HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP PHỔ BIẾN, Phần thứ nhất MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG I HÒA GIẢI VÀ VAI TRÒ CỦA HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 1 Khái niệm hòa giải Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều qua[.]
Trang 1Phần thứ nhất MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I HÒA GIẢI VÀ VAI TRÒ CỦA HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1 Khái niệm hòa giải
Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều quan niệm về hòa giảitùy theo cách tiếp cận phù hợp với từng loại hình hòa giải Một số luật gia chorằng hòa giải là chế định pháp luật về hòa giải, coi hòa giải như một nguyên tắc,trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, laođộng của Tòa án, còn các nhà thực tiễn thì coi hòa giải là những hành vi thuyếtphục các bên tranh chấp xóa bỏ những tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng
Trên thế giới có nhiều quan niệm về hòa giải Theo Từ điển thuật ngữ của
ILO/EASMAT về quan hệ lao động và các vấn đề liên quan coi “Hòa giải là sự tiếp nối của quá trình thương lượng trong đó các bên cố gắng làm điều hòa những ý kiến bất đồng Bên thứ ba đóng vai trò người trung gian hoàn toàn độc lập với hai bên…không có quyền áp đặt…, hành động như một người môi giới, giúp hai bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp tới những điểm mà họ có thể thỏa thuận được”.
Theo Hiệp hội hòa giải Hoa kỳ thì “Hòa giải là một quá trình, trong đó bên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ” Theo quan niệm này, người hòa giải không tham gia vào quá trình hoặc vào
việc thỏa thuận các giải pháp Vai trò chủ yếu của người hòa giải là người trunggian giúp cho hai bên tranh chấp tự nguyện ngồi lại với nhau, tạo điều kiện cho
họ duy trì đối thoại và thương lượng giải quyết mâu thuẫn, bất đồng
Từ điển Luật học của Pháp định nghĩa: “Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của người trung gian thứ ba (hòa giải viên) để giúp
đỡ các bên đề nghị giải quyết một cách thân thiện”.
Còn Luật hòa giải nhân dân Trung Hoa, thuật ngữ “hòa giải nhân dân” làquá trình một Ủy ban hòa giải nhân dân thuyết phục các bên liên quan đến một
Trang 2mâu thuẫn đạt được một thỏa thuận hòa giải trên cơ sở thương lượng bình đẳng
và tự do ý chí và mang lại một kết quả là giải quyết mâu thuẫn giữa các bên” Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1995 thì
hòa giải được hiểu là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” Quan niệm này nêu lên phương thức và mục
đích của hòa giải nhưng chưa khái quát được bản chất, nội dung và các yếu tốcấu thành các loại hình hòa giải Trên thực tế cả trong lý luận và trong thực tiễn,các luật gia cho rằng khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung cho tất cảcác loại hình hòa giải trong đời sống xã hội vì mỗi một loại hình hòa giải đều cóđối tượng là các tranh chấp có tính chất, đặc trưng riêng của mình; trình tự, thủtục tiến hành hòa giải, chủ thể tham gia quan hệ hòa giải của mỗi loại hình hòagiải cũng khác nhau, mặc dù các loại hình hòa giải cũng có một số đặc trưngchung giống nhau (hiểu theo nghĩa rộng)
Trong xã hội, con người gắn kết với nhau bởi những mối quan hệ hết sức
đa dạng Việc xảy ra xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp giữa con người với conngười là điều khó tránh khỏi; nói cách khác đó là hiện tượng xã hội mang tínhkhách quan Khi mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh, có nhiều phương thức để giảiquyết (thương lượng, hòa giải, trọng tại, tòa án), trong đó các loại hình hòa giải,tùy tính chất, mức độ, phạm vi mà mỗi loại hình hòa giải đều phát huy những tácdụng tích cực trong đời sống xã hội
1.1 Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án
Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án là thủ tục bắt buộc trong quá trìnhgiải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động Trong quátrình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để giúp các đương sự thỏathuận với nhau trừ những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải.Khi không hòa giải được hoặc hòa giải không thành Tòa án mới đưa vụ án ra xét
xử Trường hợp các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau về vấn đề phảigiải quyết trong vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Hết thời hạn bảyngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi
ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì về nguyên tắc chung Thẩm phán chủ trì phiên hòa
Trang 3giải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Nếu vì trở ngạikhách quan mà Thẩm phán không ra quyết định được, thì Chánh án Tòa án phâncông một Thẩm phán khác ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của cácđương sự (khoản 1, Điều 21 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quyđịnh trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm” của Bộluật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Bộ luật Tố tụng dân sự) Quyết định này có hiệu lực pháp luật.
1.2 Hòa giải trong tố tụng trọng tài
Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, các bên tranh chấp cóthể thương lượng, tự hòa giải hoặc đề nghị trọng tài giúp các bên hòa giải Trọngtài cũng có thể chủ động tự mình tiến hành hòa giải các bên Nếu các bên thôngqua hòa giải giải quyết được tranh chấp thì có thể yêu cầu trọng tài viên xácnhận sự thỏa thuận đó bằng văn bản, lập biên bản hòa giải thành và công nhận
sự thỏa thuận của các bên Văn bản này có giá trị như quyết định trọng tài- cóhiệu lực thi hành, không bị kháng cáo
1.3 Hòa giải tranh chấp lao động
Hòa giải tranh chấp lao động được Hội đồng trọng tài lao động hoặc Hòagiải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộctỉnh (Hòa giải viên lao động) tiến hành khi có tranh chấp về quyền và lợi ích liênquan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thựchiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề giữa ngườilao động với người sử dụng lao động Thẩm quyền và trình tự hòa giải tranhchấp lao động được quy định tại Chương XIV của Bộ luật Lao động năm 2012 Việc giải quyết tranh chấp lao động bằng con đường hoà giải tại cơ sở có ý
nghĩa rất quan trọng Thứ nhất, đây là phương pháp giải quyết tranh chấp có thể
tạo ra khả năng duy trì quan hệ lao động sau tranh chấp Thực chất của việc hòagiải tranh chấp lao động là việc hai bên tiếp tục thương lượng, thỏa thuận vớinhau có sự giúp đỡ của bên thứ ba (Hội đồng trọng tài hoặc Hòa giải viên) đểtìm ra được giải pháp chung, giải quyết được mâu thuẫn, bất đồng Vì vậy, các
Trang 4bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp phùhợp với yêu cầu, điều kiện của mình để rồi sau đó lại tiếp tục hợp tác với nhau
sau tranh chấp Thứ hai, hòa giải tranh chấp lao động tại cơ sở là phương pháp
giải quyết tranh chấp lao động nhanh chóng và tiết kiệm
1.4 Hòa giải ở cơ sở
Khác với các loại hình hòa giải nêu trên, hòa giải ở cơ sở trước hết xuấtphát từ đặc điểm lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc Ở Việt Nam, nền kinh tếnông nghiệp lúa nước với nhu cầu làm thủy lợi, đắp đê, chống lụt, thêm vào đó
là nguy cơ giặc ngoại xâm luôn đe dọa đã khiến cho người Việt cổ sớm hìnhthành lối sống cộng đồng, truyền thống đoàn kết, tương thân, thương ái Trongcác làng xã cổ truyền, người nông dân quen sống với các mối quan hệ xóm làng,huyết thống ràng buộc nhau một cách chặt chẽ, do đó họ rất coi trọng tình làng,nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau” Nếu có xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp
về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, với hàng
xóm láng giềng thì họ chủ trương “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”,
xóa bỏ bất đồng, hận thù nhau, xây dựng một cộng đồng hòa thuận, yên vui,hạnh phúc Để giữ gìn quan hệ lâu bền, trong mọi trường hợp, hòa giải vẫn đượcxem là phương án tối ưu để giải quyết xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp trongnội bộ nhân dân…Do vậy, hoạt động hòa giải ở cơ sở là hoạt động mang tính xãhội tự quản, đã tồn tại từ rất lâu đời và trở thành đạo lý, truyền thống tốt đẹp của
dân tộc ta Với ý nghĩa đó, Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” Trên
cơ sở quy định này của Hiến pháp, ngày 25/12/1998 Ủy ban Thường vụ Quốchội ban hành Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày18/10/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiếtmột số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở
Theo đó, hòa giải ở cơ sở là việc Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, làng, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả
Trang 5thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư Quy
định này, xét về mặt bản chất chưa thật chuẩn xác, bởi hoạt động hòa giải do conngười cụ thể là tổ viên tổ hòa giải trực tiếp hòa giải chứ không phải là tổ hòagiải trực tiếp hòa giải
Từ thực tiễn công tác hòa giải thời gian qua đã khẳng định rõ vị trí, vai trò,
ý nghĩa quan trọng của hòa giải viên trong hoạt động hòa giải ở cơ sở Hòa giảiviên thực hiện việc hòa giải trên cơ sở pháp luật, đạo đức xã hội và phong tụctập quán tốt đẹp mang tính nhân dân, nhân đạo và nhân văn sâu sắc, thể hiện nềndân chủ xã hội chủ nghĩa, thông qua đó nhân dân, xã hội trực tiếp tham gia quản
lý nhà nước và quản lý mọi mặt đời sống xã hội Thông qua hoạt động hòa giải,các bên tranh chấp thỏa thuận, tự nguyện giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp mộtcách kịp thời, không để các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trở thành lớn, việc đơngiản trở nên phức tạp, gây xung đột xã hội, từ đó góp phần giải tỏa mâu thuẫn,tranh chấp, vướng mắc pháp luật, ngăn ngừa phát sinh tội phạm, giữ gìn tìnhđoàn kết trong nội bộ nhân dân, ổn định trật tự an toàn xã hội Luật hòa giải ở cơ
sở năm 2013 tiếp tục kế thừa và phát triển khái niệm hòa giải ở cơ sở như sau:
Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này Như vậy, khái niệm hòa giải ở cơ sở trong Luật
hòa giải ở cơ sở có kế thừa, phát triển, mang tính khoa học và phù hợp với thựctiễn hiện nay
2 Vai trò của hòa giải ở cơ sở trong đời sống xã hội
Hòa giải nói chung và hòa giải ở cơ sở nói riêng đều đóng vai trò quantrọng trong đời sống xã hội Hòa giải ở cơ sở là một trong hình thức hòa giải cóvai trò rất tích cực, thiết thực để giúp các bên tự nguyện, giải quyết mâu thuẫn,tranh chấp có hiệu quả, một cách nhẹ nhàng, có lý, có tình vừa hạn chế khắcphục được hậu quả, vừa giữ gìn được tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết tươngthân, tương ái trong cộng đồng
Trang 6Hòa giải ở cơ sở có ưu điểm cơ bản là giải quyết kịp thời ngay từ đầu các
mâu thuẫn, tranh chấp không để tranh chấp trở nên gay gắt, “chuyện bé xé ra to” bằng các biện pháp giải quyết vừa có lý vừa có tình Những người thực hiện
và tham gia hòa giải là những người gần gũi, quen biết hàng ngày cùng laođộng, sinh hoạt, dễ tạo sự thông cảm giữa các bên Hòa giải ở cơ sở được thựchiện tốt sẽ góp phần hạn chế các vụ, việc khiếu kiện vượt cấp, giảm bớt các vụviệc phải đưa ra cơ quan có thẩm quyền hoặc Tòa án giải quyết, tiết kiệm thờigian, tiền bạc của nhân dân và nhà nước
Hòa giải ở cơ sở còn trực tiếp tác động đến việc nâng cao ý thức chấp hànhpháp luật của nhân dân Khi hòa giải (dù là hình thức nào), hòa giải viên đứng rahòa giải đều phải vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn cácbên tranh chấp, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó xử sựphù hợp với quy định pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TẠI VIỆT NAM
1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật hoà giải ở cơ sở thời gian qua
1.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng 8/1945
Trước năm 1945, dưới chế độ phong kiến rồi đến chế độ thực dân nửaphong kiến, do tính tự quản của làng xã khá cao, việc hòa giải những mâu thuẫnnhỏ trong nội bộ nhân dân chủ yếu do các hương ước, khoán ước của mỗi làngquy định Nghiên cứu hương ước một số làng, có thể thấy vấn đề hòa giải đượcquy định khá chặt chẽ
Trong khoán ước lập ngày 21 tháng 1 năm Vĩnh Hựu (1739) đời Lê Ý Tôngcủa xã Dương Liễu, huyện Đan Phượng, Phủ Quốc Oai (nay thuộc huyện Đan
Phượng, Hà Nội), ở điều khoản thứ 10 có ghi như sau: “Bản xã có người nào đánh nhau, chửi nhau, cho phép trình báo các chức sắc hàng xã để khuyên giải phân xử phải trái Nếu như người nào không làm theo như thế, mà đem bẩm báo lên nha môn, khi xét xử thấy đúng như lời khuyên giải phân xử của hàng xã, thì
Trang 7bắt phạt người ấy ba quan tiền cổ Nếu ai không trình báo với các hàng chức sắc ở xã để phân xử phải trái, lại bẩm báo thẳng lên quan trên thì cũng xử phạt như thế”.
Trong khoán ước làng Đông Ngạc (nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội)được soạn năm 1937 bằng chữ Quốc ngữ dành tới 4 điều quy định về hòa giải
Trong đó điều thứ 60 và 61 quy định: “Trong làng có ai kiện cáo về dân sự hay thương sự trước hết phải trình hội đồng hòa giải, nếu ai không tuân mà tự tiện vào trình quan ngay thì hội đồng sẽ phạt Viên Chánh hương hội tiếp ai trình thì phải mở hội đồng, lấy lý lẽ chính đáng và tình thân ái hòa giải cho hai bên, nếu hòa giải xong thì cứ theo trong luật mà làm hòa giải, chứng thư giao cho lý trưởng trình quan sở tại”.
Như vậy, ngay từ thời phong kiến, hòa giải đã được quan tâm thực hiện ởlàng, xã phù hợp với đặc điểm, truyền thống tâm lý dân tộc Việt Nam, cùng với
sự thay đổi của đất nước, hòa giải vẫn luôn được duy trì và phát triển
1.2 Giai đoạn từ tháng 8/1945 đến ngày 25/12/1998
Công tác hoà giải ở cơ sơ là một hoạt động mang tính chất xã hội tự quản,
đã tồn tại từ lâu đời và trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Do đó saukhi cách mạng tháng Tám thành công (1945), ngay từ những ngày đầu thiết lậpchính quyền dân chủ nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luậtquy định về hòa giải Các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của hệthống tư pháp như Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày17/4/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã quy định: Ban Tư pháp xã có nhiệm
vụ hoà giải tất cả các việc về dân sự, thương sự Việc quản lý hoạt động hòa giảigiai đoạn này thuộc nhiệm vụ của ngành tư pháp Cùng với chế định hoà giảicủa Ban Tư pháp xã, còn có chế định hoà giải của Toà án sơ cấp (trước năm1950) và của Toà án nhân dân huyện (sau năm 1950)
Năm 1961, nhiệm vụ quản lý công tác hòa giải được chuyển sang cho Tòa
án Nhân dân Tối cao Tòa án Nhân dân Tối cao đã ra Thông tư số 02-TC ngày26/02/1964 về việc xây dựng Tổ hòa giải và kiện toàn Tổ tư pháp xã, khu phố.Thông tư này hướng dẫn cụ thể về tính chất, chức năng của Tổ hòa giải, đó là
Trang 8một tổ chức xã hội, không phân xử mà chỉ giải thích, thuyết phục để giúp đỡ cácbên tự nguyện giải quyết những xích mích, tranh chấp một cách có tình, có lý.
Từ năm 1961-1981, trên cơ sở Hiến Pháp năm 1959 và các Luật tổ chức Hộiđồng Chính phủ, Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan Nhànước nói chung và bộ máy các cơ quan Tư pháp nói riêng đã được tổ chức, sắpxếp lại để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của Nhà nước ta trong giai đoạnmới- giai đoạn miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, miềnNam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhấtnước nhà Năm 1961, cùng với việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân, Toà ánnhân dân tối cao và do những điều kiện lịch sử khác, Bộ Tư pháp giải thể.Nhiệm vụ quản lý công tác hoà giải của Bộ Tư pháp được chuyển giao sang choToà án nhân dân tối cao thực hiện Giai đoạn này, hoạt động hoà giải vẫn liêntục tồn tại và phát triển, cùng với việc kiện toàn và phát triển của Toà án nhândân các cấp và do Toà án nhân dân các cấp tổ chức, hướng dẫn và giúp đỡ hoạtđộng
Cuối năm 1981, Bộ Tư pháp được thành lập lại theo Nghị định số143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ) đượcgiao nhiệm vụ quản lý và hướng dẫn hoạt động của Tổ hoà giải từ Toà án nhândân tối cao chuyển sang Thực hiện nhiệm vụ hoà giải, Bộ Tư pháp đã ra Thông
tư số 08/TT ngày 06-01-1982 hướng dẫn xây dựng và kiện toàn hệ thống các cơquan tư pháp địa phương, đặc biệt là tư pháp huyện và xã Các cơ quan tư phápnày trực tiếp quản lý và hướng dẫn hoạt động hoà giải Từ năm 1982 đến năm
1987, các tổ hoà giải đã được thành lập ở các thôn, xóm, ấp, tổ dân phố trongphạm vi cả nước Hoạt động hoà giải trở thành một phong trào sâu rộng và cóhiệu quả tốt, góp phần quan trọng vào việc ngăn ngừa và giải quyết những mâuthuẫn, tranh chấp ở cơ sở
Từ năm 1988 đến năm 1992, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, tổ chức vàhoạt động của tổ hoà giải ở nhiều cơ sở bị giảm sút, có nơi một số tổ hoà giải bịtan rã và hầu như không hoạt động hoặc có hoạt động, nhưng hiệu quả khôngcao Một trong những nguyên nhân về tổ chức, trực tiếp tác động, dẫn đến tình
Trang 9trạng trên là các phòng Tư pháp cấp huyện bị giải thể do việc tinh giản biên chế.Trong khi đó, Tư pháp xã lại không có cán bộ chuyên trách và Sở Tư phápkhông đủ lực lượng cán bộ để đảm đương nhiệm vụ xây dựng tổ chức và hướngdẫn hoạt động hoà giải đến từng thôn, xã.
Từ năm 1992 – 1997, hoạt động hòa giải từng bước được củng cố và pháttriển Chế định hòa giải chính thức được ghi nhận tại điều 127 Hiến pháp năm1992; ở Trung ương, Bộ Tư pháp được Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý, chỉđạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổng kết hoạt động của các Tổ hòa giải (Điều 2, Nghịđịnh số 38/CP ngày 04/6/1993 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Tư pháp Ở địa phương, các cơ quan Tưpháp (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ban Tư pháp) được giao nhiệm vụ quản lý,chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động các tổ hòa giải trong phạm vi địa phương (Thông
tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26/7/1993 của Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức - Cán
bộ Chính phủ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan
tư pháp địa phương)
Để tiếp tục kiện toàn tổ chức, tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa Tổ hoà giải, trên cơ sở những văn bản pháp luật mới, Bộ Tư pháp một mặtchỉ đạo, hướng dẫn các địa phương trước đây giải thể Phòng tư pháp khẩntrương thành lập lại; củng cố, kiện toàn Tư pháp xã, để quản lý và hướng dẫnhoạt động hoà giải ở cơ sở, mặt khác tổ chức Hội nghị chuyên đề toàn quốc(tháng 8/1994) về tư pháp xã và tổ hoà giải để tổng kết, đánh giá tình hình tổchức và hoạt động hoà giải toàn quốc trong thời gian qua, đồng thời trao đổikinh nghiệm và đề ra những biện pháp tiếp tục kiện toàn tổ chức và nâng caohiệu quả hoạt động hoà giải ở các địa phương trong thời kỳ mới - thời kỳ hệthống ngành Tư pháp lại được tổ chức hoàn chỉnh từ Trung ương đến địaphương
Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Tư pháp, mặc dù chưa có văn bảnhướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Tổ hoà giải thống nhất trong cả nước,nhưng các cơ quan Tư pháp địa phương, tranh thủ sự quan tâm của Cấp uỷ vàchính quyền địa phương, chủ động, sáng tạo tổ chức Hội nghị tổng kết, sơ kết,
Trang 10trao đổi kinh nghiệm, phát huy những thành tựu trong công tác hoà giải Theobáo cáo của địa phương, năm 1997 cả nước đã xây dựng và kiện toàn được hơn85.000 Tổ hoà giải với tổng số gần 400.000 hoà giải viên Nhiều tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương đã xây dựng được hàng nghìn Tổ hoà giải ở hầu hết cácthôn, xóm, làng, bản, ấp, tổ dân phố…như: Thành phố Hồ Chí Minh có 12.000
tổ với 59.385 tổ viên; thành phố Hà Nội có 2.239 tổ với 11.660 tổ viên; tỉnhNghệ An có 4.217 tổ với 16.205 tổ viên Hàng năm trung bình ở mỗi tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ hoà giải đã hoà giải được 3.000 đến4.000 vụ, việc với tỷ lệ hoà giải thành từ 70% vụ, việc trở lên xảy ra ở cơ sở,góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật và giảm đáng kể các vụ việc phải đưalên Toà án nhân dân huyện giải quyết, làm lợi cho Nhà nước nhiều tỷ đồng.Hoạt động của tổ hoà giải đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đờisống xã hội, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hoà giải ở cơ sởtrong những năm qua cũng đã bộc lộ những hạn chế sau đây:
- Chưa có quy định thống nhất về tổ chức hoà giải ở các địa phương trongphạm vi cả nước (có nơi thành lập các tổ hoà giải ở thôn, xóm, làng, bản, ấp, tổdân phố, có nơi thành lập tổ hòa giải ở xã, phường, thị trấn…);
- Chưa có văn bản pháp luật quy định về phạm vi hoà giải ở cơ sở, trình tự,thủ tục hoà giải, do đó, nhiều nơi thực hiện còn tuỳ nghi, không thống nhất, gâynên lúng túng, khó khăn cho công tác hoà giải…
Trước tình hình thực tiễn về hoạt động hòa giải thời gian qua, từ vai trò ýnghĩa quan trọng của hoạt động hòa giải ở cơ sở, và từ thực trạng pháp luật hiệnhành về lĩnh vực này, cùng với yêu cầu của công cuộc đổi mới và phát triển đấtnước dưới tác động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hộinhập quốc tế, cho thấy việc ban hành Pháp lệnh về hòa giải ở cơ sở là cần thiếtnhằm:
- Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và thống nhất cho việc kiện toàn tổ chức vàhoạt động hòa giải của tổ hòa giải
Trang 11- Từng bước kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở
1.3 Giai đoạn từ năm 1998 – đến tháng 6/2013
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác hoà giải, từ tình hình tổ chức
và hoạt động hoà giải trong thời gian qua và từ thực trạng pháp luật hiện hành vềlĩnh vực này, ngày 25/12/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháplệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở (viết tắt là Pháp lệnh về hòa giải),
có hiệu lực từ ngày 08/01/1999 Ngày 18/10/1999, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức
và hoạt động hoà giải ở cơ sở (viết tắt là Nghị định số 160/1999/NĐ-CP), cóhiệu lực từ ngày 01/11/1999 Có thể nói, từ khi thành lập nước đến nay, đây làhai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao quy định đầy đủ và đồng bộ cácvấn đề về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở, thể hiện tính kế thừa, tính liêntục của truyền thống hoà giải ở nước ta; tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục củng
cố tổ chức, xây dựng đội ngũ tổ viên tổ hoà giải và tăng cường vai trò, tráchnhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội khác, cơ quan nhà nước,đơn vị lực lượng vũ trang và công dân đối với công tác hoà giải ở cơ sở
Theo quy định của Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP thì
hòa giải ở cơ sở là việc Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân
dân ở thôn, xóm, làng, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế
vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.
Trang 12Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP được ban hành đãkhẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở trong đời sống
xã hội, đồng thời, xác định vai trò của Nhà nước trong quản lý công tác hòa giảinhằm củng cố, xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở trongđiều kiện mới
Theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh hòa giải, Điều 5 và Điều 6 Nghị định
số 160/1999/NĐ-CP thì nội dung quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở,
bao gồm: Ban hành văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; Tổ chức bồi dưỡng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho người làm công tác hòa giải; Sơ kết, tổng kết công tác hòa giải ở cơ sở.
Thực hiện Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP, hệ thống
cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương được thành lập và hoạtđộng trên phạm vi cả nước, cụ thể :
a) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác hòa giải trong phạm
vi cả nước Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhànước về công tác hòa giải ở cơ sở; chỉ đạo và hướng dẫn Ủy ban nhân dân cáccấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở địa phương
b) Bộ Tư pháp có trách nhiệm: Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tổ
chức và hoạt động hòa giải trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩmquyền; hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hòa giải trong phạm vi cả nước; tổchức bồi dưỡng và hướng dẫn các Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải chongười làm công tác hòa giải; sơ kết, tổng kết công tác hòa giải của tổ hòa giảitrong phạm vi cả nước
c) Ở địa phương: Ủy ban nhân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công
tác hòa giải theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Tư pháp
Căn cứ tình hình cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương Ủy bannhân dân các cấp tạo điều kiện, hỗ trợ về kinh phí cho việc kiện toàn tổ chức,
Trang 13bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động hòa giải ở địa phương.
Cơ quan tư pháp địa phương giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp về công táchòa giải ở cơ sở, cụ thể:
+ Tổ chức hướng dẫn và hướng dẫn Phòng Tư pháp tổ chức bồi dưỡng vềđường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụhoà giải cho người làm công tác hoà giải;
+ Sơ kết, tổng kết và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp vềcông tác hoà giải của tổ hoà giải ở địa phương; tổ chức thi đua, khen thưởngcông tác hoà giải ở địa phương
Phòng Tư pháp có trách nhiệm :
+ Theo sự chỉ đạo của cơ quan tư pháp cấp trên và Ủy ban nhân dân cấphuyện, hướng dẫn các Ban Tư pháp triển khai thực hiện các quy định về côngtác hoà giải ở địa phương; đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp huyện biện phápkiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương;
+ Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải ở địa phương theo hướng dẫn của
cơ quan Tư pháp cấp trên;
+ Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của tổ hoà giải ở địa phương và báo cáo
về công tác hoà giải với Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan tư pháp cấptrên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải của tổ hoà giải ở địaphương
Ban Tư pháp (cụ thể là công chức Tư pháp – Hộ tịch) có trách nhiệm:
+ Hướng dẫn hoạt động của các tổ hòa giải;
Trang 14+ Thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải, cung cấp tài liệu nghiệp vụcho tổ hoà giải ở địa phương theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên; + Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của tổ hoà giải ở địa phương, báo cáocông tác hoà giải với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan tư phápcấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương.
Để hoàn thành trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước
về công tác hòa giải ở địa phương, Ban Tư pháp thực hiện các hoạt động cụ thểsau:
- Kiện toàn tổ chức các tổ hòa giải đã thành lập và thành lập các tổ hòa giải mới theo quy định của pháp luật.
Việc kiện toàn tổ chức và thành lập các tổ hòa giải mới phải căn cứ vàođặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương (đồng bằng, miền núi,thành thị, nông thôn), về đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán, truyền thống vănhóa, nghề nghiệp, huyết thống… của từng cộng đồng dân cư ở địa phương đểxác định số lượng tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên
Để thực hiện nhiệm vụ này, Ban Tư pháp phải tiến hành các công việc sau: + Rà soát về mặt tổ chức và đội ngũ tổ viên của các tổ hòa giải đã đượcthành lập;
+ Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn hướng dẫncác thôn, xóm, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư về thủ tục và trình tự thành lập
tổ hòa giải; bầu, miễn nhiệm tổ viên, tổ trưởng tổ hòa giải theo quy định củapháp luật và hướng dẫn của cơ quan Tư pháp cấp trên;
+ Tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận tổ hòagiải, tổ viên, tổ trưởng tổ hòa giải trên cơ sở kết quả bầu của nhân dân;
+ Theo dõi quá trình hoạt động của tổ hòa giải, tổ viên và tổ trưởng tổ hòagiải, đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết những khó khăn, vướng mắc
về tổ chức và cơ chế hoạt động của tổ hòa giải
- Bồi dưỡng nghiệp vụ cho hòa giải viên, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ hòa giải.
Trang 15Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, cần thiết để nâng cao nhận thức,nghiệp vụ hòa giải cho các hòa giải viên về đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồngthời từng bước nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải, vì thế phải được thực hiệnthường xuyên.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, Ban Tư pháp phải tiến hành các công việc sau: + Thường xuyên theo dõi, nắm bắt trình độ, năng lực thực tiễn của đội ngũhòa giải viên;
+ Xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng cụ thể cho từng đối tượngphù hợp với đặc điểm, tính chất và yêu cầu của công tác hòa giải, tranh thủ sựgiúp đỡ của cơ quan Tư pháp cấp trên trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch nàysau khi được Ủy ban nhân dân cùng cấp thông qua;
+ Trực tiếp hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải cho các hòa giải viên đối với việcphức tạp, có liên quan đến nhiều chính sách, pháp luật Đối với những vụ việckhi tiến hành hòa giải thấy phức tạp, mâu thuẫn gay gắt, có thể gây hậu quả ảnhhưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn mà chưa thấy yên tâm về chuyên mônnghiệp vụ, cần tranh thủ sự hướng dẫn của cơ quan Tư pháp cấp trên;
+ Thực hiện việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho hòa giải viên thôngqua các hình thức: thông tin, phổ biến, trao đổi, rút kinh nghiệm cho hòa giảiviên ở địa phương, tổ chức thi hòa giải viên giỏi;
+ Sưu tầm và cung cấp tài liệu nghiệp vụ cần thiết cho đội ngũ hòa giảiviên
- Sơ kết, tổng kết công tác hòa giải ở địa phương, báo cáo công tác hòa giải với Ủy ban nhân dân cùng cấp và cơ quan Tư pháp cấp trên, cụ thể như sau:
+ Theo dõi, tổng hợp, đánh giá về tình hình tổ chức và hoạt động của độingũ hòa giải viên và của các tổ hòa giải;
+ Tổng hợp số vụ việc đã nhận để hòa giải và số vụ việc đã tiến hành hòagiải theo từng loại tranh chấp, vi phạm: dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình…
Trang 16+ Đỏnh giỏ kết quả hoạt động hũa giải ở cơ sở Trong đú cần xỏc định số
vụ việc hũa giải thành, số vụ việc hũa giải khụng thành, nguyờn nhõn của kếtquả hũa giải đú Từ đú rỳt ra kinh nghiệm thiết thực cho hoạt động hũa giải + Tổ chức cỏc cuộc họp giao ban, bỏo cỏo định kỳ và đột xuất trờn cơ sởnội dung trờn
+ Tiến hành sơ kết, tổng kết cụng tỏc hũa giải
- Tổ chức thi đua, khen thưởng cụng tỏc hũa giải ở địa phương.
+ Trờn cơ sở mục tiờu, phương hướng của hoạt động hũa giải ở địaphương, phỏt động phong trào thi đua trong hoạt động hũa giải trờn địa bàn;
+ Sơ kết, tổng kết phong trào thi đua trong hoạt động hũa giải;
+ Giới thiệu cỏc tập thể, cỏ nhõn điển hỡnh tốt về cụng tỏc hũa giải;
+ Đề nghị cỏc cơ quan cú thẩm quyền như Ủy ban nhõn dõn và cơ quan tưphỏp khen thưởng đối với những tổ chức và cỏ nhõn cú thành tớch xuất sắc trongcụng tỏc hũa giải ở cơ sở
d) Để thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về công tác hòa
giải, trong nhiều năm qua Bộ T pháp đã quan tõm, cố gắng từngbớc đa hoạt động này vào nề nếp, cú chất lượng và hiệu quả
Ở Trung ương, trờn cơ sở phỏp luật hũa giải ở cơ sở, Bộ Tư phỏp cú nhiệm
vụ hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở (Khoản 16,Điều 2, Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chớnh phủ quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư phỏp- thay thếNghị định số 62/2003/NĐ-CP của Chớnh phủ ngày 06/6/2003 quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư phỏp)
Ở địa phương, cỏc cơ quan Tư phỏp (Sở Tư phỏp thuộc Ủy ban nhõn dõncấp tỉnh, Phũng Tư phỏp thuộc Ủy ban nhõn dõn cấp huyện và cụng tỏc tư phỏpcủa Ủy ban nhõn dõn cấp xó) được giao nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra cụng tỏchoà giải ở cơ sở theo quy định của phỏp luật (Điểm 17, Điều 2, Thụng tư liờntịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư phỏp và Bộ Nội vụ
- thay thế Thụng tư liờn tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/5/2005 của Bộ
Tư phỏp và Bộ Nội vụ)
Trang 17Theo đó, ở Trung ơng, Bộ T pháp giao Vụ Phổ biến, giáodục pháp luật nhiệm vụ giúp Bộ trởng thực hiện chức năngquản lý nhà nớc về công tác hòa giải trên phạm vi cả nớc Ở địaphơng, tại Sở T pháp, việc quản lý công tác hoà giải hầu hết đ-
ợc giao cho Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật (hoặc PhòngVăn bản, tuyên truyền) thuộc Sở, (một số nơi giao cho Phòng
Tổ chức, Phòng Bổ trợ t pháp, Phòng Hộ tịch - Hành chính tpháp) Phòng T pháp các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộctỉnh đều phân công cán bộ theo dõi, quản lý công tác hoàgiải Ở các xã, phờng, thị trấn thì công chức T pháp - Hộ tịchthực hiện nhiệm vụ này Nh vậy, bớc đầu đội ngũ cán bộ Tpháp và quản lý công tác hoà giải đã đợc bố trí ở cơ quan tpháp các cấp, đây là điều kiện thuận lợi giúp nâng cao hiệuquả quản lý nhà nớc về công tác hoà giải ở cơ sở
Để tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nớc vềcông tác hoà giải ở cơ sở Từ nhiều năm qua, Bộ Tư phỏp đó chỉđạo, tổ chức cỏc hoạt động phự hợp với đặc thự của hoạt động hũa
giải ở cơ sở như tổ chức cỏc hội nghị, hội thi “Hũa giải viờn giỏi”
trong toàn quốc nhằm tụn vinh, khớch lệ người làm cụng tỏc hũa giải, qua đúthỳc đẩy phong trào hũa giải trong toàn quốc Ngày 27/6/2011, Bộ tr-ởng Bộ T pháp đã ban hành Chỉ thị số 03/2011/CT-BTP về tăngcờng công tác hoà giải ở cơ sở khẳng định vị trí, vai trò củacông tác hoà giải ở cơ sở hiện nay cũng nh xác định rõ tráchnhiệm quản lý nhà nớc đối với hoạt động hoà giải cơ sở trớc yêucầu xây dựng Nhà nớc pháp quyền, cải cách t pháp và hội nhậpquốc tế Các Sở T pháp, Phòng T pháp, công chức T pháp - Hộtịch đã tích cực tham mu cho Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân cùngcấp ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hoà giải ở cơ sởphù hợp với các quy định của pháp luật và thực tế ở địa phơng.Qua khảo sát 05 tỉnh, thành phố (thành phố Đà Nẵng, Quảng
Trang 18Nam, Thanh Hoá, Sóc Trăng, Cà Mau) tại một số địa bàn trong 05tỉnh năm 2011 cho thấy, việc ban hành văn bản hớng dẫn triểnkhai thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở hàng năm là hoạt động
đợc cơ quan t pháp các cấp quan tâm nhất (đỏnh giỏ của 87,75%hòa giải viên; 87,5% cán bộ T pháp cấp huyện và công chức Tpháp - Hộ tịch cấp xã); và một số cụng việc khỏc cũng được nhiềuđịa phương quan tõm như: Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức phỏp luật
và nghiệp vụ hũa giải cho cỏc hũa giải viờn (theo đánh giá của 79% của
Ủy ban nhõn dõn cấp xó; 71% cụng chức Tư phỏp - Hộ tịch; 65,75% hũagiải viờn ); phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức rà soỏt, kiện toànmạng lưới tổ hũa giải và người làm cụng tỏc hũa giải ở cơ sở (theo đỏnh giỏ của70,5% cụng chức Tư phỏp - Hộ tịch; 73,5% hũa giải viờn); kiểm tra hoạt độngcủa tổ hũa giải hàng năm (đỏnh giỏ của 90% cụng chức Tư phỏp – Hộ tịch; 80%hũa giải viờn)…
Đến nay, trờn 50 tỉnh, thành phố, Tỉnh ủy, Ủy ban nhõn dõn đó ban hànhvăn bản chỉ đạo về cụng tỏc hũa giải (chỉ thị, kế hoạch liờn ngành ) chỉ đạocụng tỏc này, vỡ vậy, đó tạo nờn một hệ thống khỏ đồng bộ cỏc văn bản về tổchức và hoạt động hũa giải ở cơ sở Bờn cạnh đú, việc củng cố, kiện toàn vàtừng bước nõng cao chất lượng hoạt động của cỏc tổ hũa giải được quan tõm,triển khai tớch cực trong phạm vi cả nước Nhờ sự quan tõm này, mạng lưới tổhũa giải tiếp tục được củng cố, mở rộng, đỏp ứng yờu cầu, nhiệm vụ ngày càng
phỏt triển
1.4 Giai đoạn từ thỏng 6/2013 đến nay
Ngày 20 thỏng 6 năm 2013, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khúa XIII đóthụng qua Luật hũa giải ở cơ sở Luật cú hiệu lực thi hành từ ngày 01thỏng 01năm 2014 Để triển khai thi hành Luật hũa giải ở cơ sở, ngày 27 thỏng 02 năm
2014 Chớnh phủ ban hành Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một
số điều và biện phỏp thi hành Luật hũa giải ở cơ sở Nhằm bảo đảm kinh phớcho hoạt động hũa giải ở cơ sở, ngày 30/7/2014, Bộ Tài chớnh và Bộ Tư phỏp đóban hành Thụng tư liờn tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP quy định việc lập dự
Trang 19toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiệncông tác hòa giải ở cơ sở.
Trang 20Phần thứ hai GIỚI THIỆU LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH
I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Ở nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Singapore, Philippin, TháiLan, Mỹ, Australia… hòa giải đều được thừa nhận và khuyến khích phát triển.Đặc biệt ở nước ta, hòa giải ở cơ sở là hoạt động có từ lâu đời, trở thành nét đẹpvăn hóa của dân tộc, là một hoạt động mang tính tự nguyện, vì mọi người, dựatrên cơ sở đạo đức xã hội và nền tảng của pháp luật, vì vậy nó mang đậm tínhnhân văn và là một truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Trong những năm qua, hoạt động hòa giải ở cơ sở đã phát huy vai trò và ýnghĩa quan trọng trong đời sống xã hội Hòa giải góp phần khôi phục, củng cố,duy trì tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân; giảm bớt các khiếu kiện vượt cấp,phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xãhội; thông qua hòa giải cơ sở, mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên tronggia đình, trong cộng đồng dân cư được giải quyết kịp thời, tận gốc, không để
“việc đơn giản thành phức tạp ”, từ tranh chấp dân sự chuyển thành phạm tội
hình sự
Làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở sẽ góp phần giải quyết được số lượnglớn các vi phạm pháp luật và tranh chấp trong cộng đồng, tiết kiệm thời gian, chiphí, công sức của nhân dân và của Nhà nước Đồng thời, hòa giải còn là mộtphương thức để thực hiện dân chủ Thông qua hòa giải ở cơ sở, đường lối, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân một cách tự nhiên,trực tiếp, có sức thẩm thấu sâu sắc, sức lan tỏa rộng, vai trò tự quản của ngườidân được tăng cường
Trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở, vai trò của các tổ chức trong hệ thống chínhtrị, đặc biệt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam rất quan trọng, ngày càng đượcphát huy trong xây dựng các tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên, nâng cao hiệu quảhoạt động hòa giải ở cơ sở và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Hòa giải ở cơ sở
Trang 21có mục đích và ý nghĩa cao đẹp với tác dụng rất to lớn nên luôn được Đảng, Nhànước và xã hội quan tâm tạo điều kiện, khuyến khích và nhân dân đồng tình ủng
hộ
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của hòa giải ở cơ sở, ngay tạiĐiều 127 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định rõ sự cần thiết ở cơ sở, thành lậpcác tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật
và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo đúng các quy định của pháp luật Và Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 cũng đề ra nhiệm vụ: “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài" Cụ thể hóa quy định
của Hiến pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số09/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25/12/1998 về tổ chức và hoạt động hòa giải ở
cơ sở (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh hòa giải) Ngày 18/10/1999, Chính phủ banhành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh
về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (sau đây gọi tắt là Nghị định số160/1999/NĐ-CP) Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lýquan trọng cho việc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và đạt được một sốthành tựu trên thực tế
1 Một số kết quả về kiện toàn tổ chức và quản lý hoạt động hoà giải ở
Tổ hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên Mỗi tổ hoà giải có từ 03 tổ viên trởlên Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của cụm dân cư và kết quả cuộc họp thôn,xóm, bản, ấp, tổ dân phố, kết quả cuộc họp chủ hộ hoặc kết quả phiếu lấy ý kiến
Trang 22chủ hộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định số lượng tổhoà giải ở mỗi địa phương.
Hoạt động hoà giải của tổ hoà giải là một hình thức giải quyết những viphạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân Cũng giống như các loại hìnhhoà giải của Toà án nhân dân đối với những tranh chấp dân sự và hoà giải củatrọng tài kinh tế đối với những tranh chấp kinh tế, trong hoạt động hoà giải, cácbên tranh chấp đều cần đến một bên thứ ba (ở đây là thành viên tổ hoà giải) làmtrung gian, giúp họ đạt được thỏa thuận, giải quyết được những bất đồng giữacác bên Bên trung gian có vai trò trung lập, khách quan, có thể đưa ra các ý kiến
cá nhân của mình để giúp đỡ các bên hoà giải, thoả thuận trên cơ sở pháp luật.Đối với Toà án nhân dân, hoà giải trở thành nguyên tắc giải quyết các tranh chấpdân sự (Điều 12 Bộ Luật Dân sự năm 2005); còn đối với tổ hoà giải ở cơ sở,hoà giải vừa là nguyên tắc vừa là nhiệm vụ chủ yếu trong việc giải quyết nhữngtranh chấp nhỏ trong nhân dân Việc giải quyết những vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ trong nhân dân do “Tổ hoà giải” và các tổ chức thích hợp khác
của nhân dân ở cơ sở thực hiện
Thời gian qua, ở một số địa phương, tổ hoà giải được lồng ghép đồng thời
là tổ dân phố, tổ an ninh nhân dân, tổ thanh tra nhân dân (Thanh Hoá, thành phố
Hồ Chí Minh…) Số thành viên của tổ hoà giải rất đa dạng Phần lớn từ 03 đến
05 thành viên, nhưng cũng có nơi từ 03 đến 07 hoặc trên 09 thành viên
Cơ cấu tổ hoà giải gồm: Tổ trưởng và các thành viên Tổ trưởng tổ hoà giảithường là trưởng thôn, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Bí thư chi bộ, Chủ tịch hộiphụ nữ, Hội cựu chiến binh… ở miền núi, nhiều nơi tộc trưởng, già làng làm tổtrưởng
1.2 Tổ viên tổ hòa giải
Tổ viên tổ hòa giải là người có phẩm chất đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấphành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và có uy tíntrong nhân dân; có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện chínhsách, pháp luật; tự nguyện tham gia tổ chức hòa giải, có tinh thần trách nhiệm,nhiệt tình trong công tác hòa giải (Điều 9 Pháp lệnh hòa giải)
Trang 23Tổ viên tổ hòa giải có nhiệm vụ, quyền hạn: Thực hiện hòa giải các vụ việctheo quy định của pháp luật; thông qua hoạt động hòa giải, tuyên truyền, vậnđộng nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; đối với những tranh chấpkhông thuộc phạm vi hòa giải có thể ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địaphương, thì tổ viên tổ hòa giải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân xã, phường, thịtrấn để xem xét và có biện pháp giải quyết
Thực tế thời gian qua, tổ viên tổ hoà giải ở các địa phương rất phong phú cả
về giớí tính và cơ cấu xã hội: có nam, nữ, già, trẻ, có Đảng viên, Đoàn viên; cóđại diện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong cộng đồng dân cư ở địa phương
Tổ viên tổ hoà giải không phải công chức nhà nước, là người được nhân dân ở
cơ sở lựa chọn cử ra, đại diện cho các giới, các tổ chức, đoàn thể của nhân dân ở
cơ sở và được chính quyền phường, xã, thị trấn công nhận Đó là những người
có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong nhân dân, luôn gương mẫu thực hiệnnghiêm chỉnh chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có tinh thầntrách nhiệm, nhiệt tình và tự nguyện tham gia công tác hoà giải; có văn hoá, hiểubiết nhất định về kiến thức xã hội, kinh nghiệm sống; có khả năng thuyết phục,vận động quần chúng thực hiện chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.Bên cạnh những tiêu chuẩn nêu trên, tổ viên tổ hoà giải còn là những người sốngtrên địa bàn dân cư nên họ nắm được thực tiễn trên địa bàn, tâm lý, phong tục,truyền thống, phát hiện kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp và có các giảipháp giải quyết linh hoạt các mâu thuẫn tranh chấp trong nội bộ nhân dân mộtcách phù hợp, thoả đáng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở cơsở
Thẩm quyền của tổ hoà giải là hoà giải những vi phạm pháp luật và tranhchấp nhỏ trong nhân dân Theo Điều 3 Pháp lệnh hoà giải thì tổ hoà giải có thẩmquyền hoà giải, giải quyết những mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân vớinhau; tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ dân sự về tài sản vàquyền lợi khác như: xây dựng nhà cửa, sử dụng điện, nước, đường đi lối lại, câycối… trong quan hệ hôn nhân và gia đình, trong sinh hoạt cộng đồng dân cư;những việc vi phạm pháp luật như xích mích, đánh, cãi nhau, gây thương tích
Trang 24nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc biện pháp hànhchính Thông qua hoạt động hoà giải, tổ hoà giải tuyên truyền, phổ biến, giáodục, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, đồng thời thuyết phục, vận độngnhân dân chấp hành các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Với đặc điểm của tổ hoà giải nêu trên, vì thế việc củng cố và kiện toàn tổhoà giải ở cơ sở là rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả củacông tác hòa giải trong điều kiện hiện nay
Để củng cố, kiện toàn các tổ hoà giải hiện có ở địa phương, Ủy ban nhândân cấp xã (công chức Tư pháp - Hộ tịch) phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổquốc xã, phường, thị trấn và Trưởng thôn, xóm, làng, bản, ấp, tổ dân phố tiếnhành rà soát số lượng tổ hoà giải hiện có trong phạm vi xã, phường, thị trấn; số
tổ viên tổ hoà giải về số lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng đápứng nhu cầu công tác, số người cần được bổ sung, các trường hợp thôi khônglàm tổ viên tổ hoà giải nếu có; trên cơ sở đó đề xuất ý kiến về mặt tổ chức, hoạtđộng, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho tổ viên tổ hoà giải và trình danhsách các tổ hoà giải đủ điều kiện để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyếtđịnh công nhận
Từ khi có Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP, việc bồidưỡng kiến thức pháp luật, trao đổi nghiệp vụ về công tác hòa giải cho đội ngũhòa giải viên luôn được ngành tư pháp rất quan tâm và chú trọng Mặc dù cònnhiều khó khăn, kinh phí còn hạn hẹp, số lượng tổ viên tổ hòa giải lớn, nhưngviệc bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ này được nhiều địa phương quan tâm,chú trọng Nhiều nơi Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ tổ chức các lớp bồidưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải cho tổ viên tổ hòa giải Đây làhoạt động cần được quan tâm, duy trì thường xuyên, định kỳ nhất là trong nhữngthời điểm sắp xếp, củng cố, kiện toàn, bầu mới các tổ viên tổ hòa giải hoặc trongnhững trường hợp hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động hòa giải ở cơ sở
có sự sửa đổi, bổ sung
Hoạt động hoà giải đòi hỏi không phải chỉ bằng kinh nghiệm cuộc sống màcòn đòi hỏi phải có hiểu biết nhất định về kiến thức pháp luật để giải quyết
Trang 25những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân được thấu tình, đạt
lý và hiệu quả Việc thuyết phục, giáo dục để mọi người thấy được cái “đúng”, cái “sai” đi đến thoả thuận chấm dứt bất đồng, tranh chấp hàn gắn mối quan hệ
đoàn kết, hoà thuận không chỉ dựa vào tình cảm, truyền thống đạo đức, tập quán
mà còn phải dựa trên cơ sở pháp luật Trong điều kiện kinh tế xã hội ngày mộtphát triển, trình độ dân trí ngày một nâng cao, người làm công tác hoà giảikhông chỉ cần có đạo đức, uy tín, tâm huyết và nhiệt tình mà còn phải có kiếnthức về nhiều phương diện, trong đó có kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hoàgiải Vì vậy, tăng cường bồi dưỡng thường xuyên đường lối, chính sách củaĐảng, pháp luật Nhà nước và nghiệp vụ hoà giải cho tổ viên tổ hoà giải là vấn
đề cần thiết, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng, nâng cao năng lực chođội ngũ tổ viên tổ hoà giải ở cơ sở luôn là điều trăn trở và quyết tâm thực hiệncủa ngành Tư pháp Bên cạnh việc hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải còn
có thể thực hiện nhiều hình thức khác đã được Bộ Tư pháp quan tâm, chỉ đạo và
tổ chức thực hiện như: tổ chức Hội nghị và 02 Hội thi “Hoà giải viên giỏi” toàn
quốc năm 2000 (lần 1) năm 2005 (lần 2), đã góp phần thúc đẩy phong trào hòagiải trong cả nước Nhiều địa phương như Hà Nội, Quảng Bình, Hưng Yên,Bình Dương đã tổ chức và định kỳ tổ chức Hội thi “ Hòa giải viên giỏi” từ cấp
cơ sở xã, phường, thị trấn đến cấp huyện, tỉnh, thành phố với sự tham gia củahàng nghìn hòa giải viên Hội thi thu được kết quả tốt, được các ngành, các cấp
và nhân dân đánh giá cao, góp phần động viên, khích lệ tinh thần để các hòa giảiviên thêm nhiệt tình, hăng hái hoàn thành nhiệm vụ hòa giải, thiết thực phục vụtốt hơn cho cuộc sống Có địa phương còn có nhiều cách làm sáng tạo như tổchức thi tìm hiểu pháp luật cho hòa giải viên (thành phố Hồ Chí Minh), tổ chứccho các hòa giải viên tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm xử lý những tranh chấp cụthể phát sinh từ thực tế và giải đáp vướng mắc hòa giải viên nêu ra (Tây Ninh)
Việc xây dựng chương trình, biên soạn, cung cấp tài liệu phục vụ cho hoạtđộng bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng cho người làm công tác hòa giải đãđược Bộ Tư pháp rất quan tâm, tổ chức thực hiện Theo báo cáo của địa phương,100% các tỉnh, thành phố trong cả nước đều biên soạn và phát hành tài liệu
Trang 26hướng dẫn nghiệp vụ, tài liệu pháp luật (dưới hình thức sổ tay, cẩm nang, tờ gấp,băng đĩa…) cung cấp cho các tổ hòa giải và hòa giải viên Các tỉnh như KiênGiang, An Giang… đã bảo đảm cho 100% các hòa giải viên được cung cấp tàiliệu hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải Đặc biệt năm 2007, được sự hỗ trợ của Dự
án VIE/02/015, Bộ Tư pháp đã biên soạn, đưa vào sử dụng rộng rãi Bộ tài liệutập huấn về công tác hòa giải thống nhất trên cả nước Theo đánh giá của các địaphương, đây là bộ tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ có giá trị, là nguồn chủ yếu đểcác địa phương biên tập, chỉnh lý cho phù hợp với điều kiện thực tế của mình,giúp các tổ viên tổ hòa giải tham khảo, vận dụng trong hoạt động thực tiễn Bêncạnh đó, Bộ Tư pháp cũng mở nhiều khóa tập huấn cho cán bộ tư pháp cấp tỉnh,tập huấn về công tác hòa giải cho các địa phương Hàng năm, Sở Tư pháp cáctỉnh, thành phố tổ chức và hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụcho các hòa giải viên Theo báo cáo của một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, PhúThọ, Ninh Thuận đã tập huấn được cho 100% số hòa giải viên trên địa bàn.Năm 2010 - 2011, Bộ Tư pháp phối hợp với Dự án phát triển tư pháp và sự thamgia từ cơ sở (JUDGE) của Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) tổ chứctập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải cho tổviên tổ hòa giải ở 03 tỉnh điểm (Bắc Giang, Long An, Đắk Lắk), đây là cơ hộigiúp tổ viên tổ hòa giải có điều kiện nâng cao kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòagiải, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước rút kinh nghiệm để nhân rộngviệc tổ chức tập huấn tại cơ sở
Bên cạnh việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật nhằm từng bướcnâng cao năng lực cho hòa giải viên thì ngành Tư pháp còn rất quan tâm, chútrọng việc bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòagiải cho hòa giải viên, tổ hòa giải ở các huyện nghèo theo Quyết định số52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗtrợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồngbào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2010-2020 Từ năm 2012 đến6/2014, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Sở Tư pháp tổ chức tập huấn kiến thức
Trang 27phỏp luật và nghiệp vụ hũa giải cho hũa giải viờn tại 65 huyện nghốo (56 lớp)thuộc 21 tỉnh: Bắc Giang, Phỳ Thọ, Lào Cai, Lai Chõu, Yờn Bỏi, Cao Bằng,Sơn La, Thanh Húa, Quảng Nam, Quảng Ngói, Quảng Bỡnh, Quảng Trị, BỡnhĐịnh, Lõm Đồng, Kon Tum, Ninh Thuận… bước đầu đỏp ứng kịp thời nhu cầu
hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng người làm cụng tỏc hũa giải ở cơ sở, tạo thuận lợi chongười nghốo, người dõn tộc thiểu số và những người cú hoàn cảnh đặc biệt khúkhăn được tiếp cận với dịch vụ miễn phớ Qua đú nõng cao hiểu biết phỏp luật, ýthức chấp hành phỏp luật, gúp phần bảo vệ quyền, lợi ớch hợp phỏp của cụngdõn, bảo vệ cụng lý, bảo đảm cụng bằng xó hội, phũng ngừa, hạn chế tranh chấp
và vi phạm phỏp luật, đồng thời tham gia xúa đúi giảm nghốo, thực hiện dõn chủ
ở cơ sở
Trong nhiều năm qua ngành tư phỏp cũng rất quan tõm, chỳ trọng phối hợpvới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên củaMặt trận, các tổ chức xã hội khác trong công tác hoà giải ở cơ
sở, bởi hoạt động hoà giải ở cơ sở gắn với việc vận động, thu hỳt,thuyết phục quần chúng do đú rất cần sự tham gia tích cực củacác tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở và phải gắn với các phongtrào quần chúng ở địa phơng Do đó mối quan hệ mật thiếtgiữa các cơ quan t pháp với các tổ chức chính trị - xã hội, các
đoàn thể quần chúng có ý nghĩa hết sức quan trọng, khôngchỉ bảo đảm tính dân chủ trong công tác hòa giải mà còngóp phần gắn kết hoạt động hòa giải với các phong trào củaquần chúng, nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải Thực tế,thời gian qua ngành T pháp đã chủ động phối hợp với các tổchức đoàn thể xã hội (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việtnam, Hội Liờn hiệp phụ nữ, Hội Nụng dõn, Uỷ ban dõn tộc, Hội Cựu chiếnbinh…) ban hành các văn bản (Chơng trình phối hợp số14/2013/CTPH-TP-PN ngày 10/01/2013 của Bộ T pháp và Trung -
ơng Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về việc đẩy mạnh cụng tỏc phổbiến, giỏo dục phỏp luật, trợ giỳp phỏp lý, tư vấn phỏp luật cho phụ nữ, hũa giải
Trang 28ở cơ sở và lồng ghộp trong xõy dựng phỏp luật giai đoạn 2013-2017;Chơng trình phối hợp số 1285/CTPH-BTP-BTTUBTUMTTQVNngày 24/4/2009 của Bộ T pháp và Ban thờng trực Uỷ ban Trung
ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tăng cờng thực hiện côngtác hòa giải ở cơ sở ) nhằm đẩy mạnh công tác phổ biến, giáodục pháp luật nói chung và công tác hoà giải nói riêng; cũng làmột trong những biện pháp nhằm thu hút các tổ chức đoànthể, quần chúng tham gia tích cực vào công tác hòa giải ở cơ
sở hiện nay Ở địa phương, nhiều Sở Tư phỏp bằng việc ký cỏc Kế hoạch,Chương trỡnh phối hợp, kế hoạch liờn ngành với cỏc đoàn thể, tổ chức xó hộinhất là với Mặt trận Tổ quốc đó thỳc đẩy cụng tỏc hoà giải tại địa phương
Bờn cạnh việc tăng cường phối hợp với Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xãhội khác thỡ cụng tỏc kiểm tra, đôn đốc, thống kê việc thực hiệncông tác hũa giải ở cơ sở trong công tác hoà giải ở cơ sở đợcngành Tư phỏp xem nh một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảocho các văn bản quy phạm phỏp luật thực sự triển khai trong thực tiễn
Thực tế thời gian qua, cỏc địa phơng rất quan tâm và coi đây
là một nội dung trong kiểm tra công tác t pháp Qua kiểm tra,thống kê giúp cho cơ quan t pháp nắm đợc tình hình hoạt
động của các tổ hoà giải và tổ viên tổ hòa giải, những tồntại, vớng mắc trên thực tiễn, từ đó có những giải pháp khắcphục kịp thời Ngoài ra, công tác kiểm tra, đôn đốc, thống kê
về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở còn giúp cho cơquan quản lý nhà nớc phát hiện những cách làm hay, mô hìnhhiệu quả để nhân rộng trên địa bàn Một số địa phơng nhưthành phố Hồ Chí Minh, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, HàGiang, Đắk Lắk, An Giang, Hậu Giang, Tiền Giang, Bến Tre,
Đồng Tháp việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện công tác hòa
Trang 29Việc sơ kết, tổng kết đánh giá công tác hòa giải ở cơ sở trongnhững năm qua được nhiều địa phương quan tõm, thực hiện, nhờ đú đó giúpcho các cơ quan quản lý nhà nớc định kỳ nắm đợc tình hình,kết quả của công tác hòa giải trên địa bàn, thấy rõ đợc những
u, nhợc điểm trong công tác hòa giải, nguyên nhân của nhữngtồn tại, hạn chế để có những biện pháp khắc phục thích hợp.Thực tế thời gian qua, việc sơ kết, tổng kết công tác hòa giải
ở cơ sở đã đợc đa số các địa phơng thực hiện lồng ghép
trong sơ kết, tổng kết công tác t pháp hàng năm Đặc biệt,năm 2008 Bộ T pháp đã tổ chức hội nghị tổng kết 10 nămthực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở(năm 1998 - 2008) Bên cạnh đó nhiều địa phơng đã tổ chức
đợc hội nghị sơ kết, tổng kết chuyên đề thực hiện Pháp lệnh
về hòa giải trên phạm vi toàn tỉnh nh: Hà Nội, Bắc Kạn, VĩnhPhúc, Bắc Giang, Quảng Bỡnh, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Tiền Giang,Long An, Lõm Đồng, Cà Mau Ngoài ra, một số địa phơng đã
tổ chức hội nghị giới thiệu những điển hình tốt trong hoạt
động hoà giải, phổ biến kinh nghiệm giải quyết các tranhchấp, mâu thuẫn trong quá trình hoà giải nh ở Thái Bình,Vĩnh Phúc, Đồng Tháp
Cựng với việc sơ kết, tổng kết cụng tỏc hũa giải ở cơ sở hàng năm thỡ việc
thi đua, khen thưởng cụng tỏc này cũng được nhiều địa phơng quantâm thực hiện, một số tỉnh, thành phố thực hiện nề nếp,
điển hình nh: thành phố Hồ Chí Minh, trong 10 năm qua 2008), Uỷ ban nhân dân thành phố đã tặng 14 bằng khen chocác tập thể tổ hòa giải và hòa giải viên giỏi cấp thành phố, Uỷban nhân dân các quận, huyện đã tặng 3.200 giấy khen chotập thể tổ hòa giải và cá nhân hòa giải viên; An Giang mỗi năm
(1998-Sở T pháp xét và đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh tặng 01 cờdẫn đầu phong trào hòa giải cho 01 đơn vị huyện, thị xã,
Trang 30thành phố xuất sắc nhất, khen thởng mỗi huyện, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh 01 tập thể và 01 cá nhân hoặc ở tỉnh PhúThọ, hàng năm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã đều tặnggiấy khen cho 01 đến 02 tổ hòa giải và 03 đến 05 hòa giảiviên xuất sắc gúp phần động viờn, khuyến khớch cỏc hũa giải viờn tớch cựctham gia cụng tỏc hũa giải ở cơ sở, thỳc đẩy phong trào hũa giải phỏt triển.
Bờn cạnh việc đẩy mạnh cỏc hoạt động hũa giải, thời gian qua, ngành Tưphỏp rất quan tõm đến cỏc điều kiện cần thiết bảo đảm cho cụng tỏc hũa giải đạtkết quả tốt Bộ Tư phỏp phối hợp với Bộ Tài chớnh xõy dựng và thực hiện Thụng
tư liờn tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 của Bộ Tài chính
- Bộ T pháp hớng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toánkinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật(thay thế Thông t số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của BộTài chính) trong đó có quy định cụ thể nội dung chi và mứcchi cho công tác hòa giải ở cơ sở, vỡ thế, đó khắc phục phần nào khúkhăn cho hũa giải viờn khi thực hiện hoạt động hũa giải, đồng thời, tạo điều kiệnthuận lợi cho cụng tỏc hũa giải ở cơ sở ngày một phỏt huy Hiện có nhiều tỉnh,thành phố đó ban hành được Nghị quyết của Hội đồng nhõn dõn tỉnh hoặc Quyếtđịnh của Ủy ban nhõn dõn tỉnh trong đú quy định kinh phớ hỗ trợ hoạt động của
tổ hũa giải, chi thự lao cho hũa giải viờn theo vụ việc như cỏc tỉnh, thành phố:thành phố Hồ Chớ Minh, Hà Nội, Bắc Giang, Lai Chõu, Quảng Ngói, Nghệ An,Đắk Lắk, Long An, Tiền Giang, Kiờn Giang, Bà Rịa Vũng Tàu, Bỡnh Dương,Bến Tre cú kinh phớ chi cho hoạt động thường xuyờn của tổ hũa giải Mặc dự
sự đầu tư về kinh phớ và cơ sở vật chất cho cụng tỏc hũa giải cũn hạn chế nhưng
đó cổ vũ, động viờn, khớch lệ lớn đối với những người làm cụng tỏc hũa giải ở cơ
sở nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường
1.3 Tổng kết thành tựu đạt được
Qua tổng kết thực tiễn 13 năm thi hành Phỏp lệnh hũa giải và Nghị định
số 160/1999/NĐ-CP cho thấy, cỏc quy định của phỏp luật hiện hành về hũa giải
ở cơ sở đó đi vào cuộc sống, phự hợp với mong muốn xõy dựng gia đỡnh hạnh
Trang 31phúc, xóm, phố yên vui, thúc đẩy đất nước phát triển Mô hình tổ hòa giải ở cơ
sở đã phát triển rộng rãi trên cả nước Có nơi tổ hòa giải được thành lập ở cáckhu chợ, khu vui chơi, giải trí, điểm du lịch (Hà Nội, Quảng Nam, Cần Thơ),trong dòng họ (Bắc Ninh), ở các điểm chùa Khơme (Cần Thơ, Hậu Giang) hoặcthành lập lồng ghép với tổ an ninh nhân dân (Điện Biên), lồng ghép với tổ dânphố (thành phố Hồ Chí Minh)… Tính đến tháng 12/2011, cả nước có 121.251 tổhòa giải với 628.530 hòa giải viên1 , trong đó, số lượng thành viên của mỗi tổhòa giải là khác nhau, nhưng trung bình từ 05 - 11 hòa giải viên/tổ Số lượng tổhòa giải, hoà giải viên tăng lên đáng kể so với trước khi có Pháp lệnh hòa giải2.Một số địa phương có số lượng thành viên tổ hòa giải nhiều như Ninh Bình (05 -09), Hậu Giang, Cà Mau (05 - 10), Hà Giang (03 - 13)… So với trước khi cóPháp lệnh hòa giải, số lượng hòa giải viên đã tăng khoảng 1,6 lần Đây là mộtlực lượng hùng hậu, chưa kể các cán bộ chính quyền, đoàn thể cơ sở, cán bộnghỉ hưu, trưởng họ, trưởng tộc… những người có uy tín trong cộng đồng dân
cư không phải là tổ viên tổ hòa giải nhưng đã và đang tham gia tích cực vào việchòa giải một cách tự nguyện Chất lượng của đội ngũ hòa giải viên ngày càngđược nâng cao Trong số 628.530 hòa giải viên có 179.986 hòa giải viên có trình
độ Trung học Phổ thông và 84.975 hòa giải viên có trình độ chuyên môn từTrung cấp đến cao Cao đẳng, Đại học, 738 hòa giải viên sau Đại học Các thànhviên tổ hòa giải đều là những người có phẩm chất đạo đức tốt, sống gương mẫu,
có uy tín, có khả năng vận động, thuyết phục nhân dân chấp hành pháp luật, cótinh thần trách nhiệm, nhiệt tình tham gia công tác hòa giải, được bầu chọn côngkhai, dân chủ trong cộng đồng Hầu hết các tỉnh, thành phố đã kiện toàn, củng
cố và xây dựng mới tổ chức tổ hoà giải ở các thôn, xóm, bản, ấp và các cụm dân
cư khác Xuất phát từ tình hình thực tiễn, nên ở nhiều tỉnh, thành phố, trong mộtcụm dân cư đã thành lập nhiều tổ hoà giải phù hợp với đặc điểm dân cư, nghềnghiệp, tâm lý, tập quán… như tổ hoà giải ở các chợ, trung tâm buôn bán, tổhoà giải ở các xóm Đạo, tổ hoà giải của các dòng họ… ở Thái Bình, toàn tỉnh đã
1 Theo Báo cáo tổng kết 13 năm thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2 Năm 1997 cả nước có 85.000 tổ hòa giải với 400.000 hòa giải viên
Trang 32củng cố, kiện toàn xong 1.952 tổ hoà giải với 13.589 tổ viên, mỗi thôn thành lậpmột tổ hoà giải; thành phố Hà Nội có 2.622 tổ hoà giải với 13.322 tổ viên; BắcKạn có 1376 thôn, bản thì cũng có 1.377 tổ hoà giải với 5.649 tổ viên; thành phố
Hồ Chí Minh có 24 quận, huyện và 317 phường, xã đều có lực lượng hoà giảiviên ở khu phố, tổ dân phố, ấp nhân dân (hầu hết các phường, xã, thị trấn quận,huyện hoạt động hoà giải được tổ chức theo mô hình vừa là tổ dân phố, khu phốvừa là tổ hoà giải, có 8.709 tổ hoà giải với 32.141 hoà giải viên (tính đến tháng10/2004) Cũng có địa phương hình thành tổ hoà giải ở 02 cấp: tổ hoà giải ởcụm dân cư và Ban hoà giải (hoặc Hội đồng hoà giải ) ở cấp xã (Lạng Sơn, BắcGiang, Phú Thọ, Bến Tre, Khánh Hoà, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, TâyNinh…) Những mâu thuẫn và tranh chấp mà tổ hoà giải không hoà giải được thìđưa lên Ban hoà giải để giải quyết Thành viên của Ban hoà giải này, đồng thời,
là cán bộ của các tổ chức do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cử ra Thực tếcho thấy mô hình này đã giải quyết khá tốt các vụ việc do tổ hoà giải không hoàgiải được gửi đến (từ 50% đến 70% trở lên) góp phần giải quyết kịp thời các viphạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân
Kết quả hoạt động hòa giải ở cơ sở ngày một nâng cao Theo báo cáo của
63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính từ năm 1999 đến tháng 03 năm
2012, tổng số vụ việc nhận hòa giải là 4.358.662, trong đó, hòa giải thành là3.488.144 vụ, đạt tỷ lệ 80% góp phần giải quyết các mâu thuẫn, vi phạm phápluật và tranh chấp nhỏ ở cơ sở Nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ hòa giải thành caotrên 85% như Lai Châu (85,5%), Phú Thọ (86,7%), Sơn La (86,8%), QuảngNinh (86,9%), Hà Giang (87%), Hòa Bình (87,1%), Quảng Bình (88,3%), ĐàNẵng (88,57%), Lào Cai (89,7%), Thừa Thiên Huế (90,1%), Hà Nội (90,6%),Thái Bình (92,7%) Trong đó, Thái Bình và Hà Nội là hai tỉnh, thành phố đạt tỷ
lệ hòa giải thành cao nhất trên tổng số vụ việc nhận hòa giải ở cơ sở, góp phầngiảm thiểu số vụ, việc tranh chấp phải đưa lên cơ quan có thẩm quyền và Tòa ángiải quyết; xây dựng đời sống văn hóa gia đình, cộng đồng, xã hội ổn định, pháttriển Hoạt động phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong công tác hòa giảiđược tăng cường, nhất là ở địa phương sự phối hợp giữa Sở Tư pháp và Ủy ban
Trang 33Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức chính trị - xã hội như: HộiLiên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh Việt Nam…đã được thựchiện tích cực thông qua các chương trình phối hợp, kế hoạch liên ngành
Nhìn chung, hoạt động hòa giải ở cơ sở đã đạt được những kết quả đángkhích lệ Có được kết quả này, trước hết là nhờ sự đóng góp của đội ngũ hòa giảiviên đã nhiệt tình, tâm huyết, không quản ngại khó khăn, vất vả để hàn gắnnhững rạn nứt về tình cảm trong gia đình, giữ gìn tình làng nghĩa xóm, tình đoànkết trong cộng đồng dân cư Bên cạnh giá trị vật chất thì giá trị tinh thần màcông tác hòa giải mang lại là vô giá, đó chính là tình đoàn kết, tương thân, tương
ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng Công tác hòa giải ở cơ sở đã góp phầnphòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giảm bớt
vụ việc đưa lên cơ quan nhà nước giải quyết, mang lại lợi ích kinh tế - xã hộicho đất nước
2 Một số khó khăn, hạn chế khi triển khai Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP và nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế này
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì ở một số địa phương, tỷ lệ hòagiải thành còn thấp như: tỉnh Bình Phước (64,3%) Bà Rịa – Vũng Tàu(62,45%), Cần Thơ (61,7%), Trà Vinh (59,87%) và tỉnh Tây Ninh (59,1%) Sở
dĩ có sự hạn chế này là do việc thực hiện Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số160/1999/NĐ-CP còn tồn tại một số bất cập cơ bản như sau:
Thứ nhất, Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP chưa quy
định đầy đủ, cụ thể về cơ chế, chính sách cho công tác hòa giải ở cơ sở, trong đó
có quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên Quyền được bồi dưỡng kiến thức phápluật, nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải ở cơ sở, được cung cấp tài liệu pháp luật liênquan đến hoạt động hòa giải chưa được chú trọng, dẫn đến năng lực của độingũ hòa giải viên nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến kếtquả hòa giải thành ở một số địa phương Việc khen thưởng khi có thành tíchxuất sắc, được hưởng thù lao khi thực hiện hòa giải chưa được ghi nhận, chưakịp thời tôn vinh các hòa giải viên giỏi Ngoài ra, chính sách hỗ trợ về kinh phí
Trang 34cho hoạt động của tổ hòa giải chưa được Pháp lệnh hòa giải quy định, do đó, hoạtđộng của tổ hòa giải gặp nhiều khó khăn Việc còn tồn tại một số quy định trongPháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và Nghị định số160/1999/NĐ-CP còn chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể, chưa phù hợp với thực
tế, gây vướng mắc, thiếu thống nhất khi áp dụng kể trên đã khiến hòa giải ở cơ
sở chưa thực sự phát huy mạnh mẽ tác dụng trong đời sống xã hội với tư cách làmột tổ chức và hoạt động tự quản của nhân dân Bên cạnh đó, còn có một sốvăn bản pháp luật chuyên ngành cũng có các quy định liên quan đến hòa giảinhưng chưa có sự đồng bộ, thống nhất, gây lúng túng, khó khăn trong tổ chứcthực hiện
Thứ hai, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở chưa được quy định rõ Việc phânđịnh trách nhiệm và cơ chế phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổchức thành viên của Mặt trận với cơ quan Tư pháp từ trung ương đến địaphương không rõ ràng, dẫn đến tình trạng nhiều nơi cho rằng, công tác hòa giải
ở cơ sở là công việc, trách nhiệm của ngành Tư pháp Do vậy, dẫn đến sự phốihợp trong công tác hòa giải chưa được thực hiện một cách thường xuyên, chặtchẽ và thiếu sự chủ động
Thứ ba, ở nhiều địa phương còn tồn tại mô hình hòa giải 02 cấp: tổ hòa
giải ở thôn, tổ dân phố và Ban hòa giải/Hội đồng hòa giải cấp xã Trong khi đó,Pháp lệnh không quy định về Ban hòa giải/Hội đồng hòa giải dẫn đến sự lúngtúng trong việc áp dụng pháp luật tại một số địa phương đã và đang duy trì hoạtđộng của mô hình tổ chức này Mặt khác, Ban hòa giải hoạt động mang tínhhành chính, coi đó như cách giải quyết, phân xử buộc các bên phải tuân theo làmmất đi ý nghĩa, bản chất tự nguyện, tự thỏa thuận của hoạt động hòa giải ở cơ sở
Thứ tư, Bộ Tư pháp có chức năng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực
hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, nhưng các quy định bảo đảm cho việcthực hiện chức năng này của Bộ Tư pháp nói riêng và Tư pháp địa phương nóichung chưa được quy định đầy đủ; trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quantrong hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa được quy định; trách nhiệm của Ủy ban
Trang 35nhân dân các cấp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải cònchung chung
Những tồn tại, hạn chế trong công tác hòa giải ở cơ sở có nhiều nguyênnhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, các quy định về tổ chức, hoạt động, quản lý hòa giải ở cơ sở chưa
đầy đủ, cụ thể và thống nhất
Hai là, một số địa phương, cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về
vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở đối với đời sống
xã hội, nhiều khi còn “khoán trắng” cho cơ quan Tư pháp Cơ quan Tư pháp cáccấp ở một số nơi chưa thực sự chủ động, làm tốt vai trò tham mưu giúp Ủy bannhân dân cùng cấp trong quản lý công tác hòa giải ở địa phương
Ba là, sự phối hợp giữa cơ quan Tư pháp các cấp và Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp trong quản lý công tác hòa giải ở cơ sở chưa hiệu quả
Bốn là, việc huy động nguồn lực cho công tác hòa giải ở cơ sở chưa được
tiến hành một cách đồng bộ và thống nhất Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lýnhà nước về hòa giải phải kiêm nhiệm nhiều việc Việc bồi dưỡng kiến thứcpháp luật và nghiệp vụ hòa giải ở một số địa phương chưa được thực hiệnthường xuyên Kinh phí dành cho công tác này gần như không có, nhất là ở miềnnúi, vùng sâu, vùng xa, chế độ, chính sách đối với hòa giải viên không được đảmbảo
Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọngcủa công tác hòa giải ở cơ sở đối với đời sống xã hội, từ tình hình tổ chức, hoạtđộng hòa giải ở cơ sở trong thời gian qua và thực trạng pháp luật hiện hành vềlĩnh vực này, trước yêu cầu của cuộc sống, do tình hình vi phạm pháp luật, tộiphạm gia tăng, các mâu thuẫn xích mích, tranh chấp nảy sinh trong từng giađình, trong nội bộ nhân dân, cũng ngày một nhiều và phức tạp hơn, sự tác độngcủa mặt trái cơ chế thị trường, sự sa sút đạo đức của một bộ phận trong xã hội đãlàm ảnh hưởng không tốt tới tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội và sự bìnhyên của mỗi gia đình và xã hội thì việc xây dựng Luật hòa giải ở cơ sở sẽ thúc
Trang 36đẩy sự tham gia, thu hút của mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội, đặc biệt làMặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận vào công táchòa giải ở cơ sở, góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp trongnhân dân ở cơ sở, giảm tải các vụ việc phải đưa đến cơ quan có thẩm quyềnhoặc Tòa án giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho nhà nước và nhân dân.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên cho thấy, việc xây dựng Luật hòa giải
ở cơ sở, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao để tiếp tục duytrì, củng cố và phát triển hoạt động hòa giải trong thời gian tới là một việc làmrất cần thiết
II QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT VÀ BỐ CỤC CỦA LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
1 Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật hòa giải ở cơ sở
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hòa giải ở cơ sở nhằm tạo cơ sởpháp lý quan trọng, đầy đủ, toàn diện, thống nhất và đồng bộ về tổ chức và hoạtđộng hòa giải ở cơ sở Qua đó, tiếp tục tăng cường vai trò, trách nhiệm của cáccấp ủy Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và mọicông dân đối với công tác hòa giải ở cơ sở; củng cố, kiện toàn tổ chức và nângcao hiệu quả hoạt động hòa giải cơ sở; giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranhchấp, vi phạm pháp luật nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòngngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giảm bớt các vụ, việc phải chuyển đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Việc hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở, trọng tâm là xây dựng Dự
án Luật hòa giải ở cơ sở dựa trên những quan điểm cơ bản sau đây:
1.1 Quán triệt và thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ,xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân; cụ thể hóa quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm
2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW
Trang 37ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đếnnăm 2020 Đồng thời, bảo đảm sự đồng bộ và thống nhất với các văn bản phápluật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định “Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” Cụ thể hóa quy định
này, Luật hòa giải ở cơ sở tiếp tục kế thừa, phát triển cần có cơ chế, cơ sở pháp
lý cho hoạt động hòa giải ở cơ sở trong điều kiện hiện nay
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020: “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”
Bên cạnh Pháp lệnh hòa giải, hiện nay một số luật, pháp lệnh chuyênngành cũng có các quy định liên quan đến hòa giải ở cơ sở với cách thức tổchức, hoạt động hòa giải có những điểm khác với quy định của Pháp lệnh hòagiải nhưng một số nơi khi thực hiện lại theo Pháp lệnh hòa giải (ví dụ Điều 135Luật đất đai năm 2003 trong đó quy định việc hòa giải tranh chấp đất đai ở Ủyban nhân dân cấp xã là một thủ tục bắt buộc trong giải quyết tranh chấp đất đai)dẫn đến sự lạm dụng, chồng chéo, không thống nhất, đồng bộ trong thực tiễn tổchức và hoạt động hòa giải ở cơ sở Vì vậy, Luật hòa giải ở cơ sở cần có nhữngquy định thống nhất, tránh chồng chéo và phải đồng bộ
1.2 Các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở phải phù hợp với văn hóa,truyền thống đạo lý của người Việt Nam, để hoạt động hòa giải ở cơ sở phát huyđược giá trị tốt đẹp, giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng, đóng góp tích cực cho sự
ổn định của xã hội Hoạt động hòa giải ở cơ sở có lịch sử tồn tại và phát triểncùng với lịch sử xây dựng và phát triển của đất nước, kế tục truyền thống đoànkết, bản sắc tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Một dân tộc luôn bất khuất, kiêncường trong đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc và cũng là dân tộc luôn có lòngnhân ái, vị tha trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong cuộc sống cộng đồngmỗi khi có va chạm, mâu thuẫn, tranh chấp giữa mọi người trong gia đình hay
Trang 38ngoài xã hội, nhân dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, với
phương châm “lá lành đùm lá rách”, “chị ngã em nâng”, tự giúp đỡ nhau dàn xếp, khuyên nhủ nhau “một điều nhịn, chín điều lành”, “chín bỏ làm mười” để
“tắt lửa, tối đèn có nhau”, xóa bỏ bất đồng, hận thù với nhau, xây dựng một
cộng đồng hòa thuận, yên vui, hạnh phúc Cùng với sự phát triển của xã hội việcxây dựng khối đại đoàn kết trong cộng đồng, dân tộc vẫn không ngừng được mởrộng và phát triển Chính vì vậy, khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hòa giải
cơ sở, nhất là Luật hòa giải ở cơ sở cần phải tính đến những đặc điểm này
1.3 Nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chứcthành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải cơ sở Nhà nước tạo hành langpháp lý và hỗ trợ hoạt động hòa giải; không hành chính hóa hoạt động này Huyđộng các tổ chức thích hợp khác của nhân dân tham gia hoạt động hòa giải cơsở; khuyến khích việc đa dạng hóa các hình thức hòa giải của nhân dân ở cơ sở
Là một tổ chức quần chúng trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,nhân dân làm chủ, tổ hòa giải không thể đứng ngoài sự lãnh đạo của Đảng,không thể thiếu vai trò quản lý của nhà nước và sự tham gia của Mặt trận Tổquốc và các tổ chức chính trị - xã hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức tập hợp đông đảo các tầng lớp nhândân tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chính vì vậy Mặt trận Tổquốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận thường xuyên động viênnhân dân tham gia xây dựng củng cố tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.Điều 7 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 quy định một trong những
nhiệm vụ của Mặt trận là “tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật”, Điều 5 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở đã quy định: “Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước hữu quan, động viên nhân dân trong việc xây dựng, củng cố Tổ hòa giải và các tổ chức hòa giải khác của nhân dân trong cộng đồng dân cư; giúp đỡ, tạo điều kiện cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; tham gia hòa giải theo quy định của pháp luật”.
Thực hiện quy định của pháp luật, thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
Trang 39chức thành viên của Mặt trận các cấp đã tham gia tích cực và có những đónggóp lớn cho công tác hòa giải ở cơ sở Xuất phát từ bản chất của hòa giải cơ sở
là hoạt động của dân, do dân tự quản, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cáccấp và các tổ chức thành viên phải phát huy vị trí trung tâm, vai trò chủ đạotrong việc tham gia xây dựng, tổ chức hoạt động hòa giải cơ sở như việc lựachọn, cử người của tổ chức mình tham gia làm hòa giải viên, tổ chức bầu hòagiải viên…
Hoạt động hòa giải ở cơ sở sở là hoạt động tự quản, mang tính tự nguyệncủa người dân nhưng cũng cần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước Tuy nhiên,Nhà nước không can thiệp quá sâu và hành chính hóa hoạt động này, mà chủyếu tạo là tạo ra hành lang pháp lý và những điều kiện hỗ trợ đắc lực trong côngtác hòa giải như đảm bảo các điều kiện cần thiết về kinh phí, bồi dưỡng trang bịkiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải, khen thưởng, động viên phong trào, thuhút những người có uy tín, có khả năng, có điều kiện nhiệt tình tham gia côngtác hòa giải
1.4 Việc xây dựng Luật hòa giải ở cơ sở là một bước pháp điển hóa phápluật về hòa giải cơ sở dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, kế thừa những quy địnhcủa Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP, trong đó có cácnguyên tắc: phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; tôn trọng sự
tự nguyện của các bên; khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thôngtin đời tư của các bên tranh chấp;… Đồng thời có những sửa đổi, bổ sung nhằmkhắc phục những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở, tạođiều kiện thuận lợi, khuyến khích, động viên người dân tích cực sử dụng hòagiải ở cơ sở trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp như quy định Nhà nước hỗtrợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụcủa hòa giải viên cũng như của các bên trong hòa giải
Bên cạnh đó, việc xây dựng Luật hòa giải ở cơ sở cần tham khảo, tiếp thu
có chọn lọc kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động hòa giải ở cơ sởcủa các nước trong khu vực và trên thế giới (Trung Quốc, Singapore, Hong
Trang 40Kong, Sri Lanka, Úc, Đức ) nhưng phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm, điềukiện của Việt Nam.
Ngày 20 tháng 6 năm 2013, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII đãthông qua Luật hòa giải ở cơ sở Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01tháng01năm 2014 Để triển khai thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, ngày 27 tháng 02năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định chi tiếtmột số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở
2 Bố cục của Luật Hòa giải ở cơ sở
Luật Hòa giải ở cơ sở gồm có 5 Chương, 33 Điều như sau:
- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 6):
Chương này quy định về Phạm vi điều chỉnh; Giải thích từ ngữ; Phạm vihòa giải ở cơ sở; Nguyên tắc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; Chính sáchcủa Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; Hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở
- Chương II: Hòa giải viên, tổ hòa giải (từ Điều 7 đến Điều 15), gồm 2mục:
Mục 1: Hòa giải viên, gồm các quy định về Tiêu chuẩn hòa giải viên;Bầu, công nhận hòa giải viên; Quyền của hòa giải viên; Nghĩa vụ của hòa giảiviên; Thôi làm hòa giải viên
Mục 2: Tổ hòa giải, gồm các quy định về tổ hòa giải; Trách nhiệm của tổhòa giải; Tổ trưởng tổ hòa giải; Quyền và nghĩa vụ của tổ trưởng tổ hòa giải
- Chương III: Hoạt động hòa giải ở cơ sở (từ Điều 16 đến Điều 27):
Chương này quy định về Căn cứ tiến hành hòa giải; Quyền và nghĩa vụcủa các bên trong hòa giải; Phân công hòa giải viên; Người được mời tham giahòa giải; Địa điểm, thời gian hòa giải; Tiến hành hòa giải; Hòa giải giữa các bên
ở thôn, tổ dân phố khác nhau; Kết thúc hòa giải; Hòa giải thành; Thực hiện thỏathuận hòa giải thành; Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giảithành; Hòa giải không thành
- Chương IV: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải
ở cơ sở (từ Điều 28 đến Điều 30):