chìm, nửa nổi, không gian
sinh hoạt, nghỉ ngơi được làm âm xuống lòng đất 1m Lối lên xuống bố trí ở đầu
Trang 33hồi phía Tây Nam Nhà có ba gian, dài 9,4m, rộng 7m, tổng diện tích 65,8m2 (Diện tích bao gồm cả giao thông hào là 16,8m x 16,5m = 277,2m2) Các cột, vì kèo, xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ Các đòn tay, thanh rui lợp làm bằng gỗ Mái lợp bằng lá Trung quân Trong nhà có một hầm chữ A, cao 1,1m, rộng 0,9m, được nối với một giao thông hào thoát hiểm dài 30m dẫn vào rừng
Nhà Thiếu tướng Nguyễn Thị Định: kiểu kiến trúc nửa chìm, nửa nổi, không gian
sinh hoạt, nghỉ ngơi được làm âm xuống lòng đất với độ sâu 1m Đầu hồi quay theo hướng Đông Tây, lối lên xuống bố trí ở đầu hồi phía Tây Nhà có chiều dài 9,4m, rộng 7m, gồm 03 gian, tổng diện tích 65,8m2 (bao gồm cả giao thông hào
là 11,8m x 21,6m = 254,88m2) Hai đầu hồi có hai mái, mỗi mái dài 4,2m rộng 1,6m Trong nhà có xây dựng một hầm chữ A ngay chính giữa vách phía Bắc, cao 1,1m, rộng 0,9m, được kết nối với một giao thông hào thoát hiểm dài 30m dẫn vào rừng Các cột, vì kèo, xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ Các đòn tay, thanh rui lợp được làm bằng gỗ Mái được lợp bằng lá Trung quân
Nhà Bia của Tổng cục Chính trị: được xây dựng theo lối kiến trúc “phương
đình”- mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh dài 7,5m Mái được cấu trúc theo dạng chồng diềm 2 tầng, mỗi tầng 4 mái cân nhau, dán ngói mũi hài Giữa nhà, đặt tấm bia đá cao 2,1m, rộng 1,66m để ghi lại công lao của các chiến sỹ Đây là công trình có độ bền vững, mô phỏng nghệ thuật kiến trúc truyền thống dân tộc, hài hòa với cảnh quan di tích
Phòng Trưng bày bổ sung di tích: diện tích 213,84m2 Hiện nay, tại Nhà trưng
bày do Bảo tàng tỉnh Bình Phước quản lý, đang trưng bày 84 hiện vật và một sa bàn có liên quan đến quá trình hình thành và hoạt động của Căn cứ Ngoài ra, Bảo tàng Bình Phước đã tiến hành sưu tầm, bổ sung các hiện vật, tư liệu và hình ảnh tiến tới hoàn thiện phần trưng bày tại Phòng truyền thống của di tích
Nhìn chung, các công trình được tu sửa kiên cố và phù hợp những vẫn giữ được nét nguyên xưa đã giúp du khách tham quan thích thú cũng như có thêm những kiến thức về lịch sử văn hóa nước nhà, đồng thời tăng thêm lòng yêu nước, đoàn kết dân tộc
Trang 341.3.2 Lịch sử hình thành KDT Tà Thiết
Sau khi Hiệp định Pari được ký kết (27/1/1973), quân đội Mỹ rút về nước, tình hình cách mạng có sự chuyển biến có lợi cho ta trên cả chiến trường miền Nam Để chuẩn bị cho thời cơ mới, Trung ương Cục miền Nam quyết định trở lại căn cứ Chàng Riệc (phía Bắc Tây Ninh); Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền chuyển về sóc Tà Thiết (xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước) [22]
Việc lựa chọn Tà Thiết làm nơi đứng chân của Bộ chỉ huy Miền cho thấy các cấp chỉ huy đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng, bởi Lộc Ninh là huyện giải phóng đầu tiên của miền Nam (1972), là Thủ phủ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, tiến sát đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh hơn, thuận lợi cho việc tiếp nhận những tiếp tế hậu cần chiến lược và liên lạc ra miền Bắc
Đây là sở Chỉ huy tiền phương của chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 Đầu tháng 3/1973, căn cứ Tà Thiết bắt đầu được xây dựng Cuối tháng 01/1973, lực lượng công binh bắt đầu mở các con đường mới cho ba Cục Tham mưu, Chính trị, Hậu cần (Bộ chỉ huy Miền) di chuyển về căn cứ Tà Thiết Cuối tháng 3/1973, tất cả các
cơ quan trong Bộ Chỉ huy Miền và các đơn vị trực thuộc đã chuyển về căn cứ Tà Thiết
Được xây dựng vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, căn cứ Tà Thiết là sự kết hợp những kinh nghiệm xây dựng căn cứ trước đó
và những sáng tạo trong tình hình mới Vì vậy, nó vừa có sự bố phòng chặt chẽ, vừa
có những cải thiện để giảm bớt khó khăn ở vùng căn cứ Căn cứ Tà Thiết đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử là căn cứ cuối cùng của Quân uỷ và Bộ chỉ huy Miền, đồng thời là căn cứ cơ bản của Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam Từ một Sở chỉ huy tạm thời của Bộ chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ năm
1972, trong các năm 1973, 1974 và đầu năm 1975, căn cứ Tà Thiết được xây dựng ngày càng vững chắc và quy mô, không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ và phát triển các hoạt động của Bộ chỉ huy Miền, mà còn là một căn cứ dự trữ hậu cần chiến lược,
Trang 35góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975
Trang 36CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá về nguồn vốn sinh kế của cộng đồng dân cư tại khu di tích Tà Thiết
- Đánh giá tổng hợp nguồn vốn sinh kế của cộng đồng dân cư của tại khu di tích Tà Thiết
- Phân tích chi tiết về các nguồn vốn của cộng đồng dân cư tại khu di tích Tà Thiết + Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội khu di tích Tà Thiết
+ Điều tra khảo sát các thông tin nguồn vốn sinh kế của người dân
Nội dung 2: Đánh giá hiện trạng, tiềm năng và những thách thức trong việc khai thác DLST tại khu di tích lịch sử Tà Thiết
- Đánh giá về hiện trạng tài nguyên, đa dạng sinh học tại khu di tích lịch sử Tà Thiết
- Đánh giá thực trạng hoạt động DLST tại di tích lịch sử Tà Thiết
- Đánh giá tiềm năng của khu di tích Tà Thiết để phát triển du lịch sinh thái
+ Điều tra, khảo sát các hoạt động DLST hiện hữu tại di tích lịch sử Tà Thiết
+ Thu thập tài liệu, khảo sát về các chính sách về thực hiện, áp dụng DLST đã được ban hành và thực hiện
Nội dung 3: Đánh giá tồn tại trong phát triển du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn DLST tại khu di tích Tà Thiết
- Thông tin về hiện trạng phát triển du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn tại khu di tích
Tà Thiết
- Khảo sát các hoạt động DLST hiện hữu tại di tích lịch sử Tà Thiết
Trang 37- Khảo sát những tồn tại, bất cập trong công tác quản lý và phát triển du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn tại khu di tích Tà Thiết
Nội dung 4: Phân tích SWOT đối với hoạt động DLST tại khu di tích Tà Thiết Phân tích “điểm mạnh, điểm yếu- cơ hội, thách thức” là cơ sở để trong việc khai thác, đẩy mạnh DLST tại khu di tích lịch sử Tà Thiết và đề ra các giải pháp phát triển phù hợp đối với DLSTkhu di tích Tà Thiết
Nội dung 5: Đề xuất một số ứng phó và phục hồi, phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên trong thời kỳ đại dịch Covid -19 ở khu di tích Tà Thiết
- Giải pháp ứng phó, phục hồi phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên trong thời kỳ đại dịch Covid -19 ở khu di tích Tà Thiết
- Giải pháp hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên
ở khu di tích Tà Thiết hậu Covid
- Đề xuất một số mô hình nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên ở khu di tích Tà Thiết hậu Covid
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tiếp cận
Phương pháp tiếp cận dựa vào hoạt động đưa ra phương pháp phân tích nhằm nghiên cứu các hình thức hoạt động ở địa phương và xây dựng các hồ sơ về thu nhập, các điều kiện giàu nghèo mà các điều kiện này có thể được sử dụng để đưa ra quyết định và tạo ra khung nhằm dự thảo và triển khai những can thiệp theo chương trình, các chính sách và các chiến lược sử dụng bền vững và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) trong khu dự trữ
Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu này là tìm giải pháp phát triển khu du lịch sinh thái gắn liền với bảo vệ thiên nhiên khu di tích lịch sử Tà Thiết từ đó đánh giá tình hình quản lý và xu hướng phát triển, bên cạnh đó đánh giá vai trò của các hoạt
Trang 38động hoạt động (trồng trọt, chăn nuôi, khai thác tài nguyên, thương mại, dịch vụ ) trong việc đáp ứng nhu cầu sinh kế các hộ dân cũng như tác động đến sự phát triểm của của khu di tích Tà Thiết Ngoài ra, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, học viên đã tiến hành phân tích đánh giá những cơ hội, thách thức do đại dịch gây ra, nhằm đề xuất các giải pháp ứng phó phục hồi, phát triển du lịch tại khu di tích Tà Thiết
Trang 39Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu Trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu này có liên quan đến việc hiểu rõ các đặc điểm kinh tế - xã hội và các điều kiện của các hộ dân khu vực căn cứ Tà Thiết Cần thiết phải xây dựng một số mô hình hoạt động mang tính bền vững với mục tiêu góp
Điều tra, thu thập số liệu
các thông tin cần thiết tại
KDT
- Các số liệu về lượng khách du lịch; Hiện trạng sử dụng đất; Sự phát triển của các doanh nghiệp,
- Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế-xã hội;
- Điều tra tình hình sinh kế người dân xung quanh KDT
Đánh giá tồn tại trong phát
triển du lịch sinh thái kết hợp
bảo tồn DLST
Đánh giá về nguồn vốn sinh
kế, hiện trạng, tiềm năng và
- Hoạt động DLST tại di tích lịch sử Tà Thiết
- Xác định tiềm năng, thách thức của KDT Tà Thiết để phát triển DLST
- Đánh giá 5 nguồn vốn sinh kết của cộng đồng dân cư
- Ứng phó phục hồi, phát triển du
- Giải pháp hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên hậu Covid
- Đề xuất một số mô hình phát triển DLST bền
Trang 40phần vào hệ thống các hoạt động của cộng đồng dân cư trong khu vực, từ đó đánh giá, đưa ra giải pháp để giúp cả thiện, phát triển sinh kế người dân địa phương Góp phần hiểu rõ hơn về sự phát triển của khu du dịch sinh thái gắn liền với di tích lịch sử Tà Thiết, ảnh hưởng đến các hình thức hoạt động sinh kế của các hộ dân trong khu vực như thế nào, đặc biệt đối với hộ nghèo Thông tin cơ bản cung cấp tư liệu về tình hình kinh tế - xã hội trong khu vực đó nhằm tìm hiểu thu nhập và phân
bố giàu nghèo, các lựa chọn hoạt động có liên quan, các rủi ro và tính dễ bị tác động cũng như mối quan hệ giữa các hộ gia đình khác nhau Thông tin kinh tế hộ gia đình
về các nguồn lương thực, các nguồn thu nhập và chi tiêu giúp cho việc phân tích các chiến lược hoạt động, tính bền vững, những khó khăn cản trở và cơ hội để cải thiện hoạt động trong tương lai
2.2.2 Phương pháp cụ thể
2.2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập số liệu thứ cấp
Thông qua các báo cáo hằng năm cấp tỉnh, huyện, cấp xã và số liệu thu thập từ các
dự án nghiên cứu trước, số liệu báo cáo năm từ xã Lộc Thành và xã Lộc Thịnh huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Các số liệu thứ cấp cần thu thập bao gồm: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, ngành nghề, lao động…
Thu thập số liệu sơ cấp
Chủ yếu sử dụng phương pháp phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn nông hộ, các bộ quản lý cấp xã, các cuộc phỏng vấn sâu cán bộ xã sử dụng những câu hỏi định tính Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân để thảo luận với người dân để quyết định các vấn đề phát triển