Tinh hình nghiên cứu về biến và văn hóa ứng xứ với biến cùa cư dân ven bien trcn thế giới được các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung theo các khía cạnh: hoạt động mưu sinh cùa các cộng đ
Trang 2LUẬN ÁN TIÉN Sĩ: VĂN HÓA HỌC
Trang 3Định là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không có sự sao chép, tràng lap của
bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả luận án
Nguyền Thị Vân
Trang 4Thị Ngọc Điệp đã tận tinh hướng dẫn, giúp đữ trong suốt quá trinh nghiên cứu thựchiện luận án Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoaVăn hoả học, phỏng Sau đại học, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội vàNhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; lãnh đạo và đồng nghiệp tại Trường THCS-THPT Trí Đức đã hồ trợ, tạo điều kiện thuận lợi đế tôi hoàn thành kếhoạch học tập và nghiên cứu.
Sau cùng, tôi xin bày tó lòng biết ơn sâu sac đến gia đình, người thân đã
luôn động viên, khích lệ trong suốt quá trinh thực hiện luận án Xin trân trọng cảmơn!
Tác giả luận án
Nguyền Thị Vân
Trang 5DẢN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 15
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 16
7 Phương pháp nghiên cứu 17
8 Bố cục luận án 18
Chuông 1: co SỞ LÝ LUẬN VÀ cơ SỞ THỤC TIẺN 20
1.1 Cơ sỏ ’ lý luận 20
7.7.7 Một số khái niệm 20
ỉ 1.2 Lý thuyết nghiên cứu 26
1.2 Co ’ sở thực tiễn 37
1.2.1 Đặc điếm môi trường tự nhiên của Bình Định và vùng ven biên Bình Định 37 1.2.2 Đặc điểm lịch sứ - xã hội của Bình Định và vùng ven biên Bình Định 42
Chưong 2: VÀN HÓA ỦNG xủ VỚI BIÉN CỦA cu DÂN VEN BIẾN BÌNH ĐỊNH TRONG DỜI SÓNG VẬT CHẤT 55
2.1 Trong lao động sản xuất 55
2.1.1 Đảnh bắt, nuôi thủy & săn 55
2.1.2 Ngành nghề thú công 75
2.2 Trong ấm thực 85
2.3 Trong chọn noi ở, dựng nhà 93
2.4 Trong giao thông vận tải, thương mại 100
2.5 Du lịch biển 107
Trang 6Chương 3: VĂN HÓA ỦNG xử VỚI BIÉN CƯA CƯ DÂN VEN BIÉN BÌNH
ĐỊNH TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẰN 119
3.1 Các hiện tượng tín ngưỡng liên quan đến biến 119
3.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng cá Ông 119
3.1.2 Tín ngưỡng thờ cúng Âm linh 128
3.1.3 Tín ngưỡng thờ Mâu 133
3.2 Một số tục kiêng kỵ trong dân gian 153
3.3 Các loại hình nghệ thuật 156
3.4 Dặc điểm về văn hóa úng xử vói biển của cư dân ven biển Bình DỊnh trong đòi sống tinh thần 173
KẾT LUẬN 181
TÀI LIỆU THAM KHẢO 187
PHỤ LỤC 201
Phụ lục 1: BẢN ĐỒ 201
Phụ lục 2: BIÊN BẢN PHÒNG VẤN 205
Phụ lục 3: SÓ LƯỢNG LÀNG ÔNG, BẢN CHÈO BẢ TRẠO, VÀN TẾ, SÁC PHONG 278
3.1 SÓ LƯỢNG LÃNG ÔNG 278
3.2 BÁN CHÈO BẢ TRẠO 282
3.3 VĂN TÉ, NỘI QUY, BÀNG PHẤN CÔNG HOẠT ĐỘNG CỦA VẠN 317
3.4 SẨC PHONG 327
Phụ lục 4: HÌNH ÁNH 332
Trang 7DẢN NHẬP
/ Lý do chọn dề tài
Việt Nam có bờ biên dài 3260 km, chưa kê các đáo Với vị trí thuận lợi, hoạtđộng khai thác thúy sản đã trờ thành nghề truyền thống cùa cư dân ven biển Tại
nhiều vùng, những ngành nghề kinh tế gắn liền với biển như đánh bắt thúy sán,
đóng tàu, chế biển thuy sàn đà trở thành ngành nghề chú lực của địa phương
Biên và phát triển kinh tc biến ngày càng có ý nghĩa chiến lược, lâu dài cho sự phát triền kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tăng cường kha năng báo vệ chu quyền
và lợi ích quốc gia trên biẻn Từ quá trình chung sống với biển qua hàng trăm năm
ấy, cư dân nơi đây đà sáng tạo nên một nền văn hóa đặc thù, góp phần làm nên sự
da dạng, phong phú trong tong thế diện mạo văn hóa Việt Nam
Bình Định là linh duyên hải Nam Trung Bộ, nam trong vùng kinh tế trọngđiếm miền Trung Tình có bờ biên dài 134 km, 33 đao lớn nhỏ được chia thành 10cụm đáo hoặc đao đơn le, trong đó đáo Nhơn Châu là đảo lớn nhất (364 ha), có các
cửa lạch như Quy Nhơn, Đe Gi, Tam Quan và các đầm phá ven biên, có nhiều loại
thúy sán thuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng thúy sán Cư dân sinh sống ven biếnlâu đời và tương đổi đông đúc Đối với cư dân ven biển, yếu tố biển được thể hiện
rõ nét trong mọi khía cạnh đời sống văn hóa cùa họ
Trong những năm gần đây, được sự hồ trợ, đầu tư cúa Nhà nước, ngành ngư
nghiệp đánh bắt thúy sân ở Bình Định ngày càng phát triển, ngư dàn không chi đánh
bắt ven bờ mà đà vươn ra biển khơi để khai thác nguồn lợi từ biển Song song với hoạt động đánh bắt thủy sản, nghề nuôi và chế biến thủy sản, nghề làm muối, nghề đóng tàu thuyền, du lịch biển và những ngành nghề dịch vụ liên quan đến biến đã
và đang góp phần đem lại nguồn lợi kinh tế, góp phần giái quyết việc làm nâng cao
đời sống cho người lao động
Cùng với hoạt động khai thác thúy san, hiện nay lại các địa phương ven biên
Bình Định còn lưu giữ nhiều dạng thức tín ngưỡng cố xưa của cư dân Việt, đặc biệt
là những tập tục, nghi lễ gắn liền với ngư dân theo nghề biến như: thờ cúng Ông
Nam Hải (cá Ông), thờ cúng Âm hồn (Cô Bác), thờ Bà những hình thức diễn
Trang 8xướng dân gian như: hát bá trạo, hát bội Các thành viên trong cộng đồng cư dân
ven biển tham gia vào sinh hoạt lễ hội là dịp đế giao lưu, tiếp xúc với nhau, that chặt
thêm tình đoàn kết tương trợ, đồng thời góp phần bảo lưu, giữ gìn những giá trị văn
hóa của dân tộc
Trái qua mấy trăm năm thích nghi và khai thác môi trường biền để đảm bảo nhu cầu cuộc sống, cư dân ven bicn Bình Định đã tạo ra được một hộ thống văn hóa
ứng xử với biên Tuy nhiên, trong thời gian qua, môi trường biên đang bị tác động
và biển đối nhanh chóng đã làm ảnh hương đến cuộc sống của cư dân ven biển nơi
đây buộc họ phải có sự thay đổi trong cách ứng xư với bicn Do vậy, nghiên cứu về
sự ứng xử với biển cúa cộng đồng cư dân vcn biển Bình Định là đe thấy dược sự
thích ứng đầy sáng tạo và tích lũy kinh nghiệm cùa người dân nơi đây trong quá
trình tồn tại lấy biển làm nguồn sinh kế chính, trai qua thời gian tồn tại đã kết tinh
thành những giá trị văn hóa
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tơ/Í hóa úng xử vói hiến cứa cư dân ven biên Bình Định” làm đề tài nghiên cứu cho luận án cùa mình
Mục đích của luận án là nghiên cứu văn hóa ứng xử với biên cùa cư dân ven
biển Bình Định trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần Chúng tôi tập trung vào góc độ tương tác giữa chu thế văn hóa (cư dân ven biên Bình Định) với môi trường biến, có xem xét đến quả trinh tương tác với môi trường xã hội Từ đó, làm
cơ sơ để phân tích những yếu tố, tác động của biển đưa đen việc lựa chọn cách ứng
xừ cho phù hợp; đồng thời, nhận diện đặc trưng nồi bật về cách ứng xử cùa cư dàn nơi dây trong mối quan hệ với môi trường biến trong dời sống vật chất và đời sốngtinh thần
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến lình vực nghiên cứu của đề tài trong nội dung này chúng tôi chia thành các chù đề sau:
Trang 9(1) Các công trình liên quan đến cơ sớ lý luận về văn hóa ứng xứ được tiếp
cận trên nhiều lĩnh vưc nghiên cửu như: văn hóa, tâm lý, xà hội học Có thề kể đến
các công trình: Xã hội học văn hóa (1997) cua Đoàn Văn Chúc, Cám nhận về văn hóa (2000) của Bùi Thiết, Những giá trị lịch sữ văn hóa 1000 năm Thăng Long -
Hà Nội (2002) cua Nguyền Viết Chức (chú biên), Văn hóa ứng xử truyền thống cua người Việt (2007) của Lê Văn Quán, Vãn hóa ứng xừ Việt Nam hiện nay (2008) của
Nguyền Thanh Tuấn Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đà đề cập đến cách thức ứng xứ và ý nghía cua cách thức ứng xứ đó trong quá trình cai biếnthế giới tự nhiên sao cho thích ứng được với hệ thống các nhu cầu xã hội của conngười Đồng thời, các giá trị tinh thần là cơ sớ và định hướng vận hành các khuôn mẫu ứng xử và chuẩn mực xã hội thành phrrơng thức trong đời sống của con người
(2) Các công trình nghiên cứu về biển và văn hóa ứng xử với biền:
2.1 Tinh hình nghiên cứu về biến và văn hóa ứng xứ với biến cùa cư dân ven bien trcn thế giới được các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung theo các khía cạnh: hoạt động mưu sinh cùa các cộng đồng ngư dân các làng chài ven biên, đời song xã hội, cách thức ứng xứ cúa cư dân ven biên trong khai thác nguồn tài nguyên biên, các phong tục tập quán gắn liền với biến Dưới tác động của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nghề cá, để phục vụ nhu cầu thúy san ngày tăng cua thế giới đã tác
động tới sự thay đổi cùa các cộng đồng ngư dân trên các mặt đời sống kinh tể, tổchức xã hội, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Các công trình nghiên cứu về cộng đồng
cư dân ven biển đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và theo các hướng:
- Hưởng nghiên cứu về các hình thức đánh bắt cá và các ngư cụ được sử dụng trong quá trinh đánh bắt ờ các nơi trên thế giới, dien hình là các công trình của
J Hornell (1950) Fishing in many waters; A.Von Brandt (2005) Fishcatching
methods of the world. Các công trình miêu tá về các loại ngư cụ, kỳ thuật đánh bắt
các loại thúy sàn và tác động của một số loại ngư cụ trong việc đánh bắt đã làmgiam nguồn lợi thúy sân Bên cạnh đó, các tác giả đưa ra các biện pháp kỹ thuật đề báo vệ nguồn thủy sản và môi trường biển Bơi vì, những tác động của môi trường ven biển cùng với các hình thức khai thác theo kiểu tận diệt vùng biển ven bờ sẽ ảnh
Trang 10hưởng lớn tới nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biến và điều đó sẽ có những thayđổi về hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa của cư dân nơi đây.
Ngoài ra, các công trinh còn đề cập đến môi trường biến bị ô nhiễm là từ
nhiều nguồn khác nhau như: nguồn nước thải sinh hoạt, hoạt động công nghiệp,
hoạt động che biến thủy sản, đóng tàu, rác thái từ các tàu thuyền đánh bat trên biên đặc biệt ớ các vùng vịnh kín gió và vùng cửa sông Bên cạnh đó, các sự cốtràn dầu cũng là nguyên nhàn đe dọa môi trường biên
- Hướng nghiên cứu về đời song kinh tổ, xã hội và văn hóa cùa cộng đồng cư
dân ven biển, tiêu biêu là các công trình Argonaunt of the Western Pacific (1922)
của Malinowski, Malay fishermen (1946) của Raymond Firth, Sea hunter of Indonesia Fishers and Weavers of Lamalera (1960) của Thomas M Fraser,
Rusembilan A Malay fishing village in Southern Thailand (1996) của R.H.Barnes,
Indonesian sea nomads Money, magic and fear of the Orang Suku Laut (2003) của
Cynthia Chou đã đề cập tới những phong tục tập quán, tín ngưỡng, các hình thứckhai thác nguồn lợi thủy sản cùa cộng đồng cư dân ven biên
Công trình của Malinowski, Cynthia Chou đã chì ra ràng, đối với cư dânsống ven biên, trên các đảo, ma thuật có tầm quan trọng trong đời sống tinh thần của
cư dân bản địa, nó chi phối so phận con người, cung cấp cho con người sức mạnh
làm chủ các lực lượng của tự nhiên và đó là thứ vũ khí giúp họ chống lại những mối
nguy hiêm, duy trì và báo vệ chính bán thân họ và cả cộng đông
Trong hướng nghiên cứu về đời sống kinh tế - xã hội, các tác giá đề cập đen
hệ thống kinh tế cùa cư dàn ven biên Malay với những hoạt động chính là nuôi
trồng, dánh bat thuy san Vì làm nghề đánh bắt thúy sản nên họ phai tìm cách thíchứng với điều kiện thời tiết thay đồi Cùng với hoạt động đánh bắt là nghề đóng tàuthuyền và nghề làm ngư cụ Bên cạnh đó, các công trình còn nghiên cứu đặc diễm
về tổ chức xã hội cùa cộng đồng đánh cá, vấn đè hôn nhân, tang ma, các phong tụctập quán và các mối quan hệ họ hàng, quan hệ giừa người làm công và chủ tàu, giữa chu tàu và người thu mua thủy sàn Ngoài ra, những biến đoi xã hội cùa cộng đồng
cư dân ven biển từ truyền thống sang hiện đại là do sự tác động về sự thay đổi từ
Trang 11hình thức đánh bắt cá quy mô nhó sang hình thức đánh bắt công nghiệp đã được cáctác giả đề cập đến.
2.2 Các công trình nghiên cứu về biến và văn hóa ứng xử với biển cùa cư
dân ven biển ở Việt Nam có thê kể đến:
Nhừng ghi chép về đời sống và hoạt động ngư nghiệp của cư dân ven biển đã
được các học già nước ngoài quan tâm như: Xứ Đàng Trong năm 1621 của
Cristophoro Borri (2014), Hái ngoại kỳ sự của Thích Đại Sán (1963) tái bàn (2015)
Các công trình này đã miêu tá về thiên nhiên, con người cùng những sinh hoạt văn hóa, phong tục, lối sống cùa cư dân vùng ven biên Với một vùng biến rộng lớn
và nhiều loại cá, do vậy ngành ngư nghiệp ở đây rất thịnh vượng, cư dàn sinh sốngbang nghe đánh cá, cá được dùng đe làm nước mam Vì sinh sống ơ vùng biển, họ
am hiếu về sóng gió, các cơn bào hàng năm nên khi vào những ngày gió lo sóng lớn
các thuyền nho ơ mé biến đều kéo lên bãi cát Các tác giá cho rằng, do điều kiện tự nhiên nên ở Đàng Trong có nhiều cảng biển lớn, tất cả đều rất thuận tiện đổ tàuthuyền các nước có thể cập bến và lên đất liền nên có điều kiện buôn bán, trao đồi
hàng hóa với các nước
Công trình Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793) của JohnBarrow (2011), Thuyền buồm Đông Dương cùa J B Piétri (2015) Bên cạnh tìm hiếu những vấn đề về đời sống của cư dân vùng duyên hài như cách ăn uống, những
nông sàn, thủy sản, nghề thủ công, nhừng phong tục tập quán, tín ngường của cư dân Các tác giá còn đề cập kỹ thuật đóng tàu cua người dân, những tàu thuyền này
được dùng trong buôn bán ở vùng duyên hải và dùng đê đánh cá, đi thu lượm hải sâm và những tồ yến trong quần đáo có tên gọi là Paracels (Hoàng Sa); cũng như cách thức mà cư dân vùng này sử dụng các loại thuyền trong khai thác nguồn lợithúy sản
Ớ nước ta, những ghi chép về đời sống cùa cư dân ven biến đã sớm được cáctác giả đề cập đến trong các công trình Phú biên tạp lục của Lê Ọuý Đôn, ô châu cận lục cúa Dương Văn An, Thoi thực ký’ văn cua Trương Quốc Dụng, Gia Định
thành thông chí của Trịnh Hoài Đức Các công trình này đã đề cập đến các tín
Trang 12ngưỡng cùa cư dân vcn biổn như: thờ Mầu/ Bà, thờ cá voi, một số kiêng kỵ cúa cưdân sống ven biến Bên cạnh đời sống tín ngưỡng, công trình Phủ hiên tạp lục của
Lê Quý Đôn còn ghi chép khá cụ thể vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của vùng đấtThuận - Quảng, trên thì núi giừa thì đầm phá, dưới thì có bicn, biổn có nhiều hảivật và cách thức khai thác cua cư dân đối với các nguồn lợi từ biên hay các đầm phá ven bờ Trong công trình, tác già đã ghi chép vị trí của hai quan đào Hoàng Sa
và Trường Sa; đặc điểm hoạt động của đội Hoàng Sa do triều đình lập ra, cũng như
cách tố chức, quán lí, khai thác sán vật trôn các đao nhằm khăng định chu quyền
của Việt Nam trên các quần đáo này Điều đó thê hiện rất rõ tư duy bảo vệ chu
quyển biển đảo của các triều đại trước
Từ khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm và có nhiều
chi đạo để xác định, tuyên bố chủ quyền và bước đầu khai thác tiềm năng cùa biển
Với chu trương xây dựng Việt Nam trơ thành một quốc gia mạnh VC biến, phát triểnkinh tể - xã hội vùng biển, hải đáo phải đặt trong quan hệ tương tác giữa các vùng
và trong xu thế hội nhập với khu vực và thế giới Các công trình nghiên cứu về biến
và vai trò của biền trong đời sống cùa cư dân ven biển lần lượt ra đời theo cáchướng nghiên cửu
- Nghiên cứu về đời sống xã hội cua cộng đồng cư dân vcn biển Có thổ kể
đến một số nghiên cứu tiêu biếu:
Công trình Cộng đồng ngư dán ỏ' Việt Nam (2002) cua Nguyền Duy Thiệu
Trong công trình, các khía cạnh xã hội được tập trung vào thiết chế xã hội truyền
thống cùa công đồng ngư dàn Các khía cạnh xã hội được tập trung vào tổ chức xã
hội và cơ cấu xã hội truyền thống cùa ngư dân Bên cạnh đó, tác già còn đề cập đốn đặc điểm nghề cá truyền thổng, cách nhận thức của ngư dân về môi trường, nguồn lợi thủy sản và cách thức khai thác các nguồn lợi ờ vùng biến, sông và vùng cưabiển, các phương tiện kỹ thuật dùng trong khai thác thuy sàn cũng như sự phân phối
thu nhập trong lao động cua ngư dàn dưới tác động cua công cuộc đôi mới nghề cá
Công trình do tác giả Đỗ Hoài Nam (chù biên) (2003) Phút triển kinh tế -
xã hội và môi trường các tinh ven hiên Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu về
Trang 13vùng kinh tế, sinh thái nhân văn cua các tinh ven biển Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công trình còn đề cập đến chất lượng nguồn nhân lực trong vấn đề khai thác tiềm năng của các tinh ven biển, vấn đề văn hóa - xã hội;
van đồ khai thác nguồn lợi từ biển đã tác động đến sự thay đôi môi trường ở các tinh
ven biến hiện nay Trong đó, tác gia đã nêu các thiết chế xã hội truyền thống bị tác
động trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường; vấn đề chuyển dịch cơ cấukinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng đế phát triển nhanh và bền vừng ở các địa phương vcn biến
Công trình do Trần Hồng Liên (chủ biên) (2004) Cộng đồng ngư dán Việt ờ Nam Bộ nghiên cứu cộng đong ngư dân Việt ở Nam Bộ, tập trung chú yếu ớ hai xã
Phước Tỉnh (Bà Rịa - Vũng Tàu) và xã Vàm Láng (Tiền Giang) về vấn đề kinh tế,
xã hội, văn hóa cùa hai xã ven biển Ngoài việc đề cập đặc điểm tự nhiên, đời sốngtín ngưỡng tôn giáo, các sinh hoạt văn hóa tinh thần và phong tục tập quán cúa cưdân ở hai địa phương, quy mô gia đinh và trình độ học vấn của các thành viên trong
gia đình, các tác gia đã phân tích một số đặc điềm dân cư tập trung ờ khía cạnh cơ cấu lao động, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu thu nhập Đó là, tùy thuộc vào điều kiệnđịa lý, môi sinh, kỳ thuật đánh bat, phương thức đánh bat và số vốn đầu tư vào tàuthuyền mà sản lượng đánh bát cũng như thu nhập cùa từng cộng đồng ngư dân có sự
khác nhau
Công trình cua Ban Tuyên giáo trung ương (2008) Phát triển kinh tế và bao
vệ chù quyền biến đão Việt Nam. Nội dung của công trình đề cập đến một số ngành
kinh tế biến và vùng biên trọng diêm có ý nghía chiến lược trong quá trình pháttriển kinh tế của đất nước Ngoài ra, một số vấn đề khai thác nguồn lợi biến, sư
dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến trong khai thác và nuôi trồng thủy sản nhằm phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với đàm báo an ninh, quốc phòng, bảo vệ
chú quyền biến đáo cũng được các tác giả công trinh đề cập đến
Công trình Đời song kinlĩ te - xã hội - văn hóa của ngư dân và cư dán vùng biến Nam Bộ (2014) của Phan Thị Yen Tuyết nghiên cứu tại các địa phương có biến
ở Nam Bộ Cùng với các vấn đề dân số, cơ cấu lao động, mức sống, thu nhập, cơ
Trang 14Cấu ngành nghề, đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân vcn biến tác giá còn đề cập đến những vấn đề xã hội ở vùng biên như tệ nạn xã hội, vấn đề ô nhiễm môi
trường Đặc biệt, tác động của các chính sách xã hội đến việc đánh bắt thuy sán vấn
đồ ngư dân vi phạm lãnh hải các quốc gia láng giềng trong quả trình đánh bắt; điều
đó, không chi là vân đê của riêng vùng biên Nam Bộ mà đó là vân đê chung cúa
*»
vùng biên nước ta hiện nay
Công trình Việt Nam truyền thống kỉnh tế - văn hóa biên (2015) của Nguyễn
Văn Kim, Nguyễn Mạnh Dũng (đồng chu biên) đề cập đến biển giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội cùa người Việt Biên không chi mang lại nguồn sống mà biên còn anh hướng den lien trình lịch sử của dân tộc, đời sống văn hóa,
tâm linh và tín ngưỡng Cùng với quá trình chung sổng, khai khác và chinh phục biển là quá trình xác lập chu quyền và bảo vệ chủ quyền biến đào của Tổ quốc
Công trình Đời sống xã hội và văn hóa cùa cộng đồng ngư dân ven biến và hải đáo từ Đà Nang đến Khánh Hòa (góc nhìn dân tộc học) (2018) của nhóm tác giả
Bùi Xuân Đính và Nguyễn Thị Thanh Bình Công trình phân tích những vấn đề về
tổ chức xã hội, tính cộng đồng cua ngư dân trong đánh bắt thủy sán, vấn đề giáo dục
và đào tạo nghề, vấn đề văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biến và hải đảo từ Dà
Nằng đen Khánh Hòa Bên cạnh đó, công trình còn đồ ra các chính sách, giãi pháp
đê ngư dân ổn định và phát triển kinh tế, góp phần giữ vừng chu quyền lãnh hai,
nhất là đối với cộng đồng ngư dân đánh bắt xa bờ
- Nghiên cứu về đời sống văn hóa và phát huy các giá trị văn hóa biển của cộng đồng cư dân ven biển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hỏa đất nước
Nghiên cứu về đời sống văn hóa, tìm hiều và phân lích giá trị văn hóa trong
tri thức dân gian, văn học dân gian, văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán, tín ngường của cộng đồng cư dân ven biến chiếm số lượng lớn trong nghiên cứu về
biển ớ nước ta
Trong nghiên cứu về phong tục tập quán, tín ngưỡng, lề hội, chuyên khảo
Tục thờ cúng cùa ngư phu lưới đăng Khánh Hòa (1970) cùa Lê Quang Nghiêm đã
Trang 15CÓ những ghi chép và phân tích các hoạt động thờ cúng cua ngư dân Khánh Hòa như
tục thờ cúng cá Ông và thờ các thần báo hộ cho người dân làm nghề đánh bẳt thùysản Chuyên kháo này có lẽ là công trình xuất hiện sớm nhất, ghi chép, phân tích sâu về các hoạt động thờ cúng của ngư dân Khánh Hòa - một vùng được xem là có
chất biến đậm nhất trong các vùng biên ở nước ta Tiếp đến công trình nghiên cứu
về Văn hóa dãn gian làng ven biển (2000) của Ngô Đức Thịnh, tập trung giới thiệu
những tác động của biến trong đời sống tinh thần của cư dân các địa phương ven
biển về phong tục tập quán, tín ngưỡng và lễ hội, di tích cúa các làng ven biển từ
Quang Ninh đến Thừa Thiên Huế Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu trong
phạm vi từng địa phương như: Le hội dân gian cua ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu
(2004) của Đinh Văn Hạnh, Phan An, Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam -
Đủ Nằng (Hình thái, đặc trưng và giá trị) (2009) cua Nguyễn Xuân Hương, Tín ngưỡng thờ nữ thần cùa cư dàn ven biền tình Khánh Hòa (2016) cùa Nguyễn Thị
Thanh Xuyên Văn hóa dân gian của cư dân ven biên Quang Ngãi (2016) của Nguyễn Đăng Vũ đà trình bày các các đối tượng thờ tự (cá Ông, thờ Mầu, Tiền
Hiền, Cô Bác ), tri thức dân gian cùng với các lễ hội gắn liền với hoạt động đánhbẳt thủy san cua cư dân ven biến
Trong nghiên cứu vê cách ứng xử cua cư dân ven biên với môi trường biên,
các tác giả tập trung nghiên cứu các giá trị và nguồn lợi mà biên mang lại, cũng như cách thức ứng xứ cua cư dân với biến trong đời song văn hóa vật chất, văn hóa tinh
than
Công trình Biến trong văn hóa cua người Việt (2009) của Nguyễn Hải Lê,
bên cạnh những phân tích về biên cua người Việt trong không gian và thời gian, tác
giả còn đề cập đến cách thức cua người Việt tận dụng và ứng phó với môi trường biến trong các khía cạnh đời sống vật chất; những giá trị biển trong đời sống tinhthần
Công trình Một góc nhìn về văn hỏa biên (2014) của Nguyền Thanh Lợi
Công trình đã đề cập đến cách thức người Việt khai thác, sứ dụng nguồn tài nguyên của biển trong cuộc sống và một số ngành nghề thủ công liên quan đến biển Bên
Trang 16cạnh đó, tác giã còn đồ cập các dạng thức tín ngưỡng mang đậm sắc thái cùa cư dân miền biên từ duyên hải Nam Trung Bộ cho đến vùng biên Tây Nam Bộ hay vè cát
lái - một dạng hãi trình đi biển cua cư dân ven biến
Nghiên cứu về cách ứng xử của cư dân ven biến với môi trường biển ở từng
địa phương và cùa từng vùng đã được các tác giả quan tâm như: Ngư cụ thu công truyền thống chù yếu cua nghề cá ở Kiên Giang (2003) cua Đoàn Nô, Vãn hóa cư dân Việt ven biên Phú Yên (2006) của Sở Văn hóa - Thông tin Phú Yên, Văn hóa sông nước miền Trung (2006), Văn hóa biến miền Trung và văn hóa biến Tây Nam
Bộ (2008), Văn hóa biền đảo Khánh Hòa (2012) của ủy ban nhân dân tinh KhánhHòa Văn hóa truyền thống vùng biên Thuận An (2015) do Lê Văn Kỳ (chú biên),
Văn hóa biền miền Trung Việt Nam (2015) của Lê Văn Kỳ, Luận văn: Văn hóa tín ngưỡng cua cộng đồng ngư dán ven biên Ben Tre (2008) của Dương Hoàng Lộc,
Vãn hóa ứng xứ với biển cùa người việt miền Tây Nam Bộ (2010) cua Nguyễn Hữu
Nghị, Văn hóa biển của cư dân vùng ven biên Đà Nằng (2015) của Phan Thị Kim,Luận án: Văn hóa tin ngưỡng của cư dân ớ huyện đào Lý Sơn — Quáng Ngãi (2019)
của Nguyền Duy Đoài đã nêu được những đặc trưng về quá trình hoạt động, khaithác các nguôn lài nguyên của biên, cách thức hoạt động của ngư dân ven biên
thông qua các ngành nghề đánh bẩt, các loại phương tiện đánh bắt thủy sản truyền
thống và các làng nghề truyền thống ven biển của cư dân Bên cạnh đó, sự ứng xử
với biến thông qua các dạng thức sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội góp phần làm phong phú đời sổng tinh thần của cư dân ven biên
Trong giai đoạn hiện nay, cư dân ven biến đã và đang tiếp cận chương trình
và phương thức đánh bắt xa bờ, cách thức ứng xư của cư dân ven biên dần thực hiện
theo hướng đôi mới, đặc biệt là ờ vùng duyên hải Nam Trung Bộ Trong công trình
Văn hóa hiển đáo và bào tồn, phát huy giá trị văn hóa hiên vùng Duyên dái Nam Trung Bộ thời kỳ đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2016) do Hà Đình
Thành (chu biên) đã có những phân tích về nghề khai thác biến cùa cư dân được thực hiện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa dã dần tách khỏi cơ cấu của
ngành nông nghiệp truyền thống nhằm tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
Trang 17xả hội; đồng thời, công trình đã đồ xuất một số quan điếm và giải pháp định hướngphát triền nhanh và bền vừng ở các tinh duyên hải Nam Trung Bộ.
Ngoài ra, còn có một sô công trình nghiên cứu từ góc độ sử học, khao côhọc về quá trình tụ cư và chiếm lĩnh các vùng đất ven biển, hải đảo cùa các cộng
đồng cư dân ở các vùng miền nhằm khăng định mối quan hệ giữa người Việt với
biển, cùng với những dạng thức biếu hiện văn hóa biến ơ các vùng mien Tiêu biồu
là các công trình Biển với người Việt cổ (1996) của Viện Đông Nam Á Dây là công trình tiếp cận khảo cổ học đế nghiên cứu về nền văn hóa tiền sử và sơ sư ớ vùng vcn biển nước ta trong bối canh Đông Nam Á lục địa và hải đảo Qua các
chứng liệu về kháo cổ học, theo các tác giả, một số nền văn hóa biến như văn hóa
Hoa Lộc, Bàu Tró đã được hình thành và phát triển, đê lại những dấu ấn đậm néttrong tiến trình phát triền nói chung, phát triển văn hóa nói riêng của người Việt cố
Cư dân thời tiền sứ và sơ sử ở vùng vcn biến đã có quá trình khai thác tài nguyên sinh vật biền bên cạnh các hoạt động kinh tế khác như làm nóng nghiệp
Công trình Người Việt với biến (2011) do Nguyễn Văn Kim (chú biên) đà nêu được mối quan hệ giao thương trên biến hình thành và phát triển sớm từ thờiDại Việt Sự hình thành các thương cảng ớ Dàng Trong giúp cho các chúa Nguyền
mớ rộng buôn bán với các nước trong khu vực và thế giới
Công trình Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông (2012) cùa Trần Công Trực
Nhìn ra biên khơi (2012) do Hà Minh Hồng (chú biên) Nội dung của các công trình đề cập đến những tiềm năng cúa biển trong phát triển kinh tế, vì biển chứađựng những nguồn tài nguyên lởn và hết sức đa dạng, cung cấp được nguồn thực
phâm thiết yếu cho con người và bicn có vai trò quan trọng trong quá trình mớ cửahội nhập với thế giới Đồng thời các công trình còn nêu lên một sổ vấn đề về cơ sờpháp lý đế xác lập các vùng biển và thềm lục địa cứa Việt Nam, vấn đề báo vệ tài nguyên và môi trường biên đảo
Công trình Biên đào Việt Nam Lịch sừ - chủ quyền - kinh tế - văn hóa
(2016) cua Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nằng Công trình đề cập đến những điều kiện tự nhiên, đặc tính kinh tế - xã hội mang đậm dấu ấn cúa môi
Trang 18trường kinh tế, văn hóa biến ớ cả ba miền Bắc - Trung - Nam, đặc biệt là tiềm năng kinh tế biển cũng như những yêu cầu và thách thức đặt ra trong việc khai thác tiềm năng đó ớ các tinh duyên hái miền Trung trong thời kì công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước.
Có thế thấy, khía cạnh đời sống văn hóa cúa cộng đồng cư dân ven biểnđược đề cập rất đa dạng Ngoài một số công trình đề cập những vấn đồ chung về văn hóa biến, đa số các công trình đã phản ánh nhiều khía cạnh của văn hóa biếnnhư vấn đề ứng xử của cư dân ven biển với môi trường biên, các hình thái tín ngưỡng và các đối tượng thờ cúng gắn với những kiêng kỵ (tục thờ cúng cá Ông,thờ Mầu, thờ cúng Cô Bác ) cùng với các lễ hội cúa cư dân ven biên Ngoài ra, các nghiên cứu còn đề cập đến việc bao tồn, phát huy các giá trị văn hóa biển trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến biển và vãn hóa ứng xư với biển cua cư dân ven biến Bình Định
Công trình Xứ Đàng Trong năm ỉ62 ỉ (2014) của Cristophoro Borri Bên
cạnh miêu ta về việc buôn bán, trao đổi hàng hóa và các cáng thị ở Đàng Trong, cùng với Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn ớ Binh Định là những thương cảng mà cácchúa Nguyễn mờ cứa đế cho người ngoại quốc như Hà Lan, Bồ Đào Nha, Trung
Quốc, Nhật Bản đến buôn bán Cùng với vấn đề thương mại, c Borri còn đề cập đen đời sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng của cu dân quanh vùng Nước Mặn
Công trình Thuyền buồm Đông Dương (2015) cua J B Piétri nghiên cứu về
thuyền bè ở các vùng miền của nước ta và ở Bình Định có các loại ghe giã, sõng vành dùng để câu mực, câu cá mập Cùng với nghiên cứu về ghe thuyền dánh bẳl,tác già còn miêu ta cách đánh bất các loại thủy sản trong vùng biên này
Trong Phủ biên tạp lục (2007) Lê Quý Đôn đã miêu về nguồn lợi thúy sán cùa vùng, đặc biệt là loại yến sào và ờ “Phu Quy Nhơn thì các cửa biến Tân Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn đều cỏ đào nhiều yến sào, lập đội Thanh Châu để
lấy” (tr.151)
Trang 19Công trình “Nước Non Bình Định ” (1999) của Quách Tấn, Vài nét cô truyền
ở các làng quê Bình Định (2004) của Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (tĩnh Bình Định), Văn nghệ dân gian Bình Định Túc giả tác phẩm (2010) của Hội văn
học nghệ thuật Binh Định, Văn hóa - xã hội Bình Định (2012) của Đinh Bá Hòa Các công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh than cùa CU'
dân Binh Định, trong đó có quá trình tụ cư khai thác các nguồn lợi thủy sản và
những loại hình tin ngường dán gian của cư dân ven biền
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về ngư dân và cư dân ven biền ờ cácđịa phương ven biên Bình Định đã được một số tác giả quan tâm như: Bãi Ngang xưa và nay (2012) cúa Võ Ngọc An, Nghề đánh cá thú công xưa cua ngư dán vùng biến Hoài Nhơn, Bình Định cua Trần Xuân Toàn, Trần Xuân Liếng Các công trình nghiêng về khảo tả các loại công cụ đánh bat, phương tiện đánh bat, cách thức sửdụng các loại công cụ trong đánh bắt thúy sán, các ngành nghề truyền thống và phong tục tập quán của cư dân ở các địa phương ven biển
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong phạm vi mà chúng tôi bao quát
được đã đề cập đến quá trình hình thành cộng đồng cư dân ớ Việt Nam, sự chiếmlĩnh vùng biền và hài đảo đế khai thác nguồn lợi thúy sản Bên cạnh đó, hoạt độngmưu sinh, các ngành nghề đánh bat truyền thống, các đặc điểm về phong tục, tậpquán tín ngường và nhừng vấn đề xã hội đã được các công trình đề cập đến Đày
được xem là những nguồn tài liệu phong phú đa dạng ớ nhiều khía cạnh nhằm phục
vụ cho đồ tài nghiên cứu của chúng tôi, đó là Văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biên Bình Định.
Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, ở góc nhìn tổng quan, chúng tôi xác định đối tượng chính
là văn hóa ứng xư với biến cùa cư dân ven biển Bình Định Hướng nghiên cứu của
đề tài là hướng nghiên cứu tiếp cận từ góc độ vãn hóa học nhằm làm rõ những biếu
Trang 20hiện trong mối quan hộ ứng xử với biến cua người Việt ở vùng ven biốn Bình Địnhtrên hai phương diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Ớ góc nhìn cụ thê, vì đỏi tượng nghiên cứu trọng tâm cua luận án là: sự thích ứng với biên của cư dân ven biền Bình Định là một lĩnh vực cụ thê, yếu tố thuộc về
môi trường tự nhiên - lĩnh vực biên và nhùng hoạt động của cư dân nơi đây liên quan đến biên Do vậy, trong đồ tài, chúng tôi tiếp cận cấu trúc văn hóa của tác giá
Trần Ngọc Thêm (1997)1 ở phần ứng xử với môi trường tự nhiên để làm cơ sởnghiên cứu Đó là, con người có thế tận dụng những cái có lợi của môi trường tự nhiên (văn hóa tận dụng môi trường) nhưng cũng phải ra sức đổi phó với những khó
khăn cua nó (văn hóa đoi phó với môi trường)
' Cấu trúc của hệ thống văn hóa: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xư Trong văn hóa ứng xứ, gồm có: ứng xứ với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội (tr.31-32).
Đổ cụ the hóa nội dung, chúng tôi giới hạn đề tài nghiên cứu ở hai lĩnh vực: văn hóa ứng xư với biên cua cư dân ven biển Bình Định trong đời sống vật chất và
văn hóa ứng xử với biển cúa cư dân ven biến Bình Định trong đời sống tinh thần
Trong đời sống vật chất: luận án tập trung làm rõ những biểu hiện về ứng xử với biên của cư dân ven biên Binh Định trên một sô lình vực như: âm thực, trong
chọn nơi ờ, dựng nhà, trong lao động sán xuât, giao thông vận tải, thương mại và du
lịch biên
Trong đời sống tinh thần: đó là những biểu hiện về ứng xử với biển trong cácloại hình tín ngưỡng (thờ cúng cá Ông, Cô Bác, thờ Bà), kiêng kỵ dân gian và trong
các loại hình nghệ thuật
Bới, theo Trần Ngọc Thêm, (2014),
Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu linhthan Con người cùng có hai loại hoạt động cơ ban là hoạt động sán xuất vật
chất và hoạt động sản xuất tinh thần Từ đó, vãn hóa như một hệ thống thường được phân biệt theo hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Trang 21Văn hóa vật chất bao gồm những sản phẩm do hoạt động sán xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ san xuất, phương tiện đi lại
Văn hóa tinh thần bao gồm những sàn phẩm do hoạt động sán xuất tinh thần
của con người tạo ra: tư tướng, tin ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong phục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương (tr.45)
Tuy nhiên, sự phân chia trên cũng chỉ mang tính tương đổi bởi không có một
sán phẩm vật chất nào do con người sáng tạo ra lại không mang giá trị tinh thần vàngược lại
Phạm vi nghiên cứu
- về chủ thể: Luận án tập trung tìm hiểu, nghiên cứu người Việt ven biểnBình Định chịu ánh hường trực tiếp hoặc gián tiếp của biến Thông qua đó, tìm hiếumối quan hệ giừa con người và biên thông qua văn hóa ứng xử
- về không gian: Chúng tôi lựa chọn không gian nghiên cứu cho dề tài là
thành phố Ọuy Nhom, 3 huyện (Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ) và thị xã Hoài Nhơn
Vì là các địa phương ven biển, do đó yếu tố biển đã tác động đến mọi mặt của đời
song cua cư dân nơi đây; được đúc kết, sáng tạo và tích lũy trong quá trình conngười khai thác nguồn lợi từ biên
- về thời gian: Chúng tôi tìm hiêu văn hóa ứng xứ cúa người Việt ven biển
Bình Định giai đoạn hiện nay trong mối liên hệ với các yếu tố truyền thống Từ đó,
có thế so sánh đối chiếu những biến đổi và nhừng tồn tại trong văn hóa ứng xử với
biển cua cư dân nơi đây
2
2 Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 2/1976 hai tinh Bình Dịnh và Quáng Ngãi hựp nhất thành
tinh Nghĩa Bình Năm 1989, tinh Bình Dịnh được tái lập Do đó, chúng tôi tiếp cận vấn đề từ nãm
1989 đen nay thời điếm từ khi tinh Bình Định được tách khoi địa giới hành chính của tinh Nghía Bình.
5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu:
Trang 22- Môi trường tự nhiên của vùng ven biến Bình Định có đặc đicni chung gì so với vùng duyên hai Nam Trung Bộ và có những đặc diêm riêng gì mang tinh đặc
thù lịch sử?
- Những biên hiện trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cư dân ven biên Binh Định và cách ứng xử với biên phân ánh điều gì trong tâm thức văn
hóa cúa họ?
Gia thuyết nghiên cứu:
- Vùng ven biến Bình Dinh, điều kiện khí hậu, đất đai không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng vùng biên nơi đây có nguồn thúy san dồi dào nên đãhình thành trong họ ý thức về biến để lựa chọn thích nghi nhàm mưu sinh và ổn
định cuộc sống
- Những lợi ích mà biển mang lại cho con người trong đời sống văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần như: trong ầm thực, trong đảnh bắt, nuôi thúy sản, trong
du lịch và trong các loại hình văn hóa nghệ thuật nhưng bên cạnh đó, biển cũng
mang đen nhừng hiểm nguy buộc con người phải tìm cách thích nghi để tồn tại
Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần bỏ sung vào phần lý luận của văn hóa học Việt Nam, đặc
biệt về phương diện địa - văn hóa, sinh thái văn hóa trong việc hình thành sự ứng
xư với biến Đồng thời, đồ tài nhàm phục vụ công tác thông tin tư liệu, tài liệu tham
khảo cho các ngành khoa học xã hội, giang dạy và nghiên cứu về văn hóa biền, đảo
Ý nghĩa thực tiền
Đe tài góp phần vào việc định hướng và thực thi những chính sách kinh tế - vãn hóa - xã hội của nhà nước đối với cư dân ven biến; đặc biệt là những chính sách
nhằm bao tồn và phát huy những giá trị văn hỏa cua cư dân ven bièn trong quá trình
ứng xư với biên từ quá khứ cho đến hiện tại
Trang 237. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tông hợp, phán tích tài lệu
Phương pháp tông hợp, phàn tích được sử dụng đê bao quát các tài liệu liên
quan đen vấn đề nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau Đó có the là những
dần chứng, những trích dẫn, bảng biếu trong tài liệu tham khảo, sổ liệu thống kê
hoặc các tư liệu điền dã Từ đó đưa ra những nhận định nham làm rõ sự ứng xứ với
biến cua cư dân ven biển Bình Định
- Phương pháp quan sát thatn dự
Đây là phương pháp đòi hỏi người nghiên cứu phai tiếp cận cộng dồng, tham
dự vào môi trường, không gian sinh sống của họ để thu thập thông tin về nhiều lĩnh vực khác nhau Trong quá trinh nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện phương pháp quan sát tham dự bàng cách tham gia vào các lề hội, các làng nghề thu công của cộng đồng cư dân ven biển Bình DỊnh để tìm hiểu đối tượng nghiên cứu Trong quá
trình quan sát tham dự, chúng tôi đồng thời kết hợp áp dụng một số hình thức phong vấn, ghi chép, chụp ảnh, quay phim những sự kiện, những vấn đề liên quan đến luận án Mặt khác, việc quan sát tham dự còn dê nhận ra biến dối trong cách ứng xứvới biên của cư dân nơi đây Ngoài ra, các ghi chép ở thực địa về địa bàn nghiêncứu, về các loài thúy sàn, các hình thức khai thác thuy sán, các loại tàu thuyền đánhbắt, các nghề thu công truyền thống, cách thức thực hành tín ngưỡng cung cấp nhiều thông tin cho luận án Với cách làm này đã giúp cho chúng tôi có thêm tư liệu
về lịch sử, văn hóa, quan hệ xã hội, nghề nghiệp của địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vân sâu
Đây là phương pháp mà người nghiên cửu đặt ra câu hoi về các vấn đề
nghiên cứu và các thông tín viên tra lời, phong vấn viên lưu lại những câu trả lời đó nhằm thu thập những thông tin phù hợp và cần thiết cho đề tài nghiên cứu Chúngtôi thực hiện 30 mẫu phóng vấn (tù năm 2018 - 2020) tại 5 địa phương ven biên
Bình Định Tiêu chí chọn mẫu cùa phương pháp này là dựa vào sự phù hợp về giới
tính, độ tuồi, nghề nghiệp của các thông tín viên đối với từng vấn đề nghiên cứu
Trang 24cụ the Cách làm này giúp chúng tôi tìm được những thông tín viên cao tuổi có hiểu
biết về nghề đánh bắt, nuôi thủy sản, thực hành tín ngường thường xuyên, có hiếu
biết về lịch sư và vãn hóa cộng đồng nham giai thích rõ về những kinh nghiệm trong
quá trình đánh bắt thủy sàn và những biểu hiện trong thực hành tín ngưỡng của cộng đồng Còn với những người trẻ tuổi, họ sẽ có những cách nhìn nhận riêng với nghề
biển hiện nay và cả trong thực hành tín ngưỡng Đồng thời, chúng tôi còn chú ý đến
yếu tố giới khi chọn đổi tượng phỏng vấn Trong tổ chức đánh bẳt thuy sản và thựchành tín ngưỡng thì nam giới là người đứng ra tổ chức Tuy nhiên, nhiều phụ nữ với vai trò làm nghề vá lưới, làm mắm, làm muối nên các thông tin cung cấp cúa họgiúp cho chúng tôi có cách nhìn nhận khách quan hơn đối với nghề biên, các nghềthủ công truyền thống và cả trong thực hành tín ngưỡng
- Cách tiếp cận liên ngành: đề tài dựa trên các nghiên cứu từ những ngành khác như nhân học, địa lý, lịch sử, tâm lý học, văn học, tôn giáo học sẽ giúp làm
rõ nhừng vấn đề về tự nhiên vùng ven biền, quá trình hình thành vùng đất Bình
Định cũng như các yếu tố xã hội tác động đến đời sống văn hóa cua người dân nơi đây; đồng thời lý giải những van đe mang tính tàm linh trong đời sống tín ngưỡng
của họ Việc tiếp cận liên ngành sẽ giúp chúng tôi tồng hợp tri thức cua nhiềungành nghiên cứu khác nhau, trong đó, đề tài được đặt dưới góc nhìn văn hóa học
để tiếp cận giãi quyết vấn đề
Ngoài phần mơ đầu, phần kết luận, tài liệu tham khao và phần phụ lục, đề tàigồm cỏ 3 chương, cụ thê,
Chương 1: Cơ SO’ lý luận và thực tiễn
Trong chương này, chúng tôi đề cập đến các khái niệm liên quan đến đề tài,
đó là văn hỏa, ứng xứ, văn hỏa ứng xử, văn hóa ứng xử với biển và các lý thuyết
được áp dụng trong đề tài Ớ phần cơ sở thực tiễn, chúng tôi nêu khái quát về đặc điểm tự nhiên, quá trình hình thành vùng đất Binh Định và vùng ven biền BìnhĐịnh
Trang 25Chưong 2: Văn hóa ứng xử vói biến của cư dân ven biến Bình Định trong đòi sống vật chất
Trong chương này chúng tôi làm rõ văn hóa ứng xư với biên trong lĩnh vựcđời sống vật chất, gồm trong ấm thực, chọn nơi ơ, dựng nhà, trong san xuất (hoạtđộng đánh bat và nuôi trồng thúy sán) cùng với các ngành nghê thú công, hoạt độnggiao thông vận tái, thương mại và du lịch biển
Chương 3: Văn hóa ứng xử vói biển của cư dân vcn biển Bình Định trong đòi sổng tinh thần
Trong chương này chúng tôi làm rõ văn hóa ứng xư với biên trong lình vực
đời sổng tinh thằn, gồm: các hình thức tín ngưỡng (thờ cúng cá Ống, Cô Bác, thờBà), các kiêng kỵ dân gian và các loại hình nghệ thuật (văn học dân gian, hát batrạo, vui chơi - giải trí, nghệ thuật tạo hình )
Trang 26Theo Từ điên tiếng Việt do Hoàng Phê (2006) (chu biên) thì, ứng xừ có nghĩa
là “có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự Có khả năng ứng xử tốt
trong cuộc sống” (tr 1091)
ứng xu là một trong những phạm trù nghiên cứu cua ngành tâm lý học, xã hộihọc ủng xử được xem như là một hệ thống quan hệ tương tác giữa sinh vật (kề cả
con người) và môi trường (tự nhiên và xã hội)
Theo tác gia Trần Thị Thúy Anh (2009) thì “úng xứ là hệ thống các hệ tươngtác, các phản ứng được thực hiện bởi các vật thề sống đê thích nghi với môi trường”
(tr.28) Tác giá Đoàn Văn Chúc (1997) cho rằng, ứng xử dùng đề chi,
Cách hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò xã hội này đối diện với một vai trò khác Và đó là những hành động hoặc gọi là phản ứng theo
một cách tương đối úng xư không chi giới hạn các vai trò xã hội với nhau màcòn ứng xư với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên (tr 124)
ửng xử của con người trong xã hội không diền ra một cách tùy tiện, ngầunhiên ơ mồi cá nhân mà chúng được lặp đi lặp lại thường xuyên bởi nhiều người
trong cả không gian lẫn thời gian và được tạo thành nhừng khuôn mầu Do vậy,
Những khuôn mầu ứng xử là những khuôn mẫu văn hóa vì khuôn mẫu ứng xư
là sự khách thể hóa những kiến thức, những tư tường và tình cảm đã đạt được
và mong ước đạt được trong một nền văn hóa (Đoàn Văn Chúc, 1997, tr.125).Cũng theo Đoàn Văn Chúc (1997), đe xác định một ứng xứ nào đấy có là
khuôn mẫu vãn hóa hay không thường xem xét 4 yếu tổ Đó là
a ứng xử được thường xuyên lặp đi lặp lại tức là tính thời gian của ứng xử;
b ửng xử được lặp lại tương đối theo cùng một cách bơi nhiều người, tức là
tính không gian của ứng xử;
c ứng xứ ấy có tác dụng chỉ nam, mẫu mực hay quy tắc cho các thành viên
cua một nhóm hay của một xã hội;
Trang 27Chương 1: cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ cơ SỜ THỤC TIỀN
1.1 Co ’ sở lý luận
7.1 ì Một số khái niệm
Cho đen hiện nay có hàng trăm định nghĩa khoa học về văn hóa, cùng với đó
là nhiều quan niệm về đặc trưng, chức năng và cấu trúc của hệ thống văn hóa Và cóthe thấy, văn hóa là sán phẩm cùa con người, là hệ quà sự tiến hóa của nhân loại
Nhờ có văn hóa mà con người trơ nên độc đáo trong the giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong the giới động vật Điều đó cho thấy, tri thức và một số hoạt động khác cua con người như tín ngưỡng, nghệ thuật là những thành tố cùa
văn hóa, nó chi phổi hành vi, ứng xử của con người; tùy thuộc vào môi trường sống
mà có những biêu hiện khác nhau ở lùng xã hội, lừng thời kỳ thông qua những cách
thích ứng, đổi phó của con người để thích nghi với môi trường sống, hình thành những giá trị văn hóa khác nhau Định nghĩa văn hóa cùa UNESCO,
Văn hóa phải được coi là một tập hợp những đặc thù về mặt tinh thần, vậtchất, tri thức và tình căm của xã hội hay là một nhóm xã hội và rang, nó bao gồm cả nghệ thuật, văn học, lối sống, cách chung sống, hệ giá trị truyền thống
và tín ngưỡng (Unesco, 2001, p.l)
Tác giả Phan Ngọc (1998) cho ràng: “Văn hóa dưới hình thức dề thấy nhất làbiểu hiện thành một kiêu lựa chọn riêng cùa cá nhân hay tộc người, khác các kiếu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác” (tr 17) Còn theo Trần Ngọc Thêm (1997),
Văn hóa là một hệ thống hừu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (tr.27)
Như vậy, văn hóa không phai là một lình vực riêng biệt Văn hóa là tồng thể
những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
ưng xử và vãn hỏa ứng xử
Trang 28d ứng xứ ấy chứa đựng một ý nghĩa xã hội nào đấy, tức là biếu thị kiến thức,
tư tướng hoặc tình cam mà chủ thê đã đạt được; nói cách khác là cái mang vác
một giá trị (kinh tể, chính trị, luân lý hay thâm mỳ) (tr 127)
Như vậy, ứng xử là có thái độ, hành vi thích hợp với môi trường xung quanh
và đảm bảo các yếu tố: thời gian, không gian, chu thể cũng như tính giá trị cúa nó
Quá trình phát triển cùa con người đều đánh dấu khả năng tác động, thích ứng cứa con người với tự nhiên, từ đó làm thay đối xã hội và ban thân theo hướng từng
bước ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và hoàn thiện con người
Tuy nhiên, con người vừa là sản phâm của hoàn cánh, vừa là chu thê sáng lạo
ra hoàn cảnh sống cua chính nó; do đó, văn hóa ứng xứ bao giờ cũng phải thông qua các hoạt động của chú thể và mang dấu ấn bơi các chủ thể “Văn hóa ứng xứ được hiếu là cách thức quan hệ, thái độ và hành động cua con người đối với môi trường lự
nhiên, đối với xã hội và đối với người khác” (Nguyễn Viết Chức, 2002, tr.54) Văn
hóa ứng xử được vận hành theo hệ thống giá trị chuấn mực, chịu sự quy định của phương thức sản xuất và các điều kiện sống của con người, có tính linh hoạt cao Theo lác già Nguyền Thanh Tuấn (2008) thì:
Văn hóa ứng xứ là hệ thống các khuôn mẫu ứng xử được the hiện ờ thái độ, kỳ
nàng ứng xử của cá nhân và cộng đồng trong mối quan hệ với môi trường
thiên nhiên, xã hội và ban thân, trên cơ sờ những chuẩn mực văn hóa - xã hộinhất định, đe bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng nhằm làm cho cuộc song cua cá nhân và cộng đồng giàu tinh người hon (tr.36)
Theo đó, “Văn hóa ứng xử là cách ứng xử mà con người sáng tạo và xác lập
đè duy trì các moi quan hệ giữa người với người và giữa con người với thế giới
chung quanh” (Bùi Thiết, 2000, tr.21) và “văn hóa ứng xứ như ta biết, tồn tại phố biến và rộng khắp mọi lĩnh vực hoạt động của con người” (Bùi Thiết, 2000, tr.23)
Trong công trình Tìm vê bán sắc Việt Nam — cái nhìn hệ thổng loại hình, với phương pháp hệ thống - cấu trúc, tác gia Trần Ngọc Thêm đã chia các giá trị văn
Trang 29hóa thành ba thành tố là văn hóa nhận thức, văn hóa tồ chức và văn hóa ứng xứ với môi trường Tác giá cho ràng,
xứ thế phù hợp với hai loại tác động của chúng: tận dụng môi trường (tác
động tích cực) và đối phó với môi trường (tác động tiêu cực) (Trần NgọcThêm, 1997, tr.31-32)
Ngoài ra, cách thức ứng xử còn là sự phàn ánh và trao truyền qua những hành
vi, lời nói, tư duy, tâm lý, chuẩn mực, biểu tượng của chủ thể hành động nhàm ứng phó với môi trường sống Theo Đoàn Văn Chúc (1997) thì:
Văn hóa ứng xữ là hệ thống những nep ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn
mực ứng xử trong môi quan hệ giữa con người và các đôi tượng khác, thê hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý trong quá trình phát triên và
hoàn thiện đời sống, đà được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực cua cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng, bản sắc cùa văn hóa một dân tộc, một quốc gia được cá nhân.cộng đông thừa nhận và làm theo (tr.74)
Điều đó cho thấy, văn hóa ứng xư là kết qua hoạt động cua con người trong
quá trình thích nghi và biến đổi nhằm đế bảo tồn, phát triển đời sống Có nhiều cách
thức bảo tồn và phát triển, tùy thuộc vào các không gian và thời gian khác nhau Các cách thức mà con người tác động vào môi trường tự nhiên và xã hội đều chịu sự quy
định khách quan cùa môi trường ây
Vãn hóa ứng xử với biến
Trang 30dân ven biến Như vậy, văn hóa ứng xử với biên là hệ thống các giá trị mà con người sáng tạo và tích ìũy trong quá trình thích nghi với biển để tồn tại.
Vùng ven biên
Theo Phan Thị Yen Tuyết, (2014) thì vùng biển và có thể xem là vùng ven biển để chì:
i) Khu vực đất liền gần biển, giáp biến, chịu ảnh hưởng và sự chi phối của
biền; ii) Toàn bộ phần biền theo giới hạn địa lý và hành chính cúa phần đất
liền; iii) Các đảo quần đâo và những gì thuộc về phần biển đó (tr.9)
Trên cơ sờ nghiên cứu tư liệu về các dạng thuyền ven biên nước ta, cũng như
san lượng đánh bắt cá của nhiều địa phương ven biển, Ngô Đức Thịnh (2016) đưa ra
khái niệm “biển cận duyên”
Xét về phương diện cánh quan địa lý thi “biến cận duyên” là một vùng biến vàđất liền chạy dọc bờ biên, mà ở đó có sự đan kết về các yếu tố địa lý môi
trường và phương thức khai thác của cư dân (tr.393)
lao động sản xuất, từ đó tạo nên nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, các
mối quan hệ gia đình, xóm làng, giữa các nhóm và tầng lớp xã hội trong những nét khái quát và tương đồng về văn hóa, giá trị (http://www.vanhoahoc.vn)
Trang 31Việt Nam là một quốc gia ven biên với 28 tinh thành có biển, trài dọc theo bờ biển từ Quàng Ninh đến Kiên Giang Cư dân ven biên với phương thức sinh sống chủ yếu dựa trên nền tang cùa ngư nghiệp kết hợp với nông nghiệp và các ngành nghethú công nghiệp, buôn bán, dịch vụ có liên quan đen khai thác những tiềm năng từ
biển Do đó, những đặc điếm văn hóa - xã hội cùa cư dân ven biên cũng chịu ảnhhương từ hoạt động san xuất gan liền với nghc bicn cùng với môi trường vùng ven
những lực lượng quan trọng không thể xem thường của cộng đồng; về hoạt
động, đóng góp kinh tế - xã hội cùa nghề biển đủ nhiều để trở thành nguồn sổng chính của cộng đồng; về thời gian tồn tại của chu the ấy trong không gian ấy với những đóng góp ấy đủ dài đế trở thành truyền thống đi vào tâm thức chung cúa cộng đồng (Trần Ngọc Thêm, 2014, tr 131-132)
Theo đó, trong phạm vi không gian nghiên cứu cua đề tài, chúng tôi muốn đề cập đến văn hỏa ứng xử với biền cùa nhừng CU' dân sinh sống chủ yếu dọc theo bờ
biển, vùng cứa sông gần biển, trong đó đại bộ phận cu dân lấy biến làm nghiệp sống
chính Binh Định có chiều dài đường bờ biên 134 km, trong đó có nhiều làng vạn
được hình thành ớ vùng ven biến Cư dân sinh sống lâu đời trong các làng vạn được
phân bố chạy dọc bờ biển cho tới các dài cát bằng phẳng bên trong cạnh các con sông
và một xã đảo (đao Nhơn Châu - thành pho Quy Nhơn) hình thành nên các cụm dân
cư đông đúc
1.1.2 Lý thuyết nghiên cún
Thuyết vùng văn hỏa
Trang 32Biến cả đối với con người là vô cùng quan trọng Biển cung cấp các nguồn tài nguyên nuôi sống con người từ bao thế kỳ nay và trong tương lai cũng sẽ là niềm hyvọng lớn nhất đoi với con người Là quốc gia giáp với biên Đông từ ba phía: Đòng,
Nam và Tây Nam, biển Việt Nam dài 3.260 km là điều kiện để nước ta thông ra Thái
Bình Dương, hòa vào các đường hàng hài quốc tế Toàn bộ dải biển đảo được chiathành nhiều tiểu vùng với những đặc diem riêng về đường bờ biển (gắn với các đao,vũng, vịnh), địa hình, khí hậu, thời tiết, ngư trường, các loại thúy sản Dọc bờ biên
cùng các hái dáo, lừ xa xưa dã có nhiều cộng đồng cư dân tụ cư thành các làng sinh
sống bằng nghề khai thác nguồn lợi thủy sán Mồi tộc người, mồi nhóm cư dân có
một thế ứng xử riêng để mưu sinh từ nguồn lợi của môi trường biển, đào Bên cạnh
những nguồn tài nguyên to lớn mà biên mang lại; biến cùng là nơi phát sinh và diễn
ra nhiều quá trình thiên nhiên gây nên những tai họa lớn đối với loài người Theo
Ngô Đức Thịnh (2016),
Sinh thái biển là sinh thái khác lạ, khá đối lập với sinh thái đất liền Neu con
người có được von tri thức phong phú và lâu đời bao nhiêu đối với đất đai,rừng núi, sông ngòi, tháo nguyên thì cũng có chừng đó hiếu biết vói biển cà bao la, mà ở trong lòng nó chứa đựng đầy ắp những tài nguyên cần thiết cho đời sống của con người, nhưng cũng ấn chứa không ít những nguy hiểm (tr.389)
Tùy thuộc vào các dạng sinh thái biền như biển bãi dọc, biến bãi ngang, vũng,vịnh - đầm phá biến, biền đảo và từng cộng đồng người cụ the trong những hệ, dạng sinh thái biển cụ thê mà con người có cách thích ứng phù hợp
Văn hóa ứng xử với bicn của cư dân vùng duyên hải Nam Trung Bộ nói chung
và cùa cư dân Việt ven biên Bình Định nói riêng được hình thành trong quá trình
thích nghi, khai thác nguồn lợi từ biên Và văn hóa ứng xử với biển được thể hiệnqua hệ thống tri thức dân gian, áp dụng công nghệ đê hình thành các phương thứcmưu sinh thích họp; trên cơ sở đó, hình thành các thiết chế xã hội cùng các quan hệ
xã hội và cách thức tồ chức các sinh hoạt văn hóa trong đời sổng cộng đồng của cư
Trang 33Lý thuyết vùng văn hóa ra đời vào cuối thế ký XIX đầu thế kỳ XX đã được
một số học giả Mỳ quan tâm Trong đó, Franz Boas, một nhà nhân chủng học có ảnhhương lớn đến các khuynh hướng nghiên cứu văn hóa Mỹ thế ký XX vả sau đó được
Clark Wisslcr và Alfred Krocbcr hoàn thiện phát triên F Boas cho ràng,
Không thể có một thứ chuẩn mực chung nào đế phán xét tất cả mọi xã hội Đặc điềm cùa các xã hội là kết quá cúa hoàn cánh lịch sử và môi trường riêng cùa mồi xã hội và chi có thể hiểu được trong bối cảnh cụ thể của nó (R Jon
Mcgee - Richard L Warms, 2009, tr 177)
Đo vậy, một vùng văn hóa được xem là một khu vực gắn bó mật thiết với
vùng tự nhiên, là một khu vực địa lý xác định có những tương đong về phan lớn các
đặc diêm văn hỏa F Boas khăng định, “văn hóa của mõi dân tộc được hình thành
trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiệnđịa lý cụ thể” (Dần theo Ngô Đức Định, 2004, tr.28)
Theo Ngô Đức Thịnh (2006), văn hóa vùng thuộc dạng thức văn hóa lãnh thô,mang tính chất liên văn hóa
Văn hóa vùng (hay văn hóa địa phương) là một thực thè văn hóa, hình thành
và tồn tại trong một không gian lãnh tho nhất định, the hiện qua một tập hợpcác đặc trưng văn hóa về cách thức hoạt động sản xuất; về ăn, mặc, ở, đi lại,vận chuyển; về cách thức tồ chức xã hội cố truyền và giao tiếp cộng đồng; về
tín ngưỡng, phong tục và lễ hội; về các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật; về vui
chơi giái trí; ve các sac thái tâm lý của cư dân , từ đó có thê phân biệt với
các đặc trưng văn hóa cùa vùng khác (tr.31)
Đê tạo nên vùng văn hóa thi có các yếu tố tác động, đó là, “môi trường tự
nhiên và các hoạt dộng san xuất của dân cư; nhân tố lộc người và trình dộ phát triển
kinh tế - xã hội” (Ngô Đức Thịnh, 2004 tr.64 - 66) Còn theo Huỳnh Công Bá(2012), thì khái niệm vùng văn hóa là:
Trang 34Dựa trên những hằng số về địa lý (tương đương với vùng - region) - lịch sư
để xác định một không gian văn hóa được hình thành dựa trên cơ sờ những đơn vị địa lý dân cư địa phương kế nhau với các cơ cấu văn hóa đặc trưng
tương đông vê hai yêu tô: yêu tô thứ nhât là địa lý (điêu kiện tự nhiên: địa
hình, sinh thái, khí hậu, đặc điểm tộc người, đặc điềm cư trú, canh tác, lịch sửphát then, trạng thái xã hội và yếu tố thứ hai là văn hóa cúa vùng với những dấu hiệu khác biệt về lối sống, phong tục tập quán, nghệ thuật kiến trúc, âmnhạc thông qua tính cách, tâm lý, nếp sống cua cư dân địa phương (tr.214)
9
Như vậy, dựa vào cách phân vùng của một sô nhà nghiên cứu hiện nay như:
“ Việt Nam lãnh thô và các vừng địa lý” (1998) cúa Lê Bá Thảo, “ Văn hóa vùng và phán vùng văn hóa ở Việt Nam ” (2004) cua Ngô Đức Thịnh thì Bình Định thuộc
vùng duyên hải Nam Trung Bộ Từ khi thuộc về Đại Việt đến nay, Bình Định đà có
lịch sứ hình thành lâu dời (năm 1471) Những lưu dân có nguồn gốc lừ các tỉnh phía
Bắc, chủ yếu là vùng đồng bàng sông Hồng và vùng Thanh - Nghệ - Tình đà vào
định cư sinh sống Trải qua bao thế ký, các thế hệ người Việt đã dần ồn định và thành
lập nên những cụm dân cư ven biến đông đúc nhu ngày này
Vãn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biên Bình Định gắn liền với môi
trường địa lý cụ thố, trong đó, có tinh đến các yếu tố xã hội Bình Định thuộc duyên
hài Nam Trung bộ, nơi đây có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với các dãy núi kề sátbiến, đồng bàng hẹp, khô cằn Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa hè kéo dài khô
nóng, mùa đông bão tố xảy ra nhiều, các con sông ngắn và độ dốc lớn lại ít phù sanên không thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, nơi đây có vùng biến sâu,
có dòng hai lưu chay qua nên giàu tiềm năng khai thác và chế biến thúy san Hơnnữa, vùng này có cảng nước sâu (Ọuy Nhơn) thuận lợi cho việc phát triển thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế Do đó, cư dân nơi đây đã có tư duy
hướng biền, phái dựa vào biên đế khai thác các nguồn lợi Tuy nhiên, bicn cả có
nhiều thiên tai, con người phái tìm cách ứng phó với nhùng hiêm nguy mà biến mang
Trang 35lại Vì vậy, cư dân ven biển Bình Định đã sớm thích nghi với môi trường biến để tồntại và ổn định cuộc sống.
Bên cạnh đó, trong một vùng văn hóa, việc có một hoặc nhiều tộc người cùng sinh sống; giữa các tộc người luôn có sự tiếp xúc lâu dài về vãn hóa sẽ dẫn đến sựbiến đồi một số đặc điểm văn hóa của các cộng đồng Sự tiếp xúc đó diễn ra trênnhiều lình vực với những cấp độ, mức dộ khác nhau và nhờ dó làm náy sinh các hiệntượng văn hóa mới Ngô Đức Thịnh (2004) cho rằng:
Một cộng đồng phát triên hay tiêu vong văn hóa tùy thuộc vào những yểu tốnội sinh - truyền thống văn hóa cúa chính cộng đồng ấy Khi yếu tố nội sinh
đủ mạnh, nó sẽ tự lựa chọn và bản địa hóa những yếu tố vãn hóa mới tiếp thu
được từ cộng đong khác (tr.22)
Ngoài ra, vùng văn hóa được hình thành và ton tại là do kết quá cúa sự tác
động của nhiều nhân tố như tự nhiên, xã hội và lịch sư, cùng với đó là sự giao lưu và
ảnh hưởng qua lại giữa các tộc người trong quá trình cộng cư khai phá
Vùng văn hóa (hay còn gọi là vùng văn hóa - lịch sư) là một vùng lãnh thố có nhừng tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư ở đó từ lâu đã có những mối
quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh
tế - xã hội; giữa họ diễn ra sự giao lưu, ảnh hưởng văn hỏa qua lại, nên trong
vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thế hiện trong sinh hoạt văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.64-65)
Trước khi người Việt di cư vào vùng đất này thì đây là nơi sinh sống lâu đời cứa người Chăm, họ đã xây dựng nen vương quốc Champa của mình từ sau công nguyên Từ thế kỉ XV với xu hướng Nam tiến cùa người Việt, nơi đây đà diễn ra quá trình hòa hợp và giao lưu vãn hóa giữa hai lộc người Việt - Chăm và sau này là
người Hoa Quá trình giao lưu này thế hiện qua các phương thức canh tác nông nghiệp, hệ thống thủy nông và đặc biệt người Việt đã kế thừa kinh tế biên, tư duy
hướng biển, kỹ thuật đóng thuyền, kỹ năng khai thác thủy sản cua người Chăm Họ
Trang 36cũng tiếp nhận tri thức buôn bán, định giá các nguồn hàng, hội nhập với các tuyển giao thương truyền thống của người Chăm, sau này là người Hoa và nhiều cộng đồng
cư dân khác để mở rộng bang giao quốc tể Bên cạnh đó, các hình thức tín ngưỡng,
phong tục, lễ hội cũng có sự giao lưu giữa các dân tộc như tục thờ cúng cá ông, thờ
các Bà (bà Thiên Y Ana, bà Thiên Hậu ) Đồng thời, ờ Nam Trung Bộ nói chung
và Bình Định nói ricng đã hình thành một loại hình nghệ thuật mang sac thái đặc trưng cúa vùng là hát bá trạo trong tang lễ và nghinh đón cá ông Bên cạnh đó, tụcthờ cúng Cô Bác - khác với thờ cúng tố tiên theo dòng tộc ở lừng gia đình, đây là
hình thức thờ cúng của cộng đồng, có nơi có đền thờ riêng hay phối thờ trong lãngÔng đe thờ cúng những người chết vì hoạn nạn, nhất là linh hồn những người chết
trong quá trình mưu sinh trôn sông, biến là hình thức tín ngưỡng phô biến cúa cư dânvùng duyên hải Nam Trung Bộ
Thuyêt sinh thủi văn hóa
Thuyết sinh thái văn hóa (Cultural Ecology) ra đời vào khoáng nãm 1950,nghiên cửu moi quan hệ giữa văn hóa và môi trường lừ quan diêm xem con người là
chu thê tồn tại thích ứng với môi trường thông qua vãn hóa, còn văn hóa thì chịu anh
hương lớn của các loại tài nguyên môi trường mà con người sứ dụng Theo Julian H
Steward thi “Tiếp cận môi trường sinh thái tạo nên mối liên hệ giừa môi trường lự
nhiên, kỳ thuật, kinh tế, tồ chức xã hội, các mô hình định cư, phân bố dân cư và lịchsử” (Robert McC Netting, 1968, tr.267) Qua đó, việc sứ dụng tài nguyên thiên
nhiên cua mỗi tộc người đều liên quan chặt chẽ với đặc diem địa lý lừng vùng Trongquá trình phải thích nghi với môi trường tự nhiên, con người đã tạo nên nền văn hóa cùa mình Steward xem xét nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của các cộng đong,nghiên cứu sự khai thác các nguồn tài nguyên đó và việc khai thác này ảnh hườngnhư thế nào đen văn hóa Tuy nhiên, “các xã hội có công nghệ kỳ thuật sinh ton càng
thô sơ thì xà hội đó càng phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, trái ngược lại với những xã
hội có trình độ khoa học kỳ thuật cao” (Robert McC Netting, 1968, tr.269)
Trang 37Đặc trưng cua hệ sinh thái văn hóa được thê hiện bơi hai phương thức sản
xuất Một là, phương thức tận dụng môi trường tự nhiên, khai thác các nguồn lợi cúa
tự nhiên nham phục vụ cuộc sống của con người Phương thức thứ hai là bào ton môi
trường tự nhiên và kiểm soát các yếu tố có thế dẫn đến việc làm cạn kiệt môi trường
tự nhiên Từ nhừng thành tựu khoa học có được, thông qua sự thích nghi với môi trường tự nhiên, cộng đong dân cư sẽ có cách ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên mà con người đang sinh sống và khai thác nó
Khái niệm thích nghi đã được Steward lý giải là “hành vi văn hóa cúa con
người đối với môi trường tự nhiên” (Robert McC Netting, 1968, tr.267) Do đó,
Julian H Steward cho rằng: “nghiên cứu văn hóa sinh thái tức là tìm hiếu những mốiquan hệ giữa môi trường, con người và văn hóa” (Robert McC Netting, 1968,
tr.267) Bên cạnh đó, sinh thái văn hỏa cúa một tộc người còn là sự nhận thức về thế
giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán
Bên cạnh mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, thuyết sinh thái văn hóa còn đề cập đến cách thức con người ứng xứ với môi trường tự nhiên từ những kinh nghiệm dàn gian cho đen các loại máy móc và các biện pháp kỹ thuật
Theo Phan Thị Yen Tuyết, (2014) thì:
Liên quan đến sinh thái văn hóa phải chăng có cả tri thức bán địa, vì cơ chế thích nghi với môi trưcmg sinh thái đã giúp các cộng đồng cư dân miền biến tích lũy nên hệ thống tri thức địa phương trong mọi lĩnh vực cúa đời sống kinh
tế, xã hội, văn hóa (tr 11)
Ớ Việt Nam, nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và văn hóa, nhà nghiên cứu Đào Duy Anh (2017) cho rang: “Cách sinh hoạt cua con người, tức làvăn hóa có quan hộ mật thiết với điều kiện tự nhiên, cho nên nghiên cứu văn hỏa của một dân tộc, ta phải nghiên cứu hoàn cánh tự nhiên cua dân tộc ày trước” (tr.12)
Trang 38Con người tồn tại trong môi trường tự nhiên và “mối quan hệ giữa con người
với môi trường tự nhiên là mối quan hệ nhiều chiều, mối quan hệ thích nghi, không
thích nghi và biến đôi (tự nhiên, xã hội và chính mình)” (Trần Quốc Vượng, 2015,
tr.29) Cũng theo Trần Quốc Vượng (2015), con người phải sư dụng những “biện pháp kĩ thuật khác nhau đê thích nghi, biên đoi tự nhiên, buộc nó không còn là tự
nhicn như cũ nũa, bắt nó phục vụ lại chính mình” (tr.32) Do vậy, sự khác nhau về văn hóa giữa các dân tộc hay các nhóm, cộng đồng người là
Do con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức, có ngôn ngữ và khả năngbiếu tượng hóa, có mô hình hành động được lựa chọn chứ không chi có mô
hình hoạt động theo ban năng như phần lớn các động vật khác và do sự khác nhau về môi sinh (Trần Quốc Vượng, 2015, tr.32)
Trong nghiên cứu về mối quan hệ giừa con người và môi trường tự nhiên, Nguyền Từ Chi, (1996) cho rang: “Thực ra, từng nen văn hóa, xét cho cùng, đều là hậu qua cua việc từng cộng đồng, đô tồn tại, phai thích ứng với thiên nhiên bao
quanh nó” (tr.55) Con người vừa là lực lượng cải tạo tự nhiên, khai thác tự nhiên để
tồn tại nhưng cũng chịu anh hương và quy định bới mòi trường tự nhiên Do vậy,
Trước sức cản trở mà thiên nhiên gây ra đối với cuộc sống của mình, con
người không thế vượt qua thuần bang sức mạnh bán năng như các động vậtkhác, mà chi có thể đối đầu bàng cách cùng cộng đồng mình cải tạo tự nhiên, thay đoi bộ mặt của nó, buộc nó không còn là tự nhiên như cũ nữa, bat nóphục vụ lại mình (Nguyên Từ Chi, 1996, tr.56)
Tuy nhiên, môi trường tự nhiên ngày càng thay đôi và điều đó có liên quantrục tiếp đến con người trong mọi lĩnh vực hoạt động Vì vậy, “vấn đề cơ bản là xác
định vị trí của con người trong tự nhiên và mối quan hệ cua con người với tự nhiên”
(Trần Quốc Vượng, 2015, tr.29) Đổ trên cơ sở đó, có thề xác định được hướng phát triển bồn vững, chọn lọc những yếu tố phù hợp và hạn chế các tác động tiêu cực tới
môi trường Bởi vì, “Chiến lược thích nghi, chính kết quả hay hậu quả của chiến lược
Trang 39Lý thuyêt chức năng
Trường phái chức năng ra đời vào những năm đầu the ky XX tại nước Anh vàgắn liền với hai nhà nghiên cứu Bronislaw Malinowski và Radcliffe Brown
Quan diem của Bronislaw Malinowski hướng đến chức năng tâm sinh lý cùa
lễ nghi và những phong tục khác là nham thỏa mãn nhu cầu tâm lý của con người,giúp họ tránh đi nhừng sợ hãi, những rủi ro bất trắc trong cuộc sống Trong công trình
Ma thuật, khoa học và tôn giáo, khi tìm hiều về những người làm nghề biến Malinowski
cho rằng:
Cho dù họ có cả một hệ thống kiến thức được áp dụng một cách cỏ phương pháp,
họ vẫn phải phó mặt cho những cơn thủy triều mạnh mẽ và không thê dự đoántrước nhừng cơn bão đột ngột trong những đợt gió mùa và những via đá ngầmchưa từng được biết đen Và vì the, họ dùng đến ma thuật, được thực hiện trong
khi làm thuyền, khi bắt đầu ra khơi và trong quá trinh thám hiểm, họ cũng viện
đến ma thuật trong những thời điếm cực kì nguy hiểm (Hội khoa học lịch sư Việt Nam, 2006, tr 159)
Và trong một thỉ dụ nổi tiếng về đời sống người Trobriand ờ một đảo ở Thái Bình
Dương, Malinowski phân tích rang:
Vấn đề quan trọng nhất là ờ chổ đối với việc đánh bắt cá ở phá, khi con người hoàn toàn dựa vào kiến thức và kĩ năng của mình, ma thuật không ton tại, trongkhi đối với việc đánh bắt cá ngoài khơi, đầy nguy hiểm và bất trắc, người ta sử
dụng một hệ thống nghi lề ma thuật với phạm vi rộng lớn đế đảm bảo an toàn và
két quá cao (Hội khoa học lịch sir Việt Nam, 2006, tr 159)
Do đó, Malinowski đưa ra một giả thuyết là môi trường càng bất trắc và kết quả càng bấp bênh thì con người lại càng cần đến lề nghi để làm chồ dựa cho niềm tin Trong môi trường biếnViệt Nam, nếu theo quan đièm lý thuyết Malinowski, chúng ta sẽ
giai thích được vì sao nhũng cộng đồng cư dân ven biển tổ chức các hoạt động cầu cúngthần linh liên quan đến nghề nghiệp của họ? Đúng tù’ quan điểm chức năng tâm lý có thê
Trang 40thích nghi này tác động không nhỏ tới việc hình thành những nét đặc thù cua một ban
sắc văn hóa, mô thức ứng xử của một tộc người” (Trần Quốc Vượng, 2015, tr.32)
Do đó, “phai cần một triết lý chung: sống chung với tự nhiên và hướng tới một xã hộingày càng giàu mạnh và công bang hơn, xanh - sạch - đẹp hơn, văn minh hơn”
(Trần Quốc Vượng, 2014, tr.429)
Bên cạnh dó, thuyết sinh thái văn hóa còn xem xét mối quan hệ giữa conngười với môi trường tự nhiên ờ khía cạnh đời sống tâm linh nhàm góp phần giải
quyết các vấn đề liên quan tới môi trường tự nhiên Nhừng nghi lề, đặc biệt là trong
các lễ hội nghề nghiệp và những kiêng kỵ trong đời sống hàng ngày cúa cư dân ven biến nhằm thể hiện sự chung sổng hài hòa giữa con người với môi trường tự nhiên
nơi đây
Điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhường ở Bình Định không mấy thuận lợi để làm nông nghiệp Thay vào đó, vùng biên nơi này có nhiều cá, tôm, nên hệ sinh thái
vùng biên đã chi phoi mạnh đến đời sống và phương thức mưu sinh cua cư dân Đó
là sinh sống dựa vào nền táng của biên và những đầm phá ven biển; đồng thời kết
hợp với nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành dịch vụ buôn bán liên quan đến khai
thác tiềm năng kinh tế biân làm chô dựa đô sinh sống
Trải qua may trăm năm sinh song có thê thấy cư dân ven biển Bình Định đã hình thành một hệ thống văn hóa ứng xư với biển Nó thể hiện qua quá trình khai thác nguồn lợi từ biền đê phục vụ đời sống hàng ngày; đồng thời, đời sống tâm linh
cùa cư dân nơi đây cũng chịu ánh hường từ biến cả Những năm gần đây, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật trong khai thác thủy sản đã có những tác động đến mối quan hệ giữa con người với mòi trường biển Cùng với những chính sách cua nhànước nhằm hồ trợ cư dân ven biên trong khai thác, nuôi trồng thủy san đã làm thay
đổi phần nào cuộc sống của cư dân; đong thời nâng cao nhận thức cùa cư dân ven biển nói chung và Bình Định nói riêng trong vấn đề khai thác, bào vệ nguồn lợi thủysán cũng như các giá trị trong đời sống tinh thần của cư dân ven biên