1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ôn tập hệ thống thể loại và ngôn ngữ VH trung đại

16 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn tập hệ thống thể loại và ngôn ngữ VH trung đại
Trường học https://www.haui.edu.vn
Chuyên ngành Văn học Trung đại Việt Nam
Thể loại Giáo trình ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 48,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG TRỌNG TÂM ÔN TẬP HỌC PHẦN 1 Ngâm khúc 1 1 Khái niệm Ngâm khúc Ngâm khúc là một thể loại trữ tình có quy mô trường thiên, phản ánh tâm trạng bi kịch của con người, được viết bằng thể thơ song.

Trang 1

NỘI DUNG TRỌNG TÂM ÔN TẬP HỌC PHẦN

1 Ngâm khúc

1.1 Khái niệm Ngâm khúc

- Ngâm khúc là một thể loại trữ tình có quy mô trường thiên, phản ánh tâm trạng

bi kịch của con người, được viết bằng thể thơ song thất lục bát, ngôn ngữ dân tộc

+ ngâm: ảo não, than thở, ủ ê, chán chường

+ khúc: khúc ca, khúc hát, giai điệu, âm điệu

- Tiêu chí nhận diện:

+ quy mô: trường thiên

+ cảm hứng: trữ tình, buồn, sầu

+ ngôn ngữ: chữ Nôm, chữ Quốc ngữ

+ thể thơ: song thất lục bát (đặc trưng), lục bát

- Tác phẩm tiêu biểu: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Ai tư văn, Bần nữ

thán, Tự tình khúc, Thu dạ lữ hoài ngâm, Tỳ bà hành,…

1.2 Cơ sở hình thành, phát triển Ngâm khúc

*Cơ sở lịch sử, xã hội

- Bối cảnh xã hội có nhiều bất ổn, chính trị khủng hoảng, kinh tế suy thoái, cuộc sống

con người đối mặt với nhiều khó khăn

 Thời đại lịch sử có nhiều biến động

 Cho phép người ta cảm nhận được nỗi đau của mọi kiếp người trong xã hội một cách rõ rệt Con người có nhu cầu giãi bày tâm sự, kể lể nỗi lòng Ngâm khúc ra đời đáp ứng những đòi hỏi ấy của con người

- Ở các đô thị lớn, kinh tế hàng hóa trong bối cảnh hỗn loạn, không bị quản chế ngặt

nghèo đã có những bước phát triển, kéo theo đó là sự xuất hiện tầng lớp thị dân Ở tầng lớp này, nhu cầu cá nhân, ý thức về quyền sống, quyền hạnh phúc phát triển mạnh mẽ và nó đã tác động đến đời sống tinh thần thời đại

- Con người nhận ra sự đối lập giữa hiện thực và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc

của họ Sự thất vọng, bi quan bao trùm Ngâm khúc đã khai thác triệt để tâm trạng này

* Cơ sở văn hóa, văn học

- Sự ra đời, hoàn thiện của chữ Nôm như một ngôn ngữ dân tộc

- Những thể nghiệm để khẳng định ưu thế của chữ Nôm trong việc phản ánh vấn đề

thuộc về cuộc sống đời thường, đời sống tâm tư tình cảm của người Việt

- Sự phát triển của thể thơ trữ tình, tự tình thời trung đại Đặc biệt là những tác phẩm

trữ tình, tự tình dài hơn: ca, ngâm, hành văn, khúc, vịnh, chữ Hán, chữ Nôm Trong

Trang 2

đó có 1 nhân vật trữ tình tự giãi bày cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự ra đời và phát triển của ngâm khúc

- Sự phát triển của quan niệm thơ ca:

+ Từ thơ tỏ chí (thể hiện đạo lí) thơ tỏ tình (giãi bày tình cảm)

+ Từ thơ thể hiện đạo lí giãi bày tình cảm và những điều mắt thấy (sở kiến) tai nghe (sở thính)

 Góp phần ra đời ngâm khúc

Thể thơ song thất lục bát và những ưu thế của nó trong việc trữ tình

- Thời điểm ra đời của thể loại STLB chưa có tài liệu nào các định một cách chính xác.

VD những tác phẩm STLB sớm nhất: Bồ Đề thắng cảnh thi (Lê Thánh Tông) khoảng cuối thế kỉ 15 , Đại nghĩ bát giáp thường đào văn (Lê Đức Mao, đầu thế kỉ XVI), Từ thời khúc vịnh (Hoàng Sĩ Khải, thế kỉ XVII), Thiên Nam minh giám (khuyết danh)

- Các tác phẩm chủ yếu viết về đề tài: thiên nhiên và đề tài lịch sử với cảm hứng tụng ca

(đánh giá chủ đề không thực sự phù hợp với thể thơ)

- Cấu trúc: nhiều khổ thơ lặp lại, mỗi khổ được cấu tạo bao gồm 2 câu 7 chữ (song

thất), 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 (lục bát), chữ hiệp vần nhịp nhàng

- Đặc điểm: giàu nhạc tính, nhạc điệu luyến láy phù hợp với việc miêu tả tâm trạng

buồn của con người

- Phối thanh, hiệp vần, ngắt nhịp:

1.3 Diễn tiến và vị trí của Ngâm khúc

- Giai đoạn hình thành từ thế kỉ XVI-XVII: giai đoạn tình tòi và thể hiện cảm

hứng của thể thơ

- Giai đoạn phát triển từ đầu thế kỉ XVIII- giữa thế kỉ XIX:

+ XVIII: 3 ngâm khúc lớn “Chinh phụ ngâm khúc”, “Cung oán ngâm khúc”,

“Ai tự vãn”

 nhân vật trữ tình là phụ nữ, vấn đề trung tâm trong các khúc ngâm: tình yêu, hạnh phúc

+ XIX: 2 khúc ngâm lớn “Tự tình khúc”, “Thu dạ lữ hoài ngâm”,…

Tự tình khúc: quy mô lớn nhất (608 câu), Cao Bá Nhạ (cháu gọi Cao Bá

Quát là chú), viết khi CBN bị bắt giam (do CBQ chống lại triều đình),

Thu dạ lữ hoài ngâm: cũng được viết khi tác giả bị bắt giam (do có liên

quan đến CBQ) nhân vật trữ tình là nam giới

Trang 3

+ Giai đoạn kết thúc từ đầu thế kỉ XX-giữa thế kỉ XX: có 17 ngâm khúc, không

có tác phẩm nào nổi bật như giai đoạn trước những nội dung đa dạng phong phú hơn

1.4 Đặc trưng nội dung và nghệ thuật của Ngâm khúc

1.4.1 Đặc trưng nội dung:

- Mỗi tác phẩm viết về tâm trạng nhân vật trước một phương diện hiện thực xã hội mang nỗi đau khổ của con người Dựa trên đối tượng trữ tình và nội dung biểu hiện, về cơ bản có thể chia khúc ngâm thành hai nhóm:

+ Những khúc ngâm viết về tâm trạng người phụ nữ bất hạnh: Với ba khúc ngâm lớn: Chinh phụ ngâm, cung oán ngân khúc, ai tự vãn đều nói nỗi oan thán, lời than, nỗi niềm của người phụ nữ, nhân vật trữ tình luôn xuất hiện khi hạnh phúc đã mất, hiện tượng này là sự phản ánh số phận của con người, bi kịch hồng nhan bạc mệnh Ngâm khúc là tiếng than cho số phận bi kịch của người phụ nữ, bày tỏ những tâm tư, khát vọng hạnh phúc Khát vọng hạnh phúc chính là tiếng nói chung của tất cả phụ nữ, không phân biệt sang-hèn, quý tộc-bình dân Đó là tiếng nói về quyền con người, vừa mang tính nhân bản, nhân văn vừa mang tính hiện thực sâu sắc

+ Những khúc ngâm viết về nỗi đau buồn của con người tha phương lữ thứ lại hàm oan: Nổi bật là hai tác phẩm "thu dạ lữ hoài âm" và Tự tình khúc, nhân vật trữ tình trong hai tác phẩm là nam giới Mỗi khúc ngâm như một lời tự bạch, một dòng độc thoại nội tâm của nhân vật trữ tình Con người cô đơn đau khổ tự chìm đắm trong những suy tư trước số phận bất hạnh Qua dòng tâm trạng bị kịch mang chất tự tình, tác giả từng khúc ngâm đã đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc Đặc biệt là khát vọng mãnh liệt về quyền sống, quyền hạnh phúc của con người trước thảm họa của chiến tranh phong kiến, của chế độ cung tần, trước sự bất công về pháp luật, sự đen bạc của thế thái nhân tình trong xã hội trọng đồng tiền hay sự nghiệt ngã của cái chết Nỗi đau của cảnh ngộ cùng nỗi đau mất hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình, mất quyền sống kết đọng lại thành "khối sầu vạn cổ"

1.4.2 Nghệ thật của Ngâm khúc:

- Tính tự tình là một trong những đặc trưng nổi bật của thể loại Ngâm khúc

- Kết cấu theo dòng cảm xúc nhân vật, quá khứ-hiện tại-tương lai Sự đồng điệu của ba thời đặt trong hệ soi chiếu nhau, lấy hiện tại làm trung tâm Trong tương quan ba thời, quá khứ-hiện tại được đề cập nhiều hơn cả

Trang 4

- Với giọng điệu than vãn, trần tình, kể lể, giãi bày, đầy sắc thái buồn thương sâu sắc

- Về ngôn ngữ:

+Với ngâm khúc tiếng Việt đã khẳng định khả năng to lớn trong việc biểu đạt thế giới tâm hồn người Việt, với mọi cung bậc cảm xúc trong đời sống nội tâm của con người đều được biểu đạt bằng hệ thống âm thanh, màu sắc, nhạc điệu phong phú Ngôn ngữ phong phú đa dạng tinh tế, giàu sức biểu cảm khi diễn tả các cung bậc cảm xúc trong thế giới nội tâm con người

+ Ngôn ngữ sống động, gợi cảm khi miêu tả thiên nhiên, ngoại hình, ngoại vật Ngôn ngữ có sự kết hợp hài hòa giữa Hán Việt và Thuần Việt, giữa tình cảm trang trọng, điềm nhã và tình cảm đời thường, gần gũi, sinh động

- Về thể loại:

+ STLB là thể thơ sức mạnh đặc biệt trong phô diễn tâm trạng buồn Sự lặp lại mang tính chu kì của những khổ thơ cấu trúc giống nhau, góp phần diễn tả cái miên mang, vô tận, dường như không có điểm dừng của nỗi sầu não của con người

Nhạc tính dồi dào, nhịp điệu linh hoạt giúp tác phẩm ngâm khúc phản ánh được một cách tinh tế những trạng thái tình cảm khác Mô hình thể thơ STLB rất phù hợp với phương thức kết cấu đăng đối, trùng điệp, một thủ pháp nghệ thuật được

sử dụng phổ biến

1.5 Tác phẩm trọng tâm: Chinh phụ ngâm khúc

1.5.1 Nguyên tác

a Tác giả: Đặng Trần Côn

- Sinh khoảng: 1710-1720

- Thông minh, học giỏi, nhưng đỗ đạt không cao

- Sự nghiệp sáng tác: tác giả một số truyện Hán văn: Tùng bách thuyết thoại, Long hổ

đố kì, Trương Lương, Bích công kì ngộ,…

b Bản Hán văn (nguyên tác)

- Quy mô tác phẩm: 483 câu thơ

- Thể thơ: trường đoản cú

- Thời điểm sáng tác: 1720-1742 (ước đoán)

- Lối thơ: tập cổ (tập tự - tập hợp chữ, câu của người xưa thành thơ)

- Giá trị: giá trị hiện thực, giá trị nhân văn – nhân đạo, giá trị nghệ thuật

Trang 5

1.5.2 Bản diễn Nôm hiện hành

a Tình hình văn bản

- Các bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm khúc”

- Bản diễn Nôm hiện hành, truyền tải trọn vẹn hồn cốt, tinh thần của nguyên tác

b Tác gỉa

- Quan niệm truyền thống (tục truyền): Đoàn Thị Điểm (ý kiến của Vũ Hoatj, hoàn cảnh

tương đồng, tài thơ…)

- Quan niệm khác: Phan Huy Ích (tân diễn “Chinh phụ ngâm khúc” thành ngẫu thuật,

bản sao bằng chữ quốc ngữ dòng họ Phan Huy giữ; ngôn ngữ văn phong của bản Nôm hiện hành phù hợp với nửa sau thế kỉ 18)

Tạm chấp nhận kết luận: bản diễn Nôm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm

1.5.3 Tìm hiểu tác phẩm

1.5.3.1 Đề tài và hoàn cảnh sáng tác

a Đề bài

- Không mới

- Có mối liên hệ mật thiết với hiện thức lịch sử của thời đại

b Hoàn cảnh sáng tác

- CPNK được sáng tác trong giai đoạn lịch sử rối ren, biện loạn (những năm đầu thế kỉ

18)  những năm tháng đen tối nhất trong lịch sử (vương triều thay đổi, kte suy thoái, sinh mạng k đc bảo đảm, hạnh phúc con người mong manh)

- Tình cảnh chia lìa, tan vỡ thường thấy trong xã hội

c Ý nghĩa

- Đề tài bắt nguồn từ: nguồn thi đề, thi liệu truyền thống, hiện thực lịch sử, trái tim trắc

ẩn, giàu yêu thương, chia sẻ của các nhà thơ của các nhà thơ trước số phận đau khổ bi kịch của con người

- Đề tài phản ánh những vấn đề trọng đại của hiện thực lịch sử, cuộc sống và khát vọng

hạnh phúc của con người thời đại

1.5.3.2 Bố cục tác phẩm

- Câu 1- 64: hồi tưởng về khung cảnh ngày biệt ly

- Câu 65-377:

+ 65-112: Hình dung về cuộc sống của người chinh phu nơi chiến trường

(không mta bằng điểm nhìn khách quan mà cuộc sống qua tưởng tượng, qua hình dung của người chinh phụ)

Trang 6

+ 113-377: Giãi bày nỗi cô đơn, sàu muôn của người vợ chờ chồng trong thất vọng, mòn mỏi

+ 378-kết: Hi vọng về ngày đoàn viên trong khải hoàn

1.5.3.4 Giá trị nội dung

- Là tiếng lòng của người phụ nữ có chồng tòng quân Toàn bộ khúc ngâm là lời độc

thoại nội tâm của nhân vật Điểm nhìn của tác phẩm được đặt về phía nhân vật, những khái quát tổng kết cũng được rút ra từ chính nhận thức của nhân vật Tiếng nói trữ tình

trong tác phẩm là tiếng nói trữ tình nhập vai (mượn giọng/hư cấu giọng) – (mqh 2 chiều: tác giả nói hộ nhân vật  hình thức là nhân vậ phát ngôn nhưng gửi gắm tâm

tư tác giả)

- Giá trị khái quát của tác phẩm: CPNK không chỉ phản ánh vấn đề cá nhân, 1 số

phận trong xã hội Thông qua khúc tâm sự của người chinh phụ, tác phẩm đề cập đến những vấn đề nhức nhối của thời đại (chiến tranh) và khái quát được những nội dung

có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc (số phận, hạnh phúc con người)

* Chiến tranh và số phận con người (= hiện thực và số phận của con người)

- Chiến tranh không phải chủ đề trực tiếp của tác phẩm, vấn đề trung tâm CPNK đặt ra

là cuộc sống, số phận con người trong cảnh loạn li, bất ổn

- Nhận thức về chiến tranh của người chinh phụ trong tác phẩm không bất biến mà có

sự thay đổi:

+ Chiến tranh là cơ hội để con người tìm kiếm/ mưu cầu hạnh phúc (có thể lập chiến công, ghi danh thiên cổ)

+ Thế nhưng, chiến tranh thực chất gắn liền với nỗi khổ đau, bất hạnh của con người

+ Bi kịch của người chinh phụ (bi kịch được cảm nhận qua tưởng tượng, qua hình dung của người chinh phụ: nỗi đau khổ người chinh phu  cũng là nỗi đau khổ của người chinh phụ)

+ Bi kịch của người chinh phụ (giãi bày, kể lể) – (chồng chất 2 nỗi đau: thương chồng – trải nghiệm những tháng ngày chờ đợi chồng trong vô vọng)  phần trọng tâm

* Khát vọng hạnh phúc

a Hạnh phúc là sự sum vầy đôi lứa:

- Tiền đề: chinh phụ chia tay chồng khi tuổi còn trẻ “đương chừng niên thiếu”

 Khao khát hạnh phúc, yêu thương, gần gũi lứa đuôi là những tâm tư rât thực rất đáng được thông cảm , trân trọng

Trang 7

- Biểu hiện:

+ Miêu tả hình ảnh thiên nhiên quấn quýt, khơi gợi, ngầm ẩn ý hạnh phúc lứa đôi (không miêu trực tiếp  ngụ ý)

+ Gửi gắm qua những giấc mơ nồng nàn, nhạy cảm

+ Xem hạnh phúc lứa đôi là chuẩn mực để định giá giá trị, ý nghĩa của sự sống

b Hạnh phúc chỉ có gía trị hiện tại, khi con người còn trẻ

- Quan niệm về hạnh phúc của người chinh phụ trong CPNK gắn với ý thức thời gian

và cái nhìn trân trọng tuổi trẻ

- Với người chinh phụ: Thời gian trôi đồng nghĩa với tuổi trẻ và nhan sắc tàn phai

- Phủ nhận ý niệm về hạnh phúc trong giấc mông, trong kiếp lai sinh

1.5.2 Giá trị nghệ thuật

a Bút pháp tượng trưng ước lệ

- Đặc trưng của VHTĐ: hướng đến cái chung, cái phổ biến, khái quát

 Diễn đạt theo những công thức có sẵn, được quan niệm là mẫu mực

- Nguyên tác được viết theo lối tập cổ (học theo, làm theo người xưa), sử dụng nhiều thi

liệu quen thuộc trong thơ ca tập cổ, sử dụng nhiều thi liệu quen thuộc trong thơ ca tập

cổ Điều này đã chi phối bút pháp nghệ thuật, cách sử dụng các chi tiết, hình ảnh

- Các chi tiết, hình ảnh , địa danh, không gian, thời gian, hình tượng nhân vật… trong

tác phẩm không mang ý nghĩa phản ánh trực tiếp hiện thực mà có tính tượng trưng, ước lệ

b Kết cấu

- Có sự kết hợp sắp đặt thời gian và không gian độc đáo, mang đặc trưng của kết cấu

nghệ thuật ngâm khúc

- Kết cấu thời gian: quá khứ - hiện tại – tương lai

- Kết cấu không gian: “thiếp trong cánh cửa/ chàng ngoài chân mây”

 sự mất mát, cô đơm của người chinh phụ khi chồng đi chiến trận

- Bao trùm tác phẩm là kết cấu theo dòng chảy tâm lý nhân vật, các trạng thái cảm xúc

không nối tiếp mà chồng chéo, trùng điệp và xâm lấn nhau  bi kịch trong đời sống nội tâm nhân vật

c Nghệ thuật phô diễn tình cảm

- Ngôn ngữ phong phú, giàu sức biểu cảm trong việc diễn tả cảm xúc

- Sự kết hợp giữa trữ tình và tự sự

- Tâm trạng hóa các yếu tố: thời gian, thiên nhiên, hành động:

+ Thời gian: tgian tuổi trẻ (thời gian trôi qua rất nhanh) - tgian đợi chờ

Trang 8

+ Thiên nhiên: mang 2 gương mặt: hoang tàn, u ấm, lạnh lẽo - nồng nàn, khêu gợi, quấn quýt

+ Hành động: mang tính ước lệ, phản ánh tâm tư nhiều hơn cuộc sống thường nhật của nhân vật

 Xu hương gia tăng tính đối thoại cho dòng độc thoại nội tâm của nhân vật:

- Câu hỏi/ tìm kiếm câu trả lời

- Là cuộc đối thoại mà nhân vật đối thoại không xuất hiện (chồng, vua,…)

- Vắng người tham gia đối thoại

 Bất lực, cô độc của nhân vật

 Nhu cầu hướng nộ: giãi bày, chia sẻ  nhận xét những vấn đề mang ý nghĩa khái quát hơn của nghệ thuật

2 Truyện Nôm

2.1 Khái niệm, phân loại truyện Nôm

2.2.1 Khái niệm

- Truyện Nôm là thể loại tự sự bằng thơ; cốt truyện hoàn chỉnh vói nhân vật có số phận

riêng; viết bằng chữ Nôm và thể thơ lục bát

- Tên gọi: truyện Nôm, truyện thơ Nôm, truyện dài, truyện thơ, truyện ngâm, trường

thiên tiểu thuyết

 Nội dung cụ thể của từng khái niệm có khác nhau, nhưng nhìn chung có sự thống nhất trong việc thừa nhận yếu tố truyện

 Khẳng định phương thức tự sự của thể loại

- Trong số tên gọi đó, khái niệm Truyện Nôm/ Truyện thơ Nôm có thể bao quát được

những đặc điểm cơ bản của thể loại này:

+ Kết hợp tự sự và trữ tình

+ Sử dụng văn vần và văn tự Nôm

- Tiêu chí nhận diện

+ Loại hình tự sự

+ Văn vần

+ Chữ Nôm

+ Thể thơ phổ biến: lục bát

- Hình thức tự sự cho phép tuyện Nôm phản ánh bức tranh hiệ thực phong phú, rộng lớn

- Đa phần truyện Nôm có quy mô lớn.

2.1.2 Phân loại:

- Dựa trên tiêu chí tác giả (cách phân loại này thuần túy mang tính hình thức)

Trang 9

+ truyện Nôm hữu danh

+ truyện Nôm khuyết danh

- Dựa trên tiêu chí hình thức thể thơ:

+ truyện Nôm Đường luật

+ Lục bát (phần đa)

- Dựa trên tiêu chí đề tài:

+ tình yêu (lãng mạn)

+ thế sự (hôn nhân gia đình)

+ lịch sử

+ tôn giáo

+ luân lý đạo đức

- Dựa trên tiêu chí nguồn gốc cốt truyện

+ tích truyện văn học dân tộc dân gian, văn học viết (cổ tích, thần thoại hay tiên thoại, Phật thoại)

+ dựa vào cốt truyện Trung Quốc (một số từ Ấn Độ)

+ chất liệu hiện thực

- Dựa trên tiêu chí nội dung và hình thức

2.2 Cơ sở hình thành, phát triển truyện Nôm

* Cơ sở hình thành:

a Cơ sở lịch sử - xã hội

- Sự khủng hoảng của xã hội  rạn nứt quan niệm chính thống đưa văn học đến gần

với hiện thực

- Bối cảnh xã hội với những điều kiện thuận lợi cho ý thức cá nhân được sự nảy nở và

phát triển

- Sự phát triển của ngành thủ công nghiệp trong đó có nghề in và nghề làm giấy

 1 yếu tố quan trọng, tạo tiền đề vật chất cho sự in ấn, truyền bá truyện Nôm đến với đông đảo người đọc

b Cơ sở văn hóa, văn học

- Sự khởi sắc của văn học truyền thống dân tộc

- Sự du nhập sách vở nước ngoài đặc biệt là tiểu thuyết Trung Quốc ấn độ

- Truyền thống tự sự trong văn học trung đại Việt Nam

+ tự sự dân gian

+ tự sự trong văn học viết (văn xuôi, thơ)

- Chuyển thể thơ lục bát và khả năng ứng dụng trong tự sự (có tác dụng như thế nào?)

Trang 10

VD: Cũng là chuyện cũ nôm na/ hết ca khúc…

2.3 Diễn tiến và vị trí của truyện Nôm

* Diễn tiến:

a Giai đoạn thế kỉ XVI-XVII: Hình thành và khẳng định sự có mặt

- Phần lớn không có tên tác giả

- Tập trung 3 chủ đề chính (tôn giáo, lịch sử, đời tư thế sự)

- Tồn tại 2 hình thức song song

+ truyện Nôm đường luật

+ truyện Nôm lục bát

- Trong đó, truyện Nôm thể hiện chủ đề tôn giáo lịch sử chiếm ưu thế

- Số lượng còn lại đến nay không còn nhiều

b Giai đoạn thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX: phát triển tực rỡ

- Giai đoạn phát triển rực rỡ còn được gọi là “thế kỷ truyện Nôm”

+ Thế dòng truyện Nôm đường luật ít xuất hiện (hạn chế về hình thức)

+ Hình thức thể thơ lục bát dần đi vào quy chuẩn

+ Đề tài trung tâm: cuộc sống hôn nhân gia đình và tình yêu tự do

+ Xuất hiện những tác phẩm sớm nhất có tên tác giả

 Là giai đoạn truyện Nôm khẳng định được sức mạnh loại thể đóng góp to lớn vào thành tựu văn học trung đại Việt Nam, có nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật

c Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: vị trí thay đổi

- Truyện Nôm vẫn tiếp tục có mặt với những tác phẩm

+ “U tĩnh lục” (Hồ Biểu Chánh)

+ “Giai nhân kỳ ngộ) (Phan Chu Trinh)

Những vị trí của thể loại đã có sự thay đổi

- Sự ra đời của chữ quốc ngữ và nhu cầu của thời đại lịch sử đòi hỏi tác giả tìm đến

những thể loại phù hợp hơn: hịch, văn tế, vè, (có khả năng phản ánh vấn đề chung của cộng đồng)

 vấn đề vận mệnh dân tộc mới là trung tâm

* Vị trí:

- Là thể loại văn học có quy mô đồ sộ nhất, số lượng phong phú nhất và có khả năng

phản ánh bức tranh hiện thực rộng lớn

- Có tầm ảnh hưởng rộng lớn đến nhiều loại hình nghệ thuật và nhiều đối tượng người

đọc

+ Ngâm khúc: người có học

Ngày đăng: 18/05/2023, 12:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w