BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA KẾ TOÁN *** TIỂU LUẬN Môn KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1 Đề tài CƠ CẤU TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM Họ và tên Dương Nguyễn Diệu Nhi và Phạm Nguyễn Ngân Sang[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KẾ TOÁN ***
-TIỂU LUẬN
Họ và tên: Dương Nguyễn Diệu Nhi và Phạm Nguyễn Ngân Sang Lớp: Kế toán doanh nghiệp 03 LT 27.1
Khóa: 27.1 Giảng viên hướng dẫn: Lê Đoàn Minh Đức
TP.HCM, ngày… tháng… năm…
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn để tài
Trong mỗi doanh nghiệp hệ thống kế toán đã có những thành tựu đáng kể trong việc cung cấp các thông tin phục vụ cho hoạt động quản trị tài chính, đặc biệt là bộ phận kế toán quản trị Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thông công cụ quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và đồng thời cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu của công tác quản trị doanh nghiêp
Ngày nay với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng diễn ra gay gắt, thì một trong những bước đi quan trọng mà doanh nghiệp nào cũng phải xem xét đến là việc quản lý hiệu quả
và tiết kiệm chi phí Chình vì điều này mà kế toán quản trị doanh nghiệp đã khẳng định vai trò,
vị trí quan trọng trong sự phát triển tồn vong lâu dài của mỗi doanh nghiệp Nhận thấy tầm quan trọng của tôt chức hệ thống kế toán cũng như kế toán quản trị các nhà kinh tế học đã đưa
ra lý thuyết về mô hình kế toán trách nhiệm Khi áp dụng được thành công mô hình trên doanh nghiệp sẽ có được hệ thống cung cấp thông tin tin cậy và kiểm soát thông tin chặt chẽ Hiện nay kế toán trách nhiệm giữ vai trò và vị trí quan trọng trong quản lý của mỗi doanh nghiệp Vì vậy việc nghiên cứu và tổ chức vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong hoạt động quản lý của các doanh nghiệp là một nhu cầu thiết yếu đặc biệt là các doanh nghiệp với quy mô lớn việc cơ cấu tổ chức kế toán trách nhiệm lại gắn liền với nhiều tổ chức cá nhân
2 Phương pháp phân tích
Bài tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
Phương pháp tổng hợp lý luận liên quan trực tiếp đến cơ cấu tổ chức kế toán quản trị
Phương pháp thu thập tài liệu
Phương pháp phân tích dánh giá
3.Nguồn gốc số liệu
Sử dụng tài liệu
4.Ý nghĩa của bài tiểu luận
Bài tiểu luận đã thể hiện được tầm quan trọng của cơ cấu tổ chức kế toán quản trị tới việc quản
lý doanh nghiệp cũng như sự phát triển lâu dài của mỗi doanh nghiệp trong thời đại kinh tế toàn cầu hóa Kế toán quản trị có vai trò giúp các nhà quản trị phát huy tối đa được nguồn lực, kiểm soát được từng bộ phận của doanh nghiệp, phân chia công việc và trách nhiệm cho các cấp quản lý Vì vậy để xây dựng mô hình kế toán phù hợp các doanh nghiệp cần hiểu rõ vai trò và nội dung của kế toán trách nhiệm nhằm giúp các nhà quản trị vận dụng hiệu quả kế toán trách nhiệm trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 3PHẦN 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐƠN VỊ
1 Giới thiệu về doanh nghiệp
Tên chính thức: Công ty cổ phần tập đoàn KIDO (KIDO GROUP)
Tên giao dịch quốc tế : KIDO GROUP CORPORATION
Mã giao dịch: KDC
Vốn điều lệ 2.797.413.560.000
Địa chỉ: 138-142 Hai Bà Trưng, Phường Đa Kao, Quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh
Đện thoại 028-38270468
Fax: 028-38270469
Email: info@kdc.vn
Website: http://www.kdc.vn/
Mã số thuế: 0302705302
Đại diện pháp luật: Ông Trần Kim Thành Chức vụ Chủ tịch HĐQT
Tập đoàn KIDO được thành lập từ năm 1993 với khởi đầu một phân xưởng sản xuất với chức năng sản xuất và kinh doanh các mặt hàng bánh Snack Trãi qua 27 năm duy trì và phát triển, KIDO hiện nay đã và đang thiết lập và giữ vững vị thế dẫn đầu ở một loạt các loại sản phẩm dưới thương hiệu KIDO Ở KIDO, luôn muốn mang lại hạnh phúc cho người tiêu dùng và góp phần làm cuộc sống tốt đẹp hơn qua từng dòng sản phẩm
2 Quá trình hình thành và phát triển
Năm 2008: mua lại phần lớn cổ phần của Việt Nam bánh kẹo công ty (Vinabico), mở đầu quá trình thâu tóm công ty này
Năm 2010: KDC, NKD và KIDO’S sáp nhập thành tập đoàn
Năm 2011: Liên kết với Ezaki Glico Co.ltd (Công ty bánh kẹo đến từ Nhật Bản)
Năm 2014: Tập đoàn lần tham gia vào ngành hàng thiết yếu với sản phẩm đầu tiên là mì ăn liền Đại gia đình
Năm 2015: bán toàn bộ mảng kinh doanh bánh kẹo cho Mondelez International
Năm 2016 : Tung sản phẩm đóng gói, đông lạnh và sản phẩm thuộc ngành hàng mát Kết hợp hai doanh nghiệp lớn trong ngành dầu ăn Tường An và Vocarimex vào tập đoàn giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh và phát huy tiềm năng hiện có, mục tiêu đưa KIDO trở thành một trong những doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dung lớn nhất tại Việt Nam, và hiện thực hóa tham vọng Lấp đầy gian bếp Việt bằng những sản phẩm tiêu dùng dưới thương hiệu KIDO
Năm 2017: Tạo nên sự khác biệt trong chiến lược phát triển “Thực phẩm thiết yếu” nhằm hướng đến mục tiêu phục vụ ít nhất 85% người tiêu dùng trên khắp Việt Nam thông qua hệ thống 450.000 điểm bán ngành hàng khô và 70.000 điểm bán ngành hàng lạnh trên toàn quốc Cuối 2018, KIDO mua lại thành công 51% cổ phần của Công ty Dầu ăn Golden Hope Nhà Bè (GHNB) và đổi tên thành KIDO Nhà Bè Hoàn thành kế hoạch hợp nhất thị trường dầu ăn và củng cố vị thế của KIDO trên thị trường Nhãn hiệu của các công ty con đang liên tục dẫn dắt
Trang 4thị trường Việt Nam: KDF dẫn đầu thị trường kem lạnh; TAC đứng thứ 2 về thị phần dầu ăn và KIDO Nhà Bè đứng thứ 3 về thị phần dầu ăn
Năm 2019:Tập trung vào phân khúc cao cấp với việc ra mắt dòng sản phẩm “Tường An premium - dòng sản phẩm thượng hạng” với biểu tượng voi vàng
Năm 2020: quay trở lại mảng bánh kẹo với thương hiệu bánh trung thu Kingdom 3 Lĩnh vực kinh doanh của công ty
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Hệ thống kế toán trách nhiệm
1 Khái niệm kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm (KTTN) liên quan đến các khái niệm và công cụ mà các kế toán viên sử dụng để đo lường sự thực hiện của các cá nhân và các bộ phận nhằm thúc đẩy những nổ lực hướng về mục tiêu chung của tổ chức (Hilton, 1991) Đây là phương pháp kế toán thu thập, ghi nhận, đo lường, báo cáo kết quả của từng bộ phận để đánh giá thành quả của từng bộ phận nhằm kiểm soát hoạt động và chi phí của các bộ phận trong
tổ chức Thực hiện phối hợp giữa các bộ phận để thực hiện mục tiêu chung của đơn vị
Kế toán trách nhiệm được xem như là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức; Kế toán trách nhiệm là một trong những nội dung cơ bản trong kế toán quản trị tại doanh nghiệp (DN) và là một trong những công cụ quản
lý kinh tế tài chính có vai trò quan trọng trong điều hành, kiểm soát cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
2 Vai trò của kế toán trách nhiệm KTTN là một phương pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, KTTN là một "công cụ" để đo lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Vai trò của KTTN được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức
Thứ hai, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận
Thứ ba, KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và
do đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này
Trang 5Thứ tư, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức
3 Đặc điểm của kế toán trách nhiệm
- KTTN trong mối quan hệ với kế toán quản trị (KTQT): KTTN là một bộ phận của KTQT, về cơ bản cũng có đầy đủ nội dung của KTQT, thực hiện đầy đủ chức năng của KTQT, thể hiện trách nhiệm của nhà quản trị ở các bộ phận đối với mục tiêu cuối cùng của tổ chức
- KTTN là một nhân tố trong hệ thống kiểm soát quản trị: KTTN thực hiện quá trình kiểm soát của KTQT vì doanh thu và chi phí được tập hợp và trình bày theo từng trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản trị dễ dàng nhận biết nguyên nhân gây nên những hậu quả bất lợi về tăng chi phí và giảm doanh thu so với dự toán là thuộc trách nhiệm của bộ phận nào
- Tính hai mặt của KTTN: hệ thống KTTN gồm hai mặt là trách nhiệm và thông tin
4 Nội dung cấu thành kế toán trách nhiệm
Có thể xác định các nội dung cơ bản cấu thành KTTN bao gồm:
+ Sự phân cấp trong quản lý + Các trung tâm trách nhiệm 4.1 Sự phân cấp quản lý – cơ sở hình thành kế toán trách nhiệm 4.1.1 Khái niệm
Phân cấp quản lý là sự phân cấp quyền cho cấp dưới, dẫn đến sự phân định rõ ràng
về quyền lợi và trách nhiệm trong quản lý cho cấp dưới dựa trên cơ sở cấu trúc phân quyền mà nhà quản trị đã lựa chọn
Các nhà quản lý nhận thấy rằng hệ thống kế toán trách nhiệm chỉ phát huy tác dụng
và hoạt động có hiệu quả nhất trong những tổ chức thực hiện sự phân cấp trong quản lý Hầu hết các tổ chức có qui mô lớn đều thực hiện phân cấp quản lý Sự phân cấp quản lý xảy ra khi các nhà quản lý của các đơn vị và các bộ phận trong tổ chức được trao quyền
tự do trong việc ra quyết định Theo đó, để thực hiện các chức năng quản lý của mình, người quản lý cấp cao phải thể hiện được đúng đắn quyền lực của mình, phải gây được ảnh hưởng và sức thuyết phục đối với nhân viên, đồng thời phải tiến hành phân cấp, ủy quyền cho cấp dưới nhằm giúp cấp dưới có thể điều hành các công việc thường xuyên tại bộ phận mà họ quản lý Để hiểu được các mục đích của hệ thống kế toán trách nhiệm, cần thiết phải xem xét các lợi ích và chi phí của việc phân cấp quản lý
Lợi ích của việc phân cấp quản lý:
Trang 6- Ra quyết định tốt nhất là ở ngay cấp phát sinh vấn đề Nhà quản lý các bộ phận và các bộ phận trong tổ chức là những chuyên gia trong lĩnh vực họ quản lý Do vậy, họ sẽ quản lý bộ phận của họ hiệu quả hơn
- Việc cho phép các nhà quản lý các bộ phận được ra các quyết định giúp họ được tập luyện khi họ được nâng cấp trong tổ chức Do vậy, họ sẽ có sự chuẩn bị về khả năng
ra quyết định khi họ được giao trách nhiệm lớn
- Bằng việc trao một số quyền ra quyết định cho nhiều cấp quản lý, các nhà quản lý cấp cao đỡ phải giải quyết rất nhiều vần đề xảy ra hàng ngày và do đó có thời gian tập trung lập các kế hoạch chiến lược
- Giao trách nhiệm và quyền được ra quyết định thường làm tăng sự hài lòng với công việc và khuyến khích người quản lý nổ lực hết mình với công việc được giao
- Sự phân cấp quản lý cung cấp một căn cứ tốt hơn để đánh giá sự thực hiện của người quản lý
Chi phí của việc phân cấp quản lý:
- Các nhà quản thường có xu hướng tập trung vào hoàn thành công việc của bộ phận mình quản lý, hơn là hướng đến mục tiêu chung của tổ chức
- Các nhà quản lý có thể không chú ý đến hậu quả công việc của bộ phận mình lên các bộ phận khác trong tổ chức
- Lãng phí nguồn lực hoặc trùng lắp công việc 4.1.2 Vai trò của phân cấp quản lý đối với việc hình thành kế toán trách nhiệm Phân cấp quản lý gắn liền với nội dung kế toán trách nhiệm Qua phân cấp quản lý
sẽ xác định được quyền hạn và trách nhiệm ở mỗi cấp rõ ràng, nên có cơ sở cho việc đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận, tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục Phân cấp quản lý vừa là tiền đề vừa là động lực thúc đẩy sự hình thành kế toán trách nhiệm
4.2 Các trung tâm trách nhiệm 4.2.1 Khái niệm
Hệ thống kế toán trách nhiệm được xây dựng trên cơ sở xác định trách nhiệm của mỗi đơn vị, bộ phận trong tổ chức Mỗi đơn vị hoặc bộ phận của tổ chức có một nhà quản lý chịu trách nhiệm về những kết quả tài chính cụ thể của đơn vị hoặc bộ phận Một đơn vị hoặc bộ phận như vậy gọi là một trung tâm trách nhiệm
4.2.2 Bản chất của trung tâm trách nhiệm Mức độ hoàn thành của trung tâm trách nhiệm thường được đánh giá dựa trên hai tiêu chí: hiệu quả và hiệu suất Như vậy, để đánh giá được hiệu quả và hiệu suất của trung tâm trách nhiệm, vấn đề đặt ra là phải lượng hóa được đầu vào và đầu ra của các
Trang 7trung tâm trách nhiệm Trên cơ sở đó sẽ xác định được các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt động của từng trung tâm cụ thể
4.2.3 Các loại trung tâm trách nhiệm Các đơn vị hoặc bộ phận trong một tổ chức có thể phân loại thành một trong bốn loại trung tâm trách nhiệm:
Trung tâm chi phí (Cost Centers) Trung tâm chi phí là một loại trung tâm trách nhiệm thể hiện phạm vi cơ bản của
hệ thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động như: (1) Lập dự toán chi phí; (2) Phân loại chi phí thực tế phát sinh; (3) So sánh chi phí thực tế với định mức chi phí tiêu chuẩn Trung tâm chi phí gắn liền với cấp quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh (như phân xưởng sản xuất, các phòng ban chức năng) Theo đó, người quản lý chỉ chịu trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở bộ phận mình, không có quyền hạn đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn Trung tâm chi phí được chia thành 2 dạng: Trung tâm chi phí tiêu chuẩn và Trung tâm chi phí dự toán
Trung tâm doanh thu (Revenue Centers) Trung tâm doanh thu là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm với lợi nhuận và vốn đầu tư Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung giá cả cho phép để tạo ra doanh thu cho DN
Trung tâm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở, đó là các
bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ, nhóm sản phẩm
Trung tâm này phải có chính sách bán hàng, không chỉ dựa trên tình hình thị trường
mà còn dựa trên giá thành, chi phí và các mục tiêu lâu dài của công ty
Trung tâm lợi nhuận (Profit Centers) Trung tâm lợi nhuận là loại trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm Trong trường hợp này nhà quản lý
có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất như thế nào, mức độ chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Nhà quản lý phải quyết định các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt được sự cân bằng trong việc phối hợp giữa các yếu tố giá cả, sản lượng, chất lượng và chi phí
Trang 8Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn ở bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công ty phụ thuộc, các chi nhánh, Nếu nhà quản lý không có quyền quyết định mức độ đầu tư tại trung tâm của họ thì tiêu chí lợi nhuận được xem là tiêu chí thích hợp nhất để đánh giá kết quả thực hiện của trung tâm này
Trung tâm đầu tư (Investment Centers) Đây là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý cấp cao như Hội đồng quản trị công ty, các công ty con độc lập, Đó là sự tổng quát hóa của các trung tâm lợi nhuận trong đó khả năng sinh lời được gắn với các tài sản được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó Một trung tâm trách nhiệm được xem là một trung tâm đầu tư khi nhà quản trị của trung tâm đó không những quản lý chi phí và doanh thu mà còn quyết định lượng vốn sử dụng để tiến hành quá trình đó
Bằng cách tạo mối liên hệ giữa lợi nhuận và tài sản sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó, chúng ta có thể đánh giá lợi nhuận tạo ra có tương xứng với đồng vốn đã bỏ ra hay không Thông qua đó cũng hướng sự chú ý của nhà quản lý đến mức độ sử dụng hiệu quả vốn lưu động đặc biệt là các khoản phải thu và hàng tồn kho được sử dụng tại trung tâm
II Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán trách nhiệm Thông tin KTTN là một bộ phận thông tin quan trọng của KTQT và do vậy đối tượng sử dụng thông tin KTTN cũng gồm các nhà quản trị cấp thấp, cấp trung và cấp cao nhằm đánh giá trách nhiệm quản trị của từng bộ phận cấu thành từng cấp quản lý cụ thể:
1 Đối với nhà quản trị cấp cao KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của
DN KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá KTTN giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp
2 Đối với nhà quản trị cấp trung KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý Thông qua KTTN, nhà quản trị có thể phân tích, đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận Báo cáo trách nhiệm phản hồi cho người quản lý biết thực hiện kế hoạch của các bộ phận ra sao, nhận diện các vấn đề hạn chế để
có sự điều chỉnh các chiến lược mục tiêu sao cho kết quả kinh doanh là tốt nhất Đây có
Trang 9thể xem là nguồn thông tin quan trọng để nhà quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, và cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận
3 Đối với nhà quản trị cấp thấp KTTN khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược của DN được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi KTTN có thể kiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung của DN Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích
lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn DN
III Hệ thống báo cáo thực hiện
1 Khái niệm về báo cáo thực hiện
Để cấp quản lý cao nhất trong một tổ chức có thể nắm được toàn bộ tình hình hoạt động của tổ chức, định kỳ các trung tâm trách nhiệm từ cấp thấp nhất phải báo cáo dần lên các cấp cao hơn trong hệ thống về những chỉ tiêu tài chính chủ yếu của trung tâm trong một báo cáo gọi là báo cáo thực hiện (performance report)
Một báo cáo thực hiện trình bày các số liệu dự toán, số liệu thực tế và số chênh lệch những chỉ tiêu tài chính chủ yếu phù hợp theo từng loại trung tâm trách nhiệm Thông qua các báo cáo thực hiện, nhà quản lý (bằng cách sử dụng phương pháp quản lý theo ngoại lệ) sẽ kiểm soát được các hoạt động của tổ chức một cách hiệu quả (Hilton, 1991)
2 Các loại báo cáo thực hiện Đối với trung tâm chi phí : Báo cáo tình hình thực hiện chi phí – bao gồm tất cả các chi phí có thể kiểm soát của trung tâm theo dự toán và thực tế Mỗi cấp độ trung tâm chi phí đều gắn liền với người kiểm soát như người quản đốc phân xưởng, giám đốc nhà máy, giám đốc công ty,…
Đối với trung tâm doanh thu : Báo cáo tình hình thực hiện doanh thu – bao gồm tất
cả các doanh thu phát sinh theo dự toán và thực tế của trung tâm doanh thu đó
Đối với trung tâm lợi nhuận : Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí Đối với trung tâm đầu tư : Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí
3 Sự vận động thông tin trong hệ thống kế toán trách nhiệm Trình từ báo cáo thông tin trong hệ thống kế toán trách nhiệm bắt đầu từ cấp quản
lý thấp nhất trong tổ chức cho đến cấp quản lý cao nhất Mức độ chi tiết của báo cáo giảm dần theo sự gia tăng của các cấp quản lý trong tổ chức
IV Ảnh hưởng về thái độ của nhà quản lý
Hệ thống kế toán trách nhiệm có thể ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và thái độ của các nhà quản lý Ảnh hưởng có thể là ích cực hoặc tiêu cực tuỳ thuộc vào cách sử dụng
hệ thống kế toán trách nhiệm
Trang 10Hệ thống kế toán trách nhiệm có hai mặt đó là thông tin và trách nhiệm Ảnh hưởng đến hành vi của nhà quản lý của hệ thống kế toán trách nhiệm tuỳ thuộc vào khía cạnh nào được nhấn mạnh (Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2001)
Khi hệ thống kế toán trách nhiệm nhấn mạnh đến khía cạnh thông tin, thì sẽ ảnh hưởng tích cực lên hành vi của nhà quản lý Việc nhấn mạnh đến việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để giúp họ nắm bắt được tình hình hoạt động của tổ chức, cũng như hiểu được nguyên nhân của việc hoạt động kém hiệu quả tạo sẽ điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai Nếu sử dụng đúng, hệ thống kế toán trách nhiệm ít chú trọng đến trách nhiệm Nếu nhà các nhà quản lý cảm thấy rằng họ bị phê bình và khiển trách vì hiệu quả thực hiện công việc của họ không tốt, họ thường có xu hướng đối phó theo cách không tích cực và có khi hoài nghi về hệ thống (Hilton, 1991)
Nói chung, khi vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm, cần tập trung vào vai trò thông tin của hệ thống Điều này sẽ ảnh hưởng tích cực đến hành vi và thái độ của nhà quản lý, khuyến khích họ cố gắng cải thiện hiệu quả hoạt động
V Đánh giá hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm
1 Trung tâm chi phí
Đối với trung tâm chi phí định mức
- Về mặt hiệu quả: đánh giá thông qua việc hoàn thành kế hoạch sản lượng sản xuất trên cơ sở đảm bảo đúng thời hạn và tiêu chuẩn kỹ thuật quy định
- Về mặt hiệu năng: đo lường thông qua so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán, phân tích biến động và xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến tình hình thực hiện định mức chi phí
Đối với trung tâm chi phí linh hoạt
- Về mặt hiệu quả: nhà quản trị trước hết đánh giá trung tâm có hoàn thành nhiệm
vụ được giao hay không thông qua việc so sánh giữa đầu ra và mục tiêu đạt được của trung tâm
- Về mặt hiệu năng: đánh giá thành quả của trung tâm dựa vào việc đối chiếu giữa chi phí thực tế phát sinh và dự toán ngân sách đã được phê duyệt Thành quả của nhà quản trị bộ phận này sẽ được đánh giá vào khả năng kiểm soát chi phí của họ trong bộ phận
2 Trung tâm doanh thu
- Về mặt hiệu quả: đánh giá thông qua đối chiếu giữa doanh thu thực tế với doanh thu trên dự toán Xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, qua đó phân tích sai lệch doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan như đơn giá bán, khối lượng và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
- Về mặt hiệu năng: kiểm soát sự gia tăng chi phí trong mối quan hệ với doanh thu,