NGUYỄN DUY THÀNH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ TRANG TRẠI TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 1NGUYỄN DUY THÀNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ TRANG TRẠI TẠI HUYỆN
ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2022
Trang 2NGUYỄN DUY THÀNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ TRANG TRẠI TẠI HUYỆN
ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học môi trường
Mã ngành: 8.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ
Nguyễn Duy Thành
Trang 4LỜI CẢM ỞN
Để hoàn thành luận án này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
thầy hướng dẫn: PGS.TS Đỗ Thị Lan người đã hướng dẫn, chỉ bảo, động
viên tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã giảng dạy, hướng dẫn tôi hoàn thành các học phần trong suốt chương trình đào tạo
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc, Ban Đào tạo sau đại học - Đại học Thái Nguyên; Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Khoa học môi trường- Trường Đại học Nông Lâm
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những người bạn, người thân trong gia đình, nhất là bố, mẹ, chị và em gái đã luôn giúp đỡ, kịp thời động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022
Học viên
Nguyễn Duy Thành
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ỞN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu 2
3 Ý nghĩa 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi 5
1.1.3 Thành phần, tính chất của nước thải chăn nuôi 6
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến sức khỏe và môi trường 7
1.2 Cơ sở pháp lý 9
1.3 Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 11
1.3.1 Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới 11
1.3.2 Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn tại Việt Nam 13
1.4 Tổng quan các giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi 16
1.4.1 Xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas 18
1.4.2 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học 19
1.4.3 Xử lý nước thải bằng ôxi hóa 20
1.4.4 Xử lý nước thải bằng cây thủy sinh 21
1.4.5 Sử dụng zeolit, dung dịch điện hoạt hóa anolit 22
1.5 Tổng quan về quản lý môi trường trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 23
Trang 6Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 26
2.1.4 Thời gian nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 27
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 27
2.4.3 Phương pháp xử lý kết quả 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 30
3.1.1 Thực trạng quy mô chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Từ 30
3.1.4 Sức ép môi trường từ hoạt động chăn nuôi 35
3.1.5 Công trình bảo vệ môi trường tại một số trang trại chăn nuôi huyện Đại Từ 37
3.2 Đánh giá hiện trạng nước thải tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện 44
3.2.1 Hiện trạng nước thải trước xử lý tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện 44
3.2.2 Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện 47
3.3 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi lợn tới môi trường trên địa bàn huyện 52
3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường trong chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Từ 55
3.4.1 Giải pháp kỹ thuật 55
3.4.2 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức 57
Trang 73.4.3 Giải pháp về cơ chế chính sách 58
3.4.4 Tăng cường năng lực quản lý môi trường 59
3.4.5 Các giải pháp khác 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
1 Kết luận 63
2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần hoá học của phân lợn từ 70 – 100 kg 5
Bảng 1.2 Lượng nước tiểu thải ra hàng ngày 6
Bảng 2.1: Tình hình tiêu thụ thịt lợn tại một số nước trên thế giới 12
Bảng 2.1 Vị trí và địa điểm lấy mẫu nước thải chăn nuôi 28
Bảng 2.2 Các phương pháp bảo quản mẫu trước khi phân tích 28
Bảng 2.3 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích 29
Bảng 3.1 Khối lượng CTR chăn nuôi phát sinh từ lợn trên địa bàn tỉnh và huyện Đại Từ năm 2016-2020 36
Bảng 3.2 Hệ số phát thải nước thải chăn nuôi gia súc 36
Bảng 3.3 Khối lượng nước thải chăn nuôi gia súc phát sinh trên địa bàn tỉnh và huyện Đại Từ năm năm 2016-2020 37
Bảng 3.4 Kết quả phân tích nước thải chăn nuôi lợn trước xử lý tại 3 trang trại huyện Đại Từ 45
Bảng 3.5 Kết quả phân tích nước thải chăn nuôi lợn sau xử lý tại 3 trang trại huyện Đại Từ 48
Bảng 3.7 Nhận thức của người dân về việc xử lý chất thải chăn nuôi lợn 52
Bảng 3.8 Kết quả ý kiến đánh giá của người dân khu vực xung quanh trang trại chăn nuôi 53
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Xử lý nước thải chăn nuôi bằng hệ thống biogas 18
Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ thu gom xử lý nước thải tại trang trại 40
Hình 3.3: Hàm lượng BOD5 trong nước thải chăn nuôi huyện Đại Từ 45
Hình 3.4: Hàm lượng CODtrong nước thải chăn nuôi huyện Đại Từ 46
Hình 3.5 Hàm lượng tổng Nitơtrong nước thải chăn nuôi 46
Hình 3.6: Hàm lượng Coliformtrong nước thải chăn nuôi huyện Đại Từ 47
Hình 3.7 So sánh kết quả chỉ tiêu BOD5 trước và sau xử lý 49
Hình 3.8 So sánh kết quả chỉ tiêu COD trước và sau xử lý 50
Hình 3.9 So sánh kết quả chỉ tiêu tổng Nitơ trước và sau xử lý 50
Hình 3.10 So sánh kết quả chỉ tiêu TSS trước và sau xử lý 51
Hình 3.11 Đánh giá của người dân về môi trường nước ngầm 54
Hình 3.12 Đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi kết hợp sản xuất khí sinh trong hộ chăn nuôi quy mô nhỏ 56
Hình 3.13 Đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi trong hộ chăn nuôi quy mô vừa 56
Hình 3.14 Đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi trong hộ chăn nuôi quy mô lớn 57
Hình 3.15 Sơ đồ công nghệ sinh thái xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau xử lý vi sinh 57
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế-xã hội tại Việt Nam Những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn quy mô, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ trồng trọt sang chăn nuôi, đồng thời cải thiện đáng kể đời sống kinh
tế của nông dân, trong đó chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất
Theo báo cáo thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2021, Việt Nam có tổng đàn lợn 22 triệu con [18] Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, theo thống kê năm 2021 có khoảng 700 trang trại chăn nuôi, với tổng quy mô đàn lợn trên toàn tỉnh khoảng 15095 nghìn con, trong đó có gần 20 trang trại có quy mô trên 1000 con tập trung ở các huyện Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Đại Từ, thị xã Sông Công [8]
Tuy nhiên, việc phát triển các hoạt động chăn nuôi một cách tràn lan, ồ
ạt trong điều kiện người nông dân thiếu vốn, thiếu hiểu biết đã làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh từ các cơ sở chăn nuôi đã đến mức báo động, chất thải chăn nuôi có thành phần phức tạp, giàu chất hữu cơ, dễ phân hủy, bốc mùi hôi, thối, gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của nhân dân
Qua thực tế công tác bảo vệ môi trường cho thấy, phần lớn các trang trại chăn nuôi lợn quy mô lớn trên địa bàn tỉnh đã có hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, lượng chất thải phát sinh quá nhiều, hoặc do hệ thống xử lý sử dụng lâu năm không được bảo trì nên nước thải không đảm bảo quy chuẩn vệ sinh môi trường Nước thải chăn nuôi của các trang trại, hộ chăn nuôi quy mô hộ gia đình chủ yếu thải trực tiếp ra môi trường, các ao, hồ không qua xử lý
Trang 11Nước thải chăn nuôi chứa nhiều hợp chất hữu cơ, virus, vi trùng, trứng giun sán… có nguy cơ gây ô nhiễm các tầng nước mặt, nước ngầm và trở thành nguyên nhân trực tiếp phát sinh dịch bệnh cho đàn gia súc Đồng thời
nó có thể lây lan một số bệnh cho con người và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh vì nước thải chăn nuôi còn chứa nhiều mầm bệnh như: Samonella, Leptospira, Clostridium tetani,…nếu không xử lý kịp thời Bên cạnh đó còn có nhiều loại khí được tạo ra bởi hoạt động của vi sinh vật như
nguồn nước ngầm ảnh hưởng đến đời sống con người và hệ sinh thái
Đại Từ là Huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách Thành Phố Thái Nguyên 25 Km, trên địa bàn huyện có khoảng 45 trang trại chăn nuôi lợn với quy mô khác nhau và con số này vẫn gia tăng qua các năm [16] Việc phát triển mô hình chăn nuôi lợn tập trung khiến cho số lượng đàn lợn ngày càng lớn kéo theo lượng chất thải như phân, nước tiểu, chất độn chuồng, thức ăn thừa, xác vật nuôi chết…gia tăng và gây tác động xấu đến nguồn nước, đất, không khí, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người
Xuất phát từ thực tế trên, tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng xử lý
nước thải chăn nuôi lợn và đề xuất giải pháp xử lý hiệu quả của một số trang trại tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” nhằm nâng cao hiệu quả
công tác bảo vệ môi trường, chất lượng vật nuôi, đồng thời giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường và sức khỏe người dân
2 Mục tiêu
- Đánh giá hiện trạng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi lợn đến môi trường trên địa bàn huyện
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý nước thải nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại huyện huyện Đại Từ, Thái Nguyên
Trang 123 Ý nghĩa
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu sẽ đánh giá một phần hiện trạng chăn nuôi lợn tại địa bàn nghiên cứu Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường cho các hộ chăn nuôi Đồng thời, sử dụng kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc học tập và công tác nghiên cứu sau này
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xử lý hiệu quả nước thải chăn nuôi, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt, môi trường không khí, đất từ ngành chăn nuôi, giúp ngành chăn nuôi ngày càng phát triển hơn
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Môi trường: Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân
tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên
(Bộ TN&MT, 2020) [6]
- Ô nhiễm môi trường: là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học
của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên (Bộ TN&MT, 2020) [6]
- Ô nhiễm nước: là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất
lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho nông nghiệp, công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài
hoang dã (Hiến chương Châu Âu, 1999)
- Chất ô nhiễm: là chất hóa học hoặc tác nhân vật lý, sinh học mà khi
xuất hiện trong môi trường vượt mức cho phép sẽ gây ô nhiễm môi trường
(Bộ TN&MT, 2020) [6]
- Chất thải: là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (Bộ TN&MT, 2020) [6]
- Chất thải nguy hại: là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (Bộ TN&MT, 2020) [6]
- Chất thải lỏng bao gồm nước thải (nước phân, nước tiểu, nước chứa máu của gia súc, gia cầm; nước vệ sinh từ chuồng trại, từ các phương tiện vận
chuyển gia súc, gia cầm, và các loại chất lỏng khác (thuốc thú y dạng lỏng; dung dịch xử lý chuồng trại)
Trang 14- Quản lý chất thải: là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu,
tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải (Bộ TN&MT, 2020)
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi
Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trường nước trong hoạt động chăn nuôi chủ yếu được gây ra do nước thải trong khi rửa chuồng, nước tiểu lợn Ô nhiễm chất thải rắn do phân, thức ăn thừa vương vãi ra nền chuồng mà không được thu gom kịp thời Các chất này là các chất dễ phân hủy sinh học: carbonhydrate, protein, chất béo dẫn đến các vi sinh vật phân hủy làm phát tán mùi hôi thối ra môi trường Đây là các chất gây ô nhiễm nặng nhất và thường thấy ở các trang trại chăn nuôi tập trung (Phạm Thị Phương Lan, 2007 [10]) Theo Bộ NN&PTNT (2013), nếu với mức thải trung bình 1,5 kg phân lợn/con/ngày; 15kg phân trâu, bò/con/ngày; 0,5kg phân dê/con/ngày và 0,2 kg phân gia cầm/con/ngày thì hàng năm với tổng đàn vật nuôi trong cả nước thì riêng lượng phân phát thải trung bình đã hơn 85 triệu tấn mỗi năm Lượng phân này phân hủy tự nhiên nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm nặng nề
hiệu ứng nhà kính) [20]
Thành phần các chất trong phân gia súc, gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Thành phần dưỡng chất của thức ăn và nước uống; độ tuổi; tình trạng sức khỏe vật nuôi…
Bảng 1.1 Thành phần hoá học của phân lợn từ 70 – 100 kg
Trang 15Trong phân lợn hàm lượng nitơ khá cao (7,99 – 9,32 g/kg) Ngoài ra, trong phân còn có chứa nhiều loại vi khuẩn, virus và trứng ký sinh trùng, trong đó vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriacea chiếm đa số với các giống điển hình như Escherichia, Salmonella, Shigella, Proteus, Klebsiella Trong 1 kg phân có chứa 2.000 – 5.000 trứng giun sán gồm chủ yếu các loại: Ascaris suum, Oesophagostomum, Trichocephalus
1.1.3 Thành phần, tính chất của nước thải chăn nuôi
1.1.3.1 Thành phần rắn từ chất thải chăn nuôi
Trong các hệ thống chuồng trại, phân lợn thường tồn tại cả ở dạng phân lỏng hay trung gian giữa lỏng và rắn hay tương đối rắn Chúng chứa các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các hợp chất giàu nito và phospho, là nguồn cung cấp thức ăn phong phú cho cây trồng và làm tăng độ màu mỡ của đất Vì vậy, trong thực tế thường dùng phân để bón cho cây trồng, vừa tận dụng được nguồn dinh dưỡng, vừa làm giảm lượng chất thải phát tán trong môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường [10]
1.1.3.2.Thành phần lỏng từ nước thải chăn nuôi
- Nước tiểu: Nước tiểu là sản phẩm bài tiết của con vật, chứa đựng nhiều độc tố, là sản phẩm cặn bã từ quá trình sống của lợn, khi phát tán vào môi trường có thể chuyển hoá thành các chất ô nhiễm gây tác hại cho con người
và môi trường Số lượng và thành phần nước tiểu thay đổi tuỳ thuộc độ tuổi, chế độ dinh dưỡng và điều kiện khí hậu
Bảng 1.2 Lượng nước tiểu thải ra hàng ngày Trọng lượng gia súc Lượng nước tiểu (kg/ngày)
Trang 16- Nước thải: Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm, nước rửa chuồng, nước phân Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi
1.1.3.3 Thành phần khí từ chất thải chăn nuôi
Chăn nuôi là một ngành sản xuất tạo ra nhiều loại khí thải nhất Theo Hobbs và cộng sự (1995), có tới trên 170 chất khí có thể sinh ra từ chăn nuôi,
khí gây mùi khác Hầu hết các khí thải chăn nuôi đều có thể gây độc cho gia súc và con người.[10]
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến sức khỏe và môi trường
1.1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến sức khỏe sức khỏe con người
Ảnh hưởng đầu tiên là sức khỏe của con người và động thực vật nơi có nguồn chất thải chăn nuôi Với những địa điểm này, thường thì thực vật và động vật rất khó sống, không những thế ngay cả con người cũng bị đe dọa một cách trầm trọng Một sai lầm cho nhiều hộ gia đình, khi tưởng nếu dùng chất thải từ vật nuôi để bón phân sẽ giúp cây phát triển Điều đó là hết sức sai lầm Với nhiều loại cây nhỉ việc bón phân động vật không qua xử lý, sẽ làm chết cây, gây úng hoặc thối rễ
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phí phòng trị bệnh, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi không cao,
Sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh Vì vậy, WHO khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng cường sức khỏe các đàn giống
Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường là vô cùng lớn nếu không được xử lý Đây được xem như những ổ dịch gây bênh cho con người
Trang 17rất nhiều Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1 Các loại ký sinh trùng được hình hình qua quá trình hô hấp và thải trực tiếp ra các vi sinh vật gây bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp tới con người như: vi khuẩn ecoli, enterobacteriae,… [5]
1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường
Không chỉ gây tác hại nguy hiểm đến sức khỏe của con người hay động vật nuôi Với những chất thải rắn từ chăn nuôi, nếu không xử lý mà thải thẳng
ra cống rảnh, chắn chắn sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nguồn nước ngầm (với nhiều hộ ở nông thôn vẫn hay dùng giếng làm nước sinh hoạt chính, nên nguồn nước ngầm rất quan trọng), hay nguồn đất có thể bị ảnh hưởng.[17] Theo tính toán thì lượng chất thải rắn mà các vật nuôi có thể thải ra (kg/con/ngày) là: Bò 10, trâu 15, lợn 2, gia cầm 0.2, do vậy hàng năm, đàn vật nuôi Việt Nam thải vào môi trường khoảng 73 triệu tấn chất thải rắn (phân khô, thức ăn thừa) và 25-30 triệu khối chất thải lỏng (phân lỏng, nước tiểu và nước rửa chuồng trại) Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (36,5 triệu tấn), 80% chất thải lỏng (20-24 triệu m3) xả thẳng ra môi trường, hoặc sử dụng không qua xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Ước tính một tấn phân chuồng tươi với cách quản lý, sử dụng như hiện nay sẽ phát thải vào
được rằng chăn nuôi gây ra 18% khí gây hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên (biến đổi khí hậu toàn cầu), lớn hơn cả phần do giao thông vận tải gây ra [20]
Ở Việt Nam hiện nay, tổng khối lượng chất thải chăn nuôi bình quân khoảng 73 triệu tấn/năm, trong đó chất thải chăn nuôi lợn chiếm khoảng 24,38
triệu tấn/năm tương đương 33,4% (Xuân Kỳ, Xử lý ô nhiễm môi trường, phát
Trang 18triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Báo Nhân Dân, 08/03/2009) Đồng
(Cu) và kẽm (Zn) tồn dư trong chất thải chăn nuôi là hai trong nhiều yếu tố gây ô nhiễm kim loại nặng đối với đất Việc bổ sung oxid kẽm (ZnO) với hàm lượng quá cao trong thức ăn cho lợn so với quy định để phòng ngừa tiêu chảy
là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này
Các hoạt động sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, sử dụng phân bón) đã
không khí có thể gây ra sự phì nhiêu nước mặt, do vậy làm cho tảo độc hại tăng trưởng nhanh và sẽ làm giảm nhiều loài thủy sinh, trong đó có các đối tượng kinh tế
1.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020
- Nghị định số 119/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012
- Nghị định 154/2016/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình trên phạm vi cả nước
- Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về Bảo vệ Môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/9/2014 của Thủ tướng chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020
Trang 19- Quyết định số 3194/QĐ-BNN-CN ngày 11/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn kỹ thuật lắp đặt, sử dụng công trình khí sinh học nắp cố định, công trình khí sinh học bằng vật liệu composite và quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học làm đệm lót sinh học chăn nuôi lợn, gà
- Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 11/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên v/v ban hành quy định bảo vệ môi trường trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Quyết định số 34/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy định chính sách hỗ trợ đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020;
- Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 26/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án thí điểm hoàn thiện và nhân rộng mô hình bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo theo hướng xã hội hóa, giai đoạn 2017- 2020;
- Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường;
- Chỉ thị số 22/CT-UBND ngày 4/10/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về một số nhiệm vụ giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT Quy chuẩn quốc gia: lĩnh vực thú
y Ban hành kèm theo Thông tư này là 5 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lĩnh vực thú y Gồm:
(1) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm - Quy trình kiểm tra, đánh giá điều kiện vệ sinh thú y Ký hiệu: QCVN 01 - 79: 2011/BNNPTNT;
(2) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở nuôi trồng thủy sản thương phẩm - Điều kiện vệ sinh thú y Ký hiệu: QCVN 01 - 80: 2011/BNNPTNT;
Trang 20(3) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản giống - Điều kiện vệ sinh thú y Ký hiệu: QCVN 01 - 81: 2011/BNNPTNT; (4) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Vệ sinh thú y cơ sở ấp trứng gia cầm
Ký hiệu: QCVN 01 - 82: 2011/BNNPTNT;
(5) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Bệnh động vật - yêu cầu chung lấy mẫu bệnh phẩm, bảo quản và vận chuyển Ký hiệu: QCVN 01 - 83: 2011/BNNPTNT
.-Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 11/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên v/v ban hành quy định bảo vệ môi trường trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Quyết định số 430/QĐ-UBND ngày 24/2/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên Phê duyệt Đề án Tăng cường quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021-2025
- Quyết định số 07/2021/QĐ-UBND ngày 22/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên Ban hành quy định quản lý hoạt động thoát nước, xử
lý nước thải trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3 Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới
Trên thế giới, xu hướng giảm số lượng trang trại chăn nuôi và tăng số lượng đầu lợn trung bình trên mỗi trang trại đang ngày càng trở lên phổ biến Việc chăn nuôi tập trung giúp tăng năng suất trung bình của cơ sở chăn nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm và giúp việc quản lý chất lượng trở lên thuận lợi hơn Qua đó, thu nhập của cơ sở kinh doanh và người lao động được cải thiện
Theo dữ liệu của Vụ Nông Nghiệp Hải Ngoại (FAS) thuộc Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA), năm 2021 tổng đàn lợn trên toàn thế giới đạt 752 triệu con, tăng hơn so với năm 2020 (đạt 654 triệu con) Trong giai đoạn
Trang 212020-2021, Trung Quốc là nơi tập trung đàn lợn lớn nhất, với 406 triệu con, chiếm già nửa tổng đàn lợn toàn cầu Cùng thời điểm đó thì Liên Âu và Hoa
Kỳ chiếm vị trị cao thứ hai và thứ ba, với hơn 150 triệu và 77 triệu con lợn, theo thứ tự lần lượt Theo sau đó là Brazil đạt 37 triệu con; Canada đạt 14 triệu con; Mexico và Hàn Quốc cùng đạt mức 11 triệu con [19]
Sự tăng trưởng của thị trường thịt lợn toàn cầu có thể xuất phát từ những sự thay đổi dạng tiêu thụ thức ăn của người dân khắp thế giới Việc bành trướng của thị trường bán lẻ và tình trạng sẵn có của sản phẩm thịt lợn qua nhiều kênh bán khác nhau tạo sự thuận tiện cho người tiêu dùng mua sản phẩm thị đóng gói- loại sản phẩm thúc đẩy doanh số bán Tuy nhiên, sự tiếp thu cách ăn chay (không ăn thực phẩm từ động vật) và luật pháp khắt khe hơn cho hành vi được coi là tàn bạo với động vật là những rào cản chính cho thị trường thịt lợn toàn cầu Mặt khác, việc thịt lợn hữu cơ và các sản phẩm được gắn nhãn sạch ngày càng phổ biến được dự đoán sẽ cung cấp cơ hội kiếm bộn tiền cho sự bành trướng và tăng trưởng thị trường lợn toàn cầu
Bảng 2.1: Tình hình tiêu thụ thịt lợn tại một số nước trên thế giới
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, 2021
Trung Quốc là một trong những nước dẫn đầu châu Á về chăn nuôi lợn
Sự tái khởi sức của ngành sản xuất của nước này đúng vào thời điểm nhu cầu tiêu thụ thấp đã làm giảm giá, dẫn đến nhà sản xuất phải loại bỏ bớt lợn
Trang 22để có thể giữ được lợi nhuận Tuy vậy, dự kiến tăng trưởng sản xuất lợn của Trung Quốc đến cuối năm 2021 sẽ bị chậm lại, bởi việc loại thải đàn giống, những khó khăn về năng suất vẫn tiếp diễn và nhà chăn nuôi sản xuất có được lợi nhuận ít hơn
Hiện nay, dịch COVID-19 và dịch tả lợn châu Phi (ASF) sẽ tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của thị trường chăn nuôi lợn Ngành chăn nuôi lợn của Đức vốn đã chịu nhiều áp lực trước năm 2020, cùng với sự bùng phát dịch ASF ở lợn rừng và ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 làm hạn chế tiêu thụ thịt lợn, tình hình càng trở nên căng thẳng hơn Phân tích từ AMI, một công ty tư vấn, cho rằng tại Đức, các nhà chế biến có thể tiêu thụ số lượng lợn giết mổ sẵn có, nhưng nguồn cung thịt lợn trên thị trường vẫn rất dồi dào trong năm ngoái Hiện tại, chỉ có hơn 18.000 trang trại chăn nuôi lợn vẫn đang hoạt động, ít hơn 40% so với cách đây mười năm Trên thực tế, đàn lợn của Đức đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua [3]
Tại Trung Quốc, Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Trung Quốc (MARA)
đã tuyên bố rằng dù đàn lợn nái đã giảm kể từ tháng 7, nguồn cung cả nước cũng vượt mục tiêu đặt ra trước đó và quốc gia này sẽ hướng tới duy trì đàn lợn nái quanh mức 41 triệu con Theo báo cáo chính thức, đàn lợn nái của Trung Quốc đạt 42,9 triệu con vào cuối tháng 1, tăng 2% so với năm trước Ngành Chăn nuôi đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: Dịch COVID-19 ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi; dịch bệnh trên gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp; giá thức ăn, thuốc thú y tăng cao… Để đảm bảo phát triển bền vững, các quốc gia cần chủ động phòng chống, kiểm soát dịch bệnh, có các chính sách hỗ trợ đầu tư tái phát triển
1.3.2 Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn tại Việt Nam
Chăn nuôi lợn chiếm khoảng 60% giá trị ngành chăn nuôi Việt Nam Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, năm 2020 tình hình sản xuất chăn nuôi của cả nước được duy trì tốt, hầu hết các đối tượng vật nuôi đều tăng trưởng và phát triển
Trang 23Theo báo cáo Cục Chăn nuôi, hiện nước ta có đàn lợn khoảng 29 triệu con, đứng đầu khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 2 toàn châu Á và nằm trong top
15 nước trên thế giới Sản lượng thịt lợn năm 2016 đã đạt mức kỉ lục với 3,36 tấn, tăng 5% so với năm 2015, tốc độ tăng trưởng đàn lợn đạt 0,91% [18] Mặc dù gặp nhiều khó khăn do tác động của dịch bệnh trên vật nuôi, biến đổi cực đoan của thời tiết, khí hậu, song chăn nuôi cơ bản đã đạt các mục tiêu đề ra, duy trì mức tăng trưởng cao, đáp ứng đủ nhu cầu trong nước
và duy trì xuất khẩu, có bước phát triển cả về lượng và chất, trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, tạo sinh kế và nâng cao đời sống cho hàng triệu hộ nông dân Đặc biệt là chăn nuôi lợn sau một thời gian bị ảnh hưởng bởi dịch
tả lợn châu Phi đang dần hồi phục
Trong những tháng đầu năm 2020, khi đàn lợn bị sụt giảm mạnh do số lượng lợn tiêu hủy cuối năm 2019 lớn và chưa kịp tái đàn trở lại, giá thịt lợn diễn biến phức tạp, tăng cao trên cả nước, có thời điểm giá thịt lợn hơi chạm mốc 100.000 đồng/kg tại một số tỉnh miền Bắc [3]
Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung phối hợp chặt chẽ thực hiện quản lý mặt hàng thịt lợn theo nguyên tắc: Đây là mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân, văn hóa tiêu dùng thực phẩm của người Việt Nam; trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp, nguồn cung chưa bảo đảm thì giá thịt lợn là giá thị trường có
sự quản lý của nhà nước, trong đó tập trung thúc đẩy sản xuất, chăn nuôi, tái đàn, chế biến, điều hòa và cân đối cung cầu để bình ổn giá thịt lợn; quyết liệt thực hiện các giải pháp chống đầu cơ, trục lợi, thao túng và nâng giá bất hợp
lý, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Nhờ vậy những tháng cuối năm
2020, đàn lợn đã khôi phục nhanh, nguồn cung bắt đầu ổn định, sản lượng xuất chuồng tăng dần khiến giá thịt lợn hơi trên thị trường giảm dần và đi vào
ổn định [5]
Hiện nay, các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được kiểm soát tốt nhưng trong thời gian tới khả năng phát sinh dịch bệnh cúm gia cầm, dịch tả lợn châu Phi, lở mồm long móng, viêm da nổi cục trên trâu bò rất cao do chuyển
Trang 24mùa và hoạt động vận chuyển, tái đàn gia tăng Để thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh động vật, đồng thời tháo gỡ khó khăn trong chăn nuôi, sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, ngành Nông nghiệp chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương chủ động khống chế hiệu quả dịch bệnh truyền nhiễm trên đàn vật nuôi trên tinh thần “Thực hiện phòng bệnh là chính, chữa bệnh kịp thời, chống dịch khẩn trương; phát hiện nhanh, chính xác, xử lý triệt để”
Theo các chuyên gia, trong thời gian tới, ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ gặp những thách thức do cạnh tranh ngày càng tăng, chi phí chăn nuôi cao, khó khăn trong kiểm soát môi trường Để vượt qua những khó khăn và thách thức trên, cần có một giải pháp tổng thể từ trung ương tới các cấp địa phương như: quy hoạch xây dựng, sản xuất; quản lý dịch bệnh, giết mổ; an toàn vệ sinh thực phẩm Ngoài ra cần hợp tác quốc tế trong vấn đề xuất nhập khẩu thịt lợn cũng như áp dụng các công nghệ tiên tiến trong xử lý chất thải chăn nuôi
1.3.3 Tổng quan ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tại Việt Nam
Cùng với xu hướng chăn nuôi quy mô lớn hơn và chăn nuôi thâm canh,
ô nhiễm môi trường đang trở nên nghiêm trọng hơn do xử lý chưa tốt chất thải động vật và sử dụng thức ăn công nghiệp chưa hợp lý Phần lớn các cơ sở chăn nuôi lợn và gia cầm hiện sử dụng thức ăn công nghiệp mặc dù những cơ
sở chăn nuôi nhỏ vẫn sử dụng thức ăn truyền thống (đó là gạo và cám gạo) Ngoài hàm lượng dinh dưỡng cao, (đó là đạm), thức ăn công nghiệp cũng chứa hooc-môn tăng trưởng, kháng sinh và kim loại nặng (từ năm 2014, hóc môn tăng trưởng đã bị Cục Thú y cấm sử dụng trong chăn nuôi) 60% mẫu thức ăn cho lợn được báo cáo là cho thấy ít nhất một loại kháng sinh thuộc nhóm têtacylin và tylôsin Dinh dưỡng và kháng sinh cùng những dư lượng khác trong phân động vật chưa qua xử lý, khi xả ra đất và nước xung quanh chính là những nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm cục bộ Ô nhiễm môi trường do sản xuất chăn nuôi gây ra là rủi ro lớn nhất cho vật nuôi và sức khỏe công cộng
Trang 25Việt nam tạo ra khoảng 80 triệu tấn chất thải động vật mỗi năm
(DLP-Bộ NN&PTNT 2015b) Khoảng 80% số phân được tạo ra bởi các cơ sở chăn nuôi các nông hộ nhỏ và số còn lại là từ những cơ sở trang trại chăn nuôi hăn nuôi hộ gia đình chiếm phần lớn nhất trong chăn nuôi trâu (98,8%), đồng thời cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong chăn nuôi bò (89,4%), lợn (75%), và gia cầm (71,8%)
Số lượng vật nuôi được phân bố không đều giữa các vùng của Việt Nam Những vùng có số lượng vật nuôi lớn nhất là ĐBSH, ĐBSCL, và ĐNB Khối lượng chất thải động vật trên mỗi km2 vào khoảng 239,8 tấn Vùng RRD tạo ra khối lượng lớn nhất, tiếp sau đó là vùng ĐNB và ĐBSCL Ba tỉnh thành tạo ra khối lượng phân lợn nhiều nhất trên mỗi km2 là Thái Bình (598,2 tấn /km2 ), Hà Nội (389,9 tấn/km2 ), và Đồng Nai (219,2 tấn/km2 ) Theo ước tính có khoảng 36% tổng khối lượng phân động vật được thải trực tiếp vào môi trường; với tỷ lệ từ 16% đối với chăn nuôi thâm canh tới 40% đối với chăn nuôi nhỏ hộ gia đình Từ khía cạnh về loài, cơ sở chăn nuôi lợn thải ra môi trường tỷ lệ phân cao nhất (42,4%) Tỷ lệ lớn tiếp theo được thấy ở chăn nuôi trâu (41,1%), bò (32,6%), và gia cầm (28,8%) Tại tất cả các vùng, cơ sở chăn nuôi các nông hộ nhỏ thải thực tiếp vào môi trường khối lượng phân nhiều hơn so với các cơ sở chăn nuôi thâm canh
Theo báo cáo, vùng đồng bằng sông Hồng là vùng có số lượng lợn nhiều nhất Việt Nam, 82% lượng phân từ hệ thống chăn nuôi thâm canh được
xử lý trong khi chỉ có 39% lượng phân từ các hệ thống chăn nuôi quảng canh được xử lý (Đinh2009a; DLP 2015b) Có sự khác nhau rất lớn về mức độ ô nhiễm chất thải động vật giữa các vùng và kể cả trong các tỉnh thành, với điều này đã phần nào phản ánh được sự khác nhau trong mật độ chăn nuôi tại những địa phương khác nhau
Hầu hết những nơi bị ô nhiễm nặng nề cho tới nay đều là những nơi có mật độ chăn nuôi cao Một số xã ô nhiễm nghiêm trọng gần đây đã được nêu
Trang 26tên trên phương tiện thông tin đại chúng, xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh
Hà Nam là một trong số đó Xã này nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng - vùng có mật độ chăn nuôi lợn cao nhất Việt Nam Vào ngày 23/12/2015, Đài Tiếng nói Việt Nam phát tin rằng hầu như toàn bộ số cơ sở chăn nuôi lợn trong xã này đều xả thẳng phân lợn xuống hệ thống thoát nước nhỏ của xã Từ
đó chất thải chảy vào các ao và ruộng đồng làm cho một phần lớn đất nông nghiệp ô nhiễm nặng và không còn khả năng canh tác Mặc dù việc chăn nuôi lợn đã mang lại lợi ích kinh tế cho các hộ gia đình và kinh tế địa phương, có tranh luận rằng lợi ích kinh tế đó không đủ bù đắp cho chi phí y tế của hàng nghìn người Một ví dụ khác là huyện Củ Chi tại TP HCM, nơi cho thấy nhiều
cơ sở chăn nuôi bò sữa tạo ra một khối lượng phân lớn hơn khả năng xử lý của họ Bò sữa ở trong chuồng cả ngày và tích tụ phân Phân tích tụ theo thời gian làm ô nhiễm đất, nước và không khí nghiêm trọng, gây tác động tiêu cực lên sức khỏe người dân địa phương (ACE Europe 2013)
Tại cơ sở chăn nuôi lợn, khoảng 70 đến 90% chất ni-tơ, các loại khoáng chất (phốt-pho, kali, magiê, và những chất khác) và các kim loại nặng có trong thức ăn được cho là đang thải ra môi trường Những chất này tập trung trong nước thải cơ sở chăn nuôi
Về mặt ô nhiễm liên quan đến vi khuẩn, mức độ ô nhiễm của nước thải (do coliform) gây ra bởi chăn nuôi nông hộ nhỏ được thấy là cao hơn 278 lần
so với mức cho phép trong khi ở các cơ sở chăn nuôi trang trại là 630 lần cao
hơn mức cho phép (Phùng và các cộng sự 2009) Lượng vi khuẩn E.coli gây
ra bởi chăn nuôi nông hộ nhỏ cao hơn mức độ cho phép 8,9 lần và bởi các cơ
sở chăn nuôi trang trại cao gấp 22,1 lần Tổng hàm lượng coliform trong nước thải từ hầm khí sinh học, nước rửa chuồng trại và nước tắm cho lợn vượt quá ngưỡng cho phép từ 4–2.200 lần Mức BOD5 và COD trong nước thải khí sinh học từ các cơ sở chăn nuôi ở miền bắc vượt quá ngưỡng cho phép từ 3 đến 5 lần
Trang 271.4. Tổng quan các giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi
1.4.1 Xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas
Việc xây dựng các hầm Biogas để xử lý chất thải từ chăn nuôi là một biện pháp phổ biến nhất trong chăn nuôi lợn tại Việt Nam Hầm biogas với chi phí hợp lý mang lại hiệu quả cao: chất thải chăn nuôi được phân huỷ hết, giảm mùi hôi, tiêu diệt các loại ruồi nhặng và kí sinh trùng, thu khí mê tan phục vụ việc đun nấu, thắp sáng
Hình 1.1 Xử lý nước thải chăn nuôi bằng hệ thống biogas
Việc sử dụng hầm biogas thực chất là quá trình phân hủy yếm khí Ưu điểm của phương pháp này chính là việc hạn chế được nguồn nước thải chăn nuôi bị xả bừa bãi ra ngoài môi trường Sử dụng nguồn nước đó để chuyển hóa các loại khí độc hại có trong nước thải như: CH4, CO2, H2S… tận dụng làm nhiên liệu đốt hoặc sử dụng làm điện năng để thắp sáng phục vụ cho cuộc sống Ngoài ra phần bùn cặn trong hầm biogas lajic ó thể tận dụng làm phân bón hữu cơ trong nông nghiệp Loại phân bón này có thể cải thiện dinh dưỡng của đất, thúc đẩy năng suất cây trồng.[2]
Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia thì hệ thống xử lý này không giải quyết được vấn đề ô nhiễm triệt để Chỉ xử lý ở mức trung bình, giảm mùi hơn Nhưng vẫn để phát sinh khí nito, photpho Chỉ số COD vẫn tồn tại ở mức 1000mg/m3 Bởi vậy mà nước thải từ hầm kỵ khí này vẫn cần tiếp tục được xử lý
Trang 281.4.2 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học
Xử lý môi trường bằng men sinh học
Từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước người ta đã sử dụng các chất men để giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được gọi là “Chế phẩm EM (Effective Microorganisms) có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu” Ban đầu các chất này được nhập từ nước ngoài nhưng ngày nay các chất men đã được sản xuất nhiều ở trong nước Các men nghiên cứu sản xuất trong nước cũng rất phong phú và có ưu điểm là phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, khí hậu nước
ta Người ta sử dụng men sinh học rất đa dạng như: Dùng bổ sung vào nước thải, dùng phun vào chuồng nuôi, vào chất thải để giảm mùi hôi, dùng trộn vào thức ăn…[12]
Chăn nuôi trên đệm lót sinh học
Công nghệ đệm lót sinh học đầu tiên được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ở Nhật Bản từ đầu những năm 1980 Ngày nay đã có nhiều nước ứng dụng như: Trung Quốc, Hồng Kông, Hoa Kỳ, Anh, Thái Lan, Hàn Quốc… Ở nước ta từ năm 2010 công nghệ này đã bắt đầu du nhập vào và phát triển Chăn nuôi trên đệm lót sinh học là sử dụng các phế thải từ chế biến lâm sản (Phôi bào, mùn cưa…) hoặc phế phụ phẩm trồng trọt (Thân cây ngô, đậu, rơm, rạ, trấu, vỏ cà phê… ) cắt nhỏ để làm đệm lótcó bổ sung chế phẩm sinh học Sử dụng chế phẩm sinh học trên đệm lót là sử dụng “bộ vi sinh vật hữu
hiệu” đã được nghiên cứu và tuyển chọn chọn thuộc các chi Bacillus,
tạo ra lượng vi sinh vật hữu ích đủ lớn trong đệm lót chuồng nhằm tạo vi sinh vật có lợi đường ruột, tạo các vi sinh vật sinh ra chất ức chế nhằm ức chế và tiêu diệt vi sinh vật có hại, để các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ từ phân gia súc gia cầm, nước giải giảm thiểu ô nhiễm môi trường Hiện nay, nhiều cơ sở khác cũng đã nghiên cứu và chọn tạo ra nhiều tổ hợp vi sinh vật (men) phù
Trang 29hợp với các giá thể khác nhau và được thị trường chấp nhận như Thực chất của quá trình này cũng là xử lý chất thải chăn nuôi bảo vệ môi trường bằng men sinh học.[12]
1.4.3 Xử lý nước thải bằng ôxi hóa
Phương pháp này thường được dùng đối với các bể lắng nước thải
Xử lý bằng sục khí
Ở các bể gom nước thải (không phải là KSH) người ta dùng máy bơm sục khí xuống đáy bể với mục đích làm cho các chất hữu cơ trong nước thải được tiếp xúc nhiều hơn với không khí và như vậy quá trình ô xi hóa xảy ra nhanh, mạnh hơn Đồng thời kích thích quá trình lên men hiếu khí, chuyển hóa các chất hữu cơ, chất khí độc sinh ra trở thành các chất ít gây hại tới môi trường Sau khi lắng lọc nước thải trong hơn giảm ô nhiễm môi trường và có thể dùng tưới cho ruộng đồng
rửa vết thươngtrong y tế, làm chất tẩy trắng trong công nghiệp,chất tẩy
hóa-khử mạnh Thông thường ô-xi-giàphân hủy một cách tự nhiên theo phản ứng
Trong quá trình phân hủy (phản ứng xảy ra mạnh mẽ khi có xúc tác), đầu tiên
ô xi nguyên tử được tạo ra và tồn tại trong thời gian rất ngắn rồi nhanh chóng
các chất hữu cơ, diệt khuẩn, khử mùi hiệu quả trong dung dịch chất thải Bổ sung ô-xi-già vào nước thải xử lý môi trường tuy có tốn kém chút ít nhưng hiệu quả cao Cần chú ý khi bổ sung ô-xi-già xử lý môi trường là phải tìm hiểu cách bảo quản ô-xi-già, liều lượng, chất xúc tác… và nồng độ đủ thấp để
an toàn Nếu nồng độ cao dễ xảy ra cháy, nổ hoặc ngộ độc nguy hiểm.[7]
Trang 301.4.4 Xử lý nước thải bằng cây thủy sinh
Cây muỗi nước (còn gọi cây cần tây nước), cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản): Nước thải từ các trại chăn nuôi chứa rất nhiều nitrogen, phosphorus và những hợp chất vô cơ có thể hoà tan được Rất khó tách những chất thải này khỏi nước bằng cách quét rửa hay lọc thông thường Tuy nhiên một số loại cây thủy sinh như bèo lục bình, cỏ muỗi nước có thể xử lý nước thải, vừa ít tốn kinh phí lại thân thiện với môi trường Cây muỗi nước (còn gọi cây cần tây nước), cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản) là các loại bản địa của vùng Đông Nam Á, thân và lá của nó có thể ăn sống hoặc chín như một loại rau Nó sinh sản theo cách phân chia rễ và sinh trưởng tốt trong môi trường nước nông cho tới 20cm Cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản) có nguồn gốc Nam Mỹ, sinh trưởng và phát triển nhanh, khỏe và nổi trên mặt nước.[4]
Nước thải từ các chuồng gia súc trước tiên cho chảy vào bể lắng, để chất thải rắn lắng xuống đáy Sau vài ngày cho nước thải trong chảy vào bể mở có bèo lục bình hoặc cỏ muỗi nước Mặt nước trong bể được cây che phủ (mật
độ khoảng 400 cây/bể) Nếu là bèo lục bình, bể có thể làm sâu tùy ý, đối với
cỏ muỗi nước thì để nước nông một chút, độ sâu bể xử lý khoảng 30cm Cỏ muỗi nước cần thời tiết mát mẻ, còn bèo lục bình phù hợp với thời tiết ấm Kích cỡ của bể tùy thuộc vào lượng nước thải cần được xử lý Ví dụ, chất thải của 10 con gia súc vào khoảng 456 lít, sẽ cần bể mỗi cạnh 6m, sâu 0,5m Bể
thải chuồng nuôi khoảng 30 ngày Nước thải được giữ trong bể xử lý 10 ngày Trong thời gian này, lượng phospho trong nước giảm khoảng 57-58%, trong
khoảng 80-90% Những biện pháp xử lý nước thải theo cách này đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu Nước thải ra sông hồ, suối một cách an toàn mà không cần xử
lý thêm.Ngoài ra, các cây thuỷ sinh này có thể thu hoạch và dùng làm phân hữu cơ Bản thân chúng có thể trực tiếp làm phân xanh hoặc phân trộn [1]
Trang 311.4.5 Sử dụng zeolit, dung dịch điện hoạt hóa anolit
Sử dụng Zeolit
Zeolit là loại vật liệu không gây độc đối với người và vật nuôi có ứng dụng hiệu quả trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, chăn nuôi, bảo vệ môi trường được nghiên cứu và sản xuất thành công bởi các chuyên gia bộ môn Hóa hữu cơ, Khoa Công nghệ Hóa học, Đại học Bách khoa Hà Nội Zeolite được sản xuất dưới dạng bột hoặc dạng viên xốp từ cao lanh tự nhiên sẵn có ở Việt Nam Nhờ cấu trúc của cao lanh bị phá vỡ hoàn toàn và tự chúng sắp xếp lại tạo thành lỗ rỗng, nên nó có khả năng hấp phụ các ion kim loại, amoni, chất hữu cơ độc hại lơ lửng trong nước và tự chìm xuống đáy Khi cải tạo ao, đầm, người sản xuất có thể khai thác chúng để tái chế làm phân bón phục vụ cho việc trồng trọt Ngoài ra, người ta còn có thể dùng loại sản phẩm này trộn lẫn với phân bón để tạo ra một loại phân bón phân huỷ chậm, vừa có tác dụng tiết kiệm lượng phân bón, giữ độ ẩm mà còn có tác dụng điều hòa độ pH cho đất Chế phẩm zeolite làm phụ gia thức ăn cho lợn
và gà vì khi được trộn vào thức ăn chế phẩm sẽ hấp phụ các chất độc trong cơ thể vật nuôi, tăng khả năng kháng bệnh, kích thích tiêu hóa và tăng trưởng.[2]
Sử dụng dung dịch điện hoạt hóa Anolit
Viện Công nghệ Môi trường thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Cục Thú y, Trung tâm kiểm tra vệ sinh Thú y TW1, Viện Chăn nuôi quốc gia đã nghiên cứu và khảo nghiệm thành công khả năng sử dụng dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít làm chất khử trùng trong chăn nuôi Dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít đã được áp dụng tại nhiều nước tiên tiến như một chất khử trùng hiệu quả cao và "thân thiện với môi trường" Dung dịch này có khả năng khử trùng nước sinh hoạt, bảo quản nông sản, chế biến thủy sản, sản xuất tôm giống, khử trùng trong các cơ sở y tế, chăn nuôi,… Ngoài ra, dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít có tác dụng diệt virus H5N1 an toàn, không gây độc đối
Trang 32với sinh vật cấp cao, có thể được sử dụng làm dung dịch phun tiêu độc cho các cơ sở chăn nuôi Các kết quả nghiên cứu hiệu quả khử trùng của Anôlít trên hiện trường sản xuất, chăn nuôi gia cầm (tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) cũng đã cho nhận xét: Phương pháp khử trùng nền chuồng bằng Anôlít, có thể áp dụng có hiệu quả đối với chuồng nuôi vừa xuất lứa hoặc đang chuẩn bị đưa vào nuôi lứa mới Với Anôlít 250 ml/m2, mật độ tổng
vi khuẩn hiếu khí giảm trung bình 2-3 bậc, trong khi Coliforms và Salmonella thực tế được loại hoàn toàn Các thí nghiệm tương tự thực hiện với chất khử trùng Virkon-S 0,5%, cũng cho kết quả tương tự như khi khử trùng bằng Anôlít, song giá thành đắt hơn tới 6 lần so với việc sử dụng Anôlít
1.5 Tổng quan về quản lý môi trường trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Ngành chăn nuôi là một trong những ngành phát triển kinh tế chủ lực của tỉnh Thái Nguyên, trong những năm gần đây đã có sự tăng trưởng nhanh về quy mô và giá trị, đóng góp nhiều vào sự phát triển kinh tế của địa phương Hiện ở tỉnh Thái Nguyên có khoảng 700 trang trại chăn nuôi lợn, 60 hợp tác xã chăn nuôi hoạt động theo chuỗi, từ tổ chức sản xuất đến giết mổ, tiêu thụ sản phẩm Có 13 công ty chăn nuôi liên doanh đang chi phối giá thịt lợn hơi, chiếm trên 20% tổng số đàn lợn thịt Tuy nhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi vẫn còn những bất cập, nảy sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường (ÔNMT), đe dọa sức khỏe của cộng đồng Chính vì vậy, việc khắc phục ÔNMT trong chăn nuôi ở Thái Nguyên đang đặt ra rất cấp bách nhằm hướng tới ngành chăn nuôi phát triển bền vững [15]
Thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong 3 năm qua, ngành chăn nuôi Thái Nguyên
đã phát triển theo hướng chuyển đổi chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại tập trung, sản xuất hàng hóa có quy mô lớn mang lại hiệu quả kinh tế Theo đó, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại, gia
Trang 33trại quy mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ tiên tiến, an toàn sinh học trong chăn nuôi; tăng nhóm vật nuôi có năng suất và giá trị kinh tế cao trong cơ cấu đàn gia súc, đại gia súc, gia cầm, thủy sản… Toàn tỉnh hiện có 752 trang trại chăn nuôi, tập trung ở huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phú Lương và
TP Thái Nguyên Tính đến hết năm 2019, chăn nuôi trang trại đã cung ứng khoảng 35% tổng sản lượng thịt hơi các loại, tăng 10% so năm 2016; tỷ lệ đàn bò lai đạt 55%, đàn lợn ngoại, lợn lai năng suất, chất lượng đạt 70%, tỷ
lệ các giống gà lông mầu thả vườn, gà bản địa có chất lượng, giá trị cao đạt 75% [17]
Bên cạnh đó, ngoài các trang trại chăn nuôi với quy mô công nghiệp, số
hộ chăn nuôi nông hộ vẫn còn chiếm số lượng không nhỏ trên địa bàn tỉnh Theo thống kê hiện tổng số hộ chăn nuôi ở Thái Nguyên là 210.000 hộ, trong
đó, số hộ chăn nuôi có chuồng trại 206.000 hộ (chiếm 98%) Một số hộ vùng sâu vùng xa chăn nuôi nhỏ còn thả rông, không có chuồng trại (4.000 hộ, chiếm 2%) Số hộ áp dụng các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi (ủ phân, làm hầm biogas, sử dụng đệm lót sinh học) là 105.000 hộ, chiếm 50% Số hộ chưa áp dụng các biện pháp xử lý chất thải 105.000 hộ, chiếm 50% [17] Theo ước tính, lượng phân trong chăn nuôi gia súc, gia cầm thải ra môi trường trên địa bàn tỉnh khoảng 1.550.000 tấn phân tươi/năm, trong đó: chăn nuôi lợn khoảng 650.000 tấn/năm; chăn nuôi gia cầm khoảng 200.000 tấn/năm; chăn nuôi trâu, bò khoảng 700.000 tấn/năm Đây là một mối nguy hại lớn đối với môi trường của tỉnh Chất thải được xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm đất đai, nguồn nước và không khí, tác động lớn đến cuộc sống của người dân trên địa bàn là một thách thức lớn đối với việc quản lý thu gom, xử lý chất thải của chính quyền địa phương
Không những vậy, các nguy cơ gây ÔNMT còn phát sinh từ những trang trại, gia trại nhỏ lẻ nằm xen kẽ trong các khu dân cư, quỹ đất nhỏ hẹp, không
đủ diện tích để xây dựng các công trình BVMT đảm bảo xử lý đạt tiêu chuẩn
Trang 34cho phép, không đảm bảo khoảng cách vệ sinh đến khu dân cư đã gây ÔNMT Ngoài ra, nước thải trong chăn nuôi lợn ở các cơ sở này, bao gồm: nước tắm rửa, vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống hòa lẫn với phân lợn
và xả thẳng ra môi trường Nước thải này chứa rất nhiều vi sinh vật - chúng là
những tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước như: E.coli, Streptococcus sp,
gây bệnh tả, lỵ, thương hàn, kiết lỵ Theo ước tính, mỗi ngày các trang trại chăn nuôi lợn đang sử dụng khoảng 30 - 40 lít nước/đầu lợn trưởng thành/ngày Việc sử dụng quá nhiều nước trong chăn nuôi ở các trang trại làm cho việc thu gom và tách chất thải rắn khó thực hiện vì cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng
Kết quả phân tích nước thải chăn nuôi cho thấy tại phần lớn các gia trang, trang trại chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa đều không đáp ứng được chất lượng nước thải khi thải ra môi trường theo QCVN 62-MT:2016/BTNMT Hàm lượng BOD5, COD, SS, tổng nitơ đều vượt chuẩn ở mức trung bình (3-5 lần) và lớn (6-8 lần) Đặc biệt chỉ số Coliform rất cao, lên đến 106 MPN/100ml, do các gia trạng, trang trại chăn nuôi đều không trang bị khâu diệt khuẩn đối với nước thải sau xử lý
Đối với các trang trại lớn, quy mô từ 1000 con lợn trở lên, đã xây dựng
hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi hiện đại và quy mô, do đó chất lượng nước thải sau xử lý hầu hết đạt chuẩn theo QCVN 62-MT:2016/BTNMT Vị trí của trang trại cách xa khu dân cư, đảm bảo theo đúng quy hoạch Diện tích đất sử dụng để xây dựng trang trại lớn, do đó xây dựng được hệ thống xử lý chất thải hiện đại, hiệu quả cao
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nước thải chăn nuôi lợn tại trang trại ông Dương Công Tuấn, ông Nguyễn Văn Tịnh, ông Đặng Đức Khang huyện Đại Từ, Thái Nguyên
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Các chỉ tiêu nước thải chăn nuôi được quan sát, nghiên cứu trong năm
2021 trên địa bàn huyện Đại Từ
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Các khu vực chăn nuôi tập trung trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: trang trại ông Dương Công Tuấn xã Cát Nê , trang trại ông Nguyễn Văn Tịnh xã Tân Linh, trang trại ông Đặng Đức Khang xã Cát Nê
2.1.4 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2021 - 3/2022
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá hiện trạng một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa
bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Nội dung 2: Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải tại một số trong chăn
nuôi lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Nội dung 3: Đánh giá nhận thức của người dân về việc xử lý chất thải
chăn nuôi, ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường và con người
Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường trong các trang trại chăn nuôi lợn trong điều kiện thực tế tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 362.3 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu, số liệu, các công trình đã được nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu: Điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình, thủy văn của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, các thông tin, tài liệu của các báo cáo, các đề tài có liên quan
Số liệu về các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về quy mô, tình hình xử lý nước thải chăn nuôi tại Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, Chi cục Bảo vệ môi trường, phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đại Từ
Kế thừa và tham khảo các kết quả đã đạt được của các báo cáo, đề tài có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
2.4.2.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Điều tra phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi chuẩn bị trước thông qua phiếu điều tra với nội dung: (1)Nhận thức, đánh giá của người dân về vấn đề
xử lý nước thải chăn nuôi lợn; (2)Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi với môi trường và con người
Bộ câu hỏi bao gồm câu hỏi đóng và mở
Đối tượng điều tra, phỏng vấn gồm người dân đang có hoạt động chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện (20 phiếu) và các hộ dân sống xung quanh các trang trại (60 phiếu), số phiếu điều tra chia đều cho khu vực nghiên cứu bằng phương pháp ngẫu nhiên
2.4.2.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
* Phương pháp lấy mẫu
Dụng cụ lấy mẫu: Dùng chai đựng mẫu bằng thủy tinh hay polime có nút đậy, được rửa sạch và tráng bằng nước cất Mẫu nước thải được lấy và bảo quản theo TCVN 5999:1995; TCVN 6663-3:2008
Phương pháp lấy mẫu: Tiến hành lấy mẫu tại bể chứa nước thải
Vị trí lấy mẫu:
Trang 37Bảng 2.1 Vị trí và địa điểm lấy mẫu nước thải chăn nuôi
thống xử lý nước thải
Hộ kinh doanh
* Phương pháp bảo quản mẫu:
Bảng 2.2 Các phương pháp bảo quản mẫu trước khi phân tích Cách bảo quản
Các chỉ tiêu Bảo quản lạnh
Nhiệt độ thường Dụng cụ lấy mẫu
Trang 38* Phương pháp phân tích mẫu:
Bảng 2.3 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích STT Chỉ tiêu Đơn vị Phương pháp phân tích
- Tổng hợp kết quả phân tích nước thải chăn nuôi, so sánh với Quy chuẩn
Việt Nam QCVN 62: 2016/BTNMT để đưa ra nhận xét, đánh giá chính xác
- Tổng hợp, phân tích số liệu, tính hiệu suất Sử dụng phần mềm excel để tính toán hiệu suất xử lý (%) theo công thức:
(Nồng độ đầu vào – Nồng độ đầu ra) * 100%
Nồng độ đầu vào
- Viết báo cáo dựa trên các kết quả thu được
Trang 39Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
3.1.1 Thực trạng quy mô chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Từ
Thái Nguyên là một tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển tương đối nhanh Nhiều huyện có số lượng các trang trại chăn nuôi quy mô lớn như: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ; chủ yếu là chăn nuôi lợn Riêng địa bàn huyện Đại Từ có
45 trang trại lợn Các trang trại chăn nuôi lợn hiện nay trên địa bàn huyện theo mô hình nuôi lợn nái hậu bị cho các công ty CP, Dafaco… Chăn nuôi lợn của trang trại đa số là giống lợn ngoại siêu thịt, có giá thành chất lượng con giống, sản lượng thịt mang lại giá trị kinh tế cao hơn giống lợn của địa phương Đối với các loại hình chăn nuôi khác như trâu bò, dê, gia cầm, huyện Đại Từ còn ít phát triển, do đó như đã trình bày ở đối tượng nghiên cứu, luận văn này tập trung vào đối tượng là các trang trại chăn nuôi lợn
Theo Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày 3/4/2013 về việc phê duyệt đề
án phát triển chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013-2020 quy hoạch quy
mô đàn: đàn lợn 800.000 con (trong đó lợn nái 128.000 con; lợn thịt 672.000 con); đàn gia cầm 13.000 ngàn con Thực tế, đến hết năm 2016, đàn lợn toàn tỉnh đã đạt 745.230 con Tuy nhiên đến năm 2020 thì đàn lợn toàn tỉnh chỉ còn 591.810 con, nguyên nhân chủ yếu do dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hương tới phát triển kinh tế nói chung cũng như ngành chăn nuôi nói riêng
Theo kết quả điều tra, khảo sát số lượng trang trại lợn trên địa bàn huyện Đại Từ cho kết quả như sau: năm 2021: 45 trang trại (09 trang trại lớn, 22
trang trại vừa, 14 trang trại nhỏ) Đàn lợn nuôi trên địa bàn huyện hàng năm
đều tăng dần qua các năm: năm 2018 là 83,94 nghìn con; năm 2019 là 48,9
nghìn con; năm 2020 là 70,02 nghìn con (Niên giám thống kê Thái Nguyên
2020 và điều tra thực tế)
Trang 40Bảng 3.1 Thực trạng chăn nuôi tại một số trang trại trên địa bàn huyện
Nguồn: Phiếu điều tra, 2021
Kết quả điều tra phỏng vấn một số trang trại trên địa bàn huyện cho thấy, các trang trại đều đã có hệ thống xử lý nước thải phù hợp với quy mô chăn nuôi Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, do lượng nước thải chăn nuôi phát sinh nhiều hơn so với tính toán nên không xử lý được triệt để trước khi thải ra môi trường
Quy mô
Số lượng (con)
Hệ thống xử lý nước thải
1 Nguyễn Thị Kim TDP 2, TT Quân Chu Trên1000 Biogas, hồ sinh học, bể lắng
2 Nguyễn Văn Hưởng TDP 2, TT Quân Chu 500-1000 Biogas, hố lắng
4 Trần Văn Tuấn TDP 3, TT Quân Chu 500-1000 Biogas, hố lắng
5 Trần Văn Khách TDP 7, TT Quân Chu 100-500 Biogas, ao lắng
6 Nguyễn Văn Tuấn Đoàn Kết, Yên Lãng 500-1000 Biogas, hố lắng
7 Hoàng Thị Vui Thái Hà, Yên Lãng 500-1000 Biogas, bể lắng
8 Phạm Quốc Tuấn Thái Hà, Yên Lãng 100-500 Biogas, bể lắng
10 Đặng Đức Khang Nông Trường, Cát Nê Trên1000 Biogas, ao sinh học
11 Dương Công Tuấn Nông Trường, Cát Nê Trên1000 Biogas, hồ lắng
12 Lê Duy Hiếu Đầu Cầu, Cát Nê 100-500 Biogas, hố lắng
14 Trần Đoàn Trang Khuôn U, Na Mao 500-1000 Biogas
15 Trần Đoàn Công Thái Hà, Na Mao 500-1000 Biogas
16 Hoàng Văn Ninh Trung Tâm, Na Mao 100-500 Biogas
17 Lê Cao Cường Đoàn Kết, Na Mao 500-1000 Biogas
18 Âu Xuân Định Cây Lai, Na Mao 500-1000 Biogas
19 Lại Thị Quyên Soi, Phục Linh 500-1000 Biogas
20 Trần Xuân Trường Queo, Phục Linh Trên1000 Biogas, bể lắng