BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH --- --- BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP XANH
CỦA GIỚI TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số đề tài: 21/1QTKDSV01
Chủ nhiệm đề tài: Hồ Thị Yến Nhi
Đơn vị thực hiện: Khoa Quản trị Kinh doanh
Tp Hồ Chí Minh – 12/2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn trường đại học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh đã mang đến môi trường học tập tốt cũng như cơ sở vật chất và trang kỹ thuật đầy đủ để em có thể tiếp cận nhanh và hiệu quả nhất để thực hiện đề tài và tài trợ kinh phí cho em trong công tác thực hiện Em cũng xin cảm ơn Khoa Quản Trị Kinh Doanh đã tạo điều kiện cho em được học hỏi và nhận được nhiều kiến thức hữu ích cũng như áp dụng được trong đề tài Ngoài ra, em xin đặc biệt chân thành cảm ơn cố vấn đề tài của em, cảm ơn thầy thời gian vừa qua đã luôn theo sát cũng như hướng dẫn em hoàn thành đề tài một cách trọn vẹn và hiệu quả nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
I Thông tin tổng quát
1.1 Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Mã số: 21/1QTKDSV01
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
1.4 Đơn vị chủ trì: Khoa Quản trị Kinh doanh
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 03 năm 2021 đến tháng 12 năm 2021
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 03 năm 2021 đến tháng 03 năm 2021
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên
nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: Mười triệu đồng
II Kết quả nghiên cứu
Trang 4ổn định, một số học giả trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp xanh Tuy nhiên ở Việt Nam lại chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề khởi nghiệp xanh, một yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của một quốc gia đem lại sự cân bằng cho con người – kinh tế - môi trường, đảm bảo nguồn tài nguyên của thế hệ tương lai không bị ảnh hưởng hay thiếu hụt trầm trọng Nghiên cứu này nhằm dự đoán các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại Tp Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế của Việt Nam Với mẫu nghiên cứu gồm 250 người có ý định khởi nghiệp xanh nằm trong
độ tuổi từ 18 đến 32 tuổi đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh Thông qua việc gửi phiếu khảo sát trực tuyến và phỏng vấn trực tiếp kết hợp với sử dụng mô hình hồi quy đa biến nhằm tìm ra và kết luận những yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh Tổng cộng có 250 phiếu khảo sát hợp lệ và dữ liệu được phân tích định lượng thông qua IBM SPSS Statistics 20.0
2 Mục tiêu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định “khởi nghiệp xanh” của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu 2: Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu 3: Đưa ra hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 53 Phương pháp nghiên cứu
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu Tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, sau đó đề xuất mô hình nghiên cứu
và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu
Bước 2: Soạn thảo bảng câu hỏi và chỉnh sửa bảng câu hỏi dựa trên các ý kiến của các chuyên gia Một bảng thảo câu hỏi với các thang đo lường dựa trên các nghiên cứu trước
đó đã được thiết lập Sau đó, bảng câu hỏi sẽ được gửi online cho một nhóm nhỏ gồm
50 người Cuối cùng, tác giả tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu từ bảng câu hỏi gửi đến 250 người tiêu dùng thông qua mạng xã hội và thông qua phiếu khảo sát phỏng vấn trực tiếp
Bước 3: Chỉnh sửa và điều chỉnh các dữ liệu, độ tin cậy của các phương pháp đo lường được phân tích bởi Cronbach’s Alpha và phải đạt yêu cầu hệ số trên 0,6 Phân tích nhân
tố khám phá EFA Kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu và xác định mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình thông qua việc phân tích hồi quy đa biến
Bước 4: Trình bày kết quả nghiên cứu Đưa ra kết luận và hàm ý quản trị nhằm nâng cao
ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ
4 Tổng kết về kết quả nghiên cứu
Bài nghiên cứu này nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại Tp Hồ Chí Minh Dựa trên các lý thuyết nền về sự kiện khởi nghiệp, giá trị văn hóa và phát triển bền vững tác giả tổng hợp cho ra mô hinh nghiên cứu bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh là: Nhận thức mong muốn, tính khả thi, tìm kiếm cơ hội, niềm tin về khả năng, đánh giá các đặc điểm trong kinh doanh, nỗi
sợ hãi trong kinh doanh, và cuối cùng là sự trách nhiệm Sau khi tổng hợp chỉnh sửa bảng thang đo, tiến hành chỉnh sửa và hỏi ý kiến chuyên gia để hoàn chỉnh thang đo Tiếp đến là tiến hành nghiên cứu sơ bộ bằng cách thực hiện khảo sát dựa trên 50 người phỏng vấn để kiểm tra độ tin cậy của thang đo để tiến hành nghiên cứu chính thức Sau
Trang 6khi nghiên cứu sơ bộ không có biến quan sát nào bị loại thang đo đạt tiêu chuẩn tiến hành nghiên cứu chính thức thông qua khảo sát có 250 phiếu hợp lệ kết hợp với mô hình hồi quy tuyến tính sử dụng IBM SPSS Statistics 20.0 để tiến hành phân tích kiểm tra Đầu tiên là kiểm định Cronbach’s Alpha Công cụ này sẽ giúp kiểm tra xem các biến quan sát của nhân tố mẹ có đáng tin cậy hay không Phép kiểm định này phản ánh mức
độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng 1 nhân tố Nó cho biết trong các biến quan sát của một nhân tố, biến nào đã đóng góp vào việc đo lường khái niệm nhân tố, biến nào không Kết quả Cronbach Alpha của nhân tố tốt thể hiện rằng các biến quan sát chúng ta liệt kê là rất tốt, thể hiện được đặc điểm của nhân tố mẹ, chúng ta đã
có được một thang đo tốt cho nhân tố mẹ này Ở bước kiểm định này các nhân tố đều phù hợp không có biến nào bị loại Tiếp đến là phân tích nhân tố khám phá EFA: Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là một phương pháp phân tích định lượng dùng để rút gọn một tập gồm nhiều biến đo lường phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến ít hơn (gọi là các nhân tố) để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu (Hair và cộng sự, 2009) Nó hướng đến việc khám phá ra cấu trúc
cơ bản của một tập hợp các biến có liên quan với nhau Ở bước này Các biến quan sát đều phù hợp và chỉ giải thích cho 1 nhân tố nhất định Không có biến nào bị loại Thứ
ba là phân tích tương quan Person, đây là bước kiểm định trước khi tiến vào kiểm định phân tích hồi quy Ở bước này, nhân tố “Sự sợ hãi trong kinh doanh không có tác động
có ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc là ý định khởi nghiệp xanh” nên biến này đã bị loại Vậy ta có 6 biến độc lập còn lại là nhận thức mong muốn, tính khả thi, tìm kiếm cơ hội, đánh giá các đặc điểm trong kinh doanh, nhận trách nhiệm, và niềm tin về khả năng
để bước vào phân tích hồi quy tuyến tính Cuối cùng là phân tích hồi quy tuyến tính: Phân tích hồi quy là một phương pháp thống kê hữu ích có thể được sử dụng để xác định mức độ mà các biến độc lập cụ thể đang ảnh hưởng đến các biến phụ thuộc Kết quả phân tích hồi quy cho thấy biến mức độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc trong đó biến nhận thức mong muốn có tác động mạnh nhất tiếp đến là biến tìm kiếm cơ
Trang 7hội, kế đến là biến tính khả thi, tiếp đến là biến đánh giá và đặc điểm trong kinh doanh,
và sự trách nhiệm, cuối cùng biến có tác động nhỏ nhất là biến niềm tin về khả năng
5 Đánh giá các kết quả đã đạt được và kết luận
Mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu gồm 7 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại TP Hồ Chí Minh bao gồm: Nhận thức mong muốn, tìm kiếm
cơ hội, tính khả thi, đánh giá cao các đặc điểm trong kinh doanh, trách nhiệm và niềm tin về khả năng và sự sợ hãi trong kinh doanh với 27 biến quan sát Thông tin từ mẫu quan sát cho thấy, đối tượng khảo sát chủ yếu là những người trẻ tuổi, tập trung trong khoảng từ 18-27 tuổi Đều có ý định khởi nghiệp xanh Sau khi đánh giá độ tin cậy của thang đo và phân tích nhân tố, kết quả các biến quan sát được đưa vào phân tích hồi quy bao gồm 7 nhân tố: Nhận thức mong muốn, tìm kiếm cơ hội, tính khả thi, đánh giá cao các đặc điểm trong kinh doanh, trách nhiệm và niềm tin về khả năng và sự sợ hãi trong kinh doanh Tuy nhiên trong quá trình thực hiện phân tích kiểm tra kết quả phân tích hồi quy đa biến đã xác định được 6 nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến ý định khởi nghiệp xanh đó là: nhận thức mong muốn, tìm kiếm cơ hội, tính khả thi, đánh giá cao các đặc điểm trong kinh doanh, trách nhiệm và niềm tin về khả năng Trong đó, nhân tố nhận thức mong muốn có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với ý định khởi nghiệp xanh, kế đến
là tìm kiếm cơ hội, tính khả thi, tiếp theo là đánh giá các đặc điểm trong kinh doanh, sự trách nhiệm và cuối cùng là niềm tin về khả năng
Kết quả nghiên cứu này có sự khác biệt so với các nghiên cứu trước, theo nghiên cứu của T Ramayah và cộng sự (2019) họ kết luận rằng “Sự sợ hãi trong kinh doanh”, “Niềm tin về khả năng”, “Đánh giá cao các đặc điểm trong kinh doanh” không ảnh hưởng đến
ý định khởi nghiệp xanh Tuy nhiên, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chỉ có “Sự sợ hãi trong kinh doanh” không ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ vậy ở mỗi môi trường văn hoá khác nhau sẽ có sự ảnh hưởng khác nhau đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ, tuy nhiên sự khác biệt này là không đáng kể
Trang 8Bảng Kết quả tóm tắt kiểm định các mối quan hệ trong mô hình lý thuyết
H1 Sự mong muốn được nhận thức sẽ có tác động tích cực đến ý định
khởi nghiệp xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh Chấp
nhận
H2 Tính khả thi và sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh
nhận
H3 Tìm kiếm cơ hội sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh
nhận
H4 Đánh giá cao các đặc điểm kinh doanh sẽ có tác động tích cực ý định
khởi nghiệp xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh Chấp
nhận
H5 Niềm tin về năng lực sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp
xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
Chấp nhận
H6 Nhận trách nhiệm sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp
xanh trong giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh Chấp
nhận
H7 Nỗi sợ hãi về kinh doanh sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định khởi
nghiệp xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh Bác bỏ
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 96 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)
Tóm tắt kết quả:
Kết quả cho thấy rằng có 6 nhân tố ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh đánh giá các đặc điểm kinh doanh, niềm tin năng lực, tính khả thi, nhận thức mong muốn, trách nhiệm có tác động đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ Trong số các yếu tố này, yếu tố ảnh hưởng mạnh đến ý định khởi nghiệp xanh là “nhận thức mong muốn” tác động mạnh nhất, tiếp đến là “tính khả thi”, kế đến là “tìm kiếm cơ hội” kế tiếp là
“trách nhiệm”, và “đánh giá các đặc điểm trong kinh doanh” Và, yếu tố niềm tin về khả năng cũng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh
Abstract:
The results show that there are 6 factors that positively affect green startup intention, assessing business characteristics, capacity belief, feasibility, desire perception, and responsibility Among these factors, the factor that strongly influences the intention to start a green business is “perceived desire” with the strongest impact, followed by
“feasibility”, followed by “seeking opportunities” next as “responsibility”, and
“evaluating business characteristics” And, the factor of trust in the ability also affects the intention to start a green business
Trang 10III Sản phẩm đề tài, công bố và kết quả đào tạo
3.1 Kết quả nghiên cứu ( sản phẩm dạng 1,2,3)
Báo cáo hoàn chỉnh, tham gia giải thưởng Euroka
2 Bài báo khoa học Hội nghị khoa học trẻ
cấp trường hoặc tạp chí khoa học trong nước HĐCDGSNN
Hội nghị khoa học trẻ cấp trường
Ghi chú:
- Các ấn phẩm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo…) chỉ được chấp nhận nếu có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn trường ĐH Công Nghiệp Tp HCM đã cấp kính phí thực hiện nghiên cứu theo đúng quy định
- Các ấn phẩm (bản photo) đính kèm trong phần phụ lục minh chứng ở cuối báo cáo (đối với ấn phẩm là sách, giáo trình cần có bản photo trang bìa, trang chính và trang cuối kèm thông tin quyết định và số hiệu xuất bản)
3.2 Kết quả đào tạo
TT Họ và tên
Thời gian thực hiện đề tài
Tên đề tài
Tên chuyên đề nếu là NCS Tên luận văn nếu là Cao học
Đã bảo vệ
Sinh viên Đại học
Hồ Thị Yến Nhi 03/2021- 12/2021 Các yếu tố ảnh hưởng đế ý
định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại TP Hồ Chí Minh
Đã đạt
Ghi chú:- Kèm bản photo trang bìa chuyên đề nghiên cứu sinh/ luận văn/ khóa luận và
bằng/giấy chứng nhận nghiên cứu sinh/thạc sỹ nếu học viên đã bảo vệ thành công luận
án/ luận văn;( thể hiện tại phần cuối trong báo cáo khoa học)
Trang 11IV Tình hình sử dụng kinh phí
T
Kinh phí được duyệt
(triệu đồng)
Kinh phí thực hiện
(triệu đồng)
Ghi chú
A Chi phí trực tiếp
1 Thuê khoán chuyên môn
2 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con
V Kiến nghị ( về phát triển các kết quả nghiên cứu của đề tài)
Định hướng tiếp theo cho bài nghiên cứu này nên tìm và tham khảo những bài nghiên cứu mà các học giả trước đã nghiên cứu để có thêm nhiều cơ sở và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu đề tài này Ngoài ra, các bài nghiên cứu về ý định khởi nghiệp đã có khá nhiều tuy nhiên lại chưa có bài nghiên cứu về sự tồn vong của các công ty hay cá nhân khởi nghiệp tác giả có thể nghiên cứu và tìm hiểu về đề tài này Ngoài ra mở rộng thêm phạm vi nghiên cứu để đem lại kết quả tổng thể của nghiên cứu tốt hơn
Trang 12VI Phụ lục sản phẩm ( liệt kê minh chứng các sản phẩm nêu ở Phần III)
Các minh chứng đã được đính kèm ở phần III cuối quyển báo cáo
Tp HCM, ngày tháng năm
Chủ nhiệm đề tài Phòng QLKH&HTQT (ĐƠN VỊ)
Trưởng (đơn vị) (Họ tên, chữ ký)
Trang 13PHẦN II BÁO CÁO CHI TIẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
(báo cáo tổng kết sau khi nghiệm thu, đã bao gồm nội dung góp ý của hội đồng nghiệm thu)
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
1.5.1 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.5.2 Ý nghĩa khoa học 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Giới thiệu các khái niệm chính 6
2.1.1 Khởi nghiệp xanh 6
2.1.2 Doanh nhân xanh 7
2.1.3 Phát triển bền vững 7
2.1.4 Trách nhiệm xã hội 8
2.1.5 Lý thuyết nền 9
2.2 Giả thuyết nghiên cứu 13
2.2.1 Sự mong muốn 13
2.2.2 Tính khả thi 13
2.2.3 Tìm kiếm cơ hội 14
2.2.4 Đánh giá các đặc điểm kinh doanh 14
2.2.5 Niềm tin về năng lực 15
2.2.6 Sự trách nhiệm 16
2.2.7 Nỗi sợ hãi trong kinh doanh 16
Trang 142.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất: 17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Quy trình nghiên cứu 19
3.2 Phương pháp nghiên cứu 22
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
3.2.2 Điều tra và phỏng vấn chuyên gia 23
3.2.3 Nghiên cứu sơ bộ 24
3.2.4 Nghiên cứu chính thức 24
3.3 Các công cụ và phương pháp để thu thập và xử lý dữ liệu 25
3.3.1 Công cụ thu thập dữ liệu 25
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 25
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 26
3.4.1 Thống kê mô tả (Descriptive Statistics) 27
3.4.2 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 27
3.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 28
3.4.4 Phân tích hồi quy 29
3.5 Phương pháp chọn mẫu 30
3.5.1 Tổng thể nghiên cứu 30
3.5.2 Khung chọn mẫu 30
3.5.3 Kích thước mẫu 31
3.5.4 Đối tượng điều tra 31
3.6 Thiết kế thang đo và bảng câu hỏi 31
3.6.1 Xây dựng thang đo sơ bộ 31
3.6.2 Nội dung bảng câu hỏi 35
3.6.3 Kết quả khảo sát sơ bộ 36
3.6.4 Thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi chính thức 38
3.6.5 Diễn đạt và mã hoá thang đo 39
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN
Trang 154.1 Thực trạng phát triển bền vững và tầm quan trọng của khởi nghiệp xanh
tại Việt Nam 42
4.2 Thông tin mẫu nghiên cứu 44
4.3 Thống kê mô tả 44
4.4 Kiểm định Cronbach’ Alpha cho từng nhóm nhân tố 46
4.4.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha cho biến độc lập 46
4.4.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha cho biến phụ thuộc 49
4.4.3 Bảng tổng hợp biến sau khi phân tích Cronbach’s Alpha 49
4.5 Phân tích nhân tố khám phá EFA 50
4.5.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập 50
4.5.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc 52
4.6 Phân tích tương quan Pearson 53
4.7 Phân tích hồi quy 55
4.7.1 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình 56
4.7.2 Kiểm định F 56
4.7.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 57
4.7.4 Kiểm định phương sai của sai số không đổi 57
4.7.5 Ý nghĩa của hệ số hồi quy 58
4.7.6 Thảo luận kết quả hồi quy 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Hàm ý quản trị 64
5.3 Hạn chế của đề tài 67
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 2
PHỤ LỤC 2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ 7
PHỤ LỤC 4: CRONBACH’S ALPHA 11
Trang 16DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT NỘI DUNG
1 TP : Thành phố
2 SPSS : Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội
(Statistical Package for the Social Sciences)
3 Sig : Mức ý nghĩa quan sát
(Observed significance level)
4 EFA : Exploratory Factor Analysis
5 KMO : Kaiser – Meyer – Olkin
Trang 17
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3-1 Sơ đồ quá trình nghiên cứu 23
Bảng 3-2 Tổng hợp chuyên gia phỏng vấn 23
Bảng 3-3 Bảng thang đo các nhóm nhân tố nghiên cứu 33
Bảng 3-4 Kết quả khảo sát sơ bộ 38
Bảng 3-5 Thang đo các thành phần và mã hoá thang đo 39
Bảng 4-1 Thống kê mô tả mẩu theo đặc điểm cá nhân 44
Bảng 4-2 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho biến độc lập 46
Bảng 4-3 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho biến phụ thuộc 49
Bảng 4-4 Tổng hợp biến sau khi phân tích Cronbach’s Alpha 49
Bảng 4-5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập 50
Bảng 4-6 Bảng ma trận xoay yếu tố độc lập 51
Bảng 4-7 Kết quả phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập 52
Bảng 4-8 Bảng ma trận xoay yếu tố phụ thuộc 52
Bảng 4-9 Bảng tổng hợp các biến sau khi phân tích nhân tố EFA 53
Bảng 4-10 Bảng phân tích tương quan (Pearson) giữa biến độc lập và biến phụ thuộc 54
Bảng 4-11 Bảng đánh giá mức độ phù hợp của mô hình 56
Bảng 4-12 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 56
Bảng 4-13 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 57
Bảng 4-14 Kiểm định phương sai của sai số không đổi 57
Bảng 4-15 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 58
Bảng 4-16 Bảng hệ số hồi quy chuẩn hoá 61
Trang 18DANH MỤC HÌNH
Hình 2-1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 17 Hình 3-1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 21 Hình 3-2 Thang đo Likert 5 điểm 38 Hình 4-1 Mức độ tác động của các nhân tố tới biến phụ thuộc ý định khởi nghiệp
xanh 60
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Mối đe dọa môi trường chung đang gia tăng nhanh chóng ở nhiều nơi trên thế giới Trong
đó có Việt Nam, việc phát triển kinh tế phải chú trọng đến bảo vệ môi trường là vấn đề cấp thiết Hiện nay, Việt Nam đối mặt với đợt bùng phát dịch COVID-19 thứ tư và dịch diễn biến theo chiều hướng phức tạp, nhiều thách thức với nhiều ổ dịch tại nhiều địa phương, tập trung ở một số khu công nghiệp, có tốc độ lây lan nhanh Tính đến ngày 24/5/2021, đợt bùng phát này đang ảnh hưởng đến 30 tỉnh/thành phố với tổng số ca nhiễm lên tới hơn 2.000
Ngày 30/4/2021, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố Chỉ số Môi trường kinh doanh EuroCham (Business Climate Index - BCI) quý I/2021 Theo đó, doanh nghiệp châu Âu khởi động năm 2021 với sự tích cực và niềm tin lạc quan về môi trường thương mại, đầu tư của Việt Nam Kết quả khảo sát Chỉ số BCI cũng cho thấy sự lạc quan về môi trường kinh doanh tiếp tục được duy trì, khẳng định Việt Nam đang tiếp tục mở cửa nền kinh tế, trong khi nhiều quốc gia còn đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tác động của đại dịch COVID-19 Việt Nam có khả năng có thể đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình thường mà không có nhiều gián đoạn Đây là một trong những yếu tố tích cực củng cố niềm tin vào môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong tháng 5 năm 2021 là 16.495 doanh nghiệp (tăng 4,5% so với cùng kỳ 2020), bao gồm: 11.603 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 8,2%) và 4.892 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 3,2%)
Có thể thấy mặc dù đang chịu tác động ảnh hưởng của đại dịch Covid nhưng Việt Nam vẫn đang làm chủ được nền kinh tế, tạo cơ hội mạnh mẽ cho các doanh nghiệp mới phát triển, từ đó đưa ra các chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn thúc đẩy ý định khởi nghiệp của giới trẻ hiện nay Sobel và King (2008) nhận định khởi nghiệp là chìa khóa quan
Trang 20trọng để tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà chính sách
Trong hầu hết các lĩnh vực môi trường, việc xây dựng nhà máy, nhà ở, đưa vào sử dụng nguyên liệu chính là mảng có tác động xã hội lớn nhất Tuy nhiên, cũng từ đó nguyênliệu
sẽ bị dùng hết, hàm lượng khí thải vào thiên nhiên đưa vào không khí tiếp tục tăng không ngừng, việc tập trung tìm các giải pháp bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với phát triển môi trường còn thấp Lúc đó, muốn duy trì sự phát triển thì các nước phải chú trọng đến môi trường xanh Khởi nghiệp là sự nghiệp sáng tạo ra sản phẩm mới, tổ chức mới nhằm tạo ra vị thế mới cho mỗi cá nhân, tổ chức, cộng đồng và quốc gia Khởi nghiệp không chỉ là thiết lập mô hình kinh doanh với thành công về tài chính mà còn là khởi nghiệp hướng tới phục vụ cộng đồng, quốc gia, giải quyết các vấn đề liên quan đến con người, phát triển bền vững, gắn với tạo lập các giá trị mới về xã hội và văn hóa (TS Nguyễn Tuấn Anh, 2018) Vì vậy việc chú trọng đến khởi nghiệp để hướng đến phát triển kinh tế phải đi kèm với phát triển môi trường là một điều không thể thiếu trong xã hội hiện đại ngày nay
Hiện nay trên thế giới, thuật ngữ “Khởi nghiệp xanh” đã và đang được quan tâm mạnh
mẽ, các học giả nhà nghiên cứu đã hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế một cách bền vững, và để đảm bảo được nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như một môi trường sống sạch xanh, một số học giả nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về “ Ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ” như” “Mô hình hóa ý định kinh doanh xanh của sinh viên đại học bằng cách sử dụng sự kiện khởi nghiệp và lý thuyết giá trị văn hóa” của Raymah
và cộng sự (2019), hay bài nghiên cứu của Soomro BA và cộng sự (2019) về chủ đề “Xu hướng khởi nghiệp xanh của thế hệ trẻ: Một con đường hướng đến một nền kinh tế xanh” đều cho ta thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn một môi trường sống xanh cho thế hệ tương lai qua việc kết hợp sự kiện khởi nghiệp phát triền kinh tế đi đôi với phát triển môi trường Ở Việt Nam, một số học giả đã nghiên cứu các chủ đề xung quanh về khởi nghiệp
Trang 21như “Khởi nghiệp bền vững” TS Nguyền Hoàng Tiến, hay ý định sử dụng sản phẩm xanh, ý định khởi nghiệp bằng nông nghiệp công nghệ cao của Ths Vũ Thị Quỳnh Anh
và cộng sự, các chủ đề nghiên cứu đều hướng đến khởi nghiệp với định hướng phát triển bền vững và một môi trường sống xanh Tuy nhiên, chưa có một bài nghiên cứu nào cụ thể về chủ đề “Khởi nghiệp xanh” một chủ đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với xã hội hiện nay đặc biệt là Tp Hồ Chí Minh: Một trung tâm phát triển kinh tế mạnh mẽ ở Việt Nam Vì vậy nghiên cứu này tiến hành thực hiện nhằm nghiên cứu “ Ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại Tp Hồ Chí Minh” Từ đó giúp cho các học giả, các trường đại học cũng như những đối tượng quan tâm đến chủ đề “Khởi nghiệp xanh” có được một cơ sở khoa học để đưa ra các chính sách thúc đẩy ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ ngày nay
1.2 Mục tiêu đề tài
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định “khởi nghiệp xanh” của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu 2: Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu 3: Đưa ra hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được đề cập trong đề tài: ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Trang 221.4 Phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Giới trẻ có ý định khởi nghiệp xanh từ 18 tuổi đến 32 tuổi đang sống tại TP Hồ Chí Minh
Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu ý định khởi nghiệp của giới trẻ trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh; độ tuổi 18 - 32, là lứa tuổi có ý định khởi nghiệp cao, chấp nhận rủi
ro và có tinh thần đổi mới phát triển bản thân
Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 3 năm 2021 đến tháng 5 năm 2021,
nghiên cứu sơ bộ được thực hiện từ tháng 1 năm 2021 đến tháng 3 năm 2021, nghiên
cứu chính thức được thực hiện từ tháng 3 năm 2021 đến tháng 5 năm 2021
Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.5.1 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp chính phủ và các trường đại học nắm bắt được vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ Việt Nam cũng như các tiêu chí cụ thể cho từng biến số Trên cơ sở đó, họ có thể xây dựng các chính sách, chiến lược thúc đẩy ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ một thế hệ doanh nhân trẻ trong tương lai thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà mà vẫn đảm bảo được môi trường sống cho thế hệ trong tương lai, đảm bảo môi trường được sử dụng hợp lý không
bị lãng phí và không ngừng tái tạo tốt Ngoài ra một số ngành nghề có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để có hướng đi trong việc hoạch định chiến lược mục tiêu kinh doanh xanh và tuyển dụng nhà khởi nghiệp như: xây dựng, nông nghiệp, sản xuất,
1.5.2 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo về phương pháp nghiên cứu không những cho ngành Quản trị Kinh doanh nói riêng mà cả các ngành khoa học xã hội khác
Trang 23TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã khái quát bối cảnh và tình hình khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện tại Trình bày tóm lược các vấn đề cấp thiết đối với đề tài, các câu hỏi nghiên cứ u, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Ngoài ra còn nêu lên ý nghĩa của đề tài với thực tiễn thị trường trong bài luận văn này
Trang 24CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu các khái niệm chính
2.1.1 Khởi nghiệp xanh
Khởi nghiệp xanh đã được xác định là khởi nghiệp kết hợp nhận thức về môi trường với các hành động kinh doanh, là động lực quan trọng trong quá trình chuyển đổi hướng tới
mô hình kinh doanh bền vững (Gibbs và O’Neill, 2014; Schaper, 1982) Khởi nghiệp xanh là một cách thức sáng tạo để đạt được mục tiêu cuối cùng là sử dụng các nguồn tài nguyên vào việc phát triển các mô hình sản xuất và tiêu dùng đa dạng và bền vững nhằm đảm bảo sự thịnh vượng và chất lượng cuộc sống cao trên toàn thế giới mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai (Richomme-Huet và cộng sự, 2011) Tinh thần khởi nghiệp xanh, được bảo tồn như một lối thoát để bảo vệ và chống lại sự suy thoái của môi trường, được kết nối triệt để với các hoạt động kinh doanh bền vững (Ndubisi & Nair, 2009)
Khởi nghiệp xanh là chịu trách nhiệm tạo ra thế giới mà chúng ta mơ ước, nó cũng được định nghĩa là: tạo ra giá trị xuyên suốt cho các sản phẩm và đổi mới sinh thái (Schaltegger 2002), tập trung vào việc nuôi dưỡng thiên nhiên và hỗ trợ cuộc sống, trong mối quan tâm của các cơ hội để thúc đẩy các sản phẩm, quy trình và dịch vụ trong tương lai nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho cá nhân và xã hội (Jolink, Niesten 2013); quá trình phát hiện, đánh giá và khai thác các cơ hội kinh tế có trong sự thất bại của thị trường liên quan đến môi trường (Dean, McMullen, 2007); hành động của các doanh nhân có nỗ lực kinh doanh không chỉ vì lợi nhuận mà còn quan tâm đến môi trường (Schuyler 1998)
Theo những định nghĩa trên ta có thể hiểu khởi nghiệp “Xanh” là hành động của doanh nhân hay doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh phát triển kinh tế và đặt việc bảo vệ môi trường lên mục tiêu hàng đầu, họ có những hành động cụ thể để bảo vệ hay sử dụng một cách tiết kiệm, tránh lãng phí, hay có hướng tái tạo nhằm đảm bảo cho kinh tế phát triển một cách bền vững mà không ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Trang 25sống cho thế hệ tương lai Đối với các doanh nghiệp hay cá nhân bắt đầu kinh doanh và đặt mục tiêu bảo vệ môi trường làm kim chỉ nam trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh hay dịch vụ đều được xem là khởi nghiệp “Xanh”
2.1.2 Doanh nhân xanh
Được định nghĩa là “… Một doanh nhân hoạt động trong các lĩnh vực xanh, bao gồm một người tìm cách chuyển đổi một lĩnh vực theo hướng bền vững, chẳng hạn như thông qua đổi mới xanh (sản phẩm xanh, quy trình hay dịch vụ) làm giảm nguồn lực hoặc nâng cao hiệu quả theo hướng không lãng phí ” (Entrepreneurship, 2011) Những cá nhân này có xu hướng có tư duy tập trung vào môi trường, có thể liên quan đến các đặc điểm khác nhau trong việc tìm kiếm ý tưởng, quản lý hoạt động, giải quyết vấn đề và xác định
cơ hội
2.1.3 Phát triển bền vững
Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED-World Commission on Environment and Development) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”, hay phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục
ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Định nghĩa này vẫn thường được ưa chuộng và cũng được chấp nhận bởi tiêu chuẩn mới ISO 26000 (Seifi
và Crowther, 2011)
Trang 26Phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là bảo vệ môi trường mà còn liên quan đến chất lượng cuộc sống, sự phân bổ các nguồn lực và lợi ích, mối tương tác giữa môi trường và
sự phát triển, và các điều khoản cho tương lai (Department of The Environment and Local Government, 1995)
Seifi và Crowther (2011) đã giải thích mối quan hệ giữa tính bền vững, phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội: “Các định nghĩa hiện tại có xu hướng ngụ ý rằng tất cả các
nỗ lực đều nhằm đưa chúng ta đến mục tiêu lâu dài của sự bền vững và do đó bạn sẽ hành động có trách nhiệm với xã hội trong một công ty hoặc một tổ chức phù hợp với mục tiêu lớn hơn của xã hội, được gọi là phát triển bền vững và tất cả những điều này đều nhằm đạt được sự bền vững”
đi kèm với trách nhiệm xã hội, vậy nên trong nghiên cứu trên tác giả đã chú ý đến yếu
tố này, yếu tố này có liên quan mật thiết đến sự phát triển bền vững và là một phần không
Trang 27thể thiếu trong khởi nghiệp xanh vì khởi nghiệp xanh cũng là hướng đến sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp nói riêng và cả một nền kinh tế nói chung
2.1.5 Lý thuyết nền
2.1.5.1 Lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp
Ý định khởi nghiệp có thể được xác định là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp mới Có một số mô hình đã được phát triển để giải thích nền tảng của ý định khởi nghiệp Một trong những mô hình sớm nhất là lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982), về mặt khái niệm tương tự như lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) Đây là một trong hai mô hình dựa trên ý định cơ bản nhằm giải thích các ý định khởi nghiệp và hiểu rõ hơn về hành vi tiếp theo Shapero lập luận rằng
ý định khởi nghiệp phụ thuộc vào nhận thức về mong muốn cá nhân, tính khả thi và xu hướng hành động Sự mong muốn được cảm nhận là mức độ mà một cá nhân cảm thấy
bị thu hút để trở thành một doanh nhân và phản ánh sở thích của cá nhân đối với hành vi kinh doanh (Shapero và Sokol, 1982) Trong khi, tính khả thi được nhận thức đề cập đến mức độ mà các cá nhân tự tin rằng họ có thể bắt đầu kinh doanh của riêng mình và coi khả năng trở thành một doanh nhân là khả thi (Shapero và Sokol, 1982) Nó bao gồm việc chủ động tìm kiếm các mô hình kinh doanh và sản phẩm mới của cá nhân hay công
ty đã có tên tuổi và không giới hạn ở các dự án kinh doanh mới (Harms và cộng sự, 2010) Schumpeter (1934), cho rằng các doanh nhân luôn cố gắng cải thiện vị thế kinh
tế của họ thông qua hành vi đổi mới Miller (1983) gợi ý rằng các doanh nghiệp khởi nghiệp tham gia vào đổi mới thị trường sản phẩm, thực hiện các dự án có phần rủi ro và đầu tiên đưa ra những đổi mới chủ động, đánh bại đối thủ cạnh tranh Là cam kết khởi
sự bằng việc lập doanh nghiệp mới (Krueger, 1993) Là sẵn sàng thực hiện các hoạt động của doanh nhân (Gurbur & Aykol, 2008) Nhà kinh tế học Mỹ Peter F Drucker cho rằng, khởi nghiệp được hiểu là hành động của doanh nhân khởi nghiệp - người tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản
Trang 28phẩm hàng hóa mang tính kinh tế (Drucker, 2016) Khởi nghiệp cũng được coi là một quá trình các cá nhân tìm kiếm và tận dụng các cơ hội của thị trường thông qua việc thành lập các doanh nghiệp (Minniti và Naudé, 2010; O’Connor, 2013)
Tóm lại, khởi nghiệp là việc một người đã có ý định và lên kế hoạch sẵn cho việc thực hiện, họ đem lại cho thị trường những dự án, sản phẩm, quy trình hay dịch vụ mới góp phần làm thay đổi nền kinh tế
2.1.5.2 Lý thuyết về giá trị văn hoá
Sự phát triển của khởi nghiệp tại Việt Nam có sự ảnh hưởng không nhỏ của các yếu tố địa lý hay văn hóa [Vuong, Q H., & Tran, T D (2009); Vuong, Q H (2016)] Rất nhiều yếu tố văn hóa Việt Nam có ảnh hưởng sâu đến nhận thức của người Việt về kinh doanh như: hình ảnh phản diện của người kinh doanh trong các câu chuyện cổ, sự phân tầng xã hội ‘sĩ-nông-công-thương’ [Vuong, Q H., & Tran, T D (2009)] Bên cạnh đó, yếu tố địa lý cũng mang đến một vài sự khác biệt lí thú như nhóm những người khởi nghiệp ở miền Bắc có sự phụ thuộc vào năng lực sáng tạo trong khởi nghiệp nhiều hơn so với miền Nam hay miền Trung [Vuong, Q H (2016)] Rộng hơn nữa, những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến các năng lực quan trọng trong khởi nghiệp như giá trị sáng tạo, sự quyết đoán của người khởi nghiệp, hay trách nhiệm xã hội Theo Kibler (2013), tinh thần kinh doanh là kết quả của mối quan hệ giữa các thuộc tính của cá nhân và môi trường địa phương xung quanh Người ta cho rằng văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của doanh nhân Các học giả đã lập luận rằng các yếu tố văn hóa có thể hình thành các quyết định lựa chọn nghề nghiệp (Iakovleva và Solesvik, 2014), và khuyến khích hoặc cản trở doanh nghiệp (Kreiser và cộng sự, 2010) Để gắn kết văn hóa và tinh thần khởi nghiệp, Stephan (2009) đã phát triển và xác nhận quy mô văn hóa kinh doanh Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố văn hóa có thể được phân loại theo cách tìm kiếm
cơ hội, đánh giá các đặc điểm kinh doanh, niềm tin năng lực, trách nhiệm và nỗi sợ hãi kinh doanh hoặc không thích rủi ro
Trang 292.1.5.3 Lý thuyết về phát triển bền vững
Thuật ngữ Phát triển bền vững (Sustainable Development) lần đầu tiên được sử dụng trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do IUCN đề xuất năm 1980 Mục tiêu tổng thể của Chiến lược là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc
tế về Môi trường và Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ
về phát triển bền vững là: “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ” Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển
Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế-xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể Để triển khai các chiến lược và kế hoạch phát triển bền vững, Liên Hợp Quốc đã thành lập Chương trình “Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (MA)” (tháng 6/2001), nhằm mục đích giúp các khu vực và quốc gia:
+ Hiểu biết một cách sâu sắc hơn mối quan hệ giữa Hệ sinh thái (tự nhiên) và phúc lợi của con người;
+ Phân tích những tiềm năng của các Hệ sinh thái có thể đóng góp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho cộng đồng;
+ Đánh giá mức độ phù hợp của các chính sách ở những cấp ra quyết định khác nhau; + Tích hợp các lĩnh vực kinh tế, môi trường, xã hội và văn hóa;
Trang 30+ Tích hợp thông tin từ cả hai nguồn: khoa học xã hội và khoa học tự nhiên;
+ Phân tích và đánh giá những phương án về chính sách và quản lý, nhằm duy trì dịch
vụ của các Hệ sinh thái và hài hòa nó với nhu cầu của người dân, và tăng cường quản lý
Hệ sinh thái tổng hợp
Phát triển bền vững tập trung vào giải quyết các vấn đề giữa việc cân bằng lợi ích của con người và bảo vệ duy trì tài nguyên cho thế hệ tương lai Cùng với sự phát triển về nhận thức, các mô hình điển hình cho phát triển bền vững được giới thiệu bao gồm: (i)
mô hình 3 trụ cột về môi trường, xã hội và kinh tế với một điểm cân bằng 2 giữa 3 trụ cột này; (ii) mô hình Lăng kính thay thế (Alternative Prism Models) tập trung vào bốn thước đo: kinh tế (vốn nhân tạo – man-made capital), môi trường (vốn từ tự nhiên – natural capital), xã hội (nguồn nhân lực - human capital) và thể chế (vốn xã hội – social capital); (iii) mô hình quả trứng bền vững (The Egg sustainability) với quan niệm phát triển bền vững là sự kết hợp lợi ích con người nâng cao và lợi ích cho hệ sinh thái và (iv) mô hình Búp bê Nga (Russian Doll Model) coi môi trường là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống và tập trung trả lời hai câu hỏi: i) chúng ta có đang sống trong sự giới hạn về môi trường không? và ii) liệu chúng ta có đạt được một cuộc sống
có chất lượng tốt hay không? Việc áp dụng các mô hình trên trong thực tế đưa đến hai định hướng trong phát triển bền vững, được gọi là “Định hướng Xanh” và “Định hướng Nâu” Định hướng Xanh tập trung vào việc giải quyết các ảnh hưởng bất lợi về mặt sinh thái của sự phát triển, như phá rừng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và việc tiêu dùng thái quá các nguồn lực không tái tạo được Khởi nghiệp xanh chính là chìa khóa mở ra một nền kinh tế hướng đến việc giải quyết các vấn đề nan giải mà phát triển bền vững đang hướng đến thông qua hình thức khởi nghiệp phát triển kinh tế đi đôi với định hướng Xanh
Trang 312.2 Giả thuyết nghiên cứu
Công trình nghiên cứu này được sử dụng trên lý thuyết nền về sự kiện khởi nghiệp và lý thuyết giá trị văn hóa, dựa trên các nghiên cứu của Raymah và cộng sự (2019), Soorom
BA và cộng sự (2019), Wasim Qazi và cộng sự (2020) tác giả đã tổng hợp và xác định
có 7 yếu tố gồm: Sự mong muốn, tính khả thi, tìm kiếm cơ hội, nỗi sợ hãi kinh doanh, niềm tin về năng lực, đánh giá các đặc điểm kinh doanh, sự trách nhiệm có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh:
2.2.1 Sự mong muốn
Sự mong muốn được cảm nhận đã được chứng minh là một tiền đề quan trọng của ý định khởi nghiệp (Krueger, 1993; Solesvik và cộng sự, 2014) Ý định trở thành doanh nhân của một cá nhân đòi hỏi họ cảm thấy hấp dẫn khi trở thành một doanh nhân xanh Cảm thấy yêu thích công việc kinh doanh xanh mà không cần căng thẳng và tràn đầy nhiệt huyết có thể thúc đẩy giới trẻ bắt đầu và điều hành công ty xanh của riêng họ Từ mong muốn được làm việc trong môi trường xanh của giới trẻ sẽ ảnh hưởng đến việc tạo ra một công ty xanh trong tương lai Cuộc thảo luận trước đã đưa ra kết quả rằng, sự mong muốn có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh (Krueger, 1993; Solesvik và cộng sự, 2014) Hay trong nghiên cứu của Ramayah và cộng sự (2019) cũng nhận định rằng sự mong muốn có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh của sinh viên
Do đó, cuộc thảo luận này đưa ra giả thuyết sau:
Giả thuyết 1: Sự mong muốn được nhận thức sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.2 Tính khả thi
Trong các nghiên cứu được thực hiện bởi Krueger (1993) và Solesvik và cộng sự (2014), tính khả thi được nhận thấy là tiền đề của ý định khởi nghiệp Tính khả thi được nhận thức là khả năng của một cá nhân để hành động theo các quyết định của riêng mình
Trang 32(Solesvik và cộng sự, 2014) Trong bối cảnh khởi nghiệp xanh, các yếu tố như chắc chắn thành công, chắc chắn về bản thân, biết mọi thứ đều có thể là những yếu tố ảnh hưởng đến cường độ cao của ý định khởi nghiệp xanh và khuyến khích giới trẻ bắt đầu và điều hành một công ty xanh Ngoài ra, Ramayah và cộng sự (2019) cũng đã kết luận trong bài nghiên cứu của họ rằng tính khả thi có ảnh hưởng tích cực đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên Do đó, cuộc thảo luận này đưa ra giả thuyết sau:
Giả thuyết 2: Nhận thấy tính khả thi và sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh trong giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.3 Tìm kiếm cơ hội
Tìm kiếm cơ hội được định nghĩa là “nhận thấy khả năng tạo ra một doanh nghiệp mới hoặc thay đổi đáng kể hoặc cải thiện một doanh nghiệp hiện tại” (Kickul và Gundry, 2002) Một số doanh nhân cố gắng tìm kiếm cơ hội kinh doanh thông qua việc nhận ra những lỗ hổng và vấn đề trên thị trường và cố gắng tìm ra các giải pháp khác nhau cho một vấn đề cụ thể (Solesvik và cộng sự, 2014) Nếu những vấn đề và khoảng trống đã được xác định như vậy có liên quan đến vấn đề môi trường trên thị trường, nó có thể thu hút các doanh nhân bắt đầu và điều hành doanh nghiệp xanh của riêng họ phù hợp với thị trường Trong bài nghiên cứu của Ramayah và cộng sự (2019) đã kết luận rằng tìm kiếm cơ hội có mối quan hệ đáng kể với ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ Malaysia
Do đó, nghiên cứu này đưa ra giả thuyết rằng:
Giả thuyết 3: Tìm kiếm cơ hội sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.4 Đánh giá các đặc điểm kinh doanh
Đánh giá đặc điểm kinh doanh liên quan đến hành động của doanh nhân sau khi doanh nhân nhận ra cơ hội (Solesvik và cộng sự, 2014) Để tạo ra một dự án kinh doanh mới, doanh nhân cần phải có hành động cá nhân (McMullen và Shepherd, 2006) Một số người
Trang 33đánh giá cao tính độc lập và tự chủ, sáng kiến cá nhân hoặc sẵn sàng chấp nhận rủi ro (Stephan, 2009) Ramayah và cộng sự (2019) đã cho ra kết luận rằng đánh giá đặc điểm kinh doanh không có ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ Việc phản ánh các đặc điểm kinh doanh như chấp nhận rủi ro, chủ động cá nhân và tìm kiếm
sự tự chủ được đánh giá như thế nào trong văn hóa của chính con người Nếu giới trẻ đưa ra giá trị về đặc điểm chấp nhận rủi ro chỉ tập trung vào vấn đề xanh, đặc điểm chủ động cá nhân để có môi trường xanh và tìm kiếm đặc điểm tự chủ để nghĩ đến lợi ích của người khác với mối quan tâm xanh, điều đó có thể thúc đẩy họ suy nghĩ nghiêm túc
về việc thành lập một công ty xanh và sẵn sàng trở thành một doanh nhân xanh Do đó, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau:
Giả thuyết 4: Đánh giá cao các đặc điểm kinh doanh sẽ có tác động tích cực ý định khởi nghiệp xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.5 Niềm tin về năng lực
Niềm tin về năng lực đã được định nghĩa là niềm tin của một người vào khả năng khởi động thành công một dự án kinh doanh (McGee et al., 2009) Thông qua niềm tin năng lực, các doanh nhân có thể giải quyết các vấn đề khó và phức tạp, chủ động đối phó với các tình huống bất ngờ và dễ dàng ứng biến khi có những thay đổi bất ngờ (Stephan, 2009) Khi các doanh nhân tin tưởng vào năng lực của bản thân, họ vẫn bình tĩnh khi gặp khó khăn trong công việc, vì họ có thể dựa vào năng lực của chính mình (Stephan, 2009) Nghiên cứu của Ramayah và cộng sự (2019) cho ra kết quả rằng nếu sinh viên không thể chủ động đối phó với tình huống bất ngờ, nó sẽ cản trở việc tiến tới ý định khởi nghiệp xanh Chúng tôi cho rằng giới trẻ khi họ tin tưởng vào năng lực của bản thân trong việc thực hiện hoá “xanh” sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và điều đó cũng thuyết phục mục tiêu nghề nghiệp của giới trẻ là trở thành một doanh nhân xanh Do đó sẽ hợp
lý khi kiểm tra giả thuyết sau:
Trang 34Giả thuyết 5: Niềm tin về năng lực sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh
ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.6 Sự trách nhiệm
Koch (2001) lập luận rằng việc nhân viên chịu trách nhiệm có liên quan đến hành vi kinh doanh trong tổ chức Trong bối cảnh khởi nghiệp, trách nhiệm gắn liền với thành công trong kinh doanh của các doanh nhân (Stephan và Richter, 2006) Tuy nhiên, một khi hành động được thực hiện, các doanh nhân nên nhận trách nhiệm về hành động của mình
vì môi trường xanh như cam kết tham gia vào dự án xanh, thực hiện công việc chất lượng cao để hướng tới môi trường xanh, thực hiện các nhiệm vụ có trách nhiệm ngay cả khi
nó có nghĩa là công việc phụ Tư duy như vậy sẽ nỗ lực hết sức để bắt đầu và điều hành công ty xanh của riêng họ Ngoài ra, Ramayah và cộng sự (2019) cũng đã kết luận trong bài nghiên cứu của họ rằng nhận trách nhiệm có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ Do đó, giả thuyết sau đây cho rằng:
Giả thuyết 6: Nhận trách nhiệm sẽ có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xanh trong giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.7 Nỗi sợ hãi trong kinh doanh
Giả thuyết cuối cùng trong nghiên cứu này liên quan đến nỗi sợ hãi của doanh nhân và
ý định khởi nghiệp xanh Solesvik và cộng sự (2014) cho rằng nỗi sợ kinh doanh liên quan đến việc các cá nhân không biết sẽ bắt đầu công ty mới của riêng họ như thế nào Barbosa và cộng sự (2008)5\’ cho rằng nỗi sợ kinh doanh có liên quan tích cực đến ý định khởi nghiệp Ngược lại, phát hiện của Solesvik và cộng sự (2014) cho thấy không
có mối quan hệ nào giữa nỗi sợ hãi và ý định kinh doanh, cùng kết quả với Solesvik và cộng sự (2014) nghiên cứu của Ramayah và cộng sự cũng phát hiện rằng nỗi sợ hãi không ảnh hưởng đáng kể đến quyết định khởi nghiệp xanh Tuy nhiên, ở nghiên cứu này tác giả đề xuất rằng khi họ càng sợ thay đổi hay sợ rủi ro thì họ sẽ giảm sự tin tưởng
Trang 35vào khả năng thực hiện các dự án xanh của mình, từ đó làm giảm quyết định khởi nghiệp xanh của họ
Giả thuyết 7: Nỗi sợ hãi về kinh doanh sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định khởi nghiệp xanh ở giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất:
Dựa trên lý thuyết sự kiện khởi nghiệp và lý thuyết giá trị văn hóa và các giả thuyết nghiên cứu được xây dựng gồm 7 giả thuyết Mô hình nghiên cứu được đề xuất:
Hình 2-1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
H7 (-) H6 (+)
H4 (+) H5 (+)
H3 (+) H2 (+)
H1 (+)
Mong muốn
Tính khả thi
Tìm kiếm cơ hội
Đánh giá về đặc điểm kinh doanh
Niềm tin về khả năng
Sự trách nhiệm
Sự sợ hãi kinh doanh
Ý định khởi nghiệp xanh
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Trọng tâm của đề tài này là nghiên cứu định lượng với mục đích kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Tuy nhiên, trước khi thực hiện nghiên cứu định lượng chính thức tác giả đã thực hiện nghiên cứu sơ bộ để lựa chọn và phát triển mô hình nghiên cứu cũng như việc xây dựng các thang đo Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức, được tiến hành theo quy trình sau: Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu Tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, sau đó đề xuất mô hình nghiên cứu
và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu
Bước 2: Soạn thảo bảng câu hỏi và chỉnh sửa bảng câu hỏi dựa trên các ý kiến của các chuyên gia Một bảng thảo câu hỏi với các thang đo lường dựa trên các nghiên cứu trước
đó đã được thiết lập Sau đó, bảng câu hỏi sẽ được gửi online cho một nhóm nhỏ gồm
50 người Cuối cùng, tác giả tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu từ bảng câu hỏi gửi đến 250 người tiêu dùng thông qua mạng xã hội và thông qua phiếu khảo sát phỏng vấn trực tiếp
Bước 3: Chỉnh sửa và điều chỉnh các dữ liệu, độ tin cậy của các phương pháp đo lường được phân tích bởi Cronbach’s Alpha và phải đạt yêu cầu hệ số trên 0,6 Phân tích nhân
tố khám phá EFA Kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu và xác định mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình thông qua việc phân tích hồi quy đa biến
Bước 4: Trình bày kết quả nghiên cứu Đưa ra kết luận và hàm ý quản trị nhằm nâng cao
ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ
Tiến trình nghiên cứu được xem như là một bản kế hoạch cho nghiên cứu, bao gồm những công việc đã thực hiện để dẫn đến kết quả cuối cùng Do vậy, cần có một quy
Trang 38trình logic, khoa học và cụ thể để có thể đem lại kết quả phân tích tốt nhất, chính xác nhất
Quy trình nghiên cứu được mô hình hóa trong sơ đồ sau đây:
Trang 39Hình 3-1 Quy trình nghiên cứu của đề tài
Nguồn: Tác giả xây dựng
Kết luận và hàm ý quản trị Kết quả nghiên cứu Kiểm định các giả thuyết
Xử lý dữ liệu Thống kê mô tả Phân tích độ tin cậy – Cronbach’s Alpha
Thiết kế bảng câu hỏi và thu
thập dữ liệu
Nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ
Đề xuất mô hình nghiên cứu và
thang đo
Cơ sở lý thuyết Mục tiêu nghiên cứu Xác định vấn đề nghiên cứu
Trang 40Để có một tiến trình nghiên cứu thích hợp với đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh”, trước hết
đi vào tìm hiểu các vấn đề mấu chốt có liên quan đến ý định khởi nghiệp xanh, sau đó phân tích, đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ Sau khi tìm hiểu và nắm được các vấn đề cần phân tích, tiếp tục tìm hiểu và tóm tắt các tài liệu liên quan đến các vấn đề nêu trên
Để nội dung các vấn đề của đề tài mang tính logic và các tài liệu có độ tin cậy, độ chính xác cao, từ đây cần thiết phải thiết kế nội dung câu hỏi có liên quan đến đề tài, điều tra khảo sát đối tượng thực tế nhằm thu thập những ý kiến đánh giá, phản ánh khách quan, tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu và từ đó đưa ra giải pháp phù hợp
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là xác định được những yếu tố có ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp xanh và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó Đầu tiên tác giả đã thu thập tài liệu, dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau để xác định đúng đối tượng cần nghiên cứu đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu Từ việc tham khảo các bài nghiên cứu khoa học và các bài báo nước ngoài, cơ sở lý luận trước đó, mô hình nghiên cứu có liên quan để đưa ra
mô hình nghiên cứu đề xuất và xây dựng thang đo cho các yếu tố đó Sau đó thông qua việc thực hiện thảo luận nhóm, tham khảo và phỏng vấn ý kiến của chuyên gia, thầy hướng dẫn trực tiếp đưa ra ý kiến đóng góp để hoàn thiện mô hình đề xuất từ đó thiết kế thang đo nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát để thực hiện thu thập dữ liệu
và đối tượng khảo sát là sinh viên đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Sử dụng công cụ SPSS để phân tích làm rõ kết quả, mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đó đến ý định khởi nghiệp xanh của giới trẻ khi khởi nghiệp tại TP Hồ Chí Minh