1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam hiện nay

174 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Hoàng Văn Khải
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình nghiên cứu về quan hệ và giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Hoàng Văn Khải

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Những công trình nghiên cứu về lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội 6 1.2 Những nghiên cứu liên quan đến thực trạng, nguyên nhân giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội 18 1.3 Những nghiên cứu liên quan đến giải pháp để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội 25 1.4 Giá trị của những công trình trên và một số vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết 32

Chương 2 GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 35

2.1 Khái niệm, nội dung giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 35 2.2 Những nhân tố tác động đến việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân

và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 64

Chương 3 GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 77

3.1 Thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 77 3.2 Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân

và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 115

Chương 4 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 124

4.1 Nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội 124 4.2 Tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối nhằm đảm bảo công bằng và tổ chức thực hiện tốt trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội 130 4.3 Khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng thời thực hiện lợi ích xã hội 140 4.4 Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội 145

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH : An sinh xã hội CBXH : Công bằng xã hội CNTB : Chủ nghĩa tư bản CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CTSH : Chủ thể sở hữu

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước ĐTSH : Đối tượng sở hữu

HTSH : Hình thức sở hữu KTTT : Kinh tế thị trường KTTN : Kinh tế tư nhân KTNN : Kinh tế nhà nước LLSX : Lực lượng sản xuất LIXH : Lợi ích xã hội LICN : Lợi ích cá nhân PLXH : Phúc lợi xã hội TLSX : Tư liệu sản xuất QHSX : Quan hệ sản xuất QHSH : Quan hệ sở hữu XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Suy cho cùng, sự phát triển xã hội là kết quả của những hoạt động có ý thức của con người “đang theo đuổi những mục đích nhất định” Trong sự phát triển đó, lợi ích là một trong những động lực thúc đẩy hoạt động của con người, của sự biến đổi xã hội và là một trong những vấn đề căn bản, có ý nghĩa quyết định bản chất các mối quan hệ trong xã hội Đề cập tới vấn đề này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lợi ích là thuộc tính tất yếu của con người và nó gắn kết các thành viên xã hội dân sự lại với nhau” [88, tr.184] Trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội, sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu sẽ hình thành quan hệ lợi ích Mối quan hệ giữa các lợi ích, đặc biệt giữa lợi ích cá nhân (LICN)

và lợi ích xã hội (LIXH), tạo nên những vector thúc đẩy hoạt động của con người và

sự vận động của xã hội theo những chiều hướng khác nhau, mạnh yếu khác nhau Tuy nhiên, quan hệ giữa các chủ thể lợi ích luôn nảy sinh vấn đề phức tạp, chứa đựng những mâu thuẫn, nhất là giữa LICN và LIXH, bởi lợi ích luôn biến đổi theo

sự biến đổi của nhu cầu xã hội Cho đến hiện nay, ở tất cả các cấp độ của lý luận lợi ích nói chung, LICN và LIXH nói riêng vẫn đặt ra những vấn đề cần phải nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường (KTTT) - nơi các loại lợi ích thể hiện vai trò của mình một cách đặc thù, khác biệt so với các điều kiện xã hội khác

Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò làm động lực của lợi ích đối với

sự tiến bộ xã hội Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng khi chúng ta giải quyết được hài hòa các quan hệ lợi ích khác nhau, đặc biệt là quan hệ giữa LICN và LIXH - quan hệ lợi ích căn bản của xã hội, nếu không thì trái lại, mâu thuẫn, xung đột lợi ích sẽ trở thành lực cản sự tiến bộ xã hội, có thể phá hoại nghiêm trọng những thành quả bước đầu mà đất nước đạt được, thậm chí xuất hiện những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp Ở nước ta trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, khi chúng ta đi ngày càng đi sâu vào nền KTTT, vấn đề lợi ích nói chung, LICN và LIXH nói riêng lại trở nên

Trang 5

phức tạp, tạo ra những vấn đề “nóng” cần phải giải quyết Xuất hiện những biểu hiện của sự mất cân bằng trong giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, trong nhiều biểu hiện chính là việc đề cao quá mức LICN hoặc LIXH Một số lực lượng xã hội nhân danh lợi ích, để mưu cầu LICN không chính đáng, xâm phạm LIXH Những hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, gây thất thoát tài sản Nhà nước, buôn lậu, trốn thuế, hàng giả, hàng kém chất lượng, lừa đảo, lợi ích nhóm tiêu cực lũng đoạn việc quản lý, điều hành và phân phối nói chung xảy ra với tính chất ngày càng phức tạp, nhiều vụ việc có quy mô lớn, gây những tổn hại đến sự phát triển xã hội Thực chất của những hiện tượng đó chính là việc đề cao quá mức LICN, bất chấp luật pháp, đạo đức để đạt được LICN Song ở thái cực ngược lại, lại có những LICN chính đáng chưa được quan tâm đúng mức, đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, khoảng cách giàu - nghèo có xu hướng ngày càng doãng ra; thành phần kinh tế tư nhân chưa được tạo những điều kiện tốt nhất để phát triển, chưa phát huy hết tiềm năng của thành phần kinh tế này Cùng với đó, càng hội nhập quốc tế

và phát triển KTTT mạnh mẽ thì càng đặt ra vấn đề là phải làm cho cá nhân thỏa mãn lợi ích chính đáng, đồng thời phải thúc đẩy đạt được những LIXH để vừa bảo đảm sự phát triển, vừa giữ vững định hướng XHCN Chính vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN và LIXH Song, để làm được điều đó, chúng ta cần hiểu rõ bản chất, vai trò, quy luật tồn tại, phát triển của từng loại lợi ích, nội dung, phương thức, các nhân tố tác động cũng như phân tích thực trạng, nguyên nhân của việc việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, để từ đó có những giải pháp tác động phù hợp trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay nhằm tạo động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội và của cả cá nhân

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn và lý luận nêu trên và với mong muốn góp phần đóng góp vào việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, nghiên cứu sinh

chọn vấn đề “Giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án của mình

Trang 6

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra từ việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN và LIXH góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, luận án cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH

như khái niệm, nội dung, phương thức và các nhân tố tác động

- Phân tích thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt

ra từ giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN

và LIXH góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa LICN và

LIXH trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH là vấn đề rất rộng, ở đây, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH chủ yếu thông qua lợi ích kinh tế trong lĩnh vực

sở hữu và phân phối; chủ thể giải quyết quan hệ lợi ích này chủ yếu là Đảng, Nhà nước, xã hội và cá nhân Luận án cũng chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu LICN là lợi

Trang 7

ích của cá nhân cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thân, đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân; LIXH ở đây chính là lợi ích của cả xã hội với tính cách là một dân tộc

- quốc gia

- Về không gian: nghiên cứu quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện

KTTT ở Việt Nam

- Về thời gian: Việc nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trong giai đoạn từ

khi bắt đầu đổi mới đất nước (1986) cho đến nay

4 Những đóng góp mới của luận án

- Làm rõ nội dung giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, những nhân tố tác động tới việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

- Luận án phân tích những vấn đề đặt ra trong việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trên một số khía cạnh chủ yếu như nhận thức của các chủ thể, các chính sách về sở hữu, các chính sách về phân phối

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay, trong đó đặc biệt là giải pháp khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng thời thúc đẩy thực hiện LIXH Cùng với đó, giải pháp về tiếp tục thực hiện các chính sách đảm bảo công bằng

xã hội (CBXH) đã có nhiều công trình nói tới, song tiếp tục thực hiện và tổ chức thực hiện trên thực tế các chính sách đảm bảo CBXH là những đóng góp mới của luận án

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch s để phân tích bản chất của lợi ích, điều kiện hình thành, tồn tại, biến đổi và tính lịch s của lợi ích, LICN, LIXH, quan hệ giữa LICN và LIXH

Luận án s dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, các phương pháp thu thập và x lý số liệu, thông tin (thứ cấp) để phân tích thực trạng việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay bằng các dẫn liệu cụ thể

6 Ý nghĩa của luận án

- Góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận cho Đảng, Nhà nước trong việc đề

ra các chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác quản lý xã hội xây dựng và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhằm giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong những điều kiện cụ thể nhất định ở nước ta hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu giảng dạy triết học, các ngành khoa học xã hội và nhân văn tại các học viện, trường đại học, cao đẳng, trường chính trị tỉnh (thành phố)

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm: 04 chương, 12 tiết

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LỢI ÍCH, LỢI ÍCH CÁ NHÂN, LỢI ÍCH XÃ HỘI, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC GIẢI QUYẾT QUAN

HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về phạm trù lợi ích

Xung quanh phạm trù lợi ích nói chung, đã có rất nhiều công trình nghiên

cứu trong và ngoài nước đề cập đến các khía cạnh rất đa dạng của lợi ích như: khái niệm, bản chất, vai trò, phân loại lợi ích

Về khái niệm, bản chất lợi ích

Năm 1997, trong cuốn sách Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

[123] tác giả Lê Hữu Tầng đã chỉ ra bản chất và nội dung của lợi ích, đó là: “xét về bản chất, lợi ích chính là một quan hệ - quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài chủ thể với nhu cầu của chủ thể, còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu” [123, tr.35] Các tác giả cũng phân tích mối quan hệ biện chứng giữa một số loại lợi ích, như lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; lợi ích riêng và lợi ích chung; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Đây là một công trình tham khảo tốt cho chúng tôi khi phân tích những vấn đề lý luận về lợi ích và vai trò của lợi ích đối với sự phát triển

Tác giả Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn sách Lợi ích - động lực của sự phát triển xã hội [75], năm 1999, đã lược khảo những quan điểm của các nhà khoa học

Liên Xô trước đây đã đề cập đến vấn đề lợi ích Tác giả Nguyễn Linh Khiếu đã phân tích những quan điểm về lợi ích của các tác giả như: K.B.Ixabêcốp, A.S.Aizicôvích, V.I.Pripisnov, D.I.Chesnocov Trên cơ sở lược khảo các quan điểm của các nhà nghiên cứu Liên Xô và các nhà nghiên cứu trong nước, tác giả đã đưa ra khái niệm “lợi ích là một sự vật hay một hiện tượng khách quan biểu hiện những mối quan hệ tất yếu của con người và dùng để thỏa mãn những nhu cầu cấp bách của họ trong một hoàn cảnh sinh sống nhất định” [75, tr.50] Đây là tài liệu tham khảo tốt cho chúng tôi để khảo cứu lịch s nghiên cứu vấn đề lợi ích, nhất là ở Liên Xô trước đây

Trang 10

Năm 2005, tác giả Lê Thị Kim Chi trong cuốn sách Nhu cầu: động lực và định hướng xã hội [15] đã có những phân tích cụ thể về mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích,

theo đó, tác giả khẳng định: “Lợi ích xuất hiện trong quan hệ giữa nhu cầu của con người với môi trường xung quanh; lợi ích thể hiện mối quan hệ xã hội giữa con người với con người nhằm thỏa mãn nhu cầu; lợi ích là cái trung gian giữa nhu cầu và hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy hoạt động của con người và của xã hội” [15, tr.31] Những phân tích của tác giả về quan hệ nhu cầu và lợi ích đã gợi mở cho chúng tôi nghiên cứu sâu thêm về vấn đề lợi ích trong điều kiện Việt Nam hiện nay

Năm 2010, trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [36], tác giả Đặng Quang Định trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, đã nêu

rõ định nghĩa về lợi ích: “lợi ích là cái phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp, tầng lớp ) trong những điều kiện lịch s - xã hội nhất định” [36, tr.30] Từ đó, tác giả khẳng định: “về bản chất, lợi ích là cái phản ánh quan hệ của các chủ thể nhu cầu, còn nội dung là để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể ấy” [36, tr.30] Chúng tôi đồng ý với quan điểm này và coi đây là tài liệu tham khảo rất có ý nghĩa

Năm 2012, cũng trên cơ sở tiếp cận lợi ích từ nhu cầu, song đề cập đến khía cạnh động lực của lợi ích đối với con người, tác giả Lê Văn B u, trong công trình

Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay [9] đã nêu: “Lợi ích là sự thể hiện mâu thuẫn khách quan giữa nhu

cầu và điều kiện để thỏa mãn nhu cầu Trong khi thể hiện mâu thuẫn nói trên, lợi ích kích thích tính tích cực, sáng tạo của con người và “thúc ép” con người phải hành động, đấu tranh vì lợi ích của mình” [9, tr.35] Đây là quan điểm mà chúng tôi cũng

đã có sự tham khảo trong quá trình nghiên cứu về lợi ích

Như vậy, vấn đề khái niệm, bản chất của lợi ích cũng đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu trong những giai đoạn lịch s khác nhau, song có thể thấy, cơ bản đều thống nhất quan hệ lợi ích là khách quan, là cái phản ánh quan

hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội và

về bản chất, lợi ích là cái phản ánh quan hệ của các chủ thể nhu cầu, còn nội dung là

Trang 11

để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể ấy Đây là những công trình có giá trị tham khảo tốt cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

Về vai trò của lợi ích

Nhìn chung, qua khảo cứu các công trình, đa số các tác giả đều chỉ ra tính tích cực của lợi ích trong hoạt động của con người Theo C.Mác và Ph.Ănghen, lợi ích chính là động lực sâu xa nhất thúc đẩy con người hành động và mọi hành động của con người đều có động cơ nhất định Và kết quả ra sao phụ thuộc vào việc nhận thức và hành động thực tiễn của họ về lợi ích

Năm 1997, đi vào nghiên cứu vai trò lợi ích đối với sự phát triển xã hội, trong

công trình Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, [123] các tác giả đã chỉ ra vai

trò của lợi ích trong sự phát triển xã hội “Nếu lợi ích đúng là khâu trung gian chuyển hóa những yêu cầu khách quan bên ngoài thành những động cơ tư tưởng bên trong thúc đẩy con người ta hành động, thì có thể nói, đó chính là khâu cần được đặc biệt quan tâm trong sợi dây chuyền dẫn tới chỗ khơi dậy và nuôi dưỡng tính tích cực của con người và thông qua tính tích cực ấy mà thúc đẩy quá trình phát triển xã hội” [123, tr.39] Việc phân tích lợi ích với vai trò là một trong những động lực của sự phát triển, cùng với những động lực khác được đề cập trong công trình này là những gợi mở tốt cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

Năm 2008, trong bài viết Quan điểm của Triết học Mác về lợi ích với tư cách động lực của lịch sử [34] tác giả Đặng Quang Định đã khẳng định vai trò của lợi ích

trong sự phát triển xã hội: “việc nhận thức quan hệ xã hội mà thiếu lợi ích thì về cơ bản, nhận thức đó vẫn chỉ mang tính trừu tượng Khi nói về vai trò của lợi ích, triết học Mác cho rằng, lợi ích là cái liên kết các thành viên trong xã hội, nó được đặt trong quan hệ giữa con người với nhau làm cơ sở cho việc xác lập các quan hệ giữa họ” và “Lợi ích thúc đẩy đời sống các dân tộc” [34, tr.76] Mặc dù dừng lại ở góc độ

là một bài viết, song đây là công trình có nhiều gợi mở, tạo tiền đề cho chúng tôi nghiên cứu các vấn đề lý luận về vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội

Năm 2011, trong công trình Lợi ích - động lực của sự phát triển bền vững

[84] tác giả Hoàng Văn Luân đã khẳng định: Mâu thuẫn lợi ích và giải quyết mâu thuẫn lợi ích là động lực phát triển xã hội [84, tr.93] Trên cơ sở đó tác giả nêu ra

Trang 12

những định hướng quan hệ lợi ích vì sự phát triển xã hội, trong đó nêu khá cụ thể các nguyên tắc và biện pháp điều chỉnh cũng như điều chỉnh một số quan hệ lợi ích

cơ bản của xã hội, đặc biệt nhấn mạnh đến việc điều chỉnh chính sách kinh tế Đây

là công trình có nhiều giá trị đối với chúng tôi trong việc phân tích về lợi ích, cũng như có những gợi mở để nghiên cứu về việc giải quyết các lợi ích

Về phân loại lợi ích

Các công trình về lợi ích nêu trên đều đã đề cập về phân loại lợi ích theo nhiều cách tiếp cận, nhiều tiêu chí khác nhau Tuy nhiên, ở góc độ khái quát, theo

tác giả Đặng Quang Định trong công trình Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [Theo 36], đã phân tích cách phân loại lợi ích của các học giả Liên

Xô được đề cập trong “Bách khoa toàn thư Liên Xô”, viết năm 1972, trên cơ sở các

nguyên tắc, tiêu chí nhất định, lợi ích phân loại như sau: dựa vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, chia thành lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị; dựa vào phạm vi cộng đồng, chia thành LICN, lợi ích giai cấp, lợi ích tập thể, LIXH; dựa vào xu hướng khách quan của sự phát triển xã hội, chia thành

lợi ích tiến bộ, lợi ích bảo thủ;…

Ngoài ra, lợi ích còn có thể phân loại dựa trên một số căn cứ sau: dựa vào thời gian tồn tại của lợi ích, chia thành lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; dựa vào tầm quan trọng của lợi ích, chia thành lợi ích căn bản và lợi ích không căn bản, lợi ích cấp bách và lợi ích không cấp bách; dựa vào tính chất và các biện pháp thực hiện lợi ích, chia thành lợi ích chính đáng và lợi ích không chính đáng

Đây là cách tiếp cận để phân loại lợi ích khá toàn diện, vì vậy, công trình này

là tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi trong việc phân loại lợi ích

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về khái niệm lợi ích cá nhân, lợi ích

xã hội và lợi ích kinh tế

Năm 2012, trong công trình Vai trò của lợi ích đối với sự phát triển của xã hội [40], tác giả Đặng Quang Định đã đề cập đến khái niệm LICN, LIXH và lợi ích kinh tế Tác giả phân tích: “Lợi ích cá nhân là tất cả những giá trị vật chất, tinh thần

mà các cá nhân thực hiện được trong những điều kiện nhất định, dùng để thoả mãn

Trang 13

nhu cầu, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân” [40, tr.13-14] và “Lợi ích

xã hội là lợi ích chung của cộng đồng người trong một xã hội nhất định, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung” [40, tr.17] Tác giả cũng đã đưa ra

khái niệm lợi ích kinh tế: “lợi ích kinh tế là giá trị kinh tế mà mỗi cá nhân có được khi tham dự vào quá trình sản xuất kinh tế, dùng để thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân đó” [40, tr.19] Đây là công trình này có giá trị cung cấp cho chúng tôi những

tư liệu tổng hợp để xây dựng nên những khái niệm được s dụng trong luận án

Năm 2012, tác giả Lê Văn B u, trong công trình Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay [9] đã khẳng định: “lợi ích cá nhân là lợi ích của những con người cá thể, riêng rẽ”; “lợi ích toàn xã hội là lợi ích chung của các thành phần (cá nhân và các tập thể) trong xã

hội” [9, tr.44-45] Tác giả cũng phân tích quan hệ giữa các loại lợi ích, trong đó khẳng định “lợi ích riêng bao giờ cũng là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thúc đẩy hoạt động của cá nhân”, “lợi ích chung trong trường hợp này lại là điều kiện đóng vai trò định hướng trong việc thực hiện lợi ích riêng” [9, tr.42-45] Chúng tôi tham khảo ở tài liệu này những phân tích lý luận gắn với việc giải quyết các mâu thuẫn lợi ích cụ thể

Vấn đề lợi ích kinh tế cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ trước, phải kể đến như:

Năm 1982, trong cuốn sách Bàn về các lợi ích kinh tế [132], các tác giả Đào

Duy Tùng, Lê Xuân Tùng, Vũ Hữu Ngoạn… đã phân tích và đưa ra quan niệm về lợi ích kinh tế: “lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người với người trong sản xuất” [132, tr.9] Ở điểm khác các tác giả phân tích “Lợi ích kinh tế của xã hội là lợi ích của nhân dân lao động trên phạm vi

cả nước, lợi ích của tất cả các tập đoàn, các thành viên của xã hội xã hội chủ nghĩa Lợi ích kinh tế của xã hội nảy sinh trên cơ sở nhân dân lao động làm chủ tập thể về

tư liệu sản xuất, về lao động, đất đai, về tài nguyên thiên nhiên” [132, tr.11] Cùng với đó, các tác giả cho rằng: “lợi ích của cá nhân người lao động biểu hiện trước hết

ở tiền lương, tiền thưởng trong các xí nghiệp quốc doanh, ở thu nhập của các xã viên trong các đơn vị kinh tế tập thể, ở các khoản phụ cấp xã hội về học hành, bảo

vệ sức khỏe, nghỉ ngơi, v.v ” [132, tr.13]

Trang 14

Năm 1988, tác giả Nguyễn Duy Hùng trong công trình Bàn về sự hình thành và kết hợp các lợi ích kinh tế trong nông nghiệp tập thể ở nước ta hiện nay, [60] đã cho

rằng: “lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, có tính vật chất, có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động và phát triển của chủ thể Song chưa đủ: lợi ích kinh tế còn đảm bảo duy trì các mối quan hệ giữa các chủ thể” [60, tr.12] và “lợi ích cá nhân là điểm xuất phát và là động lực mạnh mẽ nhất cho mọi hoạt động” [60, tr.18]

Đi vào phân tích lợi ích kinh tế trong điều kiện hiện nay, năm 2013, tác giả Đỗ

Huy Hà trong công trình Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa

ở nước ta hiện nay [48] khẳng định: “lợi ích kinh tế là những quan hệ kinh tế phản

ánh những nhu cầu, động cơ khách quan về sự hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định” [48, tr.10] Công trình cũng đã khẳng định thực chất, nội dung, phân tích thực trạng của việc giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay và

đề xuất quan điểm, giải pháp giải quyết tốt quan hệ này Đây là công trình có nhiều gợi mở ý tưởng cho tác giả trong việc giải quyết các nội dung cụ thể của giải quyết quan hệ lợi ích trong đời sống xã hội

Có thể nói, đây là những công trình hết sức quan trọng, có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu của tác giả; các khái niệm về vấn đề về LICN, LIXH, lợi ích kinh tế

đã được đề cập ở những bối cảnh lịch s khác nhau Về cơ bản, tác giả kế thừa và thống nhất với các quan điểm trên đây về định nghĩa LICN, LIXH, lợi ích kinh tế

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về quan hệ và giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích cá nhân

và lợi ích xã hội

Đề cập tới quan hệ và vai trò của quan hệ giữa LICN và LIXH, năm 2001,

trong công trình Quan hệ cá nhân - xã hội trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay [74], tác giả Phạm Huy Kỳ cho rằng: “do mỗi con người cụ thể có những nhu cầu riêng, lợi

ích riêng, không ai giống ai, có thể phù hợp hay không phù hợp, thậm chí đối lập với LIXH, nên việc giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội có vai

trò và ý nghĩa to lớn Nó đóng vai trò là cơ sở, động lực cho sự phát triển quan hệ

Trang 15

cá nhân - xã hội, và cũng có thể làm triệt tiêu sự phát triển đó, nếu giải quyết không đúng qui luật của quan hệ lợi ích” [74, tr.21] và “Mối quan hệ biện chứng giữa cá

nhân và xã hội chỉ có thể được thực hiện đúng đắn khi quan hệ lợi ích giữa cá nhân và

xã hội được giải quyết một cách hài hòa” [74, tr.22]

Trên cơ sở kế thừa quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu trước đó, năm 2002,

tác giả Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn sách Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích

[76], đã phân tích quan hệ giữa các lợi ích trong sự phát triển xã hội, tác giả cũng đã chỉ ra: “Quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung thực chất là các quan hệ cơ bản của một cá nhân hay một nhóm xã hội với cả cộng đồng” [76, tr.98] và “Mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, hay còn gọi là lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có

ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển xã hội” [76, tr.102] Do vậy, tác giả đã dành

sự quan tâm đến việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH nói riêng và các quan

hệ lợi ích nói chung

Nói về LICN và LIXH trong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở

Việt Nam, trong đề tài Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [106] (năm 2013) các tác giả khẳng định: “thực chất

của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi ích nhằm tạo khả năng cao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh tế, xã hội, cho sự phát triển được thực hiện” [106, tr.33] Các tác giả cũng đã phân tích quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của cá nhân và sự phát triển của xã hội: “thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu

và lợi ích chính đáng của cá nhân là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián tiếp, nếu lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất thì chính ở đó bắt gặp mục đích và động lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai tốt đẹp” [106, tr.33] Cách tiếp cận

về quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích trong công trình này đã gợi mở cho chúng tôi nhiều ý tưởng để có sự nhìn nhận rộng hơn về quan hệ lợi ích trong xã hội

Đề cập đến lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân, tác giả Tang Shan Qing

trong Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân [153] đã

phân tích quan hệ biện chứng giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân trong điều kiện ở Trung Quốc Tác giả cho rằng: lợi ích công và lợi ích cá nhân có mối quan hệ

Trang 16

biện chứng vừa đối lập, lại vừa thống nhất Một mặt, lợi ích công và lợi ích cá nhân có tính thống nhất, tương hỗ, chuyển hóa lẫn nhau; mặt khác lợi ích công và lợi ích cá nhân lại thể hiện tính đối lập, giữa chúng không tránh khỏi việc tồn tại những mâu thuẫn nhất định Để giải quyết những mâu thuẫn giữa lợi ích công và lợi ích cá nhân, cần nhìn nhận lợi ích công dưới góc độ khoa học; thiết lập cơ chế công khai dân chủ trong nhân dân; thực hiện công bằng, hợp lý; có chính sách bồi thường lợi ích thỏa đáng; từ đó góp phần làm cho lợi ích công và lợi ích cá nhân có sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả

Như vậy, các công trình nêu trên dù không phải là công trình chuyên biệt, chưa nêu một cách trực tiếp về quan hệ giữa LICN và LIXH, nội dung và thực chất của nó, song cũng đã phân tích quan hệ này ở những góc độ khá đa dạng, đó là cơ sở của quan

hệ giữa cá nhân và xã hội Đây chính là cơ sở ban đầu để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về quan hệ giữa LICN và LIXH

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về giải quyết quan hệ giữa lợi ích

cá nhân và lợi ích xã hội

Dù chưa có công trình chuyên biệt nào về giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, song, qua khảo cứu, chúng tôi nhận thấy cũng đã có nhiều công trình đề cập ở góc độ nhất định hoặc gián tiếp đến nội dung này, có thể kể đến các công trình như:

Năm 1989, tác giả Phạm Ngọc Quang trong bài viết: “Đổi mới nhận thức về mâu thuẫn Vấn đề mâu thuẫn trong giai đoạn cách mạng mới ở nước ta” [108] cho

rằng: mâu thuẫn xã hội thực chất là mâu thuẫn giữa các lợi ích (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích tư tưởng ); cách giải quyết các mâu thuẫn xã hội thực chất là giải quyết, thay đổi mối quan hệ lợi ích giữa các thực thể mang lợi ích đối lập đó; con đường giải quyết mâu thuẫn giữa các lợi ích (nếu đó là những lợi ích chính đáng, phù hợp với pháp luật của nhà nước) không phải bằng cách thủ tiêu, hạn chế bất kỳ lợi ích nào trong các lợi ích đối lập ấy, mà bằng con đường tạo ra một cơ chế

cho phép kết hợp hài hòa các lợi ích đối lập Năm 2008, trong bài viết Những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình nhận thức và vận dụng triết học Mác - Lênin về con đường và động lực lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay [109] tác giả Phạm

Ngọc Quang cũng đã chỉ ra rằng: “Động lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã

Trang 17

hội là một hệ thống: kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và toàn dân;” [109, tr.8] Việc chỉ ra cách thức giải quyết mâu thuẫn là kết hợp các lợi ích cũng gợi mở cho chúng tôi nhiều ý tưởng nghiên cứu

Năm 2006, trong bài viết Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò, động lực của nhu cầu, lợi ích trong sự phát triển xã hội [33] tác giả Đặng Quang

Định cho rằng: dưới góc độ phát triển xã hội, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận vị trí, vai trò của lợi ích trong hoạt động của mỗi cá nhân cụ thể mà chúng ta phải nói đến quan hệ biện chứng giữa các lợi ích đó nhằm tìm ra những động lực chung cho sự phát triển xã hội Có như vậy, chúng ta mới tạo ra được những hoạt động của “khối quần chúng đông đảo”, của “một dân tộc trọn vẹn” thúc đẩy xã hội phát triển Những đề xuất trong công trình này đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ tìm kiếm những cách thức giải quyết quan hệ lợi ích một cách lâu dài, trên

Trang 18

Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bài nghiên cứu trên tạp chí, tác giả chưa đề cập

cụ thể tới các nhân tố chủ quan trong việc giải quyết xung đột lợi ích

Đề cập cụ thể tới cách thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích, theo tác giả Nguyễn

Linh Khiếu trong cuốn sách Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích [76] đó là: “các

quan hệ lợi ích đặc biệt được thể hiện rõ nhất trong khâu phân chia, phân phối các sản phẩm lao động” [76, tr.133], tuy nhiên “Cái gốc của phân phối sản phẩm lao động lại ở vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất” [76, tr.135], do vậy, tác giả khẳng định,

cơ sở giải quyết vấn đề lợi ích của người lao động hiện nay đó chính là vấn đề sở hữu: “vấn đề lợi ích gắn chặt với vấn đề sở hữu, do đó cơ sở để giải quyết vấn đề lợi ích của người lao động phải đa dạng hóa vấn đề sở hữu” [76, tr.136] Cùng với đó, tác giả cho rằng “chỉ có thể tạo ra sự kết hợp thống nhất giữa lợi ích riêng và lợi ích chung mới có thể tạo nên sự phát triển chung của xã hội Cụ thể là, cần tạo ra một

cơ chế kích thích sao cho mỗi cá nhân khi hoạt động thực hiện các lợi ích riêng của mình, nhất là các lợi ích riêng được phản ánh trong lợi ích chung của cộng đồng, đồng thời tạo nên xu hướng vận động chung của cộng đồng” [76, tr.96] Tác giả cũng xác định: “trong giai đoạn hiện nay, lợi ích kinh tế là lợi ích quan trọng nhất đối với đa số nhân dân ta” [76, tr.96] Mặc dù đây mới là những phân tích ban đầu, song chúng tôi s dụng những phân tích này để xây dựng tổng thể cách thức giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH được nêu trong luận án

Năm 2011, khi bàn về chủ thể giải quyết mâu thuẫn lợi ích, tác giả Hồ Bá

Thâm trong công trình Bàn về mâu thuẫn xung đột lợi ích hiện nay [127], đã nêu:

“những chủ thể rất quan trọng trước hết là bản thân các nhóm, giai tầng xã hội Nhưng Nhà nước, chính quyền địa phương và nhất là các cấp từ cơ sở đến trung ương đều có vai trò cực kỳ quan trọng cả tầm vĩ mô và vi mô trong việc tạo nên môi trường thể chế và tạo nên hệ thống nhân lực chính làm nòng cốt, đủ sức huy động mọi tầng lớp xã hội tham gia giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh và xung đột” [127, tr.328] Cùng với đó, theo tác giả, việc giải quyết hài hòa các mâu thuẫn, xung đột - trọng tâm chính là nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền Những

Trang 19

phân tích, luận giải về mâu thuẫn, xung đột lợi ích được nêu trong công trình, giúp chúng tôi nghiên cứu một cách tổng quát hơn về mâu thuẫn lợi ích trong xã hội

Có thể nói, mặc dù đã ít nhiều bàn tới tầm quan trọng và phương thức, chủ thể giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, song vấn đề nội dung của quan hệ này vẫn chưa được bàn nhiều, vẫn là khoảng trống cần nghiên cứu Tuy nhiên, qua các công trình này, chúng tôi đã kế thừa một số nội dung, cùng với các nhận định ở các nghiên cứu khác sau này để đi đến sự khẳng định về thực chất của việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH đó là việc điều chỉnh hệ thống các lợi ích ở các lĩnh vực khác nhau, để đạt được sự hài hòa về lợi ích đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của cá nhân và xã hội

1.1.4 Những công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Đi vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH có rất nhiều công trình nghiên cứu ở phạm vi rộng, với nhiều khía cạnh khác nhau, có thể kể đến một số công trình như:

Về nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, công trình Những đặc trưng của kinh tế thị trường và nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [98] tác giả Vũ Văn Phúc đã nêu lên những đặc trưng mang tính quy luật,

bản chất của KTTT, nêu lên sự khác biệt giữa nền KTTT TBCN và nền KTTT định hướng XHCN là ở chỗ ai làm chủ sức mạnh kinh tế và sức mạnh chính trị trong một nước Cùng với đó, bài viết cũng đã phân tích quá trình nhận thức của Đảng ta về KTTT định hướng XHCN qua các kỳ Đại hội của Đảng Đây là công trình chúng tôi

đã tham khảo trong quá trình nghiên cứu những nội dung về KTTT trong luận án

Cùng với đó, trong các công trình như: Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay [9] của tác giả Lê Văn

B u, Mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [59] của tác giả Trần Thị Bích Huệ, Quan hệ giữa

cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [106] của

tác giả Trần Văn Phòng đã nêu những đặc trưng của nền KTTT định hướng

Trang 20

XHCN ở Việt Nam gồm nhiều đặc trưng, trong đó khẳng định những đặc trưng cơ bản đó là: mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp, vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước; là mô hình KTTT với đa dạng các hình thức sở hữu và đa dạng các thành phần kinh tế, đất đai thuộc sở hữu toàn dân; việc phân phối trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta được thực hiện trên nguyên tắc chủ yếu theo kết quả, hiệu quả lao động, theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác, đồng thời chú trọng phân phối lại thông qua an sinh xã hội (ASXH) và phúc lợi xã hội (PLXH) Các công trình này đã giúp chúng tôi định hình rõ nét các đặc trưng về KTTT định hướng XHCN ở nước ta có ảnh hưởng tới việc giải quyết quan

hệ giữa LICN và LIXH

Trên cơ sở những đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN, nhiều công trình đã đi vào nghiên cứu các tác động của nó đối với việc giải quyết các mâu thuẫn lợi ích, trong đó có mâu thuẫn giữa LICN và LIXH, biểu hiện bên ngoài đó là mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội ở nước ta Về nội dung này đã có một số công trình đề cập đến như:

Công trình Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường

ở Việt Nam hiện nay [106] các tác giả đã đề cập trực diện những tác động của

KTTT đến quan hệ giữa cá nhân và xã hội Trong đó, ở khía cạnh tích cực, KTTT định hướng XHCN tạo điều kiện để cá nhân thực hiện quyền làm chủ của mình trên lĩnh vực kinh tế; tạo lập tiền đề cho sự phát triển toàn diện của cá nhân, khẳng định

cá nhân; phát huy tối đa năng lực, tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá

nhân Tuy nhiên, khi nền KTTT chưa hoàn thiện cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với quan hệ giữa cá nhân và xã hội, đó là: xu hướng đề cao lợi ích

vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần, tạo ra sự tha hoá về đạo đức, lối sống, vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm; chủ nghĩa cá nhân có cơ hội phát triển mạnh; tạo ra sự bất bình đẳng xã hội; gia tăng phân hóa giàu nghèo, Đây là công trình chúng tôi tìm thấy nhiều giá trị tham khảo cho việc phân tích những tác động của KTTT tới việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH

Trang 21

Đề cập tới yếu tố cá nhân - nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, trong bài viết Cá nhân và sự phát triển của cá nhân trước những yêu cầu và trong điều kiện hiện nay ở nước ta, [53] tác giả Đoàn

Đức Hiếu đã nêu quan điểm khá căn bản về cá nhân và những yêu cầu, thách thức trong điều kiện của nước ta (vào những năm 90 của thế kỷ XX) đòi hỏi sự phát triển

của cá nhân Cũng tác giả Đoàn Đức Hiếu, trong bài viết Về cơ chế đánh giá cá nhân trong sự phát triển con người [54] đã đề cập đến quan hệ cá nhân trong lịch s

và hiện tại, nhưng nghiêng về cách đánh giá cá nhân trong sự phát triển con người Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các quan điểm trong việc nhìn nhận, đánh giá cá nhân trong bối cảnh KTTT hiện nay đó là: cần đảm bảo tính khách quan, đầy đủ, chính xác, rõ ràng và tạo mọi điều kiện cho cá nhân phát triển Các bài báo tuy ngắn gọn nhưng có những gợi mở lý thú trong quan niệm về cá nhân và yêu cầu phát triển cá nhân gắn với những yếu tố LICN

Đi vào phân tích vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là cá nhân, doanh nghiệp trong việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, có khá nhiều bài

viết như: Nâng cao trách nhiệm xã hội của cá nhân trong điều kiện kinh tế thị trường [56] của tác giả Nguyễn Đình Hòa; Mối quan hệ giữa trách nhiệm cá nhân

và trách nhiệm nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [130] của tác giả Lê Thi; Trách nhiệm xã hội của cá nhân và yêu cầu nâng cao trách nhiệm này ở Việt Nam [131] của tác giả Trần Thị Tuyết Các bài viết này đã

có những đề cập tới vai trò, trách nhiệm của chủ thể cá nhân, nhà nước trong thực hiện lợi ích liên quan đến cá nhân và xã hội Các công trình này đã cung cấp những

phân tích thực tế cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu luận án

1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu về lợi ích chúng tôi nhận thấy, chưa

có công trình nghiên cứu chuyên biệt về thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH Song, có thể nói, đã có khá nhiều công trình đề cập tới thực trạng việc giải

Trang 22

quyết các mâu thuẫn lợi ích cụ thể của xã hội trong những điều kiện nhất định Các công trình có thể kể đến như:

Năm 1999, trong cuốn sách Lợi ích - động lực của sự phát triển xã hội [75]

của tác giả Nguyễn Linh Khiếu cho rằng: Trong việc nhận thức các vấn đề xã hội, điều quan trọng là, phải tìm ra được những lợi ích nào đang là bức thiết và căn bản nhất trong hệ thống các lợi ích đang chi phối sự hoạt động của từng cá nhân, của các nhóm xã hội cũng như của cả xã hội trong giai đoạn lịch s ấy Theo đó, một số vấn

đề lợi ích đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay đó là: vấn đề quan hệ của các hệ thống lợi ích cụ thể trong cơ chế thị trường hiện nay (lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể, lợi ích người lao động); vấn đề quan hệ giữa một số lợi ích chủ yếu trong giai đoạn hiện nay (lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài); vấn đề lợi ích trong quan hệ kinh tế đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; lợi ích kinh tế và vấn đề phát triển cộng đồng trong giai đoạn hiện nay Những đánh giá về thực trạng quan hệ lợi ích trong công trình này đã khá lâu, song những nhận định của tác giả về các vấn đề đặt ra vẫn còn giá trị thực tiễn và chúng tôi tham khảo từ công trình này những quan điểm đó để có những đánh giá về thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH

Năm 2002, đánh giá về quan hệ giữa LICN và LIXH nhưng qua góc độ đạo

đức xã hội, tác giả Phạm Văn Đức trong công trình Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện nay [42] đã chỉ

ra quan hệ giữa lợi ích và đạo đức, nhất là LICN và đạo đức trong điều kiện KTTT nói chung và ở Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ ra những thay đổi đạo đức do LICN thay đổi, đặc biệt đề cập đến những tác động tiêu cực của KTTT, thông qua LICN

đã có những tác động tiêu cực tới đạo đức truyền thống

Năm 2012, trong công trình Vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội

[40] của tác giả Đặng Quang Định đã có những phân tích về thực trạng vấn đề lợi ích trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội ở nước ta hiện nay Trong đó, theo tác giả, trong những năm đổi mới, chúng ta đã tìm ra được phương thức điều chỉnh hợp lý hơn quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nhất là tạo điều kiện để cá nhân phát triển Tuy nhiên, dưới tác động của mặt trái của KTTT, trong những năm gần đây, quan hệ

Trang 23

giữa cá nhân và xã hội ở nước ta đang bộc lộ những bất cập mới, đó là xu hướng quá đề cao LICN làm cho lợi ích chung, LIXH bị tổn hại Mặc dù trong công trình này, dung lượng đề cập tới vấn đề lợi ích trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội không nhiều, song là những gợi mở quan trọng để chúng tôi kế thừa trong đánh giá

về thực trạng vấn đề này trong nội dung của luận án

Năm 2012, trong công trình Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội: từ góc nhìn lịch sử đạo đức học [97], tác giả Nguyễn Văn Phúc đã lược khảo lịch s tư tưởng

đạo đức hai khuynh hướng đối lập nhau khi tiếp cận và giải quyết vấn đề quan hệ giữa LICN và LIXH: một khuynh hướng tuyệt đối hóa LICN, một khuynh hướng tuyệt đối hóa LIXH Tuy nhiên, theo tác giả bài viết, xu thế vận động của tư tưởng đạo đức của nhân loại là tiến tới sự thống nhất giữa LICN và LIXH trên cơ sở vận động của bản thân lịch s nhân loại tiến tới chủ nghĩa cộng sản - xã hội không có đối kháng về kinh tế - xã hội Tác giả cũng đã nêu quan hệ biện chứng giữa LICN

và LIXH: “giải phóng xã hội khỏi những đối kháng là điều kiện cho sự giải phóng

cá nhân Đồng thời, sự giải phóng cá nhân, sự phát triển tự do của mỗi người lại là điều kiện để phát triển tự do của mọi người, của xã hội” [97, tr.20] Dù chủ yếu dừng lại ở góc độ đạo đức, đây là một trong số ít các công trình đề cập trực tiếp đến quan hệ giữa LICN và LIXH

Năm 2013, trong công trình Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [106], các tác giả đã có những đánh giá toàn

diện về thực trạng quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện hiện nay ở nước

ta, bao gồm cả thành tựu, hạn chế, cũng như một số vấn đề đặt ra cho việc giải quyết tốt quan hệ này trong giai đoạn tiếp theo nhằm thúc đẩy sự phát triển cá nhân

và xã hội Công trình cũng đã chỉ ra cốt lõi của quan hệ giữa cá nhân và xã hội là quan hệ lợi ích Do vậy, những đánh giá về thực trạng giải quyết quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong công trình này rất có giá trị đối với chúng tôi trong việc chắt lọc để đánh giá về thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH

Đi vào phân tích việc giải quyết những lợi ích cụ thể, năm 2008, tác giả Trần

Đắc Hiến trong công trình Vấn đề mâu thuẫn xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay [65], đã đề cập đến thực trạng và nguyên nhân của những mâu thuẫn xã hội ở nông

Trang 24

thôn Việt Nam hiện nay với rất nhiều vấn đề rất nhức nhối như: mâu thuẫn giữa nông dân với chủ doanh nghiệp, mâu thuẫn giữa nông dân với một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở, mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng dân cư ở nông thôn Các mâu thuẫn đã được tác giả phân tích khá chi tiết với nhiều minh chứng cụ thể đã lột tả được những mâu thuẫn xã hội mà cốt lõi của nó là lợi ích đang xảy ra khá phức tạp

ở nông thôn nước ta Tác giả cũng đã chỉ ra các nguyên nhân của các mâu thuẫn xã hội đó là: Một số chủ trương, chính sách của Nhà nước và việc tổ chức thực hiện còn những hạn chế, bất cập; sự hạn chế, bất cập của hệ thống chính trị cơ sở; tác động của một số yếu tố văn hóa truyền thống trong cộng đồng dân cư nông thôn Đây là công trình có nhiều tư liệu phong phú về mâu thuẫn, xung đột xã hội ở nông thôn Việt Nam, chúng tôi tham khảo được ở đây những chất liệu để phục vụ cho việc đánh giá về cách thức mâu thuẫn, chủ thể giải quyết mâu thuẫn lợi ích được nêu trong luận án

Năm 2013, trong công trình Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay [48], tác giả Đỗ Huy Hà đã phân tích một số

vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế, trong đó nêu về thực chất của việc giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa hiện nay đó là việc phát hiện, x lý đúng đắn, hợp lý và dự báo những khác biệt, mâu thuẫn, xung đột về lợi ích phát sinh giữa các chủ thể có liên quan bảo đảm thực hiện các mục tiêu của quá trình đô thị hóa Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu các nội dung giải quyết quan hệ lợi ích trong quá trình đô thị hóa giữa ba nhóm chủ thể chủ yếu là người dân trong diện thu hồi đất, Nhà nước và doanh nghiệp Tác giả

đã đánh giá thực trạng của việc giải quyết quan hệ lợi ích này qua thực tế tại Hà Nội, đề xuất quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Công trình dù không đi trực tiếp vào vấn đề nghiên cứu của luận án, song những phân tích, đánh giá của công trình rất có giá trị cho chúng tôi trong việc xác định nội dung, cách thức, chủ thể giải quyết những biểu hiện cụ thể trong quan hệ giữa LICN và LIXH ở Việt Nam

Trang 25

Đề cập tập trung vào vấn đề lợi ích người nông dân, năm 2013, tác giả Trần

Thanh Giang, trong Vấn đề lợi ích kinh tế của người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay [47] đã làm rõ một số vấn đề chung về lợi ích

kinh tế của người nông dân, các nhân tố ảnh hưởng trong quá trình công nghiệp hóa

- hiện đại hóa, đô thị hóa Trên cơ sở đó, công trình đã phân tích khá chi tiết, có luận chứng về các tác động tích cực và tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đô thị hóa đến lợi ích kinh tế của người nông dân trong giai đoạn hiện nay và những vấn đề đặt ra Công trình mang lại nhiều giá trị tham khảo cho chúng tôi trong việc phân tích thực trạng vấn đề giải quyết quan hệ lợi ích thông qua lợi ích của người nông dân Mặt khác, các lập luận, dẫn dắt, triển khai và giải quyết các vấn đề từ tổng quan, thực chất, quan điểm giải quyết vấn đề lợi ích kinh tế của người nông dân đã có nhiều gợi mở cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án

Cũng đề cập các mâu thuẫn lợi ích cụ thể, năm 2015, trong công trình Mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [59], tác giả Trần Thị Bích Huệ đã phân tích mâu thuẫn về lợi

ích giữa các nhóm xã hội về mặt lý luận và thực trạng ở Việt Nam, tập trung chủ yếu ở lợi ích kinh tế, đó là: mâu thuẫn lợi ích giữa nhóm nhà đầu tư, chính quyền (nhà quản lý) thực thi đền bù, giải tỏa nhà đất để xây dựng và nhóm dân cư; mâu thuẫn về lợi ích giữa nhóm người đầu tư, s dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp; mâu thuẫn lợi ích giữa nhóm những người cung cấp giáo dục và nhóm người tiếp nhận, thụ hưởng giáo dục có liên quan chặt chẽ trong quan hệ giữa cung và cầu; mâu thuẫn về lợi ích giữa người giàu và người nghèo; mâu thuẫn về lợi ích giữa nhóm nhà đầu tư, chính quyền thực thi đền bù, giải tỏa nhà đất để xây dựng và nhóm dân cư Từ đó, tác giả cũng đã phân tích nguyên nhân của thực trạng

và đề xuất các giải pháp cơ bản và xác định các chủ thể liên quan để giải quyết mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay Những phân tích về mâu thuẫn lợi ích cụ thể trong công trình này

có giá trị tham khảo tốt cho chúng tôi trong việc xác định, phân tích các nội dung chi tiết của mâu thuẫn giữa LICN và LIXH trong điều kiện hiện nay ở nước ta

Trang 26

Ở góc độ gián tiếp khác khi đề cập về thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, nhiều công trình đã đi vào phân tích những biểu hiện mới về lợi ích nhóm, chủ nghĩa cá nhân trong nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay có những biểu hiện phức tạp và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội Có thể kể đến như:

Công trình Lợi ích nhóm - Thực trạng và giải pháp [86] của tác giả Lê Quốc

Lý đã khai thác thực trạng lợi ích nhóm ở góc độ khác, có lợi ích nhóm tác động tích cực, có nhóm tác động tiêu cực Ở Việt Nam, lợi ích nhóm tác động tiêu cực biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhóm tác giả đã nhận diện lợi ích nhóm ở nước ta, theo đó “nhóm lợi ích” thường liên quan tới những người có quyền ra quyết định hoặc ảnh hưởng tới các quyết định trong các lĩnh vực “màu mỡ” nhất chẳng hạn: lĩnh vực đất đai, lĩnh vực ngân hàng, lĩnh vực xăng dầu, trong lĩnh vực kinh doanh, quản lý tài sản Nhà nước Nhóm tác giả cũng đưa ra việc nhận diện những quan hệ không bình thường giữa những người có chức, có quyền với doanh nghiệp trong nền KTTT ở Việt Nam: quan hệ nhóm thân hữu, quan hệ nhóm chung lợi ích, quan hệ lợi ích cục bộ, quan hệ vụ lợi cá nhân

Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Lợi ích nhóm và nhóm lợi ích: một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế” thuộc Đề tài KX.02.05/11-15 [142] đã có những phân

tích khá đa dạng về thực trạng lợi ích nhóm và nhóm lợi ích ở Việt Nam, trong đó

đã đề cập đến nhiều nội dung cụ thể như: bản chất, đặc điểm, phân loại, tác động của nó đối với sự phát triển xã hội cả ở những tác động tích cực và tác động tiêu cực Các bài viết của Hội thảo cũng đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của nhóm lợi ích

Cùng chủ đề về nhóm lợi ích, trong bài viết: ợi ích nhóm” và hủ nghĩa

tư bản thân hữu” - cảnh báo nguy cơ [58] của tác giả Vũ Ngọc Hoàng, đã phân tích

khá sâu sắc về lợi ích nhóm, quan hệ giữa lợi ích nhóm và “chủ nghĩa tư bản thân hữu” và tác động tiêu cực của nó đến mục tiêu chủ nghĩa xã hội của nước ta Bài viết cũng đã gợi mở cho chúng tôi những khía cạnh về thực trạng phức tạp trong quan hệ lợi ích của xã hội hiện nay ở nước ta

Trong cuốn sách Tư bản thân hữu Trung Quốc của tác giả Minxin Pei (do

dịch giả Nguyễn Đình Huỳnh dịch) [94] đã trình bày về cách thức mà các nhóm lợi

Trang 27

ích, trước hết là các nhóm thân hữu đã chi phối quyền lực, thao túng quyền lực để cuối cùng lấy cắp tài sản quốc gia rồi chia chác cho nhau và bị trừng phạt như đã, đang và sẽ còn diễn ra ở Trung Quốc Cuốn sách đề cập đến nhiều biểu hiện của tư bản thân hữu: tham nhũng phát triển mạnh mẽ; mua quan bán chức; cấu kết giữa quan chức và doanh nhân; ăn cắp của nhà nước; cấu kết giữa lực lượng thực thi pháp luật với tội phạm có tổ chức Cùng với đó, tất cả các tư liệu liên quan đến những vụ

án lớn, đa phần là án tham nhũng - gồm tham nhũng tiền bạc và quyền lực - gắn với các nhóm tư bản thân hữu và phản ánh hiện tượng nêu trên, đều được tác giả khai thác từ nguồn chính thống, công khai của Chính phủ Trung Quốc Vì thế, nó có giá trị tham khảo rất tốt cho việc tìm hiểu những vấn đề thực tế liên quan của luận án trong điều kiện ở Việt Nam, vốn có nhiều tương đồng trong mô hình và triết lý phát triển với Trung Quốc

Trong bài viết Chủ nghĩa cá nhân - nguy cơ của một đảng cầm quyền và hướng khắc phục [67], tác giả Nguyễn Văn Huyên đã luận giải về nguồn gốc, biểu

hiện của chủ nghĩa cá nhân; phân tích nguy cơ của chủ nghĩa cá nhân với đảng cầm quyền nói chung và ở Việt Nam - trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền Tác giả đã đưa ra những giải pháp ngăn chặn nguy cơ của chủ nghĩa cá nhân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đó là: Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thực sự là Đảng Cộng sản chân chính Cũng với chủ đề này còn có

bài viết Nhận diện để ngăn chặn, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Đảng trong sạch [128] của tác giả Mạch Quang Thắng đã phân tích những biểu hiện của

chủ nghĩa cá nhân hiện nay, đặc biệt là trong Đảng, sự phức tạp của chủ nghĩa cá nhân đang tạo ra nguy cơ đối với đảng cầm quyền

Đi vào đánh giá thực trạng của phương thức giải quyết quan hệ giữa LICN

và LIXH ở những khía cạnh cụ thể trên một số phương diện như sở hữu, phân phối

đã có nhiều công trình đề cập tới, tiêu biểu như:

Năm 2008, trong bài viết Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay: mâu thuẫn và phương pháp giải quyết [63] của Nguyễn Tấn Hùng và Lê Hữu Ái,

các tác giả cho rằng, trong quá trình thực hiện công bằng xã hội ở điều kiện KTTT

có một số mâu thuẫn nảy sinh cần phải giải quyết đó là: mâu thuẫn giữa cá nhân và

Trang 28

xã hội; mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Nhà nước; mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động Trong đó, các tác giả khẳng định: “Mâu thuẫn bao trùm nhất trong lĩnh vực công bằng xã hội ở nước ta hiện nay là mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội Quan hệ có mâu thuẫn giữa lợi ích

cá nhân và lợi ích xã hội, nếu không được giải quyết một cách đúng đắn, sẽ biểu hiện thành những hiện tượng tiêu cực dẫn đến bất công xã hội” [63, tr.26] Và các

tác giả cho rằng, việc giải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa cá nhân và xã hội cần thông qua thực hiện công bằng xã hội trong phân phối Đây là cách tiếp cận mà chúng tôi

đã có sự tham khảo trong luận án

Năm 2017, công trình Biến đổi của quan hệ sản xuất ở Việt Nam từ năm

1986 đến nay: Thực trạng và những vấn đề đặt ra [146] của tác giả Lê Thị Vinh đã

phân tích về thực trạng biến đổi của quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý, quan

hệ phân phối khá hệ thống và đưa ra các nhận định, cập nhật các vấn đề mới đang đặt ra khá lôgic Trong phần phân tích về quan hệ sở hữu, tác giả đã phân tích những biến đổi về từng khía cạnh cụ thể: Đối tượng sở hữu, chủ thể sở hữu, hình thức sở hữu; còn ở quan hệ phân phối đó là: chủ thể phân phối, khách thể phân phối, hình thức phân phối Chúng tôi đã kế thừa ở công trình này những đánh giá về biến đổi quan hệ sản xuất để đánh giá về thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH thông qua yếu tố sở hữu, phân phối

Có thể nói, các công trình nêu trên đã có những đề cập đến thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trên nhiều phương diện từ chủ thể, cách thức, các kết quả (tích cực và tiêu cực) Tuy các nội dung liên quan đến luận án được đề cập ở nhiều công trình khác nhau, cả trực tiếp và gián tiếp, có những nội dung chúng tôi chỉ tìm thấy những đề cập hạn chế, song từ những nội dung đa dạng như vậy đã giúp chúng tôi có những nhìn nhận đánh giá đa chiều, chân thực về giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện hiện nay Qua đó, chúng tôi nhận thấy đây là những tư liệu tốt để s dụng trong nghiên cứu đề tài

1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI

Trang 29

Trong các công trình nghiên cứu trên, cùng với việc phân tích cơ sở lý luận, thực trạng cũng đã phần nào đề cập đến những giải pháp cụ thể giải quyết quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay Đây đều là những công trình có giá trị tham khảo tốt cho chúng tôi trong việc gợi mở các giải pháp được đề xuất trong luận án

Ở góc độ khái quát, đề cập tới tổng thể các quan điểm, giải pháp giải quyết

quan hệ cá nhân và xã hội, trong công trình Quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay [106], các tác giả đã đề xuất một số

quan điểm và giải pháp cơ bản để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ quan hệ giữa

cá nhân và xã hội trong điều kiện KTTT và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng ở nước ta hiện nay, trong đó khẳng định: Cần xây dựng chế độ sở hữu phù hợp để giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN và LIXH; phát triển cá nhân và xã hội không thể tách rời việc xây dựng môi trường dân chủ, công bằng, văn minh Các tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể như: 1- Xây dựng nguyên tắc phù hợp để giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN và LIXH; 2- Chống chủ nghĩa cá nhân để phát triển cá nhân và xã hội; 3- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi để điều chỉnh hài hòa quan hệ lợi ích giữa cá nhân, tập thể và xã hội; 4- Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao nhận thức về trách nhiệm của cá nhân và xã hội; 5- Nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên góp phần định hướng, giải quyết quan hệ giữa cá nhân

và xã hội Những quan điểm và giải pháp nêu ra trong công trình này cho chúng tôi chất liệu để đề cập tới các giải pháp cụ thể trong giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH được nêu ra trong luận án

Quan điểm về sự kết hợp các lợi ích trong giải quyết quan hệ giữa LICN và

LIXH cũng được tác giả Võ Khánh Vinh đề cập tới trong công trình Lợi ích xã hội

và pháp luật [145] Tác giả cũng đã nêu quan điểm có tính xu hướng của việc giải

quyết các lợi ích: “Cùng với việc phát triển xã hội, sự hòa hợp các lợi ích sẽ phát triển, sự thống nhất của các lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân cũng sẽ phát triển Cùng với sự phát triển, xã hội sẽ nhận về mình trách nhiệm lớn hơn trong việc làm thỏa mãn các nhu cầu của cá nhân” [145, tr.74] Đây là công trình nghiên cứu

Trang 30

nghiêng về khía cạnh pháp luật, song những phân tích, lập luận của tác giả về LIXH rất có ý nghĩa đối với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

Đi vào những khía cạnh cụ thể của giải pháp giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay, như về khía cạnh nâng cao nhận

thức của các chủ thể, trong bài viết Quan điểm của Đảng về giải quyết vấn đề lợi ích tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới [35], tác giả Đặng

Quang Định đã phân tích các quan điểm của Đảng ta qua các kỳ Đại hội từ đổi mới đến nay khi khẳng định để giải quyết hài quan hệ giữa LICN và LIXH ở nước ta trong điều kiện hiện nay cần thống nhất trong nhận thức của các chủ thể một số vấn

đề đó là: “thực hiện hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội” [35, tr.268], quan tâm và “bảo vệ lợi ích của người lao động…” [35, tr.459]; “thực hiện kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội” [35, tr.635]

Tác giả Hồ Bá Thâm trong công trình Bàn về mâu thuẫn xung đột lợi ích hiện nay [127], đã nêu một số định hướng về yêu cầu, mục tiêu trong quá trình nhận thức

giải quyết xung đột lợi ích hiện nay, đó là: 1- Chủ động nhận thức, giải quyết mâu thuẫn xung đột mới tạo nên sự ổn định của sự phát triển; 2- Giải quyết mâu thuẫn không nên chỉ hiểu là xóa bỏ một mặt đối lập, mà có thể tạo nên sự cân bằng mới, hay đổi mới của cả hai mặt đối lập, chuyển hóa cả hai mặt ấy lên trình độ cao hơn (tức là theo hướng “hai bên cùng có lợi”, “cùng thắng”; 3- Giải quyết các mâu thuẫn lợi ích vì sự phát triển hài hòa, phát triển bền vững

Cùng với đó, trong bài viết Quản trị xung đột lợi ích - Các lý thuyết và vấn đề đặt ra ở Việt Nam hiện nay [85] tác giả Hoàng Văn Luân sau khi nêu quan điểm của

một số học giả nước ngoài như F.W.Taylor, Mary Packer Follet về vấn đề xung đột lợi ích đã phân tích những xung đột lợi ích ở Việt Nam và khẳng định vấn đề có tính nhận thức rằng giữa các lợi ích khác nhau trong xã hội luôn có xu hướng xung đột với nhau, đó là một tất yếu khách quan và phổ biến Từ đó, tác giả khẳng định: “mục tiêu của quản trị xung đột lợi ích ở Việt Nam hiện nay không chỉ là tạo ra sự cân bằng giữa các lợi ích và nhóm lợi ích mà còn tạo ra sự cân bằng năng động trong quản trị xung đột lợi ích mới có thể tạo ra động lực cho sự phát triển” [85, tr.79]

Trang 31

Đề cập tới các giải pháp giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH thông qua

sở hữu, phân phối, thực hiện tốt ASXH và PLXH nhiều công trình đã đề cập tới, tiêu biểu như:

Trong công trình Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội - động lực phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam [50], tác giả Phạm Thị

Hằng luận giải, phân tích, đề xuất một số quan điểm giải quyết hài hòa giữa LICN, lợi ích tập thể và LIXH: 1- Kết hợp hài hòa LICN, lợi ích tập thể, LIXH, 2- Trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động đều coi trọng giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích, kết hợp hài hòa các lợi ích; có nghĩa là vừa chú ý đúng mức đến LICN, vừa phải quan tâm đến lợi ích tập thể, quyền lợi của cơ quan, đơn vị; đồng thời tính đến và đảm bảo lợi ích chung của xã hội, dân tộc - quốc gia 3- Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách kinh tế - xã hội, nhất là về sở hữu của Nhà nước theo tinh thần kết hợp hài hòa

ba lợi ích của: cá nhân, tập thể và xã hội Chúng tôi đã kế thừa được nhiều ý tưởng từ bài viết này để kế thừa trong việc triển khai các quan điểm, giải pháp được nêu ra trong luận án

Trong công trình Vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội [40] của tác

giả Đặng Quang Định đã nêu một số những nguyên tắc trong giải quyết vấn đề lợi ích nói chung và vấn đề lợi ích cá nhân và xã hội nói riêng, đó là: cần tránh thái độ

“tả” khuynh và hữu khuynh, cần phải tiến hành thận trọng, từng bước trên cơ sở nắm rõ xu hướng vận động của các lợi ích và thái độ của các cá nhân, các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm gắn liền với lợi ích đó Tác giả cũng đã đề cập tới giải pháp trong giải quyết quan hệ lợi ích đó là: cần xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế đồng

bộ tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các vấn đề lợi ích cho phù hợp với sự phát triển của cá nhân và xã hội

Năm 2015, trong bài viết Thực hiện công bằng xã hội đối với các hình thức

sở hữu vì sự phát triển con người ở nước ta hiện nay [119] của Trần Văn Rón và

Lương Đình Hải đã chỉ ra những bất cập trong việc xác định cơ cấu, hình thức sở hữu, thành phần kinh tế ở Việt Nam từ khi đổi mới Đặc biệt, các tác giả tập trung phân tích vấn đề đảm bảo công bằng xã hội đối với các khu vực, thành phần kinh tế hiện nay Theo các tác giả, nhà nước không nên xác định và không nên s dụng tư

Trang 32

tưởng chủ đạo mà nên quán triệt và thực hiện các nguyên tắc đảm bảo công bằng, cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, lành mạnh của tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần, khu vực kinh tế, khuyến khích s dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển theo đúng quy định của pháp luật Đây là những đánh giá quan trọng và chúng tôi có thể s dụng để phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra trong đánh giá việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH thông qua yếu tố sở hữu Cùng với đó, nhằm giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH một cách hiệu quả, một số công trình đã đề cập tới một trong những giải pháp quan trọng là khuyến

khích, tạo tính năng động, sáng tạo của mỗi cá nhân Như trong cuốn sách Về động lực của sự phát triển kinh tế xã hội [123] tác giả Lê Hữu Tầng (chủ biên) đã phân

tích một số nội dung có tính chất định hướng trong vấn đề s dụng đúng đắn tính tích cực của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể đó là: tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan; chủ động định hướng hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức các nhu cầu; kích thích tính tích cực của người lao động một cách hợp lý trên cơ sở kết hợp đúng đắn các loại lợi ích Tác giả khẳng định: “quan tâm đầy đủ đến mọi lợi ích cá nhân, trước hết là lợi ích kinh tế, nhưng đồng thời cũng không quên các lợi ích khác, tìm ra cơ chế x lý chúng một cách thỏa đáng phải được coi là một trong những biện pháp cực kỳ quan trọng để kích thích tính tích cực của người lao động và hướng tính tích cực đó vào thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội” [123, tr.228] Công trình cũng đã gợi mở cho chúng tôi những tham khảo cho việc tìm ra xu hướng, cách thức giải quyết quan hệ lợi ích trong xã hội

Đi vào gợi mở một số giải pháp giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH ở một số khía cạnh, lĩnh vực cụ thể đã được một số công trình gần đây đề cập tới như:

Năm 2008, trong bài viết Tạo sự hài hòa về lợi ích giữa công nhân và doanh nhân ở Việt Nam hiện nay [21] tác giả Vũ Tiến Dũng đã đề cập đến một vấn đề

mang tính thời sự và đang là mối quan tâm của người lao động hiện nay, đó là quan

hệ lợi ích giữa công nhân và doanh nhân ở Việt Nam hiện nay, theo đó, vấn đề này đang được giải quyết theo hướng tích cực, tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế Trên

cơ sở đó, bài viết đã đề xuất, luận chứng một số giải pháp cần thiết nhằm góp phần cải thiện và tạo ra sự hài hòa trong quan hệ lợi ích giữa công nhân và doanh nhân

Trang 33

như: Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện môi trường sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều chính sách thuận lợi kích thích đầu tư; quản lý tốt việc chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp tư nhân; xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc để phân chia lợi nhuận hợp lý trong các đơn vị sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh công tác biểu dương đối với những doanh nhân có thành tích trong sản xuất kinh doanh, giải quyết tốt quan hệ lợi ích với người lao động và với xã hội; từng bước thực hiện công bằng xã hội nói chung, sự hài hòa trong quan hệ giữa công nhân với doanh nhân nói riêng

Năm 2012, tác giả Lê Văn B u, trong công trình Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay [9] đã xác

định một số vấn đề lợi ích cấp bách cần tập trung giải quyết và đưa ra các giải pháp

để giải quyết các lợi ích trước mắt ở Nam bộ hiện nay nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ở Nam bộ Đó là: 1- Đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững, chống tham nhũng và lãng phí, tập trung nguồn lực, nâng cao đời sống, thu nhập của nhân dân; 2- Nâng cao chất lượng

và hiệu quả s dụng nguồn nhân lực vùng Nam bộ; 3- Huy động các nguồn lực để bảo vệ và duy trì môi trường sống của con người

Năm 2013, tác giả Trần Thanh Giang, trong Vấn đề lợi ích kinh tế của người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay [47] đã nêu các

quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo lợi ích của người nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và quá trình đô thị hóa như hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu ra các giải pháp chủ yếu để giải quyết các lợi ích cụ thể của người nông dân trong quá trình CNH, HĐH đó là: 1- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách kịp thời, phù hợp và thực hiện hiệu quả công tác quy hoạch về xây dựng, phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân theo hướng hiện đại; 2- Tăng cường các giải pháp hỗ trợ nông dân; 3- Tăng cường các nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn; 4- Thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới gắn với bảo vệ lợi ích kinh tế cho người nông dân; 5- Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn; 6- Đẩy mạnh dân chủ hóa, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người nông dân trong xây dựng nông thôn mới

Mặc dù đây là những công trình nghiên cứu việc giải quyết lợi ích cụ thể của một số đối tượng nhất định, song những giải pháp này đã giúp cho chúng tôi có

Trang 34

những tư liệu thực tế để nghiên cứu, đề xuất các quan điểm, giải pháp được nêu ra trong luận án

Ở khía cạnh cụ thể khác, đã có nhiều công trình đề cập tới giải pháp để khắc phục những hạn chế, tiêu cực phát sinh trong quá trình giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH như: lợi ích nhóm, chủ nghĩa cá nhân tiêu biểu như:

Công trình “Lợi ích nhóm - Thực trạng và giải pháp” [86] của tác giả Lê

Quốc Lý (chủ biên), nhóm tác giả cho rằng, giải quyết vấn đề lợi ích nhóm không thể chỉ bằng biện pháp hành chính, mà phải từ chiến lược phát triển và từ quản lý -

tổ chức thực hiện Giải pháp có tính quyết định là xây dựng và thực hiện thể chế kiểm kê, kiểm soát của xã hội, thể chế công khai, minh bạch, nhất là về tài sản và thu nhập; phải s dụng tổng hợp các giải pháp, phải gắn kết chặt chẽ các biện pháp chống tham nhũng, và sự tác động của các “nhóm lợi ích”: Đảng lãnh đạo toàn diện

về mọi mặt, để các “nhóm lợi ích” không thể lũng đoạn cần có một hệ thống luật pháp, chính sách và cơ chế ra quyết định công bằng, minh bạch dựa trên cơ chế đối thoại, tương tác cần thiết giữa các nhóm lợi ích liên quan trong quá trình phát triển thông qua đối thoại và phản biện Công trình này còn đưa ra cách thức hạn chế và hóa giải nhóm lợi ích trong điều kiện hiện nay

Bài viết Chống chủ nghĩa cá nhân trong phát triển con người Việt Nam

[105] của tác giả Trần Văn Phòng và Huỳnh Thị Thu Năm đã đề cập tới những giải pháp nhằm chống chủ nghĩa cá nhân trong phát triển con người ở nước ta hiện nay: 1) Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tác hại của con người cá nhân, lối sống cá nhân; 2) Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật; 3) Toàn Đảng, toàn dân chăm lo xây dựng con người mới có nhân cách trong sáng; 4) Tạo lập môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội lành mạnh cho việc xây dựng con người mới sống có văn hóa, nghĩa tình, trách nhiệm; 5) Đẩy mạnh tự rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng và trong toàn xã hội Chúng tôi kế thừa ở công trình này

và các công trình nêu trên để góp phần đề xuất các giải pháp liên quan đến hạn chế tác động của lợi ích nhóm, chủ nghĩa cá nhân trong điều kiện KTTT

Đề cập đến việc phát triển cá nhân với vai trò là một chủ thể quan trọng trong

việc giải quyết quan hệ lợi ích có rất nhiều công trình đề cập, tiêu biểu như: Bài viết Phát triển toàn diện chất lượng con người để nâng cao trách nhiệm cá nhân trong

Trang 35

điều kiện kinh tế thị trường [110] của tác giả Lê Văn Quang Bài viết đã luận chứng

rằng, phát triển toàn diện chất lượng con người là một đòi hỏi cấp bách, một điều kiện cần thiết để nâng cao trách nhiệm cá nhân trong phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Theo đó, cần: 1) Bồi dưỡng và nâng cao trí tuệ con người; 2) Đẩy mạnh giáo dục và tự giáo dục các phẩm chất chân - thiện - mỹ; 3) Hoàn thiện định hướng chính trị, pháp luật và chính sách trong phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa; 4) Xây dựng các quan hệ hợp tác với các tổ chức của Liên

hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ Cùng chủ đề này còn có bài viết Xây dựng con người phát triển toàn diện trong quan điểm phát triển bền vững của Đảng Cộng sản Việt Nam [121], tác giả Nguyễn Văn Sơn đã phân tích về chiến lược phát triển

con người toàn diện ở nước ta hiện nay: đó là con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật Những phân tích nêu ra trong các bài viết này là những tham khảo có tính gợi mở cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu về giải pháp đối với các chủ thể lợi ích, trong đó có chủ thể cá nhân

Như vậy, có thể nói, các công trình nêu trên đã đề cập đến nhiều góc độ, nội dung về các quan điểm và giải pháp giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH Đây đều là những công trình có giá trị tham khảo tốt, góp phần định hướng cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện nào đề cập tới nội dung này, do vậy nhiều nội dung về quan điểm, giải pháp giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH cụ thể vẫn là những khoảng trống

mà chúng tôi phải tiếp tục nghiên cứu

1.4 GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG CÔNG TRÌNH TRÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT

1.4.1 Giá trị của những công trình nghiên cứu nêu trên

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã khái quát khá hệ thống những vấn

đề lý luận cơ bản về lợi ích, phân loại, vị trí, vai trò của lợi ích, về LICN, LIXH,

về cá nhân và xã hội, về KTTT định hướng XHCN và ảnh hưởng của nó tới các quan hệ xã hội hiện nay

Thứ hai, các công trình cũng đã bước đầu phân tích về quan hệ giữa LICN và

LIXH; các công trình cũng đã có những thống nhất khi khẳng định: động lực của

Trang 36

quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hệ thống các quá trình đó là: kết hợp hài hòa LICN, tập thể và toàn dân; việc giải quyết các mâu thuẫn lợi ích có thể bằng cách thông qua tạo lập cơ chế mới để kết hợp hài hòa các lợi ích đối lập, chứ không phải bằng các biện pháp hành chính để triệt tiêu lợi ích nào đó

Thứ ba, các công trình trên đây, ở góc độ nhất định đã có những đánh giá

về thực trạng giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trên phương diện tổng quát, thông qua quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cũng như các khía cạnh cụ thể như các mâu thuẫn cụ thể trong một số lĩnh vực, đặc biệt là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế (liên quan đến đất đai, thu nhập, việc làm…) trong điều kiện KTTT chưa hoàn thiện, trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế

Thứ tư, các công trình trên cũng đã đưa ra các gợi mở về các giải pháp để giải

quyết quan hệ giữa LICN và LIXH một cách hài hòa, trong đó phần nhiều đề cập qua việc giải quyết hài hòa quan hệ giữa cá nhân và xã hội Các công trình này cũng đã đi vào phân tích, đề xuất giải pháp ở những góc độ khá cụ thể như: thực hiện đa dạng trong sở hữu, thực hiện phân phối hợp lý, thực hiện ASXH, PLXH; đảm bảo hài hòa của các chủ thể như nông dân, công nhân trong quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa

1.4.2 Một số vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết

Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị đã đạt được đó thì các công trình nêu trên cũng có những mặt chưa được làm rõ, chúng tôi mong sẽ bổ sung, làm sâu sắc thêm

ở công trình của mình những nội dung sau:

Thứ nhất, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về LICN, những biểu hiện

phức tạp của LICN không chính đáng (lợi ích nhóm xấu, nhân danh lợi ích khác

để tư lợi cá nhân) và những biểu hiện đa dạng, yêu cầu của thực hiện LIXH trong điều kiện hiện nay Cùng với đó, luận án phân tích nội dung và phương thức giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay ở lĩnh vực sở hữu và phân phối (lợi ích kinh tế) thông qua các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Trong các công trình nghiên cứu nêu trên mặc dù đã đề cập đến quan hệ giữa các loại lợi ích khác nhau trong xã hội, song chưa có những nghiên cứu chuyên biệt đề cập tới nội dung cụ thể và phương thức giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH, nhất là trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

Trang 37

Thứ hai, trong các công trình nêu trên, đã đề cập phần nào tới tác động

của các nhân tố đến lợi ích nói chung, song cũng khá tản mạn, chưa hệ thống Do vậy, chúng tôi tổng hợp và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH nhất là trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay

Đó là các nhân tố như KTTT và hội nhập quốc tế; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; nhận thức của xã hội và các chủ thể lợi ích và yếu tố văn hóa, lối sống của xã hội Các nhân tố này tác động mạnh mẽ tới việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH ở nước ta hiện nay

Thứ ba, luận án phân tích những kết quả đạt được và hạn chế trong việc

giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay dựa trên các nội dung căn bản đã được xác định trong phần lý luận đó là giải quyết tốt LICN chính đáng là cơ sở, điều kiện để giải quyết LIXH và giải quyết đúng đắn LIXH góp phần thúc đẩy LICN chính đáng Cùng với đó luận án phân tích những nguyên nhân và vấn đề đặt ra trong việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH ở nước ta hiện nay đó là: nhận thức của các chủ thể lợi ích, các chính sách liên quan đến sở hữu, các chính sách liên quan đến phân phối

Thứ tư, các giải pháp tổng thể liên quan đến việc thúc đẩy lợi ích nói

chung hay giải pháp giải quyết các vấn đề lợi ích cụ thể liên quan đến đất đai, thu nhập… đã được đề cập khá nhiều trong các công trình đã được tổng quan Tuy nhiên, luận án sẽ tập trung phân tích các giải pháp giải quyết hài hòa quan

hệ giữa LICN và LIXH ở lĩnh vực sở hữu và phân phối Theo đó, luận án sẽ phân tích các giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay đó là: 1- Nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; 2- Tiếp tục thực hiện và tổ chức thực hiện trên thực tế các chính sách đảm bảo công bằng xã hội; 3- Khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng thời thúc đẩy thực hiện LIXH; 4- Đa dạng hóa các hình thức phân phối, thực hiện tốt chính sách ASXH, PLXH đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa

LICN và LIXH

Trang 38

Chương 2 GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH

XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 2.1 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1.1 Khái niệm lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội

2.1.1.1 Lợi ích

Thứ nhất, về khái niệm, bản chất của lợi ích

Cuộc sống của cá nhân và xã hội là quá trình hoạt động và thỏa mãn các nhu cầu và sáng tạo ra những nhu cầu mới Nhu cầu biểu hiện ra như là nguồn gốc và động lực kích thích hoạt động của con người, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Thực chất, nhu cầu là sự phản ánh những điều kiện vật chất của xã hội, nó được nảy sinh và thoả mãn trên những điều kiện vật chất ấy Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, nhu cầu đóng vai trò rất quan trọng trong

hoạt động của mỗi con người, nó vừa đóng vai trò thúc đẩy hành vi lịch s đầu tiên, vừa đóng vai trò duy trì nói giống, lại vừa quy định hê thống những mối liên hệ vật chất giữa người với người, quyết định sự biến đổi của lịch s

Theo tác giả Lê Thị Kim Chi: “Nhu cầu là những trạng thái thiếu hụt và những đòi hỏi cần được đáp ứng của chủ thể (con người và xã hội) để tồn tại và phát triển” [15, tr.29] Nhu cầu của con người rất đa dạng, phong phú, được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau: 1- Khi xem xét con người với tư cách là thể thống nhất giữa cái sinh học và cái xã hội, thì nhu cầu được phân thành những nhu cầu có liên quan tới việc bảo đảm hoạt động sống cho con người hay những nhu cầu sinh học (ăn, ở, mặc, duy trì nòi giống ), và những nhu cầu có liên quan tới các quá trình xã hội hay những nhu cầu xã hội (nhu cầu lao động, các nhu cầu tinh thần, nhu cầu giáo dục, y tế ) 2- Ở góc độ của nền sản xuất vật chất chúng ta có thể có các nhu cầu sản xuất và nhu cầu tiêu dùng 3- Ở góc độ khái quát, có thể chia thành nhu cầu vật chất (không khí, nước, ăn, ở, mặc, đi lại ) và nhu cầu tinh thần (tự do, đạo đức, giao tiếp, học tập )

Trang 39

Tuy nhiên, đối tượng thỏa mãn nhu cầu có hạn, do vậy không phải khi nào nhu cầu của các cá nhân cũng được thỏa mãn đầy đủ, trực tiếp Khi đó, các chủ thể

có cùng nhu cầu giống nhau có nguy cơ không thể thoả mãn được nhu cầu của mình Để có được đối tượng thoả mãn nhu cầu, các chủ thể tham gia vào các quan

hệ xã hội để tìm kiếm phương tiện, điều kiện thực hiện đối tượng thỏa mãn nhu cầu Quan hệ này có thể hợp tác, thống nhất hoặc mâu thuẫn, đấu tranh với các chủ thể khác trong xã hội Khi đối tượng thoả mãn nhu cầu của các chủ thể đó trở thành cái phản ánh quan hệ - quan hệ giữa các chủ thể nhu cầu với nhau, nhưng nó không thể

mang lại sự thoả mãn trực tiếp cho các chủ thể nhu cầu, khi đó nó trở thành lợi ích

Như vậy, trong quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, thì lợi ích là những sản

phẩm, những đối tượng thỏa mãn một phần nhu cầu của chủ thể, lợi ích là cái mang

quan hệ - quan hệ giữa các chủ thể nhu cầu Lợi ích gắn liền với nhu cầu và chỉ

được xác định trong quan hệ với nhu cầu của một chủ thể nhất định và để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể đó Và, “xét về mặt bản chất, lợi ích chính là một quan hệ - quan hệ giữa sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài chủ thể với nhu cầu của chủ thể, còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu” [123, tr.35] Lợi ích chỉ xuất hiện khi nó được đặt trong quan hệ giữa các chủ thể có cùng đối tượng thỏa mãn nhu cầu Lợi ích nảy sinh từ nhu cầu, do vậy, nhu cầu và lợi ích có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Lợi ích chỉ xuất hiện khi việc thỏa mãn nhu cầu bị cản trở hoặc không thể thực hiện một cách trực tiếp Sự khác biệt giữa nhu cầu và lợi ích là ở chỗ, nhu cầu xuất hiện trong mối quan hệ giữa con người với môi trường bên ngoài, còn lợi ích xuất hiện trong mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình thỏa mãn nhu cầu Do đó, lợi ích luôn biểu hiện ra như là quan hệ xã hội

Tóm lại, lợi ích là tất cả những gì chủ thể (cá nhân, tập thể, toàn xã hội) có

thể chiếm hữu hoặc cần phải có (cần sở hữu) Lợi ích là đối tượng thỏa mãn nhu

cầu Về khái niệm lợi ích, chúng tôi thống nhất với định nghĩa của tác giả Đặng Quang Định, theo đó, lợi ích là cái phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và

dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp, tầng lớp ) trong những điều kiện lịch s - xã hội nhất định [40, tr.12]

Trang 40

Thứ hai, về vai trò của lợi ích

Lợi ích có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, từ rất sớm, đã nhận ra vai trò quan trọng của lợi ích Tháng

4 năm 1842, trong bài viết Những cuộc tranh luận về tự do báo chí và về việc công

bố các biên bản của hội nghị các đẳng cấp, C.Mác từng viết rằng, “tất cả cái gì mà

con người đấu tranh để giành lấy, đều dính liền với lợi ích của họ” [87, tr.109] Ở điểm khác, C.Mác cho rằng, lợi ích là cái liên kết các thành viên trong xã hội, nó được đặt trong quan hệ giữa con người với nhau làm cơ sở cho việc xác lập các quan

hệ giữa họ Với tư cách là sự vật hay hiện tượng khách quan thể hiện mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội, và dùng để thỏa mãn nhu cầu cấp bách của họ, lợi ích chính là cái giúp con người thỏa mãn nhu cầu của mình Chính vì vậy, việc giành, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp bao giờ cũng là động lực mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất thôi thúc con người ta hoạt động Lợi ích chính là nhân tố quan trọng nhất trong chuỗi quy định nhân quả dẫn dắt sự hoạt động của con người: Nhu cầu - lợi ích - mục đích - hoạt động

Với tính cách là lợi ích cụ thể của một con người cụ thể, lợi ích là động cơ thúc đẩy hay “động cơ tư tưởng”, là nguyên nhân của những trạng thái căng thẳng thôi thúc chủ thể hoạt động thực hiện lợi ích đó để thỏa mãn nhu cầu Động cơ đó nằm trong mâu thuẫn giữa nhu cầu và điều kiện khách quan, mà trong khuôn khổ những điều kiện ấy nhu cầu này không thể thực hiện được Chính những mâu thuẫn này là những lực lượng thúc đẩy tính tích cực của con người, góp phần định hướng hoạt động của con người Dưới góc độ này, giành và giữ lợi ích là nguồn gốc của sự vận động, phát triển xã hội Với tính cách là mâu thuẫn, thì lợi ích và quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các lợi ích của các chủ thể khác nhau là động lực của sự phát

triển và “chính lợi ích là cái liên kết các thành viên của xã hội” và “những con người

độc lập chỉ liên hệ với người khác thông qua cái nút là lợi ích” [88, tr.182-183]

Thứ ba, về phân loại lợi ích

Lợi ích xuất hiện và tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội Đời sống xã hội vô cùng phong phú và đa dạng; do vậy, các quan hệ giữa chúng cũng vô cùng phong phú và đa dạng Dựa trên những căn cứ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã

Ngày đăng: 18/05/2023, 11:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Lê Văn B u (2012), Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay
Tác giả: Lê Văn B u
Năm: 2012
10. Chu Văn Cấp (1984), Lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam), Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam)
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 1984
11. Nguyễn Cúc, Kim Văn Chính (chủ biên) (2006), Sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Cúc, Kim Văn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Lương Minh Cừ, Vũ Văn Thư (2011), Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay: Một số nhận thức về lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay: Một số nhận thức về lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lương Minh Cừ, Vũ Văn Thư
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
13. Vũ Hùng Cường (2016), Kinh tế tư nhân - Một động lực cơ bản cho phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tư nhân - Một động lực cơ bản cho phát triển
Tác giả: Vũ Hùng Cường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2016
14. Vương Đình Cường (1992), Lợi ích kinh tế nông dân ở nước ta hiện nay, Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích kinh tế nông dân ở nước ta hiện nay
Tác giả: Vương Đình Cường
Năm: 1992
15. Lê Thị Kim Chi (2005), Nhu cầu: động lực và định hướng xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu: động lực và định hướng xã hội
Tác giả: Lê Thị Kim Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
16. Lê Thị Chiên (2014), “Hoàn thiện chính sách phân phối vì mục tiêu công bằng”, Tạp chí Lý luận chính trị, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách phân phối vì mục tiêu công bằng”", Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Lê Thị Chiên
Năm: 2014
17. Nguyễn Văn Chiều (2014), Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chiều
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
18. Nguyễn Trọng Chuẩn (2004), “Đổi mới quan niệm về chế độ sở hữu và ý nghĩa chiến lược của sự đổi mới đó đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (12), tr.20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quan niệm về chế độ sở hữu và ý nghĩa chiến lược của sự đổi mới đó đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2004
21. Vũ Tiến Dũng (2008), “Tạo sự hài hòa về lợi ích giữa công nhân và doanh nhân ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo sự hài hòa về lợi ích giữa công nhân và doanh nhân ở Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Vũ Tiến Dũng
Năm: 2008
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VI về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VI về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Hà Nội, tại trang http://dangcongsan.vn, [truy cập ngày 23/2/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X), phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X), phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
28. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương (2016), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận, thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận, thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w