Nghị quyết 29NQTW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT trong Nghị quyết, người thực hiện công tác giáo dục cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này. Mục tiêu chương trình giáo dục tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 322018TTBGDĐT ngày 26122018 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã chỉ rõ: Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh (HS) hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông cũng được đề cập đến, đó là hình thành và phát triển cho HS năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 4. Như vậy, chương trình giáo dục đang thực hiện bước chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Để đạt được các mục tiêu trên, một trong các yếu tố quyết định chính là GV và PPDH. Mà đổi mới PPDH phải bắt nguồn từ việc thiết kế KHBD của GV. Việc thiết kế KHBD có vai trò quan trọng, nó được ví như là sự “gia công trí tuệ” của GV đối với tài liệu học tập. Từ việc phân tích yêu cầu cần đạt, GV cần lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp với trình độ, đặc điểm nhân cách của HS mà vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng và logic sư phạm. Việc GV chuẩn bị KHBD càng công phu sẽ tỉ lệ thuận với sự thành công của tiết học. Hơn nữa, chương trình GDPT 2018 chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục để tạo điều kiện cho giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình. Đồng thời, Chương trình trao quyền chủ động, trách nhiệm cho giáo viên trong việc thiết kế nội dung, cách thức tổ chức dạy học, thậm chí việc phân phối thời lượng trong các tiết dạy. Tuy nhiên, việc thiết kế KHBD của GV vẫn còn mang tính truyền thống, kinh nghiệm mà chưa có nhiều đổi mới. KHBD mà GV thiết kế vẫn đặt sự quan tâm trước hết đến việc truyền đạt hết nội dung quy định trong sách giáo khoa, cố gắng làm cho HS trong lớp hiểu và ghi nhớ kiến thức. GV chưa thực sự đầu tư nhiều thời gian và công sức tìm tòi nhiều cách thức tổ chức dạy học để đưa ra những phương án dạy học khác nhau, từ đó lựa chọn phương án tối ưu phù hợp với đối tượng người học và điều kiện lớp học. Môn Toán ở cấp tiểu học là môn học bắt buộc, được tổ chức dạy và học ở tất cả các lớp từ lớp 1 đến lớp 5. Chương trình GDPT môn Toán 2018 có nhiều thay đổi so với chương trình năm 2000. Theo đó, việc thiết kế kế hoạch bài dạy cũng như việc tổ chức các hoạt động dạy học cũng có nhiều thay đổi để đáp ứng được mục tiêu mà chương trình đã đặt ra. Để phát triển chương trình môn học và dạy học nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS thì việc thiết kế KHBD đóng vai trò quan trọng. Thiết kế KHBD môn Toán giúp giáo viên thực hiện chương trình dạy học môn Toán phù hợp với đối tượng cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và thời gian triển khai, từ đó, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, năng lực tư duy sáng tạo nhằm tạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật và đổi mới tri thức, phát triển năng lực cho HS. Xuất phát từ những lí do trên, đề tài được lựa chọn nghiên cứu trong luận văn là “Thiết kế kế hoạch bài dạy trong chủ đề số và phép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thiết kế kế hoạch bài dạy
trong CHỦ ĐỀ số và phép tính Ở lớp 3
đáp ứng yêu cầu chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Họ tên học viên: Trịnh Thị Thu TrangNgày sinh: 19/01/1995
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu họcLớp: K7C
Người HDKH: PGS TS Trần Ngọc Lan
Hải Phòng, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 10
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10
3 Mục đích nghiên cứu 12
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5.1 Đối tượng nghiên cứu 13
5.2 Phạm vi nghiên cứu 13
6 Phương pháp nghiên cứu 13
7 Kết cấu của luận văn 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15
1.1 Cơ sở lý luận 15
1.1.1 Một số vấn đề về kế hoạch bài dạy và thiết kế kế hoạch bài dạy 15
1.1.1.1 Quan niệm về kế hoạch bài dạy 15
1.1.1.2 Quan niệm về thiết kế kế hoạch bài dạy 16
1.1.2 Khái quát chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018 17
1.1.2.1 Mục tiêu 17
1.1.2.2 Yêu cầu cần đạt 17
1.1.2.3 Nội dung giáo dục môn Toán lớp 3 18
1.1.2.4 Một số điểm mới về dạy học Toán 3 theo chương trình 2018 20
1.1.3 Yêu cầu về thiết kế kế hoạch bài dạy theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 21
1.1.3.1 Yêu cầu về cấu trúc kế hoạch bài dạy theo yêu cầu chương trình Giáo dục phổ thông 2018 21 1.1.3.2 Yêu cầu về mục tiêu, phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học, kiểm tra, đánh
Trang 3giá của chương trình GDPT 2018 22
1.1.3.3 Yêu cầu về nhất quán mục tiêu, nội dung hoạt động, sản phẩm và hình thức tổ chức 22
1.1.4 Vai trò của việc thiết kế kế hoạch bài dạy đáp ứng yêu cầu của chương trình Giáo dục phổ thông 2018 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Mục đích khảo sát 25
1.2.2 Đối tượng khảo sát 25
1.2.3 Nội dung khảo sát 27
1.2.4 Phương pháp khảo sát 27
1.2.5 Kết quả khảo sát 28
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH VÀ THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY TRONG NỘI DUNG SỐ VÀ PHÉP TÍNH – MÔN TOÁN LỚP 3 ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 41
2.1 Nguyên tắc và yêu cầu đối với giáo viên khi thiết kế một số kế hoạch bài dạy đối với nội dung Số và Phép tính trong môn Toán 3 41
2.1.1 Nguyên tắc thiết kế 41
2.2.2.1 Đảm bảo về mục tiêu, nội dung yêu cầu cần đạt của chương trình môn Toán 3 41
2.2.2.2 Đảm bảo người học là trung tâm của hoạt động dạy học 41
2.2.2.3 Đảm bảo sự gắn kết với thực tiễn 42
2.2.2.4 Đảm bảo có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong quá trình dạy học 42
2.2.2.5 Đảm bảo tính khả thi 42
2.1.2 Yêu cầu đối với giáo viên khi thiết kế kế hoạch bài dạy đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018 43
2.2 Quy trình thiết kế kế hoạch bài dạy trong nội dung Số và phép tính - môn Toán 3 43
2.3 Một số lưu ý khi vận dụng quy trình thiết kế một số kế hoạch bài dạy trong nội dung Số và phép tính - môn Toán 3, bộ sách Cánh diều 51
Trang 42.4 Giới thiệu vận dụng quy trình thiết kế kế hoạch bài dạy trong nội dung Số và phép
tính - môn Toán 3, bộ sách Cánh diều 53
Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Mục đích thực nghiệm 76
3.2 Nội dung thực nghiệm 76
3.3 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 76
3.4 Cách thức triển khai thực nghiệm 79
3.4.6 Xử lý kết quả thực nghiệm 81
3.5 Kết quả thực nghiệm 82
3.5.1 Kết quả điều tra GV 82
3.5.2 Kết quả điều tra HS 84
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Kiến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 5DANH MỤC BẢNG BI
Bảng 1 1 Số lượng GV và TTCM tham gia khảo sát 26
Bảng 1 2 Thông tin đối tượng khảo sát thực trạng 27
Bảng 1 3 Hiểu biết của GV, TTCM về thiết kế KHBD 28
Bảng 1 4 Nhận thức của GV, TTCM về mức độ cần thiết của thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học trong việc thực hiện yêu cầu của chương trình GDPT 2018 30
Bảng 1 5 Các vấn đề GV, TTCM quan tâm khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học 31 Bảng 1 6 Các hoạt động khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học 33
Bảng 1 7 Những khó khăn trong việc thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học 35
Bảng 1 8 Các nguồn tư liệu GV thường sử dụng để thiết kế KHBD môn toán lớp 3.37 Y Bảng 3 1 Các cặp lớp thực nghiệm và đối chứng 77
Bảng 3 2 Tiêu chí và thang đo trong thực nghiệm 80
Bảng 3 3 Kết quả tham khảo ý kiến GV câu hỏi 1 82
Bảng 3 4 Kết quả tham khảo ý kiến GV câu hỏi 2 82
Bảng 3 5 Kết quả tham khảo ý kiến GV câu hỏi 3 82
Bảng 3 6 Kết quả tham khảo ý kiến GV câu hỏi 4 83
Bảng 3 7 Kết quả tham khảo ý kiến GV câu hỏi 5 83
Bảng 3 8: So sánh bài kiểm tra trước TN giữa lớp thực nghiệm – đối chứng 84
Bảng 3 9: So sánh bài kiểm tra sau TN giữa lớp thực nghiệm – đối chứng 85
Bảng 3 10: So sánh bài kiểm tra trước và sau TN của lớp TN 87
Bảng 3 11 Đánh giá vủa GV về các năng lực được hình thành của HS 88
Bảng 3 12 Bảng mức độ hứng thú của học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng 90
Bảng 3 13 Đánh giá của GV về hoạt động học tập của HS lớp học TN 91
Biểu đồ 1 1 Hiểu biết của GV, TTCM về thiết kế KHBD 29
Biểu đồ 1 2 Nhận thức của GV, TTCM về mức độ cần thiết của thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học trong việc thực hiện yêu cầu của chương GDPT 2018 31
Biểu đồ 1 3 Các vấn đề GV, TTCM quan tâm khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học 32
Biểu đồ 1 4 Các hoạt động khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học 34
Trang 6Biểu đồ 1 5 Những khó khăn trong việc thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học 36
Biểu đồ 1 6 Các nguồn tư liệu GV thường sử dụng để thiết kế KHBD môn toán lớp 3 38
Biểu đồ 3 1 So sánh bài kiểm tra trước TN giữa lớp thực nghiệm – đối chứng 85
Biểu đồ 3 2 So sánh bài kiểm tra sau TN giữa lớp thực nghiệm – đối chứng 86
Biểu đồ 3 3: So sánh bài kiểm tra trước và sau TN của lớp TN 87
Biểu đồ 3 4 Bảng mức độ hứng thú của học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cậpnhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớpsang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trongdạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT trongNghị quyết, người thực hiện công tác giáo dục cần có nhận thức đúng về bản chất củađổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một
số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
Mục tiêu chương trình giáo dục tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã chỉ rõ: Chươngtrình giáo dục tiểu học giúp học sinh (HS) hình thành và phát triển những yếu tố cănbản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và nănglực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và nhữngthói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt Thông qua tất cả các môn học
và hoạt động giáo dục, yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông cũngđược đề cập đến, đó là hình thành và phát triển cho HS năng lực tự chủ và tự học, nănglực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo [4] Như vậy, chươngtrình giáo dục đang thực hiện bước chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lựccủa người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quantâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiệnchuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học,cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tuynhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Họcsinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức,
Trang 9hướng dẫn của giáo viên”, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của ngườihọc, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép,tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạocủa tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phươngpháp đặc thù của môn học để thực hiện
Để đạt được các mục tiêu trên, một trong các yếu tố quyết định chính là GV vàPPDH Mà đổi mới PPDH phải bắt nguồn từ việc thiết kế KHBD của GV Việc thiết
kế KHBD có vai trò quan trọng, nó được ví như là sự “gia công trí tuệ” của GV đốivới tài liệu học tập Từ việc phân tích yêu cầu cần đạt, GV cần lựa chọn phương phápdạy học sao cho phù hợp với trình độ, đặc điểm nhân cách của HS mà vẫn đảm bảochuẩn kiến thức, kĩ năng và logic sư phạm Việc GV chuẩn bị KHBD càng công phu
sẽ tỉ lệ thuận với sự thành công của tiết học
Hơn nữa, chương trình GDPT 2018 chỉ quy định những nguyên tắc, định hướngchung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục,phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục để tạo điều kiện chogiáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình Đồng thời,Chương trình trao quyền chủ động, trách nhiệm cho giáo viên trong việc thiết kế nộidung, cách thức tổ chức dạy học, thậm chí việc phân phối thời lượng trong các tiết dạy.Tuy nhiên, việc thiết kế KHBD của GV vẫn còn mang tính truyền thống, kinh nghiệm
mà chưa có nhiều đổi mới KHBD mà GV thiết kế vẫn đặt sự quan tâm trước hết đếnviệc truyền đạt hết nội dung quy định trong sách giáo khoa, cố gắng làm cho HS tronglớp hiểu và ghi nhớ kiến thức GV chưa thực sự đầu tư nhiều thời gian và công sức tìmtòi nhiều cách thức tổ chức dạy học để đưa ra những phương án dạy học khác nhau, từ
đó lựa chọn phương án tối ưu phù hợp với đối tượng người học và điều kiện lớp học.Môn Toán ở cấp tiểu học là môn học bắt buộc, được tổ chức dạy và học ở tất cảcác lớp từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình GDPT môn Toán 2018 có nhiều thay đổi sovới chương trình năm 2000 Theo đó, việc thiết kế kế hoạch bài dạy cũng như việc tổchức các hoạt động dạy học cũng có nhiều thay đổi để đáp ứng được mục tiêu màchương trình đã đặt ra Để phát triển chương trình môn học và dạy học nhằm phát huytính chủ động, sáng tạo của HS thì việc thiết kế KHBD đóng vai trò quan trọng Thiết
kế KHBD môn Toán giúp giáo viên thực hiện chương trình dạy học môn Toán phù
Trang 10hợp với đối tượng cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể về cơ sở vật chất, phương tiện dạyhọc và thời gian triển khai, từ đó, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS;tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, năng lực tư duy sáng tạo nhằmtạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật và đổi mới tri thức, phát triển năng lực choHS.
Xuất phát từ những lí do trên, đề tài được lựa chọn nghiên cứu trong luận văn là
“Thiết kế kế hoạch bài dạy trong chủ đề số và phép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầuchương trình giáo dục phổ thông 2018”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Thiết kế KHBD đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học.Robert F.Mager và Kenneth M.Beach (1968) đã mô tả việc lập KHBD như một yêucầu dạy học, một bản thiết kế chi tiết bao gồm các hoạt động giúp người học đạt đượccác mục tiêu của bài học Cuốn này viết dành cho GV hướng nghiệp từ cách đây 50năm những vẫn còn giá trị ứng dụng [38]
David R.Torence (1987), đã mô tả KHBD bao gồm một bản chiến lược (mộtchuỗi các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu mong muốn) và một bản tra cứu nhanh
để kiểm tra các thông tin cần thiết hỗ trợ cho các hoạt động đó [34]
Infoline (1999) đã chỉ ra mô hình phát triển hệ thống dạy học gồm 5 cụm từ cơbản có mối quan hệ tương quan với nhau: Phân tích, thiết kế, phát triển, ứng dụng vàđánh giá Các KHBD được phát triển theo mô hình này, trong đó người dạy có vai tròlớn hơn Báo cáo cũng đưa ra quy trình và cấu trúc của việc thiết kế KHBD, các nguồnlực và kĩ thuật dạy học [36]
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
KHBD là kịch bản lên lớp của mỗi GV đối với HS và nội dung cụ thể trong mộtkhông gian và thời gian nhất định Thiết kế KHBD là giai đoạn chuẩn bị lên lớp Hoạtđộng này có vai trò rất quan trọng, quyết định đến sự thành công của bài dạy Về vấn
đề thiết kế KHDH ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu, có thể kể đến:
Tác giả Nguyễn Thị Phương Nhung (2015) đã chỉ ra “việc rèn luyện kỹ năngthiết kế bài học vẫn là khâu còn nhiều hạn chế trong quy trình tổ chức rèn luyện nghề”.Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ cần nâng cao nhận thức của từng giảng viên bộ môn
Trang 11phương pháp tại các trường sư phạm có đào tạo GV tiểu học về vai trò ý nghĩa củathiết kế KHBD, bổ sung hoặc tăng thêm thời lượng về thiết kế bài dạy vào giảng dạyphần lý luận dạy học để sinh viên có điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới nhất
về KHBD [23]
Trong đề tài “Thực trạng nhận thức của giảng viên về rèn luyện kĩ năng thiết kếbài học theo lí thuyết kiến tạo cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học”, tác giả PhạmVăn Hải (2016) đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về học tập kiến tạo, thiết kếKHBD, nghiên cứu thực trạng nhận thức của GV về bài học theo lí thuyết kiến tạo vàrèn luyện kĩ năng thiết kế KHBD theo lí thuyết kiến tạo cho sinh viên ngành GDTH
Từ đó tác giả đề xuất các điều kiện hỗ trợ rèn luyện kĩ năng thiết kế bài học theo líthuyết kiến tạo cho sinh viên như: có nguồn tư liệu phong phú về học tập kiến tạo và kĩnăng thiết kế KHDH, có đầy đủ phương tiện, kĩ thuật, công nghệ cần thiết phục vụhoạt động khai thác và TKBH cho sinh viên, giáo viên sẵn sàng giúp đỡ sinh viên khicần [10, tr.26-29]
Tác giả Nguyễn Đăng Trung (2017) đã nghiên cứu “Mô hình thiết kế bài họcmôn giáo dục học theo quan điểm sư phạm tích hợp” với những nội dung về cơ sở đểphát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên thông qua việc thuejc hiện các nhiệm vụgắn liền với thực tiễn Phân tích, đánh giá các khái niệm và đặc điểm bài học, TKBH,TKBH tích hợp mà còn làm sáng tỏ được quy trình, mô hình và cấu trúc thiết kế bàihọc môn Giáo dục học theo quan điểm sư phạm tích hợp ở trường đại học sư phạm[37, tr.50-53]
Theo tác giả Lê Thị Lan Anh (2020) , thiết kế KHBD là “sự gia công của GV đốivới tài liệu học tập, thay đổi hình thức và nội dung, lựa chọn PPDH sao cho phù hợpvới trình độ, đặc điểm nhân cách của HS” Tác giả đã chỉ ra thực trạng thiết kế bài họcTiếng Việt lớp 1 của GV, từ đó gợi ý một số biện pháp phát triển kĩ năng thiết kế bàihọc Tiếng Việt lớp 1 của GV nhằm đáp ứng yêu cầu của Chương trình môn Ngữ văn
2018 [1, tr.6-9]
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Hoàng Thị Hải Yến (2020) đã phân tích ý nghĩacủa dạy học theo chủ đề môn Khoa học tự nhiên đối với phát triển năng lực của họcsinh; đề xuất quy trình xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề gồm các bước: Bước 1.Xác định tên chủ đề, mục tiêu và nội dung kiến thức chủ đề; Bước 2 Xây dựng kế
Trang 12hoạch dạy học; Bước 3 Xây dựng bộ công cụ kiểm tra, đánh giá [39, tr.31-35].
Tác giả Nguyễn Văn Hồng và Ninh Thị Bạch Diệp (2012) trong nghiên cứu
“Quy trình thiết kế và tổ chức bài học bằng giáo án điện tử” đã nhận định: “khai tháctiện ích của CNTT ứng dụng vào dạy học là sự lựa chọn sáng suốt khoa học để đổimới PPDH Bài viết đưa ra quan điểm về giáo án, giáo án điện tử, xây dựng quy trìnhthiết kế bài học, quy trình tổ chức bài học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV”[13, tr 47-48]
Huỳnh Trọng Dương (2015) đồng quan điểm khi nhấn mạnh thiết kế bài học làcông việc quan trọng của GV trước khi tổ chức hoạt động học tập của HS ở trên lớp.Sản phẩm thiết kế bài học bao gồm giáo án và toàn bộ những suy nghĩ về quá trình dạyhọc sẽ diễn ra trong tiết học sắp tới Một loại được thể hiện ở ngay trên giấy, loại khácnằm ở trong suy nghĩ của GV Tác giả cũng đưa ra các bước thiết kế bài học bao gồm:Xác định mục tiêu bài học, lựa chọn kiến thức cơ bản cảu bài dạy học, xác định đúngnhững nội dung trọng tâm, trọng điểm của bài học, cấu trục các kiến thức cơ bản theo
ý định dạy học; chuẩn bị đồ dùng dạy học; xác định các hình thức tổ chức dạy học; xácđịnh các PPDH; thiết kế các hoạt động trên lớp, hình thức củng cố và tập vận dụng cáckiến thức mà HS vừa tiếp nhận, giao nhiệm vụ về nhà [9, tr.53]
Phạm Quang Tiến (2008) với nghiên cứu “Phương pháp luận của việc thiết kế bàihọc theo công nghệ dạy học” đã so sánh và làm nổi bật ưu điểm của hướng dạy,phương pháp dạy, độ lưu giữ thông tin của dạy học truyền thống và dạy học theo
hướng công nghệ Theo tác giả, cơ sở tâm lý của việc học là: Học là hình thành phản
xạ có điều kiện, dựa trên phương pháp thử và sai trong quá trình học, học = vô thức +
ý thức; học, cốt lõi là tự học, là quá trình, phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thểhiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách tự thu nhận, xử lí
và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong của con người [35, tr.63-70].Như vậy, có thể thấy các tác giả đều đưa ra vai trò, tầm quan trọng của thiết kếKHBD với việc nâng cao chất lượng GD Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nghiêncứu về vấn thiết kế KHBD đã có từ rất sớm Từ các nghiên cứu ở trên chúng ta đã thấy
sự quan trọng của ý tưởng thiết kế KHBD trong việc giảng dạy Đồng thời các nghiêncứu đã chỉ ra nội dung, tính chất, hình thức, thực trạng cũng như quy trình thiết kếKHBD Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về thiết kế kế hoạch
Trang 13dạy học trong nội dung Số và Phép tính – môn Toán lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trìnhGDPT 2018.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu một số vấn đề cơ sở lý luận về thiết kế KHBD trong dạy học tiểuhọc
4.2 Nghiên cứu thực trạng việc thiết kế kế hoạch dạy học trong nội dung Số vàPhép tính – môn Toán lớp 3, đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018
4.3 Đưa ra những định hướng và đề xuất quy trình thiết kế KHBD trong nộidung Số và Phép tính – môn Toán lớp 3, đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018.4.4 Thiết kế các KHBD trong nội dung mạch Số và Phép tính – môn Toán lớp 3đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018
4.5 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng, đánh giá, tính khả thi; tính hiệu quảcủa các KHBD đã thiết kế
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thiết kế KHBD đáp ứng yêu cầuchương trình Giáo dục phổ thông 2018
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận văn nghiên cứu việc thiết kế KHBD trong nội dung Số và Phép
tính - môn Toán lớp 3, Bộ sách Cánh diều, NXB Đại học Sư phạm
- Thời gian: Luận văn thực hiện từ tháng 10/2022 đến tháng 5/2023
- Không gian: Việc khảo sát thực trạng và thực nghiệm của luận văn được thực
hiện tại một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hải Phòng: Tiểu học ĐằngHải,Tiểu học Đằng Lâm, Tiểu học Đông Hải 1, Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, Tiểuhọc Đinh Tiên Hoàng, Tiểu học Nguyễn Du, Tiểu học Trần Quốc Toản, Tiểu học
Trang 14Nguyễn Thượng Hiền, Tiểu học Lê Hồng Phong, Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh
6 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu các thông tư, công văn hướngdẫn về việc thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông 2018, việc thiết kế KHBD,những kết quả nghiên cứu có liên quan đến thiết kế KHBD ; phân tích và hệ thống hóanhững vấn đề lí luận về việc thiết kế KHBD : quan niệm, đặc điểm, các dạng bài
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
1) Phương pháp điều tra: khảo sát một số GV tiểu học lớp 3 trên địa bàn thànhphố Hải Phòng về thiết kế KHBD trong nội dung Số và Phép tính - môn Toán 3 bằngphiếu khảo sát Sau đó, hệ thống các số liệu thu thập được qua quá trình khảo sát thựctrạng và phân tích thực trạng (khó khăn, thuận lợi và làm rõ tính cấp thiết nghiên cứu
đề tài)
2) Phương pháp thực nghiệm khoa học: tổ chức dạy thực nghiệm một số KHBDtrong nội dung Số và Phép tính - môn Toán 3 tại trường tiểu học Đằng Hải – thành phốHải Phòng Quan sát, thu thập và đánh giá kết quả dạy học thông qua bảng khảo sát,đánh giá của GV và HS trước và sau khi thực nghiệm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đề xuất quy trình và thiết kế KHBD trong nội dung số học và phéptính – môn Toán lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề về kế hoạch bài dạy và thiết kế kế hoạch bài dạy
1.1.1.1 Quan niệm về kế hoạch bài dạy
Theo từ điển tiếng Việt “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệthống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất đinh, với mục tiêucách thức, trình tự, thời hạn tiến hành” [24, tr.485]
Theo Nguyễn Bá Kim (2012), "Bài soạn là kế hoạch của người thầy giáo để dạyhọc từng tiết (trường hợp đặc biệt là từng cụm tiết) ( ) thể hiện một cách sinh độngmối liên hệ hữu cơ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và điều kiện dạy học" [16,tr.332]
Theo Nguyễn Lăng Bình, “Kế hoạch bài dạy hay giáo án chính là công việcchuẩn bị của người giáo viên tước khi lên lớp Soạn giáo án là thuật ngữ được dùngtrước khi đổi mới phương pháp dạy học Cấu trúc của giáo án tuân thủ chặt chẽ theo 5bước lên lớp của giáo viên” [3, tr.45 ]
Theo từ điển GD học, Kế hoạch bài dạy/giáo án “là kế hoạch và dàn ý bài giảngcủa giáo viên được soạn trước ra giấy để tiến hành dạy học trong một hoặc hai tiết lênlớp Trong giáo án thường ghi chủ điểm, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dungchi tiết sắp xếp theo trình tự lên lớp, phương pháp và thủ thuật dạy - học của giáo viên
và học sinh, công việc kiểm tra và đánh giá, ngoài ra còn chỉ ra những dụng cụ, thiết bịcần thiết phải dùng” [44, Tr 104]
Theo công văn 2345/BGDĐT-GDTH của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ "Kếhoạch bài dạy do giáo viên thiết kế bao gồm các hoạt động của học sinh và giáo viêntrong quá trình dạy học một tiết học/bài học/chủ đề nhằm giúp học sinh chiếm lĩnhđược kiến thức và đạt được các năng lực, phẩm chất cần thiết [6] Bộ Giáo dục và Đàotạo (2021), Công văn số 2345/BGDĐT
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đề xuất khái niệm KHBD nhưsau: KHBD (hay giáo án/bài soạn) là tập hợp những hoạt động dạy và học phải diễn rahoặc có thể diễn ra trong tiết dạy một cách hợp lí với thời gian tương ứng và điều kiệnlớp học nhằm đạt được mục tiêu bài học mà GV chuẩn bị trước khi tiết học diễn ra Kếhoạch bài dạy chính là "kịch bản" cho mỗi tiết dạy thể hiện rõ hoạt động, vai trò của
Trang 16thầy và trò trong các tình huống dạy học
1.1.1.2 Quan niệm về thiết kế kế hoạch bài dạy
Như vậy có thể thấy rằng, KHBD là một phần vô cùng quan trọng góp phần làmnên chất lượng dạy học trong nhà trường Thiết kế KHBD là kỹ năng cơ bản cần cócủa GV, bởi KHBD sẽ “giúp GV xác định các công việc của mình và ngăn chặn nhữngkhó khăn, tránh nhầm lẫn trong việc giải thích cho HS khi tổ chức dạy học trên lớp”(Lewwis (2009) [43]
KHBD cũng giống như công việc của một nhà thiết kế, của người kĩ sư, đây làcông việc quan trọng của nghề dạy học KHBD là bản thiết kế sư phạm cho một bàihọc, trong
KHBD là sản phẩm sư phạm độc đáo của giáo viên; qua KHBD có thể nhận biếtđược trình độ khoa học, kinh nghiệm sư phạm và ý thức nghề nghiệp của giáo viên.Thiết kế KHBD là “xây dựng kế hoạch của một tiết học/chủ đề thể hiện tinh thần
cơ bản của chương trình môn học, thể hiện được mối liên hệ hữu cơ giữa mục tiêu, nộidung, phương pháp và kết quả, được gọi là bốn thành tố cơ bản của bài học” [6] BộGiáo dục và Đào tạo (2021), Công văn số 2345/BGDĐT
Theo Nguyễn Lăng Bình, thiết kế KHBD là thuật ngữ được sử dụng khi thựchiện đổi mới phương pháp dạy học, là bản thiết kế những hoạt động học tập mà họcsinh cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu của bài học dưới sự điều khiển, hướngdẫn, tổ chức của giáo viên” [3, tr.46] Theo Nguyễn Lăng Bình, “Kế hoạch bài dạy haygiáo án chính là công việc chuẩn bị của người giáo viên trước khi lên lớp Soạn giáo
án là thuật ngữ được dùng trước khi đổi mới phương pháp dạy học Cấu trúc của giáo
án tuân thủ chặt chẽ theo 5 bước lên lớp của giáo viên” [3, tr.45 ] (Nguyễn Lăng Bình
cb, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng (2017), Dạy và học tíchcực
Như vậy, thiết kế bài giảng là việc GV vận dụng tri thức khoa học cơ bản vàkhoa học nghiệp vụ vào quá trình chế biến tài liệu dạy học, làm cho tri thức khoa họctrong tài liệu dạy trở nên phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Qua đó giúphọc sinh lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng
Thiết kế kế hoạch/xây dựng kế hoạch luôn là yếu tố quan trọng mở đường cho sựthành công của một công việc Sự chuẩn bị này có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết
Trang 17định đến sự thành công của bài dạy trên thực tế Với ý nghĩa quan trọng đó, thiết kếKHBD là công việc có tính bắt buộc đối với mỗi GV trong giai đoạn chuẩn bị lên lớp.
1.1.2 Khái quát chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018
1.1.2.1 Mục tiêu
* Mục tiêu DH môn Toán theo CTGD phổ thông 2018:
Theo chương trình GDPT môn Toán 2018, Môn Toán cấp tiểu học nhằm giúphọc sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh với yêu cầucần đạt: thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản; nêu và trả lời được câuhỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đơn giản; lựa chọn được các phép toán và công thức
số học để trình bày, diễn đạt được các nội dung, ý tưởng, cách thức giải quyết vấn đề;
sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, động tác hìnhthể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống đơn giản; sử dụng được cáccông cụ, phương tiện học toán đơn giản để thực hiện các nhiệm vụ học tập toán đơngiản
Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về: Số và phéptính; Số tự nhiên, phân số, số thập phân và các phép tính trên những tập hợp các
số đó Hình học và Đo lường; Quan sát, nhận biết, mô tả hình dạng và đặc điểm (ởmức độ trực quan) của một số hình phẳng và hình khối trong thực tiễn; tạo lập một số
mô hình hình học đơn giản; tính toán một số đại lượng hình học; phát triển trí tưởngtượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với Hình học và Đolường; Thống kê và Xác suất: Một số yếu tố thống kê và xác suất đơn giản; giải quyếtmột số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với một số yếu tố thống kê và xác suất
1.1.2.2 Yêu cầu cần đạt
Theo chương trình GDPT 2018, yêu cầu cần đạt trong dạy học môn toán như sau:
“1 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung Môn Toán gópphần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung(năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề vàsáng tạo) theo các mức độ phù hợp với môn học
2 Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù Môn Toán góp phần hình thành và pháttriển cho học sinh năng lực toán học (biểu hiện tập trung nhất của năng lực tính toán)
Trang 18bao gồm các thành phần cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực môhình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học;năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.” [5] Bộ GD-ĐT (2018) Chươngtrình giáo dục phổ thông - Chương trình môn toán (ban hành kèm theo Thông
1.1.2.3 Nội dung giáo dục môn Toán lớp 3
Theo chương trình GDPT 2018, nội dung chủ yếu của môn Toán lớp 3 gồm:
1 Số học
1.1 Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 (tiếp)
1.2 Giới thiệu các số trong phạm vi 10 000
1.3 Giới thiệu các số trong phạm vi 100 000
2 Đại lượng và đo đại lượng
3 Yếu tố hình học
4 Yếu tố thống kê
5 Giải bài toán
Cũng theo chương trình GDPT 2018, nội dung chủ đề số và phép tính ở lớp 3như sau:
SỐ VÀ PHÉP TÍNH
Số tự nhiên
Số tự nhiên Số và cấu tạo
thập phân củamột số
–Đọc, viết được các số trong phạm vi 10 000; trongphạm vi 100 000
–Nhận biết được số tròn nghìn, tròn mười nghìn
–Nhận biết được cấu tạo thập phân của một số
–Nhận biết được chữ số La Mã và viết được các số tựnhiên trong phạm vi 20 bằng cách sử dụng chữ số LaMã
So sánh các số –Nhận biết được cách so sánh hai số trong phạm vi
100 000
–Xác định được số lớn nhất hoặc số bé nhất trong mộtnhóm có không quá 4 số (trong phạm vi 100 000)
–Thực hiện được việc sắp xếp các số theo thứ tự (từ
bé đến lớn hoặc ngược lại) trong một nhóm có khôngquá 4 số (trong phạm vi 100 000)
Làm tròn số Làm quen với việc làm tròn số đến tròn chục, tròn
trăm, tròn nghìn, tròn mười nghìn (ví dụ: làm tròn số
1234 đến hàng chục thì được số 1230)
Trang 19Các phép tính
với số tự nhiên Phép cộng,phép trừ – Thực hiện được phép cộng, phép trừ các số có đến 5
chữ số (có nhớ không quá hai lượt và không liêntiếp)
– Nhận biết được tính chất giao hoán, tính chất kết hợpcủa phép cộng và mối quan hệ giữa phép cộng vớiphép trừ trong thực hành tính
Phép nhân,phép chia
– Vận dụng được các bảng nhân, bảng chia 2, 3, , 9trong thực hành tính
– Thực hiện được phép nhân với số có một chữ số (cónhớ không quá hai
lượt và không liên tiếp)
– Thực hiện được phép chia cho số có một chữ số.– Nhận biết và thực hiện được phép chia hết và phépchia có dư
– Nhận biết được tính chất giao hoán, tính chất kếthợp của phép nhân và
mối quan hệ giữa phép nhân với phép chia trong thựchành tính
Tính nhẩm Thực hiện được cộng, trừ, nhân, chia nhẩm trong
những trường hợpđơn giản
Biểu thức số – Làm quen với biểu thức số
– Tính được giá trị của biểu thức số có đến hai dấuphép tính và không có dấu ngoặc
– Tính được giá trị của biểu thức số có đến hai dấuphép tính và có dấu ngoặc theo nguyên tắc thực hiệntrong dấu ngoặc trước
– Xác định được thành phần chưa biết của phép tínhthông qua các giá trị
đã biết
Thực hành giảiquyết vấn đềliên quan đếncác phép
Giải quyết được một số vấn đề gắn với việc giải cácbài toán có đến hai bước tính (trong phạm vi các số vàphép tính đã học) liên quan đến ý
tính đã học nghĩa thực tế của phép tính; liên quan đến thành phần
và kết quả của phép tính; liên quan đến các mối quan
hệ so sánh trực tiếp và đơn giản (chẳng hạn: gấp một
số lên một số lần, giảm một số đi một số lần, so sánh
số lớn gấp mấy lần số bé)
Phân số
Phân số Làm quen với
phân số –Nhận biết được về 1 ; 1; ; 1 thông qua các hình
ảnh trực quan
Trang 202 3 9
–Xác định được 1 ; 1; ; 1 của một nhóm đồ vật(đối tượng) bằng việc
2 3 9chia thành các phần đều nhau
[5, tr.29-33]
1.1.2.4 Một số điểm mới về dạy học Toán 3 theo chương trình 2018
Sự khác biệt giữa mục tiêu, nội dung dạy học môn Toán trong chương trình hiệnhành với chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường tiểu học Phân tích chươngtrình dạy học môn Toán ở cấp tiểu học và chương trình dạy học môn Toán trongchương trình giáo dục mới so sánh, đối chiếu xác định điểm mới của chương trìnhchúng tôi nhận thấy sự khác biệt như sau:
Thứ nhất, chương trình GDPT mới được tinh giản, thiết thực, hiện đại, linh hoạttrong quá trình học Đảm bảo những yêu cầu cơ bản nhất bắt buộc phải có trong nộidung giảng dạy của nhà trường Đáp ứng yêu cầu hiểu biết về thế giới cũng như hứngthú, sở thích của người học, phát huy được sự chủ động, sáng tạo và sự hứng thú của
HS
Thứ hai, chương trình đảm bảo tính ứng dụng thực tiễn, đảm bảo tinh thần “toánhọc cho mọi người”, ai cũng có thể học toán và có thể học theo cách riêng, phù hợpvới năng lực, sở thích của mình Chú trọng phát triển nằng lực tư duy, năng lực ứngdụng thực tiễn của toán học, điều này thể hiện qua việc đổi mới PPDH, hình thức dạyhọc thông qua hoạt động thực hành, hoạt động trải nghiệm, qua GD Stem, qua các bàitoán liên hệ thực tiễn, qua mô hình hóa toán học, dự án học tập về toán, đặc biệt lànhững đề tài và dự án về ứng dụng toán học trong thực tiễn; tổ chức trò chơi học toán,câu lạc bộ toán học, diễn đàn, hội thảo về toán, tạo cơ hội cho học sinh vận dụngkiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn một cách sáng tạo
Thứ ba, Chương trình môn Toán còn thực hiện tích hợp nội môn và liên mônthông qua các hoạt động thực hành và trải nghiệm trong giáo dục toán học.Chươngtrình bảo đảm yêu cầu phân hoá: Quán triệt tinh thần dạy học theo hướng cá thể hoángười học trên cơ sở bảo đảm đa số học sinh đáp ứng được yêu cầu cần đạt củachương trình; đồng thời chú ý tới các đối tượng chuyên biệt (học sinh giỏi, học sinh
Trang 21Thứ tư, chương trình bảo đảm tính mở: Thống nhất những nội dung giáo dụctoán học cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động
và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc triển khai kế hoạch giáo dụcphù hợp với đối tượng và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục Chương trìnhbảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp vớitiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu của thực tế
1.1.3 Yêu cầu về thiết kế kế hoạch bài dạy theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
1.1.3.1 Yêu cầu về cấu trúc kế hoạch bài dạy theo yêu cầu chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Nhằm hướng dẫn giáo viên thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông mới(được ban hành trong Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo,ngày 26/12/2018), Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra công văn 2345/BGDĐT-GDTH, ngày
07 tháng 06 năm 2021 về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trườngcấp tiểu học, trong đó chỉ rõ "Giáo viên căn cứ vào yêu cầu cần đạt được quy địnhtrong chương trình môn học, hoạt động giáo dục; kế hoạch giáo dục của nhà trường; kếhoạch dạy học các môn học, hoạt động giáo dục; sách giáo khoa, thiết bị dạy học đểxây dựng kế hoạch bài dạy gồm: Yêu cầu cần đạt, đồ dùng dạy học cần chuẩn bị, hoạtđộng dạy học chủ yếu, điều chỉnh sau bài dạy" [6] Công văn 2345
Một cách cụ thể, trong công văn đã đưa ra khung kế hoạch bài dạy như sau [6,tr.15]:
KHUNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY THEO CÔNG VĂN 2345
Môn học/hoạt động giáo dục ……… ;Lớp …………
Tên bài học: ………; số tiết: ………Thời gian thực hiện: ngày tháng năm (hoặc từ …/…/… đến …/…/…)
1 Yêu cầu cần đạt: Nêu cụ thể học sinh thực hiện được việc gì; vận dụngđược những gì vào giải quyết vấn đề trong thực tế cuộc sống; có cơ hội hìnhthành, phát triển phẩm chất, năng lực gì
2 Đồ dùng dạy học: Nêu các thiết bị, học liệu được sử dụng trong bài dạy để
tổ chức cho học sinh hoạt động nhằm đạt yêu cầu cần đạt của bài dạy
3 Các hoạt động dạy học chủ yếu:
- Hoạt động Mở đầu: khởi động, kết nối
- Hoạt động Hình thành kiến thức mới: trải nghiệm, khám phá, phân tích,hình thành kiến thức mới (đối với bài hình thành kiến thức mới)
- Hoạt động Luyện tập, thực hành
Trang 22- Hoạt động Vận dụng, trải nghiệm (nếu có)
4 Điều chỉnh sau bài dạy (nếu có)
1.1.3.2 Yêu cầu về mục tiêu, phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học, kiểm tra, đánh giá của chương trình GDPT 2018
Để thiết kế KHBD thì người dạy phải xác định rõ mục tiêu bài học Việc xácđịnh mục tiêu rất quan trọng, nếu xác định đúng sẽ giúp bài học thành công đến 80%.Muốn xác định được mục tiêu cho bài học thì phải căn cứ vào yêu cầu cần đạt củaChương trình và nội dung bài học Mục tiêu phải được cụ thể, phải trả lời được câu hỏihọc sinh làm được những gì (chiếm lĩnh được gì và dựa vào đâu để vận dụng được gì)sau bài học.”
Theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, giáo án (kế hoạch bài dạy) phải bảo đảm các yêucầu về phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học, kiểm tra, đánh giá, thiết bị dạy học vàhọc liệu, nhằm phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh trong quá trình dạy học.Việc xây dựng kế hoạch bài dạy bảo đảm đủ thời gian để học sinh thực hiện nhiệm vụhọc tập đã đặt ra, tránh việc áp dụng hình thức, khuôn mẫu trong việc xây dựng kếhoạch bài dạy
Tiến trình dạy học mỗi bài học được xây dựng thành các hoạt động học với mụctiêu, nội dung, cách thức thực hiện và sản phẩm cụ thể để giao cho học sinh thực hiệntrong lớp học, ngoài lớp học, ở trường, ở nhà, cơ sở sản xuất, kinh doanh, tại di sảnvăn hóa và cộng đồng Tăng cường giao học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và tàiliệu tham khảo để tiếp nhận và vận dụng kiến thức; dành nhiều thời gian trên lớp để tổchức cho học sinh báo cáo, thuyết trình, thảo luận, luyện tập, thực hành, bảo vệ kết quả
Trang 23biểu diễn” Giờ dạy không được phép là giờ diễn của giáo viên mà phải là giờ để họcsinh được tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm.
Kế hoạch bài dạy phải có nội dung hoạt động (học sinh phải làm gì), nhưng nếukhông rõ cách thức tổ chức hoạt động thì rất khó đạt được mục tiêu Muốn rõ cáchthức tổ chức thì cần chú ý hai điểm: Có mấy khâu/bước trong thực hiện nhiệm vụ;phân rõ vai của thầy và trò (làm gì) trong từng nhiệm vụ
Trong dạy học nói chung và dạy học phát triển năng lực nói riêng, việc thiết kếKHBD cần có sự linh động, có sự đổi mới nhằm hướng đến những mục tiêu GD cụ thể
và đảm bảo đúng yêu cầu mà Bộ GD&ĐT đã đề ra Không chỉ vậy, trong quá trìnhthiết kế KHBD GV cũng cần chú ý tới đặc điểm tâm sinh lý của HS, chú ý tới nănglực, kinh nghiệm của HS, sự phát triển nhận thức và thiên hướng trí tuệ của trẻ để lựachọn cách thức tác động phù hợp, nhằm khai thác tiềm năng vốn có, khai thác tối đa sựtích cực nhận thức và khả năng sáng tạo của trẻ để phát triển năng lực cho trẻ mộtcách thuận lợi
Chình vì vậy, KHBD tưởng chừng như là một khuân mẫu nhưng nó không gò bó,
bó hẹp mà nó là đa dạng, phong phú mang trong đó những ý tưởng, sáng tạo của GVnhằm mục đích có thể giúp HS hứng thú học tập, phát huy được tính chủ động sángtạo của HS Không có một KHBD nào là vạn năng có thể phù hợp với tất cả các đốitượng HS, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng trường, phù hợp với mọi thờiđiểm Để có thể mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học, để một KHBD mangtính linh hoạt, hiệu quả thì người GV cần đưa ra được các ý tưởng về các phương ánlựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học khác nhau trên cơ sở phântích mục tiêu, nội dung, đối tượng học sinh và điều kiện lớp học
Như vậy, có thể hiểu KHBD chính là những gợi ý về các cách thức tổ chức hoạtđộng để giáo viên có thể chủ động lựa chọn một cách thức phù hợp nhất với học sinh
và điều kiện lớp học của mình
1.1.4 Vai trò của việc thiết kế kế hoạch bài dạy đáp ứng yêu cầu của chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Thiết kế kế hoạch bài dạy có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượngdạy và học toán nói chung và dạy học toán ở tiểu học nói riêng
Thứ nhất, giúp GV thực hiện chương trình dạy học phù hợp với nhiều đối tượng
Trang 24HS khác nhau Với việc thiết kế KHBD sẽ giúp GV thực hiện chương trình dạy họcphù hợp với nhiều đối tượng HS khác nhau Như đã nói ở trên, không có một KHBDnào hoàn hảo phù hợp cho tất cả các HS trong lớp, trong trường Việc áp dụng KHBDtrong dạy học toán giúp cho GV có nhiều phương án để lựa chọn, có nhiều hình thức,phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng nhóm đối tượng HS khác nhau Giúp
HS hứng thú hơn với bài học chủ động tiếp thu bài học, phát huy năng lực của HS Từ
đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn toán
Thứ hai, giúp đưa ra nhiều phương án dạy học phù hợp với điều kiện về CSVC,phương tiện dạy học, … của nhà trường Sự linh động trong KHBD mà GV đưa ra sẽgiúp cho việc vận dụng các kiến thức, các mục tiêu chương trình dạy học mà bộGD&ĐT đưa ra phù hợp với điều kiện thực tế của trường, phù hợp với từng đối tượng
cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và thời gian triểnkhai
Thứ 3, KHBD sẽ giúp GV chủ động trong hơn trên lớp, là công cụ hữu hiệu để
GV có thể xử lý các tình huống phát sinh trong giờ học một cách nhanh chóng, hiệuquả GV có thể tùy từng điều kiện cụ thể, tùy từng tình huống phát sinh mà sử dụngcác phương án khác nhau nhằm đảm bảo thời lượng cũng như chất lượng của giờ dạy Thứ tư, sử dụng linh hoạt KHBD trong dạy học giúp HS phát triển phẩm chất,năng lực của mình Trong mỗi lớp học sẽ không có sự đồng đều về năng lực, phẩmchất, kỹ năng của HS Mỗi học sinh/nhóm học sinh trong từng lớp có những đặc điểmkhác nhau về phẩm chất, năng lực Việc dạy học cần được thực hiện theo hướng phânhóa để có thể phát triển được tốt nhất phẩm chất và năng lực học sinh Sử dụng KHBDtrong dạy học toán giúp học sinh có cơ hội được học tập phù hợp với năng lực củamình, giúp cho việc học Toán trở nên gần gũi, thú vị hơn
Thứ năm, KHBD cũng là một tài liệu giá trị để GV xem xét, điều chỉnh lại bàigiảng của mình KHBD khi được áp dụng vào thực tiễn bài dạy, tiết dạy GV sẽ có sơ
sở để đánh giá sự phù hợp, tính hiệu quả của phương pháp mà mình đã áp dụng Từ
đó, GV có cơ sở để điều chỉnh phương án hiệu quả hơn, phù hợp hơn đối với quá trìnhgiảng dạy cho nhiều đối tượng HS khác nhau Việc điều chỉnh này có ý nghĩa quantrọng, bởi nó không chỉ làm phong phú hơn kinh nghiệm của người GV mà nó còn làtài liệu tham khảo giúp GV có nhiều phương án, phương pháp và hình thức giảng dạy
Trang 25học trong mỗi thế hệ HS.
Thứ sáu, KHBD là bằng chứng cho việc thực hiện đổi mới PPDH hiệu quả củangười GV trong quá trình giảng dạy Trong bối cảnh đổi mới GD nói chung, đổi mớiPPDH nói riêng đang được đặt ra một cách bức thiết hơn bao giờ hết KHBD của GVchính là một phần minh chứng rõ nét cho kết quả đổi mới PPDH của GV Mà việc đổimới này là sự đổi mới thiết thực, linh hoạt Bởi nó có sự nghiên cứu, có sự điều chỉnhcho phù hợp với đối tượng trung tâm của hoạt động dạy và học đó chính là người học.Mục tiêu cuối cùng của KHBD được xây dựng nên chính là giúp người học phát huyđược vai trò trung tâm của các hoạt động trong giờ học, phát huy được năng lực, phẩmchất của HS
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích khảo sát
Phiếu điều tra tạo ra để khảo sát và tìm hiểu vấn đề, điều kiện thiết kế bài dạy,điều kiện giảng dạy trong quá trình dạy học về việc thiết kế Thiết kế kế hoạch bài dạytrong chủ đề số và phép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông
2018 tôi tiến hanh điều tra tìm hiểu ở các trường nhằm mục đích sau:
- Để khảo sát và tìm hiểu nhận thức của GV về vai trò của việc thiết kế kế hoạchbài dạy trong chủ đề số và phép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dụcphổ thông 2018
- Để khảo sát và tìm hiểu kiến thực hiểu biết và sự cần thiết của GV về việc thiết
kế kế hoạch bài dạy trong chủ đề số và phép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trìnhgiáo dục phổ thông 2018
- Để khảo sát và tìm hiểu sự hiểu biết, sự cần thiết và những khó khăn, tìnhtrạng Thiết kế kế hoạch bài dạy trong chủ đề số và phép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầuchương trình giáo dục phổ thông 2018
1.2.2 Đối tượng khảo sát
Điều tra thực tiễn là một trong những căn cư cần được điều tra trước tiến trìnhdạy học để thu thập dữ liệu thông tin, đánh giá điều kiện giảng dạy trong quá trình dạyhọc và một số kiến thức cơ sở về việc Thiết kế kế hoạch bài dạy trong chủ đề số vàphép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018 và tác giả đãtìm hiểu thêm điều kiện thực tế việc DH về môn toán ở một số trường tiểu học trên địa
Trang 26bàn thành phố Hải Phòng.
Trong phạm vi nghiên cưu của đề tài, tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát thựctrạng thiết kế bài dạy thiết kế kế hoạch bài dạy trong chủ đề số và phép tính ở lớp 3đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với 160 GV và 40 TTCMtrong các trường tiểu học như sau:
Bảng 1 1 Số lượng GV và TTCM tham gia khảo sát
4 Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai 15 4
* Đặc điểm mẫu khảo sát:
Các GV tham gia khảo sát ở các trường đều có trình độ chuyên môn đạt chuẩn,
có thâm niên công tác và dày dặn kinh nghiệm trong việc giảng dạy cũng như thiết kếKHBD cho HSTH Cụ thể về trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của GV nhưsau:
Để tìm hiểu thực trạng thiết kế kế hoạch bài dạy trong chủ đề số và phép tính ởlớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với 160 GV và 40TTCM trong các trường tiểu học, chúng tôi khảo sát đặc điểm đối tượng được khảo sátnhư sau:
Bảng 1 2 Thông tin đối tượng khảo sát thực trạng
Trang 27* Phương pháp điều tra
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp điều tra nhằm tìm hiểu nhận thức, thựctrạng về thiết kế kế hoạch bài dạy đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông
2018 của GV các trường tiểu học thuộc địa bàn khảo sát Phương pháp này được sửdụng như sau:
- Sử dụng bảng hỏi đối với GV nhằm mục đích thu thập thông tin có liên quanđến GV trong việc về thiết kế kế hoạch bài dạy đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dụcphổ thông 2018 Mỗi phiếu gồm các câu hỏi phù hợp với mục đích khảo sát với nhiềuloại câu hỏi: Câu hỏi mở, câu hỏi đóng, điền vào chỗ chấm…
Trang 28- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn GV với mục đích đối chiếu, sosánh những thông tin thu thập qua phiếu điều tra Đồng thời qua phỏng vấn để tìm hiểusâu hơn về thực trạng về thiết kế kế hoạch bài dạy đáp ứng yêu cầu chương trình giáodục phổ thông 2018 của GV và HS tại các điểm trường khảo sát.
* Phương pháp xử lí số liệu thống kê toán học
Sau khi thu thập số liệu qua phiếu điều tra, để đánh giá thực trạng thiết kế kếhoạch bài dạy trong chủ đề số và phép tính ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình giáodục phổ thông 2018 của GV, chúng tôi tiến hành tổng hợp số lượng, tính tỉ lệ phầntrăm để kết luận kết quả khảo sát
Thang điểm Likert bốn điểm (1 = Không đồng ý, 2 = Trung lập, 3 = Có xu hướngđồng ý, 4 = Hoàn toàn Đồng ý) được sử dụng cho mỗi câu hỏi
1.2.5 Kết quả khảo sát
a) Hiểu biết của GV, TTCM về thiết kế KHBD
Để khảo sát “hiểu biết của GV, TTCM về thiết kế KHBD”, chúng tôi sử dụngcâu hỏi 1 phụ lục 1, kết quả khảo sát thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 1 3 Hiểu biết của GV, TTCM về thiết kế KHBD
1
Là bản thiết kế những hoạt động học tập mà học
sinh cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu của
bài học dưới sự điều khiển, hướng dẫn
2 Là công việc chuẩn bị của người giáo viên tước khi
3
Việc thiết kế KHBD cần có sự linh động, có sự đổi
mới nhằm hướng đến những mục tiêu GD cụ thể
mà Bộ GD&ĐT đã đề ra
4 Là những gợi ý về các cách thức tổ chức hoạt động 163 81.6
Trang 29để giáo viên có thể chủ động lựa chọn một cách
thức phù hợp nhất với học sinh và điều kiện lớp
ND2: Là công việc chuẩn bị của người giáo viên tước khi lên lớp
ND3: Việc thiết kế KHBD cần có sự linh động, có sự đổi mới nhằm hướng đếnnhững mục tiêu GD cụ thể mà Bộ GD&ĐT đã đề ra
ND4: Là những gợi ý về các cách thức tổ chức hoạt động để giáo viên có thể chủđộng lựa chọn một cách thức phù hợp nhất với học sinh và điều kiện lớp học của mìnhQua bảng 1.3 chúng tôi nhận thấy, đa phần GV, TTCM đều có sự hiểu biết đầy
đủ về thiết kế KHBD Thể hiện ở việc, có 81.6% GV, TTCM được khảo sát trả lờithiết kế KHBD “Là những gợi ý về các cách thức tổ chức hoạt động để giáo viên cóthể chủ động lựa chọn một cách thức phù hợp nhất với học sinh và điều kiện lớp họccủa mình” Còn lại số ít GV lựa chọn các đáp án khác, tuy rằng đó là những cách hiểuđúng về thiết kế KHBD nhưng chưa đầy đủ Điều này để thấy rằng, với hầu hết GVđều nhận định đúng về việc thiết kế KHBD, từ đó GV sẽ thiết kế được những KHBDđầy đủ, đúng chuẩn, đảm bảo yêu cầu của một KHBD do Bộ GD&ĐT quy định
Trang 30b Nhận thức của GV, TTCM về mức độ cần thiết của thiết kế KHBD môn toán ởtiểu học trong việc thực hiện yêu cầu của chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Để khảo sát hiểu biết của GV, TTCM về “Nhận thức của GV, TTCM về mức độcần thiết của thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học trong việc thực hiện yêu cầu củachương trình Giáo dục phổ thông 2018”, chúng tôi sử dụng câu hỏi 2 phụ lục 1, kếtquả khảo sát thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 1 4 Nhận thức của GV, TTCM về mức độ cần thiết của thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học trong việc thực hiện yêu cầu của chương trình GDPT 2018
Rất cần thiết Cần thiết Ít cần thiết Không cần thiết
Biểu đồ 1 2 Nhận thức của GV, TTCM về mức độ cần thiết của thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học trong việc thực hiện yêu cầu của chương GDPT 2018
Qua bảng 1.4 chúng tôi nhận thấy rằng, GV, TTCM đánh giá rất cao về mức độcần thiết của việc thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học trong việc thực hiện yêu cầu củachương trình GDPT 2018 Có 26.7% GV, TTCM được khảo sát cho rằng đây là việcrất cần thiết, 58.5% GV đánh giá là cần thiết, chỉ có 14.8% GV, TTCM đánh giá là ítcần thiết và không có GV, TTCM nào đánh giá là không cần thiết Điều này hoàn toànphù hợp với câu hỏi chúng tôi hỏi GV, TTCM hiểu biết về thiết kế KHBD Bởi đa
Trang 31phần GV, TTCM hiểu đầy đủ về thiết kế KHBD nên họ đánh giá mức độ cần thiết củaviệc này rất cao Đây là một điều kiện thuận lợi trong việc triển khai các phương phápđổi mới việc thiết kế KHBD trong nhà trường.
c Các vấn đề GV, TTCM quan tâm khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học
Bảng 1 5 Các vấn đề GV, TTCM quan tâm khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu
học
TT Các vấn đề
Sốlượng
Tỉ lệ
%
Sốlượng
Tỉ lệ
%
1 Làm sao để vừa dạy chữ vừa dạy người 200 100 0 0
2 Vừa trang bị kiến thức vừa đảm bảo mục
tiêu GD theo chương trình GDPT 2018 137 68.7 63 31.33
Vừa cung cấp kiến thức lý thuyết vừa
rèn kỹ năng vận dụng lý thuyết vào thực
Vừa đảm bảo cấu trúc của hoạt động
trong KHBD vừa đảm bảo các phương
án giải quyết vấn đề phát sinh
Trang 32Ghi chú:
VD1: Làm sao để vừa dạy chữ vừa dạy người
VD2: Vừa trang bị kiến thức vừa đảm bảo mục tiêu GD theo chương trình GDPT2018
VD3: Vừa cung cấp kiến thức lý thuyết vừa rèn kỹ năng vận dụng lý thuyết vàothực tế
VD4: Tạo cho HS sự hứng thú, phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS
VD5: Vừa đảm bảo cấu trúc của hoạt động trong KHBD vừa đảm bảo cácphương án giải quyết vấn đề phát sinh
Qua kết quả khảo sát thể hiện trong bảng 1.5 chúng tôi nhận thấy: khi thiết kếKHBD, phần lớn GV quan tâm đến vấn đề: Làm sao để vừa dạy chữ vừa dạy người(100%); Vừa trang bị kiến thức vừa đảm bảo mục tiêu GD theo chương trình GDPT
2018 (68.7%); Vừa cung cấp kiến thức lý thuyết vừa rèn kỹ năng vận dụng lý thuyếtvào thực tế (54.2%); Tạo cho HS sự hứng thú, phát huy tính chủ động, sáng tạo của
HS (57.5%); Vừa đảm bảo cấu trúc của hoạt động trong KHBD vừa đảm bảo cácphương án giải quyết vấn đề phát sinh (49.3%) Điều này cho thấy, khi thiết kếKHBH, GV vẫn nặng về truyền thụ tri thức cho HS, HS bị động trong quá trình tiếpnhận tri thức
d Các hoạt động khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học
Để tìm hiểu về các hoạt động khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học của GVchúng tôi sử dụng câu hỏi 6, phụ lục 1 kết quả như sau:
Bảng 1 6 Các hoạt động khi thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học
TT Các hoạt động
Sốlượng
Tỉ lệ
%
Sốlượng
Tỉ lệ
%
1 GV chỉ cần dựa vào sách giáo khoa,
sách giáo viên, sách bài tập là đủ 138 68.9 62 31.1
2
Ngoài việc thiết kế bám vào sách giáo
khoa, sách bài tập, sách GV, GV cần
khai thác thêm hướng giải quyết mới
theo sách hướng dẫn thiết kế, hướng dẫn
đổi mới phương pháp dạy học
Trang 33GV có thể thay câu hỏi SGK bằng một
ví dụ minh họa tương tự (tránh trường
hợp HS không chịu suy nghĩ, nhìn vào
SGK để trả lời)
4 GV không được thay ví dụ trong SGK
mà chỉ được lấy thêm ví dụ bên ngoài 41 20.4 159 79.6
5
GV vừa lấy các ví dụ trong SGK, vừa bổ
sung các câu hỏi ở ngoài nhằm đảm bảo
HS chủ động, hứng thú tham gia các
HD3: GV có thể thay câu hỏi SGK bằng một ví dụ minh họa tương tự (tránhtrường hợp HS không chịu suy nghĩ, nhìn vào SGK để trả lời)
HD4: GV không được thay ví dụ trong SGK mà chỉ được lấy thêm ví dụ bênngoài
HD5: GV vừa lấy các ví dụ trong SGK, vừa bổ sung các câu hỏi ở ngoài nhằm
Trang 34đảm bảo HS chủ động, hứng thú tham gia các hoạt động học tập
Kết quả thể hiện qua bảng 1.6 cho thấy, việc thiết kế KHBD đa phần GV dựa vàocác sách hướng dẫn, SGV, SGK trước rồi sau đó sẽ khai thác thêm các vấn đề mới,hướng giải quyết mới khi thời gian cho phép Cụ thể, hoạt động “GV có thể thay câuhỏi SGK bằng một ví dụ minh họa tương tự (tránh trường hợp HS không chịu suynghĩ, nhìn vào SGK để trả lời)” có tỉ lệ GV lựa chọn là 80.6%; có 71.3% GV cho rằngkhi thiết kế KHBD thì “ngoài việc thiết kế bám vào sách giáo khoa, sách bài tập, sách
GV, GV cần khai thác thêm hướng giải quyết mới theo sách hướng dẫn thiết kế, hướngdẫn đổi mới phương pháp dạy học”; có 68.8% “GV chỉ cần dựa vào sách giáo khoa,sách giáo viên, sách bài tập là đủ” Điều này cho thấy rằng, sự đổi mới sáng tạo trongviệc thiết kế KHBD của GV còn chưa nhiều và chưa cao Các hoạt động GV sử dụngkhi thiết kế KHBD vẫn còn mang tính chất dập khuân, công thức chưa thực sự có sựđầu tư vào việc tạo hứng thú, kích thích sáng tạo, khả năng GQVĐ cho HS Kết quảkhảo sát cũng cho thấy chỉ có 32.8% “GV vừa lấy các ví dụ trong SGK, vừa bổ sungcác câu hỏi ở ngoài nhằm đảm bảo HS chủ động, hứng thú tham gia các hoạt động họctập”; có 20.4% GV cho rằng “không được thay ví dụ trong SGK mà chỉ được lấy thêm
ví dụ bên ngoài” Qua kết quả điều tra cho thấy, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sách GV,sách thiết kế khiến GV không phát huy được NL sáng tạo cũng như không có ý thứcnâng cao chất lượng giờ dạy
Để tìm hiểu sâu hơn các hoạt động mà GV thường sử dụng khi thiết kế KHBDmôn Toán đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT 2018, chúng tôi đã phỏng vấn một
số GV giảng dạy môn Toán ở các trường tiểu học Cô T.T.M cho biết, “khi thiết kếKHBD tôi thường xác định mục tiêu kiến thức, kĩ năng theo SGV Sau đó lựa chọn cáchoạt động dạy học dựa trên cơ sở các câu hỏi, nội dung bài học trong SGK để thiết kế.Nhằm đảm bảo đúng theo yêu cầu của chương trình đề ra Việc lựa chọn các câu hỏi,các vấn đề bên ngoài ít khi sử dụng vì việc giảng dạy nguyên kiến thức trong SGKcũng đã chiếm mất khá nhiều thời gian của tôi” Với cùng một nội dung câu hỏi vớicác GV khác, chúng tôi thu được những câu trả lời cũng tương tự như cô T.T.M traođổi Cô N.P.D – TTCM tổ 3 cho biết việc thiết kế KHBD đa phần GV đều theo phânphối chương trình, theo hướng dẫn của SGV, việc thiết kế KHBD vẫn còn gặp nhiềukhó khăn và còn lúng túng trong việc áp dụng các thông tư, hướng dẫn mới của
Trang 35chương trình GDPT 2018
Tóm lại, việc thiết kế KHBH của GV còn cứng nhắc, chưa linh hoạt, sáng tạo.Việc tiếp cận các lí thuyết DH không truyền thống còn tương đối xa lạ với GV chứchưa nói đến việc vận dụng các lí thuyết đó để thiết kế các KHBD GV thấy được sựcần thiết phải thiết kế KHBH phát huy được hết khả năng, NL của HS nhưng họ không
có đủ thời gian, tâm huyết cũng như những hiểu biết đầy đủ để thực hiện
d Những khó khăn trong việc thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học
Để tìm hiểu thực trạng trên, chúng tôi đã khảo sát hỏi ý kiến GV về những khókhăn trong việc thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học (câu hỏi 6 phụ lục 1), kết quảđược thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1 7 Những khó khăn trong việc thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học
1 Còn gặp nhiều khó khăn trong việc phân tích
2 Tốn kém và mất thời gian thiết kế KHBD,
3
Thiết kế KHBD cần đảm bảo nhiều yêu cầu
của chương trình mới còn phức tạp, chưa có
54.9
4 Các đợt tập huấn cho GV tiểu học về thiết kế
và triển khai KHBH chưa thực sự hiệu quả 129 64.3
5
CSVC, điều kiện của nhà trường và địa phương
chưa đáp ứng được việc chuẩn bị các điều kiện
35.7
6 Phải dạy nhiều môn nên ít có thời gian đầu tư
7 Chưa nắm chắc các kĩ thuật gắn với yêu cầu
Trang 37kĩ thuật về việc thiết kế KHBD trong môn Toán tiểu học; có 63.8% GV đánh giá khókhăn về “thiết kế KHBD cần đảm bảo nhiều yêu cầu của chương trình mới còn phứctạp, chưa có nhiều tài liệu tham khảo”; Còn lại là một số khó khăn nhỏ mà GV gặpphải trong quá trình thiết kế KHBD đó là: Còn gặp nhiều khó khăn trong việc phântích chương trình GDPT môn toán (36.8%); CSVC, điều kiện của nhà trường và địaphương chưa đáp ứng được việc chuẩn bị các điều kiện cho việc thiết kế KHBD(35.7%); Tốn kém và mất thời gian thiết kế KHBD, chuẩn bị các điều kiện giảng dạy(30.7%).
e Các nguồn tư liệu GV thường sử dụng để thiết kế KHBD môn toán lớp 3
Để tìm hiểu rõ về Các nguồn tư liệu GV thường sử dụng để thiết kế KHBD môntoán lớp 3 chúng tôi sử dụng câu hỏi 7 phụ lục 1, kết quả như sau:
Bảng 1 8 Các nguồn tư liệu GV thường sử dụng để thiết kế KHBD môn toán lớp
3
Sốlượng
Tỉ lệ
%
Sốlượng
Tỉ lệ
%
Sốlượng
Tỉ lệ
%
2 Sách giáo khoa, sách bài
3 Kế hoạch của tổ, của
7 Các nguồn tư liệu từ
Trang 38phố
i chư
ơng trình
h
áo viên
Các tài
ệu th
am khảo
Các tài
ệu tậ
p huấn
0 20 40 60 80 100
Tỉ lệ %
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Biểu đồ 1 6 Các nguồn tư liệu GV thường sử dụng để thiết kế KHBD môn toán
lớp 3
Qua bảng 1.8 chúng tôi thấy rằng, các nguồn tài liệu để GV thường xuyên sửdụng trong quá trình thiết kế KHBD đa phần là từ phân phối chương trình (96.8%); từsách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên (75.2%), từ Kế hoạch của tổ, của trường(67.3%) Số lượng GV thường xuyên dựa vào các nguồn tài liệu tham khảo khác làkhông nhiều, cụ thể: từ các tài liệu tham khảo (51.4%), từ Các tài liệu tập huấn(37.2%), từ các nguồn tư liệu từ internet (36.5) Mà đây lại là những tài liệu tham khảokhá hữu hiệu trong việc thiết kế KHBD nhằm phát triển năng lực cho HS, nhằm đápứng yêu cầu chương trình GDPT 2018
* Đánh giá chung về thực trạng
Qua khảo sát thực trạng thiết kế KHBD môn toán lớp 3 đáp ứng yêu cầu chươngtrình giáo dục phổ thông 2018 có những điểm mạnh đồng thời cũng còn tồn tại nhiềuhạn chế:
Bước đầu GV đã nhận thức được về vai trò, tầm quan trọng của việc thiết kếKHBD môn Toán nói chung và các môn học khác trong chương trình nói riêng Các
GV đều có nhận thức khá đầy đủ và toàn diện về khái niệm, nội hàm của thiết kếKHBD Đây là một điểm khá ưu thế trong việc phát huy kinh nghiệm, kiến thức của
GV nhằm đổi mới PP thiết kế KHBD nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT
2018 Hầu hết các GV đều nhận định rằng, thiết kế KHBD môn toán ở tiểu học trong
Trang 39việc thực hiện yêu cầu của chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là rất cần thiết vàcần thiết
Tuy nhiên, thực tế việc thiết kế KHBD của GV chưa thực sự hiệu quả và chưa cótính sáng tạo Đa phần GV khi thiết kế KHBD còn phụ thuộc khá nhiều vào SGK,SBT, SGV mà chưa có sự đổi mới nhằm phát triển năng lực, tạo hứng thú và kíchthích khả năng GQVĐ của HS Các hoạt động trong thiết kế KHBD được GV sử dụngnhiều và lựa chọn đầu tiên đều là dựa theo sách hướng dẫn, sách giáo viên sau khi cònthời gian mới nghiên cứu thiết kế các vấn đề bên ngoài
Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ thực tế giảng dạy hiện nay trongcác trường tiểu học Các GV đều được phân công giảng dạy nhiều môn nên việcchuyên đầu tư về thời gian, công sức cho môn Toán còn chưa nhiều Thêm nữa,chương trình mới với nhiều cải cách về nội dung, hình thức, phương pháp lại ít có tàiliệu tham khảo, chương trình tập huấn còn chung chung nên GV còn bỡ ngỡ, chưathành thạo trong việc vận dụng vào thiết kế KHBD của mình
Đây cũng là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu và đề xuất quy trình và thiết kế kếhoạch
Trang 40Tiểu kết chương 1
Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết kế KHBD chúng tôi nhận thấy:
1 Thiết kế kế hoạch/xây dựng kế hoạch luôn là yếu tố quan trọng mở đường cho
sự thành công của một công việc Sự chuẩn bị này có ảnh hưởng rất lớn, thậm chíquyết định đến sự thành công của bài dạy trên thực tế Với ý nghĩa quan trọng đó, thiết
kế KHBD là công việc có tính bắt buộc đối với mỗi GV trong giai đoạn chuẩn bị lênlớp
2 Chương trình GDPT mới được tinh giản, thiết thực, hiện đại, linh hoạt trongquá trình học Đảm bảo những yêu cầu cơ bản nhất bắt buộc phải có trong nội dunggiảng dạy của nhà trường Đáp ứng yêu cầu hiểu biết về thế giới cũng như hứng thú,
sở thích của người học, phát huy được sự chủ động, sáng tạo và sự hứng thú của HS.Chính vì vậy, nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình mới, GV cũng cần phải có sựđổi mới trong việc thiết kế KHBD nói chung và thiết kế KHBD môn Toán nói riêng
3 Việc thiết kế KHBD cần tuân theo hướng dẫn của Thông tư BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 26/12/2018) GV cần nắm chắc khungKHBD theo thông tư này để có thể thiết kế KHBD đúng yêu cầu và đảm bảo mục tiêukiến thức, kỹ năng mà Bộ GC&ĐT đã quy định
32/2018/TT-4 Qua khảo sát thực trạng chúng tôi nhận thấy, đa phần GV đều có nhận thứcđầy đủ, toàn diện về khái niệm, vai trò của thiết kế KHBD môn Toán Các GV đềuthấy rằng đây là việc làm rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán
ở trường tiểu học Bên cạnh những mặt tích cực, việc thiết kế KHBD môn Toán còntồn tại nhiều vấn đề như GV còn lúng túng về cấu trúc cũng như kĩ năng khi thiết kếKHBD nhằm đáp ứng yêu cầu mới của chương trình GDPT 2018 Việc thiết kế chưađổi mới, chưa sáng tạo để nhằm đáp ứng yêu cầu mới của chương trình Đây cũng là
cơ sở để chúng tôi nghiên cứu và đề xuất quy trình và thiết kế kế hoạch bài dạy trongnội dung số và phép tính – môn toán lớp 3 đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổthông 2018