Chương 1 Khái quát chung về chính sách tiền tệ và các công cụ của chínhsách tiền tệ 1 Khái niệm chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngõn hàngTrung
Trang 1BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM
TRONG THỜI Kè KHỦNG HOẢNG
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phạm Mai Anh
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị nhung Lớp/khoỏ : E33
Trang 2HÀ NỘI – 6/2010
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cám ơn các thầy, các Cô giáo trong Học viện Ngoạigiao, đặc biệt là các thầy cô bộ mộn Kinh tế Quốc tế và bộ môn tiếng Pháp
đã dạy dỗ, chỉ bảo em trong suốt 4 năm học qua
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Thạc Sỹ PhạmMai Anh Nhờ có sự hướng dẫn tỉ mỉ, sự chỉ bảo quan tâm tận tình và tạođiều kiện về mọi mặt của cô mà em có thể hoàn thành đề tài khoá luận tốtnghiệp
Với kinh nghiệm còn ít ỏi và nguồn kiến thức còn hạn chế, khoá luận của
em không thể tránh được những thiếu sót Vì vậy, em rất mong có được sự
bổ sung và góp ý của các thầy cô
Em xin chân thành cám ơn
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Cuộc khủng hoảng tài chớnh Châu Á 1997-1998 đã qua đi nhưng dư õmcủa nó đối với các nước, nhất là các nước trong khu vực Đông Á thì vẫn cũntới tận ngày nay Mười năm sau đó, toàn thế giới lại được chứng kiến mộtcuộc khủng hoảng với quy mô lớn hơn, ảnh hưởng của nó cũn sõu rộng hơnnhiều lần đối với không chỉ một quốc gia, một lónh thổ, một khu vực, haymột tổ chức nào mà nào sức ảnh hưởng của nó bao trùm toàn thế giới Đó làcuộc khủng hoảng 2007-2009 Mặc dù không thể phủ nhận được rằng haicuộc khủng hoảng lớn đó đã làm chậm lại tiến trình phát triển của thế giớinhưng không vì thế mà nền kinh tế của các nước không còn lối thoát Sở dĩnhư vậy vì mỗi quốc gia khi bước vào khủng hoảng đều có những biện phápđối phó hiệu quả nhất Việt Nam cũng vậy, tuy vấp phải rất nhiều khó khănnhưng nhờ có những chớnh sách, đặc biệt là chớnh sách tiền tệ kịp thời, linhhoạt và đúng đắn mà nước ta đã từng bước vực dậy nền kinh tế và đã đạtmức tăng trưởng dương ngay cả khi khủng hoảng trầm trọng nhất Chớnh vìsức mạnh lớn lao và những hiệu quả mà các chớnh sách do Nhà nước đặt ra,nhất là chớnh sách tiền tệ mà em đã quyết định chọn đề tài trên
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài luận đi sõu vào nghiên cứu, đánh giá công cụ của chớnh sách tiền tệ
mà Việt Nam đã sử dụng trong suốt hai cuộc khủng hoảng với những mụcđích cụ thể như giảm tỷ lệ thất nghiệp hay kiềm chế lạm phát Qua đó ta cóthể rút ra được những điều mà chớnh sách tiền tệ đã làm được và nhữngđiểm hạn chế của các công cụ đó Từ những nghiên cứu trên ta có thể học
Trang 5tập cách mà các nước khác đã thực hiện để rút ra bài học và làm cho chớnhsách tiền tệ của Việt Nam ngày một minh bạch và hiệu quả hơn.
Phương pháp nghiên cứu
Bài viết đã sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phõn tích, đối chiếu
và đưa ra nhiều bảng biểu, số liệu để có thể có một cái nhìn tổng quát vàtoàn diện nhất về chớnh sách tiền tệ và hiệu quả của nó đối với nền kinh tếcủa Việt Nam Đồng thời, bài luận cũng chỉ ra những nhận định và nhữngbài học được đúc rút từ kinh nghiệm trong việc điều hành chớnh sách tiền tệcủa các nước khác nhằm hoàn thiện hơn các công cụ chớnh sách tiền tệ củachúng ta
Cấu trúc đề tài
Bài luận gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về chớnh sách tiền tệ và các công cụ của chớnhsách tiền tệ
Chương 2: Đánh giá chớnh sách tiền tệ trong việc góp phần đưa kinh tếViệt Nam thoát khỏi khủng hoảng
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và phát triển cho các công cụcủa chớnh sách tiền tệ Việt Nam
Trang 6Chương 1 Khái quát chung về chính sách tiền tệ và các công cụ của chính
sách tiền tệ
1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngõn hàngTrung ương (NHTW) khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biệnpháp của mình nhằm đạt mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việclàm, tăng trưởng kinh tế
Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theohai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúcđẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng- chính sáchtiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền,tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạmphát nhưng thất nghiệp tăng- chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)1
Trong các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ
là một trong những chính sách quan trọng nhất vỡ nú tác động trực tiếp vàolĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chínhsách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chínhsách kinh tế đối ngoại
2 Các công cụ của chính sách tiền tệ
2.1, Nghiệp vụ thị trường mở
1 http://www.kinhtehoc.com, chính sách tài chính tiền tệ, Harvey B King
Trang 7Nghiệp vụ thị trường mở là những hoạt động mua bán chứng khoán do
NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đóđiều tiết lượng tiền cung ứng2
Cơ chế tác động là khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho
cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi) Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các Ngõn hàng thương mại(NHTM) thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM(R), nếu bao gồm cả công chúng thỡ nú sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặttrong lưu thông (C)
Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nờn đõy được coi là một công
cụ rất năng động, hiểu quả, chính xác của chớnh sách tiền tệ (CSTT) vì khốilượng chứng khoán mua (bán) tỷ lệ với quy mô lượng tiền cung ứng cầnđiều chỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế Tuy vậy, vì đượcthực hiện thông qua quan hệ trao đổi nờn nú cũn phụ thuộc vào các chủ thểkhác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cầnphải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, thị trường vốn
2.2 Công cụ dự trữ bắt buộc
Công cụ dự trữ bắt buộc là số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHphải giữ lại do NHTW quy định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, khôngđược dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhấtđịnh trên tổng số tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán,
sự ổn định của hệ thống ngân hàng3
Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền
tệ (m=1+s/s+ ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các NHTM Mặt khác, khităng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các NHTM giảm
2 Hệ thống công cụ chính sách tiền tệ quốc gia trong nền kinh tế thị trường, PGS Nguyễn Võ Ngoạn
Trang 8(tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm cho lượng cung ứngtiền giảm (tăng)
Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nờn giỳp NHTW chủđộng trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rấtmạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tớimột lượng rất lớn mức cung tiền) Song tính linh hoạt của nó không cao vìviệc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnhhưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM
2.3 Công cụ cho vay tái chiết khấu
Tái chiết khấu là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đốivới các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãisuất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết khấu(cửa sổ chiết khấu)4
Cơ chế tác động là khi NHTW tăng (giảm) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạnchế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năngcho vay của các NHTM tăng (giảm) từ đó làm cho mức cung tiền trong nềnkinh tế giảm (tăng) Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiếtkhấu của minh thì thực hiện việc khép cửa số chiết khấu lại
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưaphổ biến để có thể làm công cụ tái chiết khấu) thì NHTW còn thực hiệnnghiệp cụ này thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với cácNHTM
Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người chovay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanhtoán, và có thể kiểm soát được hoạt động tín dụng của các NHTM đồng thời
4 Hệ thống công cụ chính sách tiền tệ quốc gia trong nền kinh tế thị trường, PGS Nguyễn Võ Ngoạn
Trang 9có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thôngqua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể Tuy vậy, hiệu quả của công
cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các NHTM, mặt khác mứclãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốntrên thị trường
Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới quy mô lượng tiền cungứng, trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả các công cụ nàythì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác Tuy vậy, trong nhữngđiều kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển, các giai đoạn kinh tế quỏnúng) thỡ để đạt được mục tiêu của mình, NHTW có thể sử dụng các công
cụ điều tiết trực tiếp sau:
2.4 Công cụ lãi suất:
Khái niệm: Ngân hàng trung ương đưa ra một khung lãi suất hay ấnđịnh một trần lãi suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theogiới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới quy mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW
có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình5
Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm
sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô huy động và cho vay của các NHTM làmcho lượng tiền cung ứng thay đổi theo
Đặc điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theomục tiêu của từng thời kì, điều này phù hợp với quốc gia khi chưa có điềukiện để phát huy tác dụng của công cụ gián tiếp Song, nó dễ làm mất đi tínhkhách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là “giỏ cả” củavốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong
Trang 10nền kinh tế Mặt khác, việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm chocác NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.
2.5 Công cụ hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của cácNHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhấtđịnh (một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình Việcđịnh ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêukinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng, lạm phát tiêu thụ…) sau đó NHTW sẽphân bổ cho các NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTWquy định
Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp với lượng cung tiềntương ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh
tế có quan hệ thuận chiều với quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu củaNHTM
Công cụ này giỳp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cungứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của
nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quỏ núng, tỷ lệ lạm phát quá caocủa nền kinh tế Song nhược điểm của nó rất lớn: triệt tiêu động lực cạnhtranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễphát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽtrở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho phát triển kinh tế tăng
Trang 11Phần 2 Đánh giá chính sách tiền tệ trong việc góp phần đưa kinh tế
Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng
1 Trong cuộc khủng hoảng Đông Á 1997-1998:
1.1 Bối cảnh cuộc khủng hoảng và tác động của nó tới Việt Nam
1.1.1 Bối cảnh cuộc khủng hoảng
Đông Nam Á trong một thời gian dài được đánh giá là khu vực có nền
kinh tế năng động nhất thế giới Vậy trong suốt hai năm 1997, 1998, khu vựcđược xem là “điều kỳ diệu” này lại phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài
chớnh tiền tệ với mức độ nghiêm trọng chưa từng có, và gõy ra những tác
động không thể lường hết được với hệ thống tài chớnh- tiền tệ khu vực vàtoàn cầu Cơn bóo khủng hoảng tài chớnh tiền tệ đó đựơc chõm ngòi nổ từThái Lan, một đất nước mà trong suốt ba thập kỷ rưỡi trước đó đã luôn đạttốc độ tăng trưởng cao nhất và ổn định nhất trên thế giới Từ cuối 1996, tốc
độ tặng trưởng của Thái Lan đã giảm (6,7% so với mức 8,7% năm 1995) vàthậm hụt tài khoản vóng lai cũng như nợ nước ngoài của Thái Lan lên đến
90 tỷ USD Vào tháng 5/1997, đồng Baht bắt đầu có dấu hiệu chao đảo, sức
ép giảm giá lớn Đến ngày 2/7/1997 Chớnh phủ Thái Lan buộc phải tuyên
bố thả nổi tỷ giá đồng Baht và ngay lập tức đông Baht đã bị giảm giá tới7,3% Đến đầu tháng 10/1997, tỷ giá đồng Baht là 42 Baht/USD phá giá ởmức 40% Song do nỗ lực cải cách của Chớnh phủ Thái Lan và các quỹphương Tõy nên đồng tiền Thái Lan đã dần được ổn định Đến những tháng
Trang 12cuối 1998, các đồng tiền Đông Á đều tăng giá Đông Baht tăng từ mức 39,35Baht/USD, cuối tháng 9 lên đến 36,75 Baht/USD6.
Tiếp theo Thái Lan là các nước Indonexia, Malaysia, Philippines và rấtnhiều nước khác cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Đông Rupiah của Indonexiabắt đầu tụt giá từ phiên giao dịch ngày 7/1/1998 với tỷ giá 8.400Rupiah/USD so với 7.200 Rupiah/USD vào ngày trước đó Trong tháng2/1998, Ripiah biến động dữ dội nhất so với các đồng bản tệ khác Ngày16/3/1988, đông Rupiah đã rơi giá thảm hại từ 10.500- 10.800 Rupiah/USD.Tình hình chỉ được cải thiện từ tháng 10/1998 với mức tỷ giá 7700Rupiah/USD, tăng giá 40% so với tháng 9/19887 So với hai đồng tiền củaThái lan và Indonexia thỡ đụng Ringgit của Malayxia nằm trên đồ thị vữnggiá dần dần và hầu như ít bị biến động mạnh và bất thường Trong suốttháng 3/1988, đồng Ringgit có sự biến động lên xuống Sự sụt giá mạnh nhấtcủa đồng tiền này là từ 3,622 Ringgit/USD xuống đến 4,0005 Ringgit/USD.Tuy nhiên, đến ngày 13/3/1988, đồng Ringgit lại lên giá là 3,5299Ringgit/USD Tháng 5, tháng 6 đồng Ringgit vẫn xuống giá cũn 4,475Ringgit/USD vào ngày 29/6 từ 1/9/1988, Chớnh phủ Malaysia áp dụng chế
độ tỷ giá cố định ở mức 3,8 Ringgit/USD Philippines là nước chịu ảnhhưởng sớm nhất từ cuộc khủng hoảng tài chớnh Thái Lan Gần 2 tuần saukhi Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, ngày 11/7/1997 Chớnh phủPhilippines cũng tuyên bố thả nổi đồng Peso, từ 26,40 Peso/USD xuống29,00 Peso/USD, giảm giá gần 10% Tuần từ 5/1 – 10/1/1988 thực sự trởthành tuần lễ đen tối nhất kể từ tháng 7/1997 đối với đồng Peso Ngày7/1/1998 đồng Peso đã sụt giá ở mức thấp nhất 46,5 Peso/USD so với mức
6 Sách “khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á, nguyên nhân và bài học” NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998
7 Sách “Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở khu vực Đông Á, nguyên nhân và tác động” NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999
Trang 1345,2 Peso/USD trong ngày 6/1/1998 Nửa cuối năm 1998 đồng Peso vẫntăng giảm thất thường, những tháng cuối năm, vững giá dần Tháng 11/1988đồng Peso tăng giá 2,21% so với USD Tháng 1/1999 tăng giá 1,3% sau khi
đã tăng 0,78% trong tháng 12/1998
Ngoài những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất như đã kể trên thì cũn córất nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới đều bị ảnh hưởng nhưtrong khu vực Chõu Á có Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… vàcũn nhiều quốc gia ở các khu vực khác trên thế giới
1.1.2 Tác động tới Việt Nam
Một số ý kiến cho rằng Việt Nam không chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-1998 vì thị trường tài chính của ViệtNam còn sơ khai, chưa phát triển đầy đủ để có thể hoà nhập vào thị trườngtài chính khu vực: thị trường chứng khoán chưa hình thành, các công cụ tàichính như cổ phiếu, trỏi phiếu…cũn chưa phát triển, việc đầu tư nước ngoàivào các giấy tờ có giá trong nước vẫn còn bị kiểm soát chặt chẽ nên khảnăng đầu cơ gây bất lợi cho VND còn bị hạn chế, còn đóng cửa với các nhàđầu tư nước ngoài, đồng tiền Việt Nam còn chưa là đồng tiền chuyển đổi,chưa là đối tượng đầu tư quốc tế, chế độ quản lý ngoại hối của ta cũn khỏlinh hoạt và được điều chỉnh kịp thời… Tuy nhiên, trên thực tế thì cuộckhủng hoảng diễn ra, lan rộng theo hiệu ứng domino và mức độ của nó đốivới từng nền kinh tế lại khác nhau Việt Nam tuy là một quốc gia chưa hộinhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới nhưng khi khủng hoảng
nổ ra nó cũng không đứng ngoài vòng ảnh hưởng Cuộc khủng hoảng tácđộng tới nhiều mặt trong nền kinh tế nước ta Tuy nhiên, trong nội dung đềtài này, tôi xin được trình bày tác động của nó tới một mặt cụ thể trong đờisống kinh tế, đó là lao động và việc làm
Trang 14Do tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á, sản xuất kinhdoanh giảm sút đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam tăng lên đến 7% sovới 6,01% năm 1997 và 5,7% của năm 1996 Riêng tại thành phố Hồ ChíMinh tỷ lệ thất nghiệp đã lên đến 8,6% và tại Hà Nội tỷ lệ này là 8,4% Ởkhu vực nông thôn tỷ lệ thiếu việc làm lên đến 27%, tương ứng 7,5 triệungười Năm 1988, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn mới đạt 72,9% Nếuquy đổi các trường hợp lao động thiếu việc làm ở nông thôn ra lao động thấtnghiệp, thì tỷ lệ này hoàn toàn ở khu vực nông thôn năm 1996 là 1,06%;năm 1997 là 2,2%; năm 1998 là 3%8 Từ tình trạng trên dẫn đến tình trạnglao động nông thôn kéo lên thành thị để mong kiếm được việc làm.
Trang 15Đi đôi với tình trạng trên, nguy cơ phá sản, thu hẹp mô hình kinh doanhtrong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài cũng như trong nước tăng lênđáng kể Điều đó đã làm cho tình trạng thất nghiệp càng trở nên trầm trọnghơn Số người cũn lao động cũng bị cắt giảm giờ làm và thu nhập cũnggiảm Thực vậy, theo báo cáo của 2000 doanh nghiệp Nhà nước, năm 1998
có 50 nghìn lao động bị mất việc làm, chiếm 8% tổng số lao động hiện có ởcác doanh nghiệp này Trong khu vực ngoài quốc doanh và doanh nghiệp100% vốn nước ngoài có 30.000 lao động phải ra khỏi dõy chuyền sản xuấtvào năm 1998 Một số liên doanh với nước ngoài giảm 50% số lượng laođộng như công ty Lucky, Cát Hưng của Đài Loan tại khu chế xuất TõnThuận; Upgair (Hồng Kông) và Novelty (Mỹ) tại khu chế xuất Linh Trung.Trong số 25 vạn lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI và 70 vạnlao động dịch vụ phục vụ các dự án đó, hiện có 15% lao động thiếu việc làm.Riêng ở các khu chế xuất, khu công nghiệp lên đến 25-30% Đặc biệt trongngành xõy dựng có 11.000 lao động phải nghỉ việc từ 6 tháng đến 1 năm,chiếm 10% tổng số lao động hiện có; Các ngành dệt, da, may mặc 30%, cơkhí 25%, giao thông vận tải 10-15% Trong khi đó, khả năng tài chớnh củacác doanh nghiệp và của Nhà nước hiện nay chưa thể đáp ứng được yêu cầutạo đủ việc làm cho số lao động trong các doanh nghiệp vừa bị mất việc,
Trang 16chưa nói đến số lao động vừa mới bổ sung từ các nguồn Điều này có thể lígiải nguyên nhân của sự sụt giảm GDP trong giai đoạn này (tăng trưởngGDP năm 1997: 8,16%; năm 1998: 5,85%; năm 1999: 4,89%)
Có thể kể ra đõy một nguyên nhõn sõu xa nữa khiến các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài bị ảnh hưởng lớn như vậy đó là sự biến động củathị trường ngoại hối Do hiệu ứng domino của cuộc khủng hoảng nên đồngtiền của nhiều nước trong khu vực mất giá từ 30-70% so với USD So vớiVND, tính đến năm 1998 thì mất giá khoảng 15% so với đầu năm 1997,nhưng vẫn còn cao hơn giá của các đồng tiền khác trong khu vực từ 15-40%9 Điều đó gây sức ép giảm giá mạnh đồng tiền nước ta trên thị trườnghối đoái Cuộc khủng hoảng còn tác động tới tõm lớ những nhà kinh doanh,các nhà đầu tư nước ngoài làm cho họ không an tâm về sự ổn định của VNDnên dẫn tới xu hướng đầu cơ tích trữ ngoại tệ mạnh, gây chệnh lệch cungcầu giả tạo về ngoại tệ Ngoài ra, kể từ cuối năm 1997, giao dịch trên thịtrường ngoại tệ liên ngân hàng gần như bị ngưng trệ, thực chất chỉ là thịtrường “một chiều” vì hầu như chỉ có Ngân hàng Nhà nước bán ngoại tệ chocác ngân hàng thương mại Chính những bất ổn trên thị trường ngoại hối đãtạo ra sức ép tăng tỷ giá hối đoái và gián tiếp làm trầm trọng thêm các khoản
nợ nước ngoài, đặc biệt là các khoản nợ đến hạn thanh toán Nhiều doanhnghiệp không mua được ngoại tệ hoặc phải mua với giá cao đã chịu lỗ rấtlớn Điều đó cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi giá hàng hoátrong nước không tăng nhiều
Như vậy, tuy cuộc khủng hoảng kinh tế 1997-1998 có tác động đến hầuhết mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế của nước ta nhưng tác động mạnh
mẽ và rõ nét hơn cả là làm tăng tỷ lệ người không có việc làm trong các xí
9 Sách “Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở khu vực Đông Á, nguyên nhân và tác động” NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999
Trang 17nghiệp, nhà máy Tình hình trên đòi hỏi Nhà nước ta cần có những biệnpháp cấp bách và kịp thời để mang lại những hiệu quả nhanh nhất.
Bảng 2.2:Biến động giá USD và giá hàng hoá dịch vụ năm 1997,1998
( Nguồn: Sách “khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á, nguyên
nhân và bài học”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998)
1.2 Chớnh sách tiền tệ của Việt Nam và hiệu quả của chúng tới nền kinh
tế trong thời kì khủng hoảng
Để đối phó với cuộc khủng hoảng 1997-1998 và tình trạng lao động, việclàm nói trên thì Nhà nước Việt Nam đã thực hiện một loạt các chính sáchnhằm đạt được mục tiêu là giảm tỷ lệ thất nghiệp, tao công ăn việc làm, tăngmức lương cho người lao động và giỳp cỏc công ty, xí nghiệp có vốn nướcngoài thoát khỏi thời kì khủng hoảng
háng/năm USD
Hànghoá,dịch
vụ trongnước
10/1997 0.4 0.311/1997 5.0 0.312/1997 3.7 1.0
3/1998 -0.1 -0.83/1998 so
với 8/1997
13.1 5.3
Trang 18Chính sách đầu tiên và trước nhất phải kể đến là chính sách tỷ giá Ngânhàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá một cách linh hoạt, phù hợp với cung-cầu ngoại tệ trên thị trường, trỏnh cỏc hoạt động đầu cơ, găm giữ ngoại tệ đểgây nên các cú sốc tỷ giá và đẩy các doanh nghiệp vào cảnh khó khăn.Trước tháng 3/1997 tỷ giá chính thức là 11.000 VND/USD, biên độ giaođộng cho phép là +/- 1%; đến tháng 3/1997, mở rộng biên độ dao động là+/-5%; đến tháng 10/1997, biên độ dao động tăng lên là +/-10%; ngày14/12/1998, điều chỉnh tỷ giỏ chính thức từ 11.800 VND/USD, tăng 3.8% sovới ngày trước đó; tháng 7/1998, tỷ giá chính thức được điều chỉnh lên12.998 VND/USD (tăng khoảng 10% so với tỷ giá ngày hôm trước là 11.815VND/USD, đúng bằng tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng ngàyhôm đó)10 Như vậy, việc mở rộng biên độ và việc tăng tỷ giá giữa VND vàUSD đã như một chiếc phao cứu hộ đối với các doanh nghiệp cú cỏc khoản
nợ bằng ngoại tệ và giúp cho họ có khả năng phục hồi nhanh hơn, có điềukiện mở rộng sản xuất và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nền kinh tế Lãi suất trong giai đoạn khủng hoảng đã đóng vai trò quan trọng trongchính sách của Nhà nước nhằm giỳp cỏc doanh nghiệp tăng đầu tư
10 “Thời báo kinh tế Việt Nam” số 64, ngày 12/8/1998
Trang 19hình 2.3 Mối quan hệ giữa lãi suất thực dài hạn và đầu tư
Hình 2.4 Lãi suất thực dài hạn 3 tháng và lãi suất thực dài hạn
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê)
Trang 200 4 8 12
(Nguồn: Key Indicators 2009)
Như vậy, có thể thấy rằng trong giai đoạn khủng hoảng (1997, 1998)mức lãi suất cho vay đã giảm nhiều so với thời kì trước đó để khuyến khíchvay nhiều hơn cho đầu tư và sản xuất Ngược lại, lãi suất tiền gửi và lãi từtrái phiếu được điều chỉnh theo mức tăng cao, nhất là lãi suất tiền gửi đãtăng mức đang kể từ năm 1998 so với năm 1997 Điều đó khiến các nhà đầu
tư dành nhiều tiền hơn cho các hoạt động kinh doanh thay vì mang gửi ngânhàng Chính sách lãi suất như trên có tác dụng giúp thu hút được một lượnglớn tiền nhàn rỗi vào các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tạocông ăn việc làm Trên thực tế thì suốt trong hai năm 1997, 1998 lượng cungtiền (M2) đã tăng tương ứng:
Trang 21Hình 2.6: Lượng cung tiền (M2) và tín dụng cho nền kinh tế Việt Nam từ
1995 đến 2000
(Nguồn số liệu: Key Indicators 2009)
Trong suốt thời kì khủng hoảng Nhà nước ta đã nỗ lực đưa ra nhữngchính sách tiền tệ hợp lý nhất nhằm giỳp cỏc xí nghiệp, nhà máy tạo thêmnhiều công ăn việc làm cho người lao động và đồng thời làm tăng lượngcung tiền cho nền kinh tế Vậy kết quả mà những biện pháp đó mang lại ragì? Đó có thực sự là một thành công hay không Đó là phần tiếp theo của bàiluận
Trang 22đã giảm xuống cũn 6,42%11 Và tỷ lệ đó tiếp tục giảm xuống trong nhữngnăm tiếp theo do Nhà nước đã thực hiện các biện pháp đồng bộ, hợp lý nhằmđạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và giữ được tỷ lệ người thất nghiệp ởcon số hợp lý nhất.
Bảng 2.7 Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu
vực thành thị phân theo vùng
(Nguồn: niên giám thống kê 2008)
Như vậy, ngay khi khủng hoảng nổ ra, Việt Nam đã lập tức có nhữngđánh giá đúng đắn về tình hình thế giới và những tác động tới kinh tế ViệtNam Chính vì thế, bên cạnh chính sách tài khoá, Nhà nước ta cũng không lơ
là chính sách tiền tệ và đã đặt ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được Tuykết chưa thể phục hồi ngay sau đó nhưng những kết quả đạt được cũng đãphần nào khẳng định rằng định hướng chính sách của ta là hoàn toàn hợp lý
2 Trong cuộc khủng hoảng 2007-2009
11 Sách “Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở khu vực Đông Á, nguyên nhân và tác động” NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999
Trang 232.1 Bối cạnh cuộc khủng hoảng và tác động tới Việt Nam
2.1.1 Bối cảnh cuộc khủng hoảng
Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Chõu Á, thế giới lạiđứng trước một cuộc khủng hoảng tài chớnh mà mức độ nghiêm trọng vàkhả năng tàn phá lớn hơn gấp nhiều lần Cuộc khủng hoảng này bắt nguồnkhủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ
Sau sự kiện 11/09/2001 ở Mỹ cà sự đổ vỡ của bong bóng tăng trưởngcông nghệ, Ngõn hàng Trung ương và chớnh phủ nhiều nước đã hạ lói suấtcũng như thực hiên chớnh sách ưu đãi nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Huy động vốn dễ dàng với chi phí thấp, kiểm soát định mức tín nhiệm lỏnglẻo làm cho các khoản nợ dưới chuẩn tăng lên nhanh chóng Các khoản nợnày sau đó được chứng khoán hoá, giao dịch trên thị trường tài chớnh vàđược mua bán qua nhiều trung gian khác nhau Bong bóng thị trường đượcbơm ngày càng căng do các khoản tín dụng dưới chuẩn, niềm tin mù quángvào lợi nhuận dễ dàng và sự bất khả xõm phạm của những tập đoàn tài chínhkhổng lồ Giá nhà đất bắt đầu đi xuống từ đầu năm 2007 Kì vọng của cácnhà đầu tư sụp đổ Mất khả năng thanh toán xảy ra ở một vài mắt xích trongchuỗi đi vay và cho vay
Cơn bóo tài chớnh hoành hàng khắp nước Mỹ Những tên tuổi lừngdanh như CityGoup, Merril Lynch, UBS, Deustche Bank,… đều lần lượtcông bố các khoản lỗ nặng Từ tõm bóo tại Mỹ, cuộc khủng hoảng lan nhanhchúng khắp toàn cầu và ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực trong nền kinh tế cácnước Bất động sản và thị trường chứng khoán khắp nơi sụt giảm Nợ xấutrong hệ thống ngõn hàng không ngừng tăng lên
Các ngõn hàng lớn ở Mỹ sau một thời gian xin cầm cự đã bắt đầu nộpđơn xin bảo lónh tài sản Những đế chế hùng mạnh đã đứng vững hàng trăm
Trang 24những khoản nợ dưới chuẩn trong vỏ bọc chứng khoán chu du khắp nơi trênthế giới Điều này đã khiến tất cả các nền kinh tế lớn khác như Nga, EU,Nhật Bản, Trung Quốc,… đều trở thành nạn nhõn của “cơn địa chấn tàichính” Mỹ
Học thuyết thị trường tự điều chỉnh đã không cũn đứng vững và Chớnhphủ buộc phải vào cuộc Cục dự trữ liờn bang Mỹ (FED) liên tục phải cắtgiảm lói suất và bơm tiền vào hệ thống ngõn hàng Hàng trăm tỷ USD cũngđược chớnh phủ tung vào các định chế tài chính nhằm tránh sự đổ vỡ hàngloạt Cung tiền ồ ạt vào nền kinh tế đã tạo áp lực lên lạm phát Thêm vào đó,dòng tiền đầu cơ vào các loại hàng hoá cũng góp phần đầy lạm phát lên cao
Hình 2.8 Diễn biến giá cả các nguyên liệu cơ bản 2008-2009
(ngu ồn: IMF, Primary Commodities database; and IMF staff calculation
Giá dầu liên tục tăng từ đầu năm 2008 cho tới tháng 7 với đỉnh cao là147.27USD/thùng Khi “bóng đen” suy thoái lộ diện, trước nguy cơ nhu cầutiêu dùng dầu sụt giảm, giá dầu giảm mạnh từ tháng 8 và dao động ở khoảng40USD/thùng Giá sữa và mặt hàng nông sản tăng lên gấp đôi Giá gạo thậmchí tăng gấp 3 lần, vượt qua mức 1000USD/tấn
Cuộc khủng hoảng tài chớnh đã làm sụp đổ nhiều định chế tài chớnh lớn.Phong trào phá sản đã lan sang lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng, báo hiệu thời kìkhủng hoảng kinh tế bắt đầu Các hàn thử biếu như NYSE (New York),
Trang 25Nikkei (Nhật Bản), HangSheng (Hồng Kông) liên tục sụt giảm, mạnh nhấttrong khoảng thời gian từ tháng 9 tới tháng 11.
Làn sóng phá sản và sa thải ở các doanh nghiệp khiến tỷ lệ thất nghiệptăng cao và trở thành một mối lo đối với mọi nền kinh tế Vấn đề này đặcbiệt trầm trọng ở những nước nghèo, vốn đã có nền kinh tế dễ bị tổn thứơng
Trang 26và mạng lưới xã hội kém Nguy cơ về những vụ đảo chớnh hay xung độtgiữa các khu vực hoàn toàn có thể xảy ra
2.1.2 Tác động tới Việt Nam
So với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-1998, thì cuộc khủnghoảng 2007-2008 có mức độ và quy mô rộng lớn hơn nhiều và nó tác độngtới mọi nền kinh tế trên thế giới trong đó không ngoại trừ Việt Nam Nếunhư năm 1997-1998, nền kinh tế nước ta chưa hội nhập sõu rộng vào nềnkinh tế thế giới thì ngày nay, kinh tế Việt Nam đã trở thành một bộ phậnkhông thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu, nhất ra sau khi Việt Nam gia nhậpWTO (ngày 7/11/2006) Chớnh vì lẽ đó nên những hiệu ứng của cuộc khủnghoảng chi phối mọi mặt trong đời sống kinh tế nước ta từ năm 2007 tới tậnhiện nay nhưng có thể thấy rừ nhất tác động này là vào năm 2008
Trước tiên phải kể đến tỷ lệ lạm phát trong hai năm 2007, 2008 Nước tasau nhiều năm liền kiềm chế được lạm phát ở một con số (1995-2006) thìđến năm 2007, tỷ lệ lạm phát lại tăng lên ở mức hai con số
Hình 2.10Tốc độ tăng trưởng và lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1990
đến 2008
Trang 27(Nguồn: bài viết “Monetary policy in Vietnam: in case of a transition
country, Ulrich Camen và nguồn số liệu từ IMF)
Năm 2007, tốc độ tăng trưởng nước ta đạt gần 8,5%, cao nhất từ trước tớinay Do tăng trưởng núng như vậy nên kốm theo đó là tỷ lệ lạm phát cao gần13%
Sang đến năm 2008, có thể nói rằng suốt 10 tháng đầu năm 2008, nềnkinh tế Việt nam được đặc trưng bởi từ “lạm phỏt” Chỉ số giá tiêu dùng(CPI) tháng 5 tăng gần 4%, nâng CPI trong 5 tháng đầu năm lên mức caonhất trong vòng 12 năm qua, đạt 15,96% Lạm phát chạm ngưỡng 20%, vàtính đến tháng 10/2008, lạm phát đã lên tới mức 22.3% Lạm phát tăng cao,Quốc hội đã nhất trí hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8,5 - 9% xuống còn7%12 Có thể nói trong một thời gian dài Nhà nước hầu như chỉ chú trọngvào mục tiêu tăng trưởng kinh tế nờn đó làm cho lượng tiền gần đây nềnkinh tế nước ta đã phát triển quỏ núng trong lưu thông lớn tương đối so vớilượng hàng hóa Thêm vào đó là những tác động từ cuộc khủng hoảng trênthị trường thế giới: giá dầu thế giới tăng cao (hình 2.8) khiến cho giá xăngdầu trong nước cũng biến động theo chiều hướng tăng theo; giá lương thựctrong nước tăng cao, có thời điểm từ 50% đến 100% (vào khoảng tháng 3,4), đến tháng 5 thì giá gạo đã giảm nhưng vẫn tăng từ 15% đến 20% so vớithời điểm sốt gạo; Ngoài ra, giá các nguyên vật liệu đầu vào trên thị trườngthế giới tăng mạnh cũng là nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao
Giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng trước giảm 0,68%, trong
đó cỏc nhúm hàng hoá và dịch vụ có giá giảm là: Hàng ăn và dịch vụ ănuống giảm 0,13%, trong đó lương thực giảm 2,36%; nhà ở và vật liệu xâydựng giảm 2,36%; phương tiện đi lại, bưu điện giảm 6,77% Giỏ cỏc nhúmhàng hóa và dịch vụ khác tăng nhẹ: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,01%;
Trang 28đồ uống và thuốc lá tăng 0,68%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,66%; thiết
bị và đồ dùng gia đình tăng 0,6%; dược phẩm, y tế tăng 0,35%; giáo dụctăng 0,17%13
Hình 2.11chỉ số giá tiêu dùng 10 tháng đầu năm 2008
(Nguồn:http://www.baoviet.com.vn/newsdetail.asp?
websiteId=1&newsId=1154&catId=199&lang=VN) Giá tiêu dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp,khác thường so với xu hướng giá tiêu dùng các năm trước Giá tăng caongay từ quý I và liên tục tăng lên trong quý II, quý III, nhưng cỏc thỏng quý
IV liên tục giảm (so với tháng trước, tháng 10 giảm 0,19%; tháng 11 giảm0,76%, tháng 12 giảm 0,68%) nờn giỏ tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so vớitháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng22,97%
13 http://www.baoviet.com.vn/newsdetail.asp?websiteId=1&newsId=1154&catId=199&lang=VN
Trang 29Hình 2.12: tỷ lệ lạm phát của các nước
(Nguồn: Key Indicators 2009)
So với các nước trong khu vực thì tỷ lệ lạm phát của Việt Nam luôn ởmức cao nhất
Nếu như nửa đầu năm 2008, vấn đề mà nước ta phải đối mặt do tác độngcủa khủng hoảng thế giới là lạm phát thì tới cuối năm 2008, vấn đề đặt ra đó
là vấn đề việc làm cho người lao động Đến hết năm 2008, số lượng ngườithất nghiệp ước tớnh là 50.000 người14 và con số đó cũn chưa dừng lại
Theo báo cáo của Sở lao động thương binh và xã hội, tớnh đến ngày2/2/2009 trên địa bàn thánh phố Hồ Chí Minh đã có 135 doanh nghiệpngừng hoạt động, thu hẹp quy mô sản xuất hoặc di dời địa điểm hoạt động(54 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với 19.041 lao động mất việc
và 2.269 người thiếu việc làm Cụ thể là có 88 doanh nghiệp ngừng và tạmngừng hoạt động với 11.321 người lao động mất việc làm và 577 người thiếuviệc làm (03 doanh nghiệp trong khu công nghiệp- khu chế xuất- KCN-KCX