Đặc biệt, phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật quốc tế và theo pháp luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
BÙI NGỌC THẢO VY
NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật quốc tế
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
BÙI NGỌC THẢO VY
NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 5 2 3 8 0 1 0 8
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC ThS BÙI THỊ HẢI ĐĂNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của giảng viên Bùi Thị Hải Đăng Những sự kiện, số liệu, trích dẫn đều được ghi nguồn chính xác và phù hợp với quy định Mọi ý kiến, quan điểm, kết luận trong khóa luận này là của tác giả và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực và khoa học của khóa luận tốt nghiệp này
Người cam đoan
Bùi Ngọc Thảo Vy
Trang 4LỜI TRI ÂN
Tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành và sự tri ân đến thầy cô khoa Luật trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã cho em nhiều kiến thức trong quá trình học tập Đặc biệt xin gửi lời cám ơn chân thành sâu sắc nhất đến giảng viên Bùi Thị Hải Đăng đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn để tác giả hòan thành được bài khóa luận này
Khóa luận tốt nghiệp này là thành quả của những năm tháng tác giả học tại trường Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình làm luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi một vài sai sót vì vậy mong thầy cô bỏ qua Đồng thời, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để có thể hoàn thành bài luận văn tốt đẹp hơn
Kính chúc quý thầy cô nhiều sức khỏe và công tác tốt
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 05 năm 2021
Trang 5MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU……….………1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ………6 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế…………6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế………6 1.1.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế……… 11
1.2 Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế……….…12
1.2.1 Nghĩa vụ của bên bán……….13 1.2.2 Nghĩa vụ của bên mua……… ……… 19 1.2.3 Thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế……….23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……….27 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ……… 28 2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế………28
2.1.1 Một số tranh chấp về nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế… 28 2.1.2 Đánh giá chung thực tiễn trong việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế………38
2.1.3 Một số hạn chế trong việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế………39
Trang 62.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế……… ………41
2.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ quan có thẩm quyền………41
2.2.2 Một số kiến nghị với các chủ thể khác……… 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……….……46
KẾT LUẬN……… 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS 2015 Bộ luật Dân sự năm 2015
LTM 2005 Luật thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017, 2019)
Công ước Viên 1980 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
Bộ nguyên tắc Unidroit Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương
mại quốc tế HĐMBHH Hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đang giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Chính vì vậy, việc nghiên cứu nhằm nắm rõ kiến thức về mua bán hàng hóa quốc tế trở nên hết sức quan trọng và cần thiết Năm
2020 ghi nhận nỗ lực mạnh mẽ của hoạt động xuất, nhập khẩu trong bối cảnh nền kinh
tế trong nước và thế giới chịu tác động tiêu cực từ dịch Covid-19 và sự đứt gãy thương mại toàn cầu Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020 ước tính đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 281,5 tỷ USD, tăng 6,5%; nhập khẩu hàng hóa đạt 262,4 tỷ USD, tăng 3,6%1 Cán cân thương mại hàng hóa năm 2020 ước tính xuất siêu 19,1 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 20162
Để đạt được những thành tựu đó, Việt Nam đã không ngừng cải cách sâu rộng và toàn diện nền kinh tế và xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt là hoạt động mua bán hàng hóa Một số văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò quan trọng điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế có thể kể đến là Bộ Luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015), Luật thương mại năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung
2017, 2019) (LTM 2005) Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980), là thành viên thứ
84 của điều ước quốc tế quan trọng này3
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại hợp đồng phức tạp, có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tranh chấp giữa các bên trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua
1 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2019 đạt 517,7 tỷ USD, tăng 7,7% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 264,3 tỷ USD, tăng 8,4%; nhập khẩu đạt 253,4 tỷ USD, tăng 6,8%
2 Giá trị xuất siêu các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: 1,6 tỷ USD; 1,9 tỷ USD; 6,5 tỷ USD; 10,9 tỷ USD; 19,1 tỷ USD
3 Truy cập lần cuối ngày 14 tháng 5 năm 2021, từ < tro-thanh-thanh-vien-thu-84-cua-cisg>
Trang 9https://trungtamwto.vn/chuyen-de/8401-viet-nam-chinh-thuc-bán hàng hóa quốc tế Để hạn chế những rủi ro và tranh chấp phát sinh, các bên cần hiểu
rõ quy định về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Xuất phát
từ nhận thức, thực tiễn và tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và quốc
tế ” để làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, một số công trình nghiên cứu liên quan đến nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, phân tích một số điều khoản cụ thể của Công ước Viên 1980 dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến như sau:
- Peter Schlechtriem (2004) CISG-AC Opinion no 4, Contracts for the Sale of
Goods to Be Manufactured or Produced and Mixed Contracts Universidad
Carlos III de Madrid Spain;
- Harry M Flechtner (2008) The United Nations Convention on contracts for the
international sale of goods, Lecture I: purposes, background, history, nature, scope and application University of Pittsburgh School of Law USA;
- Jorge Ivan Salazzar Tamer (2014) The CISG Remedies of Specific Performance,
Damages and Avoidance, Compared to the Equivalent in the Mexican Law on Sales ProQuest Information and Learning Company Mexico;
- Martin Davies, David V Snyder (2014) International Transactions in Goods:
Global Sales in Comparative Context Oxford University Press United
Kingdom;
- Nguyen Anh Tuan (2020) Sale and storage of goods in Vietnam: overview
Thomson Reuters United Kingdom
Tại Việt Nam, một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và cũng là cơ sở cho tác giả học hỏi và tham khảo như:
- Trần Văn Phán (2018) “Pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế” Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật – Đại
học Huế
Trang 10- Trần Thùy Linh (2009) “ Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với
hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 – So sánh với pháp luật Việt Nam” Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội
- Tạp chí Luật học số 11 năm 2008 “ Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới” của Vũ Thị Lan Anh
Nhìn chung, các công trình trên chưa chuyên sâu về nghĩa vụ của các bên trong HĐMBHH quốc tế Điểm mới của đề tài này nghiên cứu khái quát nhất về các nghĩa vụ
cơ bản của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để giúp các doanh nghiệp tránh các trường hợp vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng Đồng thời, việc nghiên cứu các vụ việc thực tiễn có liên quan cũng là điều cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn cho Việt Nam trong giai đoạn hiện tại
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề pháp lý cơ bản về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và quốc tế, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó Từ các vấn đề pháp lý và thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ của các bên trong HĐMBHHQT, cụ thể như Bộ luật dân sự 2015 (sau đây viết tắt là BLDS 2015) và Luật Thương mại 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019) (sau đây viết tắt là LTM 2005) và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác Ngoài
ra, tác giả còn nghiên cứu đề tài dựa theo quy định của Công ước viên 1980 và một số điều ước quốc tế khác
4 Mục đích nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài với mục đích làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý và thực tiễn về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật
Trang 11quốc tế và Việt Nam, đồng thời đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về vấn đề này
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng như: phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, thống kê nhằm nhằm làm sáng tỏ các vấn đề pháp
lý và thực tiễn để đề xuất ý kiến cá nhân Đặc biệt, phương pháp phân tích được sử dụng
để làm rõ các quy định của pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật quốc tế và theo pháp luật Việt Nam Phương pháp so sánh được sử dụng để nêu những điểm khác biệt về nghĩa vụ của các bên trong HĐMBHH theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Thông qua các phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong
HĐMBHH và từ đó rút ra được những kiến nghị phù hợp
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế Đồng thời, thông qua thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tác giả đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào mối quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế Ngoài ra, khóa luận có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho học viên, sinh viên và
những ai quan tâm và nghiên cứu đề tài này
Trang 12- Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ 1.1 Những vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận4 Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng
có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Điều 428 Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Hàng hóa theo khoản 2 Điều 3 LTM 2005 được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và những vật gắn liền với đất đai Như vây, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (HĐMBHHQT) là dạng hợp đồng được các chủ thể của quan hệ thương mại quốc tế sử dụng phổ biến trong các hoạt động thương mại của mình HĐMBHHQT được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia khác nhau, các điều ước quốc tế liên quan và trong nhiều trường hợp liên quan đến cả tập quán
4 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luật thương mại Việt Nam, Điều 3, Khoản 8
Trang 14thương mại quốc tế5 HĐMBHHQT mang các đặc trưng cơ bản hợp đồng hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài Tính quốc tế hay đặc điểm có yếu tố nước ngoài của quan hệ chính là điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường Yếu tố nước ngoài có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia cũng như trong pháp luật quốc tế, nhưng nhìn chung các yếu tố liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể liên quan đến nơi xác lập hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng6 Thông thường, HĐMBHHQT được ký kết giữa các bên trong hợp đồng có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau7
Công ước Viên 1980 quy định rằng hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng được
ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, nếu như các quốc gia này tham gia công ước hay luật của quốc gia tham gia công ước được áp dụng phù hợp với những quy phạm của luật tư pháp quốc tế Đồng thời, việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ
sẽ gặp khó khăn trong trường hợp khi các bên có nhiều trụ sở thương mại Điều 10 của Công ước quy định “Nếu một bên có hơn một trụ sở thương mại trở lên thì trụ sở thương mại của họ sẽ được coi là trụ sở nào đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và đối với việc thực hiện hợp đồng đó, có tính tới những tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự đoán được vào bất kỳ lúc nào trước hoặc vào thời điểm hợp đồng Nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ.”8
1.1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
HĐMBHH có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các bên, gồm bên bán và bên mua, có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau Các bên trong hợp đồng
5 Đại học quốc gia thành phố TP HCM (2007), Giáo trình luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB Đại học quốc
gia TP.HCM, tr.6
6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật thương mại quốc tế, NXB CAND, Hà Nội, tr.207
7 Đại học quốc gia thành phố TP HCM (2007), Giáo trình luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB Đại học quốc
gia TP.HCM, tr.172
8 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 10
Trang 15này là thương nhân Thương nhân theo nghĩa thông thường được hiểu là những người
trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại Trong LTM 2005 quy định “thương
nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại
chức kinh tế là thương nhân kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp từ cơ quan có thẩm quyền Ngoài ra, thẩm quyền ký kết HĐMBHHQT của thương nhân sẽ do pháp luật của quốc gia nơi thương nhân được thành lập, dẫn đến hệ quả là pháp luật của các quốc gia khác nhau sẽ có những quy định không giống nhau về thẩm quyền được ký kết trong HĐMBHHQT
Thứ hai, đối tượng của HĐMBHHQT là hàng hóa Như đã đề cập, pháp luật Việt Nam quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai10 Trong thực tế, HĐMBHHQT thì hàng hóa được dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác Do đó, hàng hóa trong HĐMBHH quốc tê bắt buộc phải là động sản (bao gồm cả động sản sẽ hình thành trong tương lai) Theo khái niệm được đề cập trong Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code) là tất cả các vật (bao gồm cả những hàng hóa sản xuất đặc biệt) mà có thể chuyển dịch vào thời điểm xác định đối với HĐMBHH ngoại trừ tiền dùng để thanh toán trong hợp đồng, các chứng khoán đầu tư và các vật đang trong quá trình kiện tụng Hàng hóa cũng bao gồm con chưa sinh ra của động vật, mùa màng đang phát triển và những vật xác định khác gắn liền với hiện thực11 Mặt khác, vì tính chất dịch chuyển của hàng hóa trong HĐMBHHQT mà việc xác định thời điểm chuyển dịch rủi ro với hàng hóa càng được các bên trong hợp đồng quan tâm Điều cần lưu ý hàng hóa là đối tượng của HĐMBHH quốc tế phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật nước xuất khẩu hoặc nước nhập khẩu hàng hóa đó
9 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luât thương mại Việt Nam, Điều 6, Khoản 1
10 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luât thương mại Việt Nam, Điều 3, Khoản 1
11 Trần Thái Dương (2015) “ vấn đề xác định luật áp dụng về thời điểm chuyển dịch rủi ro đối với hàng hóa trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong pháp luật Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu” Luận văn thạc sĩ Đại học
Luật TP.HCM
Trang 16Ngoài ra, theo quy định của Công ước Viên 1980 thì công ước cũng không được
áp dụng để điều chỉnh việc mua bán các loại hàng hóa sau đây: hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi bên bán, vào bất cứ lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng, không biết hoặc không cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế; bán đấu giá; để thi hành luật hoặc văn kiện
uỷ thác khác theo luật; các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ; tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí; điện năng”12 Thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là đồng tiền của nước xuất khẩu hoặc của nước nhập khẩu hoặc của nước thứ ba Đồng tiền thanh toán có thể trùng hoặc không trùng với đồng tiền tính giá Khi đồng tiền thanh toán
và đồng tiền tính giá là hai đồng tiền khác nhau, cần xác định tỷ giá quy đổi hai đồng tiền này Đặc biệt, các bên cần lưu ý lựa chọn tỷ giá của công cụ thanh toán nào, tỷ giá mua vào hay tỷ giá bán ra… Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong Liên minh châu Âu (EU) sử dụng đồng Euro làm đồng tiền chung Ngoài ra, viêc thanh toán trong HĐMBHHQT tại Việt Nam cần tuân thủ các quy định của Pháp lệnh Ngoại hối năm
2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013)
Thứ tư, ngôn ngữ của HĐMBHHQT thường được ký kết bằng tiếng nước ngoài, trong đó phần lớn là được ký bằng tiếng Anh Điều này đòi hỏi các bên phải giỏi ngoại ngữ Thông thường, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được lập thành nhiều bản với những ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên, để có thể dịch giống nhau hoàn toàn giữa các bản của hợp đồng là điều vô cùng khó Trong trường hợp có lỗi dịch thuật hay hiện tượng
đa nghĩa sẽ dẫn đến việc các bản hợp đồng có các cách hiểu khác nhau, từ đó xảy ra tranh chấp giữa các bên Vì vậy, khi soạn thảo hợp đồng thành hai hay nhiều ngôn ngữ khác nhau, một chú ý vô cùng quan trọng là phải ghi rõ bản tiếng nước nào được sử dụng để làm căn cứ khi có sự không thống nhất cách hiểu về từ ngữ trong HĐMBHHQT BLDS
2015 và LTM 2005 không có quy định cụ thể về ngôn ngữ hợp đồng Có thể hiểu là các bên
12 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 2
Trang 17ký kết có thể tự lựa chọn ngôn ngữ hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định riêng về ngôn ngữ hợp đồng trong một số quy định khác13
1.1.1.3 Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài nội dung của hợp đồng, gồm tổng hợp các hình thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng 14 Theo quy định
của Công ước Viên 1980, tại Điều 11 thì “hợp đồng mua bán không cần phải được ký
kết hoặc xác lập bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân
Điều 12 và Điều 96 Công ước cho phép thành viên của công ước bảo lưu và được yêu cầu hợp đồng phải có hình thức bằng văn bản
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khoản 2 Điều 27 LTM 2005 quy định:
“Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc
hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”16 Các hình thức có giá trị pháp lý tương
đương ở đây bao gồm “điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác
những hợp đồng ký theo hình thức số hóa (thỏa thuận mua bán hàng hóa bằng bản fax, thư điện tử…) có giá trị pháp lý như ký bằng văn bản Thực chất, đây chính là hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết dưới dạng hợp đồng điện tử18
13 - Về ngôn ngữ tố tụng tại Tòa án: Tiếng Việt là bắt buộc ( Điều 20 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
- Về ngôn ngữ sử dụng trong văn bản giao dịch với cơ quan thuế Việt Nam: Khoản 4 Điều 5 Thông tư số BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính quy định ngôn ngữ được sử dụng trong hồ sơ thuế là tiếng Việt
- Về ngôn ngữ sử dụng trong kế toán: Khoản 1 Điều 11 Luật Kế toán năm 2015
- Về ngôn ngữ sử dụng trong hóa đơn hàng hóa, cung ứng dịch vụ: điểm k) khoản 1 Điều 3 Thông tư BTC quy định: “k) Hóa đơn được thể hiện bằng tiếng Việt
26/2015/TT-14 Lê Minh Hùng (2010), “Hiệu lực pháp luật của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận án Thạc
sĩ, Đại học Luật TP.HCM, tr.51
15 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 11
16 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luât thương mại Việt Nam, Điều 27, Khoản 2
17 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luât thương mại Việt Nam, Điều 3, Khoản 15
18 Luật Giao dịch điện tử (2005), quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ
liệu”, Điều 33
Trang 181.1.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Xuất phát từ chủ quyền quốc gia trong công pháp quốc tế, khi một quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài liên quan đến bao nhiêu quốc gia thì về nguyên tắc có bấy nhiêu
hệ thống pháp luật đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đó Trong khi mỗi quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau Từ đó dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác Do vậy, HĐMBHH quốc tế có thể được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia khác nhau Các bên ký kết HĐMBHHQT có thể chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng Đồng thời việc lựa chọn luật phải thỏa mãn các điều kiện chọn luật Trong trường hợp các bên không đáp ứng điều kiện chọn luật hoặc không chọn luật
áp dụng cho hợp đồng thì các quy tắc của tư pháp quốc tế được áp dụng để chọn ra hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng khi cần thiết Các nguồn điều chỉnh HĐMBHHQT
cụ thể như sau:
Thứ nhất, điều ước quốc tế Đây là một hình thức chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế do các quốc gia thỏa thuận Các quốc gia sau khi ký kết điều ước quốc tế với nhau phải thi hành đúng những gì đã được cam kết Điều ước quốc tế có giá trị áp dụng trên lãnh thổ của các quốc gia tham gia ký kết điều ước.Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, các điều ước được sử dụng phổ biến như Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước Hamburg năm 1978 của Liên Hợp quốc về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
Thứ hai, pháp luật quốc gia Đây là nguồn đóng vai trò quan trọng và được áp dụng cho HĐMBHHQT khi các bên ký kết hợp đồng thoả thuận chọn để điều chỉnh hợp đồng
Theo pháp luật Việt Nam, “các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn
19 Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015, Điều 683, Khoản 1
Trang 19luật áp dụng đối với hợp đồng với điều kiện việc thay đổi đó “không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật
áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý” 20 Như vậy, đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài21 là các bên được quyền tự do lựa chọn pháp luật mà không cần phân biệt đó
là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng cung cấp dịch vụ nếu đáp ứng các điều kiện chọn luật
Thứ ba, tập quán thương mại quốc tế Bên cạnh pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế cũng là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tập quán thương mại quốc tế là những thói quen thương mại được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài, được hình thành lâu đời, được nhiều nước công nhận và được áp dụng rộng rãi trong những hoạt động thương mại nhất định Hiện nay, thương nhân thường lựa chọn tập quán thương mại quốc tế là Incoterms (phiên bản mới nhất là Incoterm 2020) của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến giao nhận hàng hóa trong HĐMBHHQT
1.2 Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Khái niệm nghĩa vụ theo nghĩa chung nhất là việc mà theo quy định của pháp luật hay vì đạo đức mà bắt buộc phải làm hoặc không được làm đối với xã hội, đối với người khác Theo cách hiểu này thì nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia.Điều 274 BLDS 2015 quy đinh: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thế khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”
20 Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015, Điều 683, Khoản 6
21 Quôc hội (2015), Bộ luật Dân sự, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015, Điều 663, Các căn cứ để xác định hợp
đồng có yếu tố nước ngoài
Trang 20Trong HĐMBHHQT, bên cạnh những quyền và nghĩa vụ do bên bán và bên mua thỏa thuận thì còn có những quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Nghĩa vụ cơ bản của bên bán bao gồm: nghĩa
vụ bảo đảm quyền sở hữu và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, nghĩa vụ giao hàng, nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Bên mua có nghĩa vụ cơ bản: nghĩa vụ nhận hàng, nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
1.2.1 Nghĩa vụ của bên bán
1.2.1.1 Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa
Bên bán không những phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu mà còn phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa cho bên mua Điều 42 Công ước Viên 1980 quy định bên bán có nghĩa vụ giao hàng không bị ràng buộc bởi bất kỳ quyền hạn nào của bên thứ ba trên cơ sở sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ khác mà bên bán đã biết hoặc không thể không biết vào thời điểm ký kết hợp đồng, với điều kiện với các quyền hạn đó được hình thành trên cơ sở sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ khác Bên bán sẽ không bị ràng buộc các nghĩa vụ trên nếu rơi vào trường hợp: “vào lúc
ký kết hợp đồng, bên mua đã biết hoặc không thể biết về sự hiện hữu của quyền lợi hay yêu sách nói trên hoặc là quyền lợi hay yêu sách bắt nguồn tự sự kiện bên bán đã tuân theo các bản thiết kế kỹ thuật, hình vẽ, công thức hay những số liệu cơ sở do bên mua cung cấp”22 Điều 45, Điều 46 LTM 2005 quy định cụ thể nghĩa vụ của bên bán để đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa và bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa23 Quy định này cho thấy sự thống nhất giữa pháp luật Việt Nam và quốc tế và phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại ở nước ta
Bên cạnh đó, theo Điều 62 LTM 2005, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua từ thời điểm chuyển giao hàng hóa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa có thể diễn ra ở những thời điểm
22 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 42
23 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luật Thương mại, Điều 45,46
Trang 21khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của việc chuyển giao hàng hóa và phương thức mua bán Trong HĐMBHHQT, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho bên mua khi bên bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng Nói cách khác, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa theo quy định của pháp luật là thời điểm bên mua nhận được hàng hóa từ bên bán
Tuy nhiên, có trường hợp khác mà thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa không phải là thời điểm bên mua nhận được hàng hóa từ bên bán Chẳng hạn, trường hợp mua bán hàng hóa theo phương thức mua sau khi sử dụng thử thì trong thời hạn dùng thử, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên bán; nhưng trong thời gian dùng thử quyền
sở hữu hàng hóa của bên bán bị hạn chế, trường hợp hàng hóa được mua bán theo phương thức trả chậm, trả dần thì bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với hàng hóa
đã giao cho đến khi bên mua trả đủ tiền LTM 2005 cũng đưa ra các quy định để làm rõ
“thời điểm hàng hóa được chuyển giao” thông qua các trường hợp cụ thể về thời điểm
chuyển rủi ro hàng hóa được quy định từ Điều 57 đến Điều 61
1.2.1.2 Nghĩa vụ giao hàng
Thông qua việc giao hàng, bên bán thực hiện nghĩa vụ của mình với bên mua trong HĐMBHHQT với các nghĩa vụ cụ thể như:
Giao hàng đúng thời hạn: bên bán có nghĩa vụ giao hàng và các chứng từ có liên
quan đến hàng hoá cho bên mua theo đúng thoả thuận trong hợp đồng về thời gian Các bên thường thỏa thuận về thời điểm giao hàng trong hợp đồng Nếu các bên không thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng thì áp dụng quy định của pháp luật hoặc theo tập quán Nếu các bên không thỏa thuận về thời điểm giao hàng cụ thể mà chỉ nêu thời hạn giao hàng thì bên bán có thể giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho bên mua Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì theo quy định tại Điều 37 LTM 2005, bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng và cần thông báo trước cho bên mua24 Như vậy, nghĩa vụ giao
24 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luật Thương mại, Điều 37
Trang 22hàng của bên bán cũng bao gồm cả một số quyền nhất định, đó là quyền được giao hàng vào “bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn” và được quyền giao “trong một thời hạn hợp
lý sau khi giao kết hợp đồng” và phải thông báo cho bên mua Điều đó cho thấy, trong việc giao hàng, bên bán nắm quyền chủ động nhiều hơn Quy định này cũng phù hợp với tinh thần của Công ước viên 1980
Theo quy định tại Điều 33 Công ước Viên 1980 thì bên bán phải giao hàng đúng thời gian đã quy định trong hợp đồng, nếu hợp đồng không quy định cụ thể về thời gian giao hàng thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng được ký kết Về việc giao hàng đúng thời hạn Bộ nguyên tắc UNIDROIT tại điều 6.1.1 cũng có quy định tương tự Tuy nhiên, có một điểm khác biệt cơ bản giữa hai văn bản pháp lý này về thời hạn giao hàng mà chúng ta cần chú ý đó là: theo quy định của Công ước Viên 1980 (Điều 33) thì bên bán phải giao hàng trong khoảng thời gian được hợp đồng ấn định hoặc có thể xác định từ hợp đồng vào bất kì thời điểm nào trong thời hạn
đó, trừ khi tình huống cho thấy bên bán (nghĩa là chính bên có nghĩa vụ) phải chọn một
ngày khác Trong khi đó theo quy định tại điều 6.1.1 Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 thì bên có nghĩa vụ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình vào một thời điểm bất
kỳ trong một khoảng thời gian xác định, nếu khoảng thời gian đó được ấn định trong hợp đồng hoặc có thể xác định được căn cứ vào hợp đồng, trừ trường hợp do hoàn cảnh mà việc lựa chọn thời điểm thực hiện hợp đồng do bên kia (nghĩa là bên có quyền) quyết định
Như vậy, cùng một hoàn cảnh, nhưng theo quy định của Công ước Viên thì bên bán (bên có nghĩa vụ) sẽ là bên có quyền thay đổi thời điểm thực hiện hợp đồng (thời điểm giao hàng); trong khi đó theo quy định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 thì bên mua (bên có quyền) mới là bên có quyền thay đổi thời điểm thực hiện hợp đồng (thời điểm giao hàng) Theo quan điểm cá nhân của tác giả, quy định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT sẽ phù hợp hơn Bởi lẽ, khi bên mua là bên có quyền thay đổi thời điểm thực hiện hợp đồng sẽ chủ động hơn trong việc chuẩn bị kho bãi, nhân công, thời gian để tiếp nhận hàng hóa một cách linh động và đạt hiệu quả trong công việc Tránh trường hợp
Trang 23bên bán giao hàng sớm trước thời hạn giao hàng bên mua sẽ không chủ động được các công việc trên dẫn đến bên bán sẽ tốn thêm chi phí vận chuyển, nhân công
Giao hàng đúng số lượng và chất lượng: Điều 35 Công ước Viên 1980 quy định
bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng và chất lượng mà các bên đã quy định trong hợp đồng, đồng thời phải được đóng trong bao bì thích hợp như hợp dồng đã quy định, và phải đảm bảo chất lượng hàng hóa Nếu hợp đồng không quy định cụ thể thì hàng hóa được coi là không đúng quy cách phẩm chất khi: (1) hàng không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại thường đáp ứng, hoặc hàng không phù hợp với bất kỳ mục đích nào mà bên bán đã cho bên mua biết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lúc ký hợp đồng; (2) hoặc hàng không phù hợp với hàng mẫu (trong trường hợp bán hàng theo mẫu) mà bên bán đã cung cấp cho bên mua; (3) hoặc hàng không được đóng trong bao bì theo cách thông thường cho những mặt hàng cùng loại đề bảo vệ hàng đó LTM 2005 quy định nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có quyền từ chối nhận hàng25 và bên bán có nghĩa vụ khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng và khi thực hiện việc khắc phục các chi phí phát sinh sẽ do bên bán chịu26
Một ví dụ về nghĩa vụ giao hàng như sau: Bên bán là Công ty TNHH Cactus ký HĐMBHHQT với bên mua Alliance Fashion Star Group Ltd Hai bên thống nhất thỏa thuận nội dung:
STT Tên hàng
Đơn
vị tính
Số lượng
Thời gian xếp hàng lên tàu
Cảng xếp hàng
Cảng đích Vận
chuyển
Ghi chú
01
Giày thể
thao Cactus
Comfycus
Old Skool
Đôi 1000
15h30 ngày 27/10/2020
Cảng Cát Lái
Cảng Lyttelton
Tàu XXL
Ideal-25 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luật Thương mại, Điều 39
26 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luật Thương mại, Điều 41
Trang 241 Phương thức giao hàng: giao hàng một lần
2 Thông báo trước khi giao hàng: Trong vòng 07 ngày trước ngày tàu rời Cảng xếp hàng, bên bán phải thông báo cho bên mua bằng Fax với nội dung sau: Số hợp đồng,
số L/C, tên hàng, số lượng hàng, giá trị hàng, thời gian dự kiến tàu rời cảng
3 Thông báo giao hàng: Trong vòng 03 ngày làm việc tính từ khi tàu rời cảng (được hiểu là ngày ký phát vận đơn), Bên bán phải thông báo cho bên mua bằng Fax với nội dung sau: Số hợp đồng, số L/C, tên hàng, số lượng, số kiện, trọng lượng và kích thước từng kiện Tổng trọng lượng, giá trị hóa đơn, Tên tầu, cơ và quốc tịch tầu, số vận đơn, thời gian dự kiến tầu tới đích
4 Áp dụng Incoterms 2020: CIP Lyttelton Incoterms 2020
5 Chi phí bốc xếp: bên bán chịu
6 Quy định lịch giao nhận hàng hóa mà bên mua không đến nhận hàng thì phải chịu chi phí lưu kho bãi là 430 USD/ngày Nếu phương tiện vận chuyển bên mua đến mà bên bán không có hàng giao thì bên bán phải chịu chi phí thực tế cho việc điều động phương tiện
Với các thỏa thuận này, bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng hàng như mô tả tên hàng và việc giao nhận hàng theo thỏa thuận chi tiết của các bên
Giao hàng đúng địa điểm: Theo quy định tại Điều 31 Công ước Viên 1980 thì bên
bán phải giao hàng tại địa điểm mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp các bên không thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì bên bán phải giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên, nếu hợp đồng có liên quan đến sự vận chuyển; trường hợp khác thì bên bán có nghĩa vụ đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của bên mua tại nơi sản xuất hàng hóa hoặc tại trụ sở thương mại của bên bán tùy vào từng trường hợp cụ thể Vấn đề này cũng được quy định tương tự trong Bộ nguyên tăc UNIDROIT 2004 Theo quy định tại Điều 6.1.6 của Bộ nguyên tắc, nếu địa điểm thực hiện nghĩa vụ không được quy định trong hợp đồng hoặc không thể xác định được căn cứ vào hợp đồng thì nghĩa vụ phải được thực hiện tại trụ sở của bên có quyền, nếu là nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền;
Trang 25tại trụ sở của bên có nghĩa vụ nếu là nghĩa vụ khác Tuy nhiên, điều khác biệt giữa Bộ nguyên tắc UNIDROIT và Công ước Viên 1980 là Bộ nguyên tắc đã không dự liệu đến trường hợp giao hàng có người vận chuyển LTM 2005 quy định nếu các bên không thỏa thuận về thời điểm giao hàng cụ thể mà chỉ nêu thời hạn giao hàng thì bên bán có thể giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho bên mua Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng
1.2.1.3 Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa
Điều 36 Công ước Viên 1980 quy định bên bán có trách nhiệm chiếu theo hợp đồng và Công ước về mọi sự không phù hợp của hàng hóa khi đã chuyển giao rủi ro sang bên mua, ngay khi sự không phù hợp được phát hiện sau Đồng thời, bên bán phải chịu trách nhiệm hoàn toàn bảo đảm rằng trong một thời hạn nào đó hàng hóa vẫn thích hợp cho mục đích sử dụng thông thường hay mục đích cụ thể hoặc vẫn duy trì được những tính chất hay đặc tính đã quy định
Bên cạnh nghĩa vụ quan trọng nhất là bàn giao hàng hóa, bên bán còn có một nghĩa vụ khác, đó là bảo hành hàng hóa, tức là trong một thời hạn nhất định, bên bán phải chịu trách nhiệm về hàng hóa sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua Pháp luật quy định trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận Thời hạn bảo hành có thể do các bên tự xác định trong HĐMBHHQT, cũng có thể được pháp luật quy định Trong trường hợp pháp luật đã quy định thì thời hạn đó mang tính bắt buộc và các bên chỉ được phép thỏa thuận để thay đổi tăng thêm thời hạn Trong thời hạn bảo hành nếu bên mua phát hiện có khuyết tật của hàng hóa thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, mọi phí tổn về việc sửa chữa do bên bán chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu bên bán không sửa chữa được hoặc không sửa chữa xong trong thời hạn hai bên thỏa thuận thì bên mua
có quyền yêu cầu đổi hàng khác, giảm giá, hoặc trả lại hàng và lấy lại tiền
LTM 2005 quy định cụ thể những vấn đề về bảo hành hàng: “Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo
Trang 26nội dung và thời hạn đã thỏa thuận Bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”27 Nếu các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của BLDS 2015 từ Điều 446 đến Điều 448
1.2.1.4 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
Bên bán có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng mà đã gây ra thiệt hại cho bên mua, thì bên bán phải có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại đó Tiền bồi thường thiệt hại là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị
bỏ lỡ mà bên mua đã phải chịu hậu qua do sự vi phạm hợp đồng của bên bán gây ra Tuy nhiên, thiệt hại này không thể vượt quá tổn thất mà bên bán đã dự đoán được, hoặc buộc phải dự đoán được trong thời điểm ký kết hợp đồng theo Điều 74 Công ước Viên 1980 Liên quan đến khoản bồi thương thiệt hại, Điều 302 LTM 2005 quy định giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu
do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Như vậy, bên bán khi không giao hàng, hoặc giao hàng không đúng thỏa thuận thì có thể phải bồi thường thiệt hại cho bên mua theo tổn thất thực tế (trừ trường hợp bên bán được miễn trách nhiệm theo Điều 294 LTM 2005)
1.2.2 Nghĩa vụ của bên mua
1.2.2.1 Nghĩa vụ nhận hàng
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua phải có nghĩa vụ nhận hàng Nghĩa
vụ nhận hàng được xem là một nghĩa vụ cơ bản mà bên mua cần phải thực hiện theo thỏa thuận và thực hiện những công việc hợp lý giúp bên bán giao hàng nhanh chóng và đúng theo thời gian thỏa thuận28 Nghĩa vụ nhận hàng của bên mua được thể hiện ở hai hành
vi đó là sẵn sàng nhận hàng và tiếp nhận hàng Để thực hiện việc sẵn sàng tiếp nhận hàng, bên mua phải tiến hành chuẩn bị mọi cơ sở vật chất như phương tiện bốc dỡ, kho
27 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luật Thương mại Việt Nam, Điều 49
28 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017,2019 Luật Thương mại Việt Nam, Điều 56
Trang 27bãi nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nhận hàng Việc bên mua phải thực hiện các hành vi sẵn sàng tiếp nhận hàng không những tạo điều kiện thuận lợi cho bên bán thực hiện việc giao hàng của mình mà còn thể hiện sự tận tâm, nhiệt tình của bên mua đối với nghĩa vụ của mình Khi bên bán giao hàng tới địa điểm quy định và đặt hàng dưới sự định đoạt của bên mua, thì bên mua phải thực hiện nghĩa vụ của mình là tiếp nhận hàng29 Hai hành vi sẵn sàng tiếp nhận hàng và tiếp nhận hàng của bên mua nó vừa
là điều kiện cần thiết để cho bên bán giao hàng mà còn thể hiện một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc ký kết hợp đồng Đó là nguyên tắc trung thực, thiện chí một nguyên tắc không thể thiếu trong bất cứ hợp đồng nào được giao kết
Đồng thời, nghĩa vụ nhận hàng của bên mua phải đúng theo thời hạn được quy định trong hợp đồng, tức phải “thực hiện mọi hành vi mà người ta có quyền chờ đợi ở
họ một cách hợp lý để cho phép bên bán thực hiện việc giao hàng và tiếp nhận hàng hóa”30 Theo LTM 2005, kiểm tra hàng hoá không phải là nghĩa vụ luật định của bên mua, mà đây là quyền lợi của bên mua Bên mua có quyền thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi bên bán giao hàng theo các thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng Việc kiểm tra hàng hoá được bên mua thực hiện trước khi giao hàng nhằm phát hiện kịp thời khiếm khuyết của hàng hoá và thông báo cho bên bán tìm biện pháp khắc phục, giảm thiểu các chi phí phát sinh, đảm bảo quyền lợi cho bên mua Điều cần lưu ý nếu bên mua hoặc đại diện bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng Đồng thời, bên bán sẽ không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua hoặc đại diện bên mua đã biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp
lý sau khi kiểm tra hàng hoá, ngoại trừ những khiếm khuyết không thể phát hiện bằng biện pháp thông thường Để hạn chế những rủi ro khi thực hiện hợp đồng, bên mua nên lưu ý đến các nội dung liên quan đến thông tin chi tiết của hàng hóa, thời gian kiểm tra
29 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại quốc tế, sđd, tr.253
30 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 60
Trang 28hàng hóa của bên mua, việc thông báo của bên mua đến bên bán trong trường hợp hàng hóa có khiếm khuyết cũng như trách nhiệm của bên bán trong việc tạo điều kiện cho bên mua tiến hành kiểm tra hàng hóa và các nội dung khác tùy thuộc vào loại hàng hóa, phương thức giao hàng
1.2.2.2 Nghĩa vụ thanh toán
Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng là một trong những nghĩa vụ cơ bản nhất của bên mua đối với bên bán trong hợp đồng thương mại quốc tế nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của bên mua bao gồm việc áp dụng các biện pháp và tuân thủ các biện pháp mà hợp đồng đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán tiền hàng tại địa điểm nhất định Nếu hợp đồng không quy định cụ thể địa điểm trả tiền sẽ là nơi bên bán có trụ sở thương mại hoặc nơi giao hàng hoặc giao chứng từ nếu việc trả tiền phải được thực hiện cùng lúc với việc giao hàng hoặc chứng
từ Nếu trong hợp đồng không quy định thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải trả tiền khi bên bán đặt hàng hoá hoặc chứng từ nhận hàng dưới sự định đoạt của bên mua Có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau trong thanh toán quốc tế Dưới đây là một
số phương thức thanh toán cơ bản thường được áp dụng trong mua bán ngoại thương (sắp xếp theo mức độ rủi ro tăng dần về phía bên bán): Trả trước, Điện chuyển tiền (T/T); Thư tín dụng (L/C); Nhờ thu trả chậm (documents against acceptance - viết tắt: D/A); Nhờ thu trả ngay (Documents against Payment - viết tắt: (D/P); Thanh toán Ghi sổ31
Bên mua có nghĩa vụ trả tiền vào ngày thanh toán đã quy định trong HĐMBHHQT
mà không cần có yêu cầu hoặc việc thực hiện một thủ tục nào về phía bên bán (Điều 59 Công ước Viên 1980) Nghĩa vụ thanh toán bao gồm những nghĩa vụ sau:
31 - Phương thức thanh toán: trả trước bằng tiền mặt - thời điểm thanh toán: trước khi giao hàng
- Phương thức thanh toán: thư tín dụng (L/C) - thời điểm thanh toán: xuất trình chứng từ sau khi giao hàng
- Phương thức thanh toán: nhờ thu chấp nhận chứng từ (D/A) - thời điểm thanh toán: khi hối phiếu thương mại đáo hạn
- Phương thức thanh toán: nhờ thu đổi chứng từ (D/P) - thời điểm thanh toán: khi ngân hàng người mua nhận được bộ chứng từ
- Phương thức thanh toán: ghi sổ - thời điểm thanh toán: tùy theo ý muốn của người mua
Trang 29Nghĩa vụ thanh toán theo đúng giá cả của hàng hóa: Theo quy định tại Điều 55
Công ước Viên 1980 thì bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán theo giá
cả mà các bên đã thỏa thuận ghi trong hợp đồng Nếu hợp đồng không quy định cụ thể
về giá của hàng hóa thì giá của hàng hóa sẽ được xác định bằng cách suy đoán rằng các bên đã dựa vào giá đã được ấn định cho mặt hàng như vậy khi nó được đem bán trong những điều kiện tương tự của ngành thương mại tương tự Vấn đề cũng được quy định tương tự tại điều 5.1.7 của Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 Theo đó, khi hợp đồng không ấn định giá hoặc không đưa ra phương thức xác định giá, các bên trong hợp đồng được coi như đã hướng tới mức giá thông thường được áp dụng vào thời điểm giao kết hợp đồng tại cùng ngành hàng, cho cùng công việc thực hiện trong hoàn cảnh tương tự, hoặc nếu không có mức giá này thì hướng tới mức giá hợp lý Theo quy định của LTM
2005, trừ các bên tham gia ký kết hợp đồng có thỏa thuận khác, bên mua phải thanh toán khi bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan32
Nghĩa vụ thanh toán đúng địa điểm quy định: tại Điều 57 Công ước Viên 1980
nêu khi bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo đúng địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu hợp đồng không quy định cụ thể về địa điểm thanh toán thì bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán tại trụ sở của bên bán hoặc tại nơi giao hàng, hoặc tại nơi giao chứng từ nếu việc trả tiền phải được làm cùng lúc với việc giao hàng hoặc giao chứng từ
Nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn: bên mua phải thanh toán tiền hàng theo đúng
thời gian quy định trong hợp đồng Nếu hợp đồng không quy định cụ thể về thời gian giao hàng thì bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng khi bên bán chuyển giao hàng hoặc các giấy tờ liên quan đến hàng hóa theo quy định của hợp đồng Nếu hợp đồng
có quy định về việc vận chuyển hàng thì bên bán có thể gửi hàng đi và với điều kiện là hàng hoặc giấy tờ liên quan đến hàng hóa chưa giao cho bên mua nếu bên mua chưa thanh toán tiền (theo quy định tại Điều 58 Công ước Viên 1980) Như vậy, trong trường hợp này bên mua có nghĩa vụ thanh toán trong thời gian hợp lý để nhận được hàng
32 Quốc hội (2005) sửa đổi bổ sung 2017, 2019 Luật Thương mại Việt Nam, Điều 55
Trang 301.2.2.3 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
Tương tự như đã đề cập về nghĩa vụ của bên mua, bên bán cũng có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng Theo quy định, bên mua có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bán khi bên mua không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng dẫn đến bên bán phải chịu tất cả những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của bên mua gây ra Trong trường hợp này, bên bán có quyền yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại Thiệt hại này chính là tổng số các tổn thất bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp mà bên bán phải chịu do hậu quả của việc vi phạm hợp đồng mà bên mua gây ra
1.2.3 Thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo quy định của BLDS 2015 rủi ro được hiểu là những tổn thất, thiệt hại xảy ra đối với tài sản do sự kiện bất khả kháng Rủi ro đối với hàng hóa được LTM 2005 xác định là những mất mát, hư hỏng hàng hóa Dựa trên quy định của BLDS 2015 về rủi ro
và xuất phát từ bản chất rủi ro thì rủi ro đối với hàng hóa được đề cập trong LTM 2005 phải là những mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra do sự kiện bất khả kháng Thời điểm chuyển dịch rủi ro là thời điểm bên bán không còn chịu rủi ro đối với hàng hóa nữa Đó
là thời điểm bên mua bắt đầu phải chịu rủi ro đối với hàng hóa Hệ quả trong trường hợp hàng hóa xảy ra rủi ro trước thời điểm chuyển dịch rủi ro, bên bán phải chịu rủi ro đối với hàng hóa và ngược lại Rủi ro đối với hàng hóa xảy ra từ thời điểm chuyển dịch rủi
ro thì bên mua phải chịu rủi ro đối với hàng hóa đó
Trong thực tế việc xác định bên nào chịu rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng, giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa Thời điểm chuyển dịch rủi ro là cơ sở, là ranh giới để phân định trách nhiệm của các bên trong hợp đồng Đồng thời việc xác định thời điểm chuyển dịch
rủi ro còn là cơ sở để xác định trách nhiệm mua bảo hiểm đối với hàng hóa
Các quy tắc về việc chuyển rủi ro được quy định trong Công ước Viên 1980 từ Điều 66 đến Điều 70 Tại Điều 66 quy định các hậu quả pháp lý của việc chuyển rủi ro
Trang 31liên quan đến hàng hóa khi hàng hóa được chuyển cho bên mua, ngoại trừ các mất mát
và thiệt hại xảy ra do “hành động thiếu xót của bên bán” gây ra Công ước gắn việc chuyển rủi ro với việc chuyển giao quyền chiếm hữu hàng hóa, nhưng đồng thời Công ước cũng không đề cập đến các vấn đề liên quan đến cách thức và thời điểm quyền sở hữu của hàng hóa được chuyển giao trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế Các vấn
đề này sẽ thuộc điều chỉnh của pháp luật các quốc gia thành viên
Đối với các giao dịch không được quy định tại Điều 67 và Điều 68 Công ước Viên
1980, rủi ro liên quan đến mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa sẽ được chuyển từ bên bán sang bên mua khi bên mua đã nhận hàng Trường hợp bên mua không trực tiếp nhận hàng thì rủi ro được chuyển giao tại thời điểm hàng hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt của bên mua33 Tình huống cụ thể được nêu ở Điều 67 Công ước Viên 1980, tại điều này chỉ ra hai tình huống khác nhau Tình huống thứ nhất, hợp đồng không yêu cầu hàng hóa phải được bàn giao tại một địa điểm được chỉ định, rủi ro sẽ được chuyển giao cho người vận chuyển đầu tiên34 Tình huống thứ hai, yêu cầu hàng hóa được giao tại một địa điểm cụ thể, bên bán hết trách nhiệm chịu rủi ro khi hàng hóa được giao cho bên vận chuyển tại địa điểm đã được chỉ định Tuy nhiên, việc chuyển giao rủi ro sẽ không xảy
ra cho đến khi hàng hóa được xác định rõ ràng trong hợp đồng mua bán35 Theo Công ước Viên 1980, người vận chuyển là một bên độc lập trong hợp đồng Như vậy, nếu người vận chuyển là bên bán thì rủi ro vẫn còn đối với bên này và thực tế các chứng từ liên quan đến hàng hóa được giữ lại sẽ không ảnh hưởng đến thời điểm chuyển giao rủi
ro Trường hợp khác, HĐMBHHQT được ký kết tại thời điểm hàng hóa đang trên đường vận chuyển, về nguyên tắc rủi ro được chuyển giao cho bên mua tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán với một ngoại lệ được nêu ở Điều 6836 Đồng nghĩa việc chuyển rủi ro trong bán hàng có hiệu lực hồi tố Tuy nhiên, rủi ro sẽ được hồi tố cho bên mua kể từ thời điểm bàn giao hàng hóa cho người vận chuyển đầu tiên tức bên mua sẽ chịu mọi tổn
33 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 69.1
34 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 67.1
35 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 67.2
36 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 68
Trang 32thất của hàng hóa ngay cả trước khi ký kết hợp đồng mua bán Điều đáng chú ý ngay cả khi bên bán vi phạm hợp đồng việc chuyển rủi ro vẫn không bị ảnh hưởng37 Những vi phạm được nêu ở Điều 70 là những vi phạm mà nó không phải là nguyên nhân gây ra sự mất mát hoặc thiệt hại cho hàng hóa Nếu thiệt hại gây ra do một hành động hoặc thiếu sót của bên bán rủi ro sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 66 của Công ước Viên
1980
Theo pháp luật Việt Nam, các bên đã thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro thì thời điểm chuyển rủi ro được xác định theo thỏa thuận Trong trường hợp các bên không
có thỏa thuận thì thời điểm chuyển rủi ro của hàng hóa căn cứ theo quy định tại LTM
2005 được quy định từ Điều 57, 58, 59, 60, 61 Những thời điểm chuyển rủi ro cụ thể như sau: (1) chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định, (2) chuyển rủi ro trong trường hợp không có thời điểm giao hàng xác định, (3) chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho bên nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển, (4) chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển
Từ những quy định trên có thể thấy các trường hợp chuyển giao quyền sỡ hữu hàng hóa trùng với thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa Thứ nhất, nếu các bên không thỏa thuận thời điểm giao hàng cụ thể thì thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trùng với nhau Thứ hai, khi các bên không thỏa thuận về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa thì mặc nhiên thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa trùng với thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa mua bán chỉ xảy ra theo các quy định tại Điều 57, 58, 59 LTM 2005 Những điều này đều quy định việc chuyển rủi
ro khi hàng hóa được chuyển giao theo quy định tại Điều 62 LTM 2005 Thứ ba, đối với những trường hợp được quy định tại Điều 60, 61 thì thời điểm chuyển giao rủi ro phụ thuộc vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc thời điểm vi phạm hợp đồng do không nhận hàng hóa
37 Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 70
Trang 33Nếu các bên lựa chọn điều kiện giao hàng theo Incoterm 2020, thì thời điểm chuyển dịch rủi ro theo từng điều kiện giao hàng cụ thể như sau:
- EXW: rủi ro được chuyển khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của bên mua tại địa điểm giao hàng đã thống nhất (xưởng, nhà máy, nhà kho của bên bán)
- FCA: rủi ro được chuyển khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở ( hoặc một người do bên mua chỉ định) tại địa điểm đã được chỉ định
- FAS: rủi ro được chuyển khi hàng được giao dọc mạn tàu tại cảng do bên mua chỉ định
- FOB: rủi ro được chuyển khi hàng được giao lên boong tàu
- CFR: rủi ro được chuyển khi hàng được giao lên boong tàu
- CIF: rủi ro được chuyển khi hàng được giao lên boong tàu
- CPT: rủi ro được chuyển khi hàng được giao cho người chuyên chở
- CIP: rủi ro được chuyển khi hàng được giao cho người chuyên chở
- DAT: rủi ro được chuyển khi bên bán đã dở hàng khỏi phương tiện vận tải cảng đến, giao hàng tại một điểm đến được chỉ định
- DAP: rủi ro được chuyển khi hàng hóa được đặt dưới sự định đoạt của bên mua trên phương tiện vận tải đến và sẵn sàng để dỡ hàng tại nơi đến
- DDP: rủi ro được chuyển khi bên bán đưa hàng đến điểm đến và hoàn thành nghĩa
vụ thông quan nhập khẩu
Nhìn chung, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên hoặc nguồn luật điều chỉnh trong HĐMBHHQT mà thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở hữu được xác định cụ thể trong từng trường hợp nhất định
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là dạng hợp đồng được các chủ thể của quan
hệ thương mại quốc tế sử dụng phổ biến và thường xuyên trong các hoạt động thương mại của mình Mặc dù LTM 2005 không quy định khái niệm HĐMBHHQT nhưng có thể hiểu hợp đồng này mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản hợp đồng thương mại có yếu
tố nước ngoài Tính quốc tế hay đặc điểm có yếu tố nước ngoài của quan hệ chính là điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường.Về mặt bản chất có thể thấy được các bên thống nhất với nhau ý chí rằng mục đích các bên giao kết HĐMBHH quốc tế là nhằm tìm kiếm lợi nhuận và các lợi ích kinh tế khác Điều này tạo nên bản chất của HĐMBHH quốc tế, khác với các loại hợp đồng khác, và là yếu tố cơ bản cho sự tồn tại của HĐMBHH quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ có thể được thiết lập vì lợi ích kinh tế
mà các bên hướng tới từ hợp đồng này và cũng vì lợi ích kinh tế mà các bên thực hiện hợp đồng Các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng không ngừng được
bổ sung và hoàn thiện hướng tới những quy định thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Để tránh tình trạng pháp luật của các chủ thể tham gia vào hợp đồng mua bán hàng hóa khác nhau dẫn đến xung đột pháp luật, các chủ thể nên tìm hiểu rõ những nghĩa vụ của mình khi tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Một số nghĩa vụ cơ bản của bên bán như: nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu và chuyển giao quyền
sở hữu hàng hóa, nghĩa vụ giao hàng, nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Ngược lại, bên mua cũng có các nghĩa vụ cơ bản sau: nghĩa vụ nhận hàng, nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Để hạn chế những rủi ro xảy ra, các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng cần tìm hiểu các nghĩa vụ cơ bản của mình và pháp luật nước đối tác nhằm tránh các trường hợp vi phạm các nghĩa vụ cơ bản của hợp
đồng