1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiễn sĩ triết học trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở việt nam hiện nay

172 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Vũ Kim Điềm
Người hướng dẫn PGS, TS. Nguyễn Thị Lan Hương
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường (12)
    • 1.2. Những công trình nghiên cứu thực trạng trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam (22)
    • 1.3. Những công trình nghiên cứu giải pháp thực hiện trách nhiệm của Nhà nước (27)
    • 1.4. Giá trị của các công trình luận án cần tham khảo và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu (32)
  • Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2.1. Trách nhiệm và trách nhiệm của Nhà nước trong BVMT (35)
    • 2.2. Những nội dung cơ bản của trách nhiệm Nhà nước trong BVMT (58)
    • 2.3. Các nhân tố tác động đến trách nhiệm của Nhà nước trong BVMT (67)
  • Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1. Một số vấn đề môi trường của Việt Nam và trách nhiệm của hệ thống chính trị (79)
    • 3.2. Những thành tựu và nguyên nhân trong thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước ta từ năm 1993 đến nay (90)
    • 3.3. Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước ta từ năm 1993 đến nay (107)
  • Chương 4: MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT (130)
    • 4.3. Nhóm giải pháp tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội nhằm thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay (146)
  • KẾT LUẬN (155)

Nội dung

Trên cơ sở đó, luận án kế thừa những giá trị tích cực của các công trình nghiên cứu đi trước và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu; Thứ hai, luận án làm rõ một số vấn đề lý luậ

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những công trình nghiên cứu lý luận về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường

Những công trình nghiên cứu thực trạng trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Trách nhiệm của Nhà nước đối với môi trường đã trở thành nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Từ năm 1985 - 1986, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu tổng quan về môi trường và chuẩn bị dự thảo luật môi trường Năm 1991, Việt Nam công bố kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững cho giai đoạn 1991-2000.

Năm 1992, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường được thành lập, đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường Đến năm 1993, Quốc hội đã thông qua “Luật bảo vệ môi trường”, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động bảo vệ môi trường Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1998, tiếp theo là các hội nghị lần hai và ba vào năm 2009 Hội nghị lần thứ tư diễn ra từ ngày 29-30/9/2015 tại Hà Nội, với mục tiêu tổng kết và đánh giá kết quả công tác bảo vệ môi trường quốc gia giai đoạn 2011 - 2015, đồng thời xác định các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm cho giai đoạn tiếp theo.

2016 - 2020 nhằm tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành nghị quyết về việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT), với chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, nhằm nâng cao công tác BVMT như một trong ba trụ cột của phát triển bền vững Luật BVMT năm 1993 ra đời trong bối cảnh ô nhiễm môi trường gia tăng, và trách nhiệm của Nhà nước trong BVMT đã được nghiên cứu, chủ yếu từ góc độ quản lý nhà nước Các công trình khoa học như sách "Cẩm nang quản lý môi trường" của Lưu Đức Hải và "Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững" của Phạm Thị Ngọc Trầm đã chỉ ra rằng quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường là quá trình sử dụng các công cụ và phương tiện khác nhau để hài hòa mối quan hệ giữa tài nguyên môi trường và phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu con người và đảm bảo chất lượng sống Hơn nữa, quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội và lực lượng sản xuất Nhà nước, với vai trò là cơ quan quyền lực tối cao, có chức năng tổ chức và quản lý mối quan hệ giữa con người, tổ chức cộng đồng và giữa các cộng đồng trong quốc gia, đồng thời phát triển lực lượng sản xuất và kinh tế - xã hội.

Sách “Những tác động của yếu tố văn hóa – xã hội trong quá trình quản lý nhà nước đối với tài nguyên – môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Hoàng Hữu Bình nhấn mạnh rằng quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường là một quá trình lâu dài, liên tục và không mang tính nhất thời Trong hoạt động này, Nhà nước đóng vai trò chủ thể thông qua hệ thống các cơ quan Nhà nước.

Quản lý nhà nước (QLNN) bao gồm 18 cơ quan có thẩm quyền từ trung ương đến các cấp, ngành và địa phương, nhằm điều chỉnh các hoạt động của con người tác động đến tài nguyên và môi trường Mục tiêu của QLNN đối với tài nguyên và môi trường là bảo vệ môi trường (BVMT) đồng thời phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) theo hướng phát triển bền vững.

Sách “Quản lý môi trường ở địa phương trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Trần Thanh Lâm đề xuất các phương án kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ môi trường sống.

Trong các bài viết của Lê Thị Thanh Hà, Hội đồng khoa học và cơ quan Đảng Trung ương, Trần Thanh Lâm, Nguyễn Thị Thơm và An Như Hải, các tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Họ đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý nhà nước (QLNN) đối với tài nguyên và môi trường (TN&MT) Quan niệm đầu tiên cho rằng QLMT là sự tác động có tổ chức và liên tục của chủ thể quản lý lên cá nhân hoặc cộng đồng, nhằm sử dụng hiệu quả tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu quản lý môi trường theo pháp luật hiện hành Quan niệm thứ hai tiếp tục phát triển những khía cạnh này trong bối cảnh quản lý nhà nước.

BVMT là quá trình mà Nhà nước sử dụng các công cụ và phương tiện khác nhau để tác động đến hoạt động của con người, nhằm hài hòa mối quan hệ giữa tài nguyên môi trường và phát triển Mục tiêu là thỏa mãn nhu cầu của con người và đảm bảo chất lượng môi trường sống Quản lý nhà nước về môi trường không chỉ là hoạt động có tổ chức mà còn cần diễn ra thường xuyên và lâu dài Mặc dù có nhiều hình thức khác nhau, trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường là điều quan trọng nhất Tài nguyên và môi trường ở Việt Nam được coi là tài sản quốc gia thuộc sở hữu toàn dân, với Nhà nước là đại diện chủ sở hữu.

TNTN và môi trường cho bất kỳ đối tượng nào khác, quyền và trách nhiệm đó thuộc về Nhà nước

Bài viết của Đỗ Thị Ngọc Lan mang đến cái nhìn sâu sắc về cảnh báo của Ph Ăngghen về thảm họa thiên nhiên, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhà nước trong việc bảo vệ môi trường sinh thái Tác giả phân tích những tác động tiêu cực của thiên nhiên và kêu gọi sự can thiệp của chính phủ để đảm bảo sự bền vững cho hệ sinh thái Qua đó, bài viết khẳng định rằng trách nhiệm bảo vệ môi trường không chỉ thuộc về cá nhân mà còn cần sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các cơ quan nhà nước.

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (TN&MT) thông qua việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia về khai thác tài nguyên Hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật được sử dụng như công cụ để thực hiện trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực này Nhà nước xác lập các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn nhằm đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với phát triển và hội nhập quốc tế Đồng thời, Nhà nước thiết lập sự liên kết giữa các cơ quan chuyên trách và các ngành liên quan đến TN&MT Nhiệm vụ đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ, nhân viên cũng được chú trọng Chính sách thúc đẩy khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường được xây dựng và thực hiện hiệu quả, đồng thời khai thác giá trị xã hội - nhân văn trong truyền thống để tăng cường hiệu quả quản lý tài nguyên.

Trong thời gian qua, trách nhiệm của Nhà nước về môi trường đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đặc biệt từ khi có Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 Công tác bảo vệ môi trường đã đạt được nhiều kết quả tích cực, như việc rà soát và sửa đổi chính sách liên tục, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý về số lượng và chất lượng, cũng như nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số yếu kém, chủ yếu do hệ thống pháp luật và chính sách về bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, cùng với chế tài xử phạt vi phạm pháp luật chưa đủ mạnh.

20 hợp lý; hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về môi trường còn nhiều yếu kém; việc BVMT chưa trở thành ý thức tự giác của mỗi người

Trong trách nhiệm của Nhà nước đối với bảo vệ môi trường (BVMT), cần tuân thủ một số nguyên tắc quan trọng Nhà nước phải hướng đến mục tiêu kinh tế và xã hội, đồng thời giữ gìn sự cân bằng giữa phát triển xã hội và BVMT Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (TNTN) cần kết hợp với các mục tiêu quốc gia và tiếp cận từ quan điểm hệ thống, sử dụng nhiều biện pháp tổng hợp, đồng bộ và phù hợp Ưu tiên trong công tác BVMT nên là phòng chống, ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường, thay vì chỉ xử lý hậu quả Điều này giúp cơ quan chủ động kiểm soát sự cố môi trường Cuối cùng, Nhà nước cần nghiêm khắc thực hiện nguyên tắc xử lý người gây ô nhiễm bằng hình thức phạt tiền và yêu cầu phục hồi chất lượng môi trường.

Tác giả Nguyễn Minh Hằng trong bài viết “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” khẳng định rằng môi trường sinh thái là một mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa đất, nước, không khí và các sinh vật toàn cầu Con người đã làm suy thoái môi trường sinh thái vì nhiều lý do, với sự suy thoái tầng ôzon và ô nhiễm nguồn nước sạch là những biểu hiện rõ rệt Để khắc phục tình trạng ô nhiễm này, tác giả đề xuất các giải pháp như xây dựng ý thức sinh thái và kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu sinh thái trong sản xuất.

Ngoài các nghiên cứu về quản lý nhà nước và trách nhiệm của nhà nước trong bảo vệ môi trường, còn nhiều công trình khoa học phản ánh thực trạng môi trường ở Việt Nam, bao gồm ô nhiễm đất, nước và không khí, biến đổi khí hậu, và thiên tai Các tác giả cũng chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực từ quá trình này.

Nghiên cứu chỉ ra rằng ô nhiễm môi trường hiện nay chủ yếu do trách nhiệm của Nhà nước về môi trường còn yếu kém Hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và cồng kềnh, dẫn đến nhiều quy định không thể áp dụng hoặc áp dụng không hiệu quả Chức năng và nhiệm vụ của các cấp bộ máy chưa được phân định rõ ràng, trong khi đội ngũ cán bộ bảo vệ môi trường còn thiếu và yếu Hơn nữa, đầu tư của Nhà nước cho bảo vệ môi trường chưa cao và chưa hiệu quả.

Những công trình nghiên cứu giải pháp thực hiện trách nhiệm của Nhà nước

Sách “Các công cụ quản lý môi trường” của Đặng Mộng Lân đã nêu rõ vai trò của quản lý môi trường trong phát triển bền vững, cung cấp thông tin về hiện trạng môi trường, đánh giá tác động và hạch toán tài nguyên môi trường Tác giả đã phân tích và đưa ra nhiều số liệu cụ thể để minh chứng cho lý luận Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến một số giải pháp cụ thể mà chưa đưa ra các giải pháp chiến lược tổng quát nhằm bảo vệ môi trường Việt Nam trong tương lai.

Sách “Tiến tới kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Việt Nam” do Phạm Minh Hạc và Nguyễn Hữu Tăng biên soạn, trình bày các khái niệm cơ bản và văn bản quan trọng liên quan đến bảo vệ môi trường (BVMT) Tác giả cũng phân tích mô hình cơ quan BVMT của một số quốc gia trên thế giới và hệ thống pháp luật cùng bộ máy quản lý nhà nước về BVMT tại Việt Nam Đặc biệt, tác giả đề xuất mô hình tổ chức cơ quan quản lý nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường.

Trong bài viết của Trần Đắc Hiến “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay –

Ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề bức xúc trong xã hội, chủ yếu do hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người, như nước thải từ các khu công nghiệp và đô thị chưa qua xử lý Để khắc phục tình trạng này, cần có sự điều chỉnh kịp thời các chính sách và pháp luật của Nhà nước, tập trung vào bảo vệ môi trường (BVMT) và giáo dục cộng đồng về ý thức BVMT Đồng thời, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp và làng nghề cần được thực hiện một cách khoa học Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp chủ đạo nhằm giải quyết ô nhiễm môi trường trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).

Trong bài viết “Tài nguyên và môi trường trong chính sách phát triển theo hướng xanh ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Danh Sơn nhấn mạnh rằng phát triển xanh là xu thế tất yếu của thời đại, với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường là trung tâm cho các hoạt động kinh tế và nâng cao chất lượng sống Tác giả chỉ ra rằng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi từ phát triển nâu sang phát triển xanh, và cần chú trọng vào ba vấn đề chính trong chính sách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: xanh hóa chính sách phát triển, xanh hóa các chỉ tiêu phát triển, và thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường làm cơ sở cho các quy hoạch phát triển khác.

Bài viết của Chu Thái Thành nhấn mạnh bốn vấn đề quan trọng trong phát triển bền vững, bao gồm phát triển kinh tế, dân số, tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và bảo vệ môi trường (BVMT).

Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế cần phải gắn liền với bảo vệ môi trường, điều này là cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giải pháp cho sự phát triển bền vững là thực hiện chiến lược quốc gia về tài nguyên môi trường, triển khai hiệu quả các dự án cải tạo và bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như ngăn chặn và chấm dứt tình trạng ô nhiễm môi trường.

Công trình của Nguyễn Văn Việt về "Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" đề xuất nhiều kiến nghị nhằm hoàn thiện thủ tục hành chính, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bảo vệ môi trường diễn ra hiệu quả hơn.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Ngừng, tác giả khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, nhấn mạnh việc khai thác tiềm năng kinh tế và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tự nhiên Tuy nhiên, quá trình thực hiện cơ chế kinh tế thị trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường, dẫn đến ô nhiễm và suy kiệt tài nguyên như đất, nước, không khí và rừng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Tác giả nhấn mạnh rằng việc khắc phục các tác động tiêu cực này là trách nhiệm chung của toàn nhân loại Ông cũng đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế, bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng, phát triển kinh tế bền vững và tăng cường đầu tư cho bảo vệ môi trường Tuy nhiên, các giải pháp này vẫn còn mang tính khái quát và chưa cụ thể hóa trách nhiệm của Nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường.

Sách “Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội theo hướng bền vững ở Việt Nam” của Hà Huy Thành và Lê Cao Đoàn trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng môi trường và tác động của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới Tác giả chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế nhanh chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động sẵn có, dẫn đến việc tàn phá tài nguyên rừng, khoáng sản và ô nhiễm không khí Hệ thống quản lý môi trường hiện tại còn nhiều bất cập, thiếu chế tài và không đủ mạnh để thực thi luật bảo vệ môi trường Công trình dự báo sự biến động của môi trường và tác động của nó đến phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, đồng thời đề xuất các giải pháp vĩ mô và vi mô khả thi nhằm quản lý phát triển xã hội bền vững, thích ứng với những biến đổi môi trường phức tạp trong tương lai.

Trong bài viết “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực tiễn vận dụng ở

Trong bối cảnh cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, tác giả Trần Anh Phương nhấn mạnh rằng doanh nghiệp tại Việt Nam phải đáp ứng những yêu cầu cao từ khách hàng và xã hội về trách nhiệm cộng đồng Để phát triển bền vững, doanh nghiệp không chỉ cần đảm bảo lợi nhuận mà còn phải tuân thủ các chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, và quyền lợi của nhân viên Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị về giải pháp thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Kim nhấn mạnh rằng con người là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái Nghiên cứu về sự phát triển kinh tế của Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ XX cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và bảo vệ môi trường.

Sự tập trung quá mức vào các ngành sản xuất và dân cư tại những khu vực nhất định đã gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường Tác giả nêu ra kinh nghiệm của Nhật Bản trong bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế, bao gồm việc luật hóa các chính sách về môi trường, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ môi trường, và sống hòa hợp với thiên nhiên Việt Nam nên học hỏi từ kinh nghiệm của Nhật Bản để phát triển kinh tế bền vững và bảo vệ môi trường hiệu quả.

Cuốn sách “Mối quan hệ con người - tự nhiên và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Oanh nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, đặc biệt là từ góc độ Mácxít Tác giả phân tích quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững, đồng thời làm rõ hiện trạng mối quan hệ này tại Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả đề xuất các phương hướng, mục tiêu và giải pháp cơ bản nhằm hài hòa mối quan hệ con người - tự nhiên, với ưu tiên cho lĩnh vực môi trường, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững trong tương lai.

“Giáo trình quản lý chất lượng môi trường” của Nguyễn Văn Phước và

Nguyễn Thị Vân Hà đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về khái niệm môi trường và quản lý chất lượng môi trường Tác giả đánh giá tác động môi trường và giới thiệu các công cụ quản lý chất lượng hiệu quả đang được áp dụng tại Việt Nam và trên thế giới Bên cạnh đó, tác giả đề xuất các phương hướng và chương trình hành động chiến lược nhằm bảo vệ môi trường Qua phân tích các vấn đề ảnh hưởng đến môi trường cùng với số liệu quan trọng, tác giả nhấn mạnh sự suy thoái môi trường ngày càng nghiêm trọng và kêu gọi cần có giải pháp bảo vệ môi trường, trong đó trách nhiệm của Nhà nước là rất quan trọng.

Các nghiên cứu đã chỉ ra phương hướng, mục tiêu và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả trách nhiệm của Nhà nước về môi trường ở Việt Nam, bao gồm việc nâng cao năng lực và cải thiện các giải pháp liên quan.

Giá trị của các công trình luận án cần tham khảo và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.4.1 Giá trị của các công trình luận án tham khảo

Các công trình khoa học nêu trên mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu cho tác giả trong luận án Giá trị khoa học mà tác giả tiếp thu và kế thừa từ các công trình này bao gồm nhiều nội dung thiết yếu.

Dựa trên các nghiên cứu khoa học đã công bố, tác giả đã khái quát trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường (BVMT) và vai trò của môi trường trong việc này Những giá trị khoa học này không chỉ là phương pháp luận quan trọng mà còn là cơ sở để luận án phân tích sâu sắc hơn về triết lý trách nhiệm của Nhà nước trong BVMT tại Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam đóng vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) với quyền lực cao nhất để quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên (TNTN) theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, Nhà nước cần được xem là cơ quan chủ trì trong việc xây dựng các chính sách, pháp luật và kinh tế nhằm bảo vệ môi trường, phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước hiện tại và tương lai Kết quả nghiên cứu từ các công trình đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong công tác BVMT tại Việt Nam, cung cấp tư liệu quan trọng cho luận án.

Ba là: Các công trình nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp quan trọng mà

Nhà nước cần thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) ở Việt Nam Các giải pháp được đề xuất là những gợi mở quan trọng, giúp luận án đưa ra những giải pháp cơ bản và cụ thể cho Nhà nước trong công tác BVMT.

Bảo vệ môi trường (BVMT) là vấn đề thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại Do đó, BVMT là trách nhiệm chung của tất cả các thành phần trong xã hội, trong đó Nhà nước đóng vai trò quan trọng hàng đầu.

Các công trình và đề tài nghiên cứu nêu trên là những thành tựu quý giá, hỗ trợ tác giả luận án trong việc tiếp cận, nghiên cứu và tham khảo trong quá trình thực hiện luận án.

1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về đề tài của luận án

Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) ở Việt Nam là một vấn đề quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Các công trình hiện có chủ yếu tập trung vào lý luận quản lý nhà nước về môi trường, tài nguyên và môi trường (TN&MT), ô nhiễm môi trường, và thực trạng quản lý nhà nước về môi trường Tuy nhiên, việc nghiên cứu trách nhiệm cụ thể của Nhà nước trong BVMT vẫn còn thiếu và các giải pháp chưa được đề xuất rõ ràng Do đó, luận án này sẽ đi sâu vào ba nội dung cơ bản nhằm làm rõ trách nhiệm của Nhà nước trong BVMT ở Việt Nam.

Thứ nhất, làm rõ lý luận về trách nhiệm, trách nhiệm của Nhà nước trong việc

BVMT từ góc độ triết học

Thứ hai, đi sâu phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm BVMT ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường (BVMT) ở Việt Nam hiện nay là cơ sở để tác giả chọn nghiên cứu về "Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" cho luận án của mình.

Con người luôn có khát vọng làm chủ tự nhiên, dẫn đến việc khai thác triệt để tài nguyên để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển Tuy nhiên, hành động này thường đi kèm với việc thải ra chất thải mà không ý thức đầy đủ về trách nhiệm, gây hủy hoại thiên nhiên và cạn kiệt tài nguyên Khi môi trường phản ứng lại, sức khỏe con người và khí hậu toàn cầu bị đe dọa Tại Việt Nam và trên thế giới, sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa nhanh chóng đã làm xấu đi mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Trước những thách thức này, con người ngày càng nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với môi trường Nhiều nghiên cứu về bảo vệ môi trường đã được thực hiện, tập trung vào các vấn đề như bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường.

Nghiên cứu về "Việt Nam hiện nay" vẫn còn thiếu tính hệ thống và toàn diện, do đó, việc lựa chọn đề tài này là cần thiết và không trùng lặp với các công trình trước đó Những kết quả đạt được từ các công trình đã được tổng quan sẽ là tài liệu quan trọng mà luận án có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2.1 Trách nhiệm và trách nhiệm của Nhà nước trong BVMT

Những nội dung cơ bản của trách nhiệm Nhà nước trong BVMT

Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường (BVMT) hiện nay bao gồm việc điều chỉnh, quản lý và duy trì sự cân bằng sinh thái thông qua các văn bản pháp lý và hệ thống pháp luật Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, không chỉ cho đất nước mà còn cho toàn cầu Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi yêu cầu BVMT ngày càng cấp bách, việc nghiên cứu sâu về trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực này trở nên vô cùng quan trọng, đặc biệt trong các khoa học xã hội liên quan đến môi trường và triết học.

2.2 Những nội dung cơ bản của trách nhiệm Nhà nước trong bảo vệ môi trường

Trách nhiệm bảo vệ môi trường (BVMT) của Nhà nước là một yêu cầu khách quan từ góc độ triết học Tuy nhiên, để thực hiện trách nhiệm này, cần phải xác định rõ vai trò của Nhà nước Nội dung chính trong trách nhiệm của Nhà nước đối với BVMT bao gồm việc hoàn thiện các chính sách và quy định liên quan Luận án này sẽ làm rõ những nội dung cơ bản trong việc nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực BVMT.

2.2.1 Xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật để bảo vệ môi trường Để BVMT, nhà nước sử dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau như: chính trị, kinh tế, giáo dục, công nghệ các biện pháp này sẽ hỗ trợ, tương tác cho nhau, nhằm giữ cho môi trường trong lành, ngăn chặn và khắc phục những hậu quả xấu do con

Pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) là công cụ quản lý hiệu quả của Nhà nước, với các quy tắc xử sự bắt buộc nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và BVMT, hướng tới phát triển bền vững Hệ thống chính sách và pháp luật quy định rõ những hành vi được phép và không được phép, cùng với chế tài xử lý đối với những vi phạm Để đạt được hiệu quả trong BVMT, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ, hoàn chỉnh và khả thi, đồng thời phát triển chiến lược BVMT lâu dài, đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường Việc này không chỉ thể hiện nhận thức lý luận mà còn khẳng định tính cấp thiết của BVMT trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

2.2.2 Huy động các nguồn vốn để bảo vệ môi trường

Vốn không chỉ là yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, mà còn là điều kiện cần thiết để bảo vệ môi trường (BVMT) hiệu quả Các quốc gia cần có nguồn vốn đủ lớn để đầu tư vào xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, cũng như ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất, nhằm tạo ra sản phẩm mới thân thiện với môi trường Hơn nữa, việc thực hiện các hoạt động BVMT cũng đòi hỏi nguồn vốn lớn để nâng cao năng lực thể chế, xây dựng cơ sở hạ tầng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan.

54 các dự án BVMT, thực hiện các công tác giáo dục, tuyên truyền nhận thức về BVMT

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) do chỉ có thể cung ứng nguồn kinh phí lớn cần thiết cho công tác này Với quyền hạn và chức năng của mình, Nhà nước có khả năng thu thuế và phí từ các hoạt động sản xuất kinh doanh để đầu tư cho BVMT Hơn nữa, Nhà nước cũng có tư cách pháp nhân để huy động, tiếp nhận và phân phối hiệu quả các nguồn vốn vay, viện trợ nhằm phục vụ cho BVMT Hiệu quả của công tác BVMT phụ thuộc lớn vào nguồn vốn, vì nguồn vốn dồi dào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, triển khai và ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực này.

Hiện nay, nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường (BVMT) chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước và viện trợ nước ngoài (ODA), nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tế Do đó, các cơ quan nhà nước cần có giải pháp kêu gọi sự tham gia đầu tư từ các thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, nhằm tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực BVMT.

Thứ nhất, doanh nghiệp BVMT sẽ góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế mới

Kinh tế xanh thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực cung cấp và sản xuất hàng hóa, dịch vụ môi trường Điều này không chỉ tạo ra cơ hội việc làm xanh mà còn nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân.

Giảm áp lực cho ngân sách Nhà nước trong đầu tư bảo vệ môi trường (BVMT) là cần thiết, đặc biệt khi nguồn thu ngân sách hiện nay đang hạn hẹp Sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp trong việc đầu tư vào các công trình và giải pháp BVMT sẽ thúc đẩy xã hội hóa trong lĩnh vực này, từ đó giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

Thứ ba, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Huy động doanh nghiệp đầu tư cho bảo vệ môi trường là biện pháp quan trọng giúp thực hiện các giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế trong từng giai đoạn.

Lợi ích lớn nhất mà quốc gia thu được từ việc khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường là sự cải thiện chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững.

55 phát triển bền vững chính là góp phần nâng cao được lợi thế quốc gia, tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia

2.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực để bảo vệ môi trường

Con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất, như C Mác đã nhấn mạnh rằng “lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng.” V.I Lênin cũng khẳng định rằng “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động.” Thực tiễn phát triển ở nhiều quốc gia cho thấy, nhân tố con người quyết định mọi quá trình kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội.

Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Để cải thiện môi trường, các quốc gia cần nguồn nhân lực năng động, nhạy bén và có tri thức Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ yêu cầu mỗi quốc gia phải đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao để giảm thiểu bất lợi và tối ưu hóa việc khai thác tài nguyên Công nghiệp hóa và xây dựng nền kinh tế xanh đang trở thành xu hướng toàn cầu, đòi hỏi các chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển bền vững Do đó, giáo dục và đào tạo luôn được các quốc gia ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của mình.

2.2.4 Giáo dục, tuyên truyền kiến thức để bảo vệ môi trường

Giáo dục môi trường giúp cộng đồng nhận thức về sự phức tạp của hệ thống môi trường tự nhiên và nhân tạo, từ đó khuyến khích hành vi thân thiện hơn với môi trường Mục tiêu của giáo dục môi trường là trang bị cho cộng đồng những kỹ năng cần thiết để bảo vệ môi trường.

Giáo dục môi trường hiệu quả nhất là cung cấp kiến thức trong một bối cảnh cụ thể để khuyến khích hành động bảo vệ môi trường (BVMT) Việc nâng cao nhận thức và tuyên truyền về môi trường cho cộng đồng là rất quan trọng, vì họ là những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường sống của mình Khi nhận thức được vấn đề, cộng đồng sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động BVMT Công tác này thường được thực hiện thông qua các tổ chức xã hội và chính trị, nhằm huy động sự tham gia của thị trường và cộng đồng vào các hoạt động BVMT.

Các nhân tố tác động đến trách nhiệm của Nhà nước trong BVMT

2.3.1 Sự lãnh đạo của Đảng

Đảng cầm quyền có nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, nhưng để thực hiện thành công, cần sự tham gia của các tổ chức, lực lượng và nhân dân Hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, mang bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, được Đảng lãnh đạo và hoạt động theo quan điểm vì đất nước, dân tộc Đảng luôn chú trọng công tác bảo vệ môi trường qua các giai đoạn, nhận được sự ủng hộ và đồng thuận từ nhân dân.

Đảng lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường (BVMT) thông qua việc ra nghị quyết và quyết định chiến lược cho từng giai đoạn, nhằm đảm bảo Nhà nước thực hiện đúng đắn Những đường lối và nghị quyết không phù hợp có thể gây ảnh hưởng lớn đến công tác BVMT hiện tại và tương lai Mục tiêu của Đảng là gìn giữ môi trường trong lành, bảo đảm sự phát triển bền vững cho mỗi người dân và đất nước Đảng xây dựng các nghị quyết và chỉ thị xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể về BVMT, nhằm ngăn ngừa tác động xấu đến môi trường, khắc phục sự cố ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và duy trì đa dạng sinh học Đảng cũng chủ động phòng, chống biến đổi khí hậu và nâng cao đời sống người dân Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các nghị quyết thành pháp luật và chỉ đạo các cơ quan thực hiện Đồng thời, Đảng lãnh đạo Quốc hội xây dựng nghị quyết cụ thể hóa các nghị quyết về BVMT và lãnh đạo Chính phủ tổ chức thực hiện trách nhiệm trong các hoạt động BVMT, cũng như chỉ đạo các cơ quan tư pháp xử lý nghiêm các vi phạm.

Đảng lãnh đạo xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT), đặc biệt là tại Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), đóng vai trò nòng cốt trong BVMT Đồng thời, Đảng cũng chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, và chuyên gia chất lượng, tạo ra lực lượng xung kích trong công tác BVMT.

Đảng lãnh đạo các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên, đặc biệt là các cấp ủy trực thuộc Trung ương, cần cụ thể hóa nghị quyết và chỉ thị của Đảng về bảo vệ môi trường (BVMT) và tổ chức thực hiện hiệu quả.

Đảng tập trung lãnh đạo các cấp ủy tỉnh trong việc cụ thể hóa nghị quyết về bảo vệ môi trường (BVMT) phù hợp với địa phương Đồng thời, Đảng cũng chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc thực hiện nghị quyết BVMT theo chức năng và nhiệm vụ của mình Đảng phát huy vai trò của cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ Quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, doanh nghiệp và nhân dân trong việc thực hiện nghị quyết và pháp luật về BVMT Đảng khuyến khích các tổ chức và lực lượng tham gia tích cực vào các chương trình, đề án của Nhà nước về BVMT, đồng thời động viên doanh nghiệp và nhà tài trợ đóng góp tài chính cho các hoạt động này Đảng cũng lãnh đạo các tổ chức xã hội thực hiện các hoạt động tuyên truyền và triển khai phong trào BVMT, nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi tầng lớp trong xã hội, thu hút sự tham gia của nhân dân Qua đó, các hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về BVMT và đưa các chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp trong việc thực hiện nghị quyết về bảo vệ môi trường (BVMT) Đảng cũng khuyến khích sự tham gia của các tổ chức và lực lượng trong việc xây dựng, giám sát và phản biện xã hội đối với các chủ trương, biện pháp BVMT của Đảng và Nhà nước Đồng thời, Đảng luôn khuyến khích các tổ chức xã hội vận động nhân dân và doanh nghiệp tham gia tích cực vào công tác BVMT.

Để đảm bảo hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường (BVMT), Đảng đã lãnh đạo việc kiểm tra và giám sát hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên trong việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là những nghị quyết liên quan đến BVMT Qua công tác này, Đảng không chỉ phát hiện những nhân tố mới mà còn điều chỉnh những lệch lạc, xử lý nghiêm các vi phạm để đảm bảo nghị quyết về BVMT được thực hiện thành công Đồng thời, Đảng cũng nhận diện những điểm chưa hợp lý và thiếu sót trong các nghị quyết, chỉ thị về BVMT để tiến hành sửa đổi, bổ sung, nhằm hoàn thiện hơn các văn bản này.

Đảng cầm quyền luôn thể hiện trách nhiệm trong mọi lĩnh vực xã hội, bao gồm bảo vệ môi trường (BVMT) Đảng đã quan tâm và chỉ đạo các kế hoạch, chính sách, chiến lược cụ thể cho từng giai đoạn nhằm bảo vệ môi trường Kết quả đạt được trong thời gian qua cho thấy Đảng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với công tác BVMT.

2.3.2 Sự phản biện của các tổ chức xã hội

Phản biện xã hội về môi trường là một hình thức quan trọng nhằm đánh giá các vấn đề liên quan đến chính sách, dự án và chương trình bảo vệ môi trường Trong bối cảnh xung đột môi trường ngày càng gia tăng, việc thúc đẩy phản biện chính sách môi trường trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Phản biện xã hội là hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội nhằm phản ánh ý kiến và sự quan tâm của cộng đồng về các vấn đề cụ thể Hoạt động này không vì mục đích vụ lợi, mà mang tính chất xã hội, thể hiện vai trò tập hợp và lãnh đạo của các tổ chức nghề nghiệp trong việc tổ chức cho hội viên tham gia Trước đây, các tổ chức này thường coi nhẹ vai trò của phản biện xã hội.

Quyền làm chủ của công dân, bao gồm quyền được biết, được bàn, được tham gia và được quyết định, đã được pháp luật công nhận, nhưng hiệu quả thực hiện vẫn còn hạn chế khi chỉ dựa vào cá nhân Khi quần chúng được tổ chức thành các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, sức mạnh và chất lượng thực hiện quyền sẽ được nâng cao Ý kiến phản ánh từ các tổ chức này sẽ có tác động mạnh mẽ hơn so với hành động của từng cá nhân Do đó, các tổ chức xã hội và nghề nghiệp cần đóng vai trò quan trọng trong việc phản biện xã hội, đại diện cho tiếng nói của hội viên bên cạnh các sứ mệnh khác.

Hoạt động phản biện xã hội là những hành vi tự phát và tự nguyện, diễn ra một cách tự nhiên trong cộng đồng mà không cần tổ chức Những hành vi này lan tỏa rộng rãi và sâu sắc, góp phần hình thành dư luận xã hội.

Hoạt động phản biện xã hội là sản phẩm của quần chúng, phản ánh sự đánh giá các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Đặc trưng của hoạt động này là tính khoa học, yêu cầu tổ chức phản biện phải có hội viên với trình độ chuyên môn nhất định để nghiên cứu và đề xuất các nội dung cần thiết Điều này giải thích tại sao các tổ chức xã hội có quyền thực hiện phản biện xã hội, nhưng mức độ đóng góp lại khác nhau, phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của hội viên Quan trọng hơn, phản biện xã hội không chỉ là hoạt động khoa học mà còn là phương thức mở rộng dân chủ, nâng cao sự tương tác giữa Nhà nước và xã hội, từ đó cải thiện chất lượng quyết sách trong phát triển đất nước Mặc dù phản biện xã hội là một kênh thông tin quan trọng, nhưng không phải là duy nhất.

Hoạt động phản biện không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi, một phần do thói quen tiếp nhận thông tin đa chiều chưa được hình thành Nhiều nơi vẫn coi phản biện là sự phản đối, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi đề án, dẫn đến tâm lý bất hợp tác Lối tư duy này gây ra không ít khó khăn cho hoạt động phản biện, vì việc tiếp cận thông tin trở nên khó khăn hơn.

66 được những thông tin chính xác về đề án để có thể đánh giá, phân tích một cách thấu đáo, khoa học

Việc thiếu hành lang pháp lý và các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động phản biện xã hội, đặc biệt là cơ chế tài chính, đã tạo ra rào cản lớn, làm giảm hiệu quả của hoạt động này Điều này dẫn đến việc nhiều hoạt động phản biện chỉ diễn ra trong quy mô hạn hẹp, với sự tham gia của các tổ chức và cá nhân đóng góp ý kiến về các vấn đề xã hội Do đó, việc triển khai các hoạt động phản biện xã hội cần trở thành yêu cầu bắt buộc để ngăn chặn tổn thất cho đất nước và xây dựng sự đồng thuận trong xã hội.

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1 Một số vấn đề môi trường của Việt Nam và trách nhiệm của hệ thống chính trị

MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT

Ngày đăng: 18/05/2023, 11:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Quý An (1992), “Những quan điểm chủ yếu về môi trường và phát triển tại Hội nghị Rio 1992”, Tạp chí Thông tin Môi trường, (3), tr 19-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm chủ yếu về môi trường và phát triển tại Hội nghị Rio 1992
Tác giả: Lê Quý An
Nhà XB: Tạp chí Thông tin Môi trường
Năm: 1992
2. Trần Lê Bảo (chủ biên) (2001), Văn hóa sinh thái nhân văn, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa sinh thái nhân văn
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
3. Lê Huy Bá (2004), Môi trường, Nxb Đại học quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2004
4. Báo cáo (1992), của CNXH Việt Nam tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển, Brazin 1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: của CNXH Việt Nam tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển, Brazin 1992
Tác giả: Báo cáo
Năm: 1992
5. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại hội nghị nhóm tư vấn nhà tài trợ Việt Nam (2006), Việt Nam: hướng đến tầm cao mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: hướng đến tầm cao mới
Tác giả: Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại hội nghị nhóm tư vấn nhà tài trợ Việt Nam
Năm: 2006
6. Báo cáo phát triển Việt Nam (2010), Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên thiên nhiên
Nhà XB: Báo cáo phát triển Việt Nam
Năm: 2010
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Báo cáo công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2011 - 2015 và phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016 – 2020, Nxb Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2011 - 2015 và phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016 – 2020
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nxb Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam
Năm: 2016
8. Hoàng Hữu Bình (chủ biên) (2006), Những tác động của yếu tố văn hóa- xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên - môi trường trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tác động của yếu tố văn hóa- xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên - môi trường trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 36/CT –CW ngày 25/6/1998 về tăng cương công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 36/CT –CW ngày 25/6/1998 về tăng cương công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1998
10. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết 41/NQ-TW bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.cpv.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 41/NQ-TW bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: www.cpv.org.vn
Năm: 2004
11. Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết số 24-NQ/TW khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 24-NQ/TW khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2013
12. Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết số 35/NQ-CP về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 35/NQ-CP về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2013
14. Bộ Chính trị (2016), Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2016 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2016 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2016
15. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
16. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Tổng hợp các số liệu phát triển kinh tế- xã hội các năm, Hà Nội, tại website www.mpi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp các số liệu phát triển kinh tế- xã hội các năm
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
17. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2012), Tổng hợp các số liệu phát triển kinh tế- xã hội các năm, Hà Nội, www.mpi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp các số liệu phát triển kinh tế- xã hội các năm
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
18. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, Nxb Ngân hàng thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Nxb Ngân hàng thế giới
Năm: 2016
43. Cục cảnh sát môi trường, website:www.canhsatmoitruong.gov.vn Link
80. http;//bachinhphu.vn/Tin-nganh/C49-va-cuoc-chien-bao-ve-moi-truong-xanh/49428.vgp. Nngày 18/11/2010 Link
175. Tuyên bố Hà Nội tại IPU-132, http://vov.vn/chinh-tri/tuyen-bo-ha-noi-tai-ipu132-392021.vov Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w