I Lý thuyết Câu 1 Hãy so sánh tiền lương của người lao động làm việc theo HĐLĐ với tiền lương của viên chức nhà nước và tiền công của người nhận gia công Thứ nhất, tiền lương của người lao động làm vi.
Trang 1I Lý thuyết
Câu 1: Hãy so sánh tiền lương của người lao động làm việc theo HĐLĐ với tiền lương của viên chức nhà nước và tiền công của người nhận gia công.
Thứ nhất, tiền lương của người lao động làm việc theo HĐLĐ thì có sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động
Thứ hai, tiền lương của viên chức nhà nước theo nhà nước quy định
Cuối cùng, tiền công của người nhận gia công được tính theo sản phẩm kết quả
mà người lao động làm ra
Câu 2: Phân tích và đánh giá cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu theo pháp luật hiện hành
Mức lương tối thiểu Điều 91 BLLĐ 2019 là:
Điều 91 Mức lương tối thiểu
1 Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
2 Mức lương tối thiểu được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ.
3 Mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp.
4 Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quyết định và công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia.
Được áp dụng để trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất, không cần qua đào tạo Được trả tương ứng với điều kiện lao động và môi trường lao động bình
Trang 2thường Được quy định nhằm đảm bảo bù đắp sức lao động giản đơn và một phần giúp tái sản xuất sức lao động
Câu 3: Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa các loại tiền lương tối thiểu? Theo bạn, Nhà nước có nên thống nhất tiền lương cơ sở và tiền lương tối thiểu vùng hay sao?
Lương tối thiểu là mức tiền lương thấp nhất do Nhà nước quy định mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất, trong điều kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng Và tiền lương tối thiểu là cơ sở để xác định làm tiền lương cơ sở
Theo nhóm em, Nhà nước không nên thống nhất tiền lương cơ sở và tiền lương tối thiểu vùng Bởi vì mỗi vùng sẽ có nhu cầu sinh hoạt trang trải chi phí cuộc sống của người lao động là khác nhau, việc thống nhất này dễ tạo ra sự mất cân bằng về chi phí sinh hoạt
Câu 4: Hãy xác định cơ cấu tiền lương theo quy định của pháp luật hiện hành.
Cơ cấu tiền lương theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm mức lương theo công việc, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác
- Mức lương là số tiền dùng để trả công lao động trong một đơn vị thời gian (giờ, ngày hay tháng) phù hợp các bậc trong thang lương Thời gian dùng làm đơn đơn vị tính khi trả lương có thể khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể về trình độ phát triển sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý ở mỗi ngành, vùng, khu vực hay mỗi quốc gia khác nhau
- Ngoài ra còn phụ thuộc vào chế độ tiền lương chức vụ , tiền thưởng, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật
Câu 5: Phân tích và đánh giá việc áp dụng các quy định về việc xây dựng thang lương, bảng lương theo pháp luật hiện hành
Trang 3Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động quy định tại Điều 93 BLLĐ 2019 là:
Điều 93 Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động
1 Người sử dụng lao động phải xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng, sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động.
2 Mức lao động phải là mức trung bình bảo đảm số đông người lao động thực hiện được mà không phải kéo dài thời giờ làm việc bình thường và phải được áp dụng thử trước khi ban hành chính thức.
3 Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động.
Thang lương, bảng lương và mức lao động phải được công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện.
Xây dựng thang lương bảng lương là bắt buộc nhưng xây dựng là quyền của doanh nghiệp Doanh nghiệp xây dựng thang lương bảng lương phải tham gia khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở không cần gửi lên cơ quan lao động
Câu 6: Phân tích và đánh giá việc áp dụng các quy định về quy chế tiền thưởng tại doanh nghiệp hiện nay.
Theo pháp luật hiện hành hiện nay BLLĐ 2019 quy định thưởng tại Điều 104:
Điều 104 Thưởng
1 Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức
độ hoàn thành công việc của người lao động.
Trang 42 Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Cho thấy người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành sản phẩm và sự thỏa thuận của người lao động
và người sử dụng lao động Nguồn kinh phí của việc thưởng lấy từ lợi nhuận chứ không phải quỹ lương
I Bài tập tình huống Tình huống số 1:
Tháng 01/1995 đến tháng 9/2008, ông Nguyễn Hồng là cán bộ kỹ thuật Ban quản lý các dự án giao thông tỉnh Vĩnh Long Từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008, chuyển đổi các Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình cấp tỉnh theo Quyết định số 2206/QĐ-UBND ngày 29/10/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, ông Hồng được điều về Công ty Cổ phần Tư vấn quản lý các dự án xây dựng V (“Công ty V.”) từ tháng 10/2008 cho đến khi nghỉ việc Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên ông Hồng xin chấm dứt HĐLĐ số: 32/HĐ.PMC-2010 có hiệu lực từ ngày 26/02/2009 và nghỉ việc theo quyết định số 25/QĐ-PMC ngày 03/12/2015 của Công ty V
Sau khi việc, ông có yêu cầu Công ty V trả trợ cấp thôi việc nhưng Công ty này không đồng ý Ngoài ra, ông Hồng còn yêu cầu Công ty V phải chi trả tiền thù lao Hội đồng quản trị từ tháng 8/2012 đến tháng 11/2015 với số tiền 40.000.000 đồng (40 tháng x 1.000.000 đồng)
Hỏi: Ông Hồng có nhận được trợ cấp thôi việc và tiền thù lao Hội đồng quản trị
do Công ty V chi trả không? Vì sao?
Trang 5Cơ sở pháp lý: Điều 46 BLLĐ 2019 ; Khoản 3 Điều 8 Nghị định
145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động; Điều 163 LDN 2020 ; Điều 90 BLLĐ 2019
Tiền trợ cấp thôi việc:
Khoản 1 Điều 46 BLLĐ 2019 quy định:
"Điều 46 Trợ cấp thôi việc
1 Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1,2,3,4,6,7,9 và
10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.”
Trong tình huống này, ông Nguyễn Hồng đã đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng quy định của pháp luật, ông đã làm việc cho công ty V trên 12 tháng (từ tháng 10/2008 đến khi nghỉ việc) và cũng không thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 nên ông thuộc trường hợp được trợ cấp thôi việc
Tuy nhiên, căn cứ vào Khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động thì thời giờ làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm
Như vậy, nếu thời gian ông Nguyễn Hồng đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bằng với thời gian ông tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì ông không được nhận trợ cấp thôi việc
Tiền thù lao Hội đồng quản trị do Công ty V chi trả
Theo Điều 163 LDN 2020 quy định
Trang 6“Điều 163 Tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc
1 Công ty có quyền trả thù lao, thưởng cho thành viên Hội đồng quản trị, trả lương, thưởng cho Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác theo kết quả và hiệu quả kinh doanh.
2 Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được trả theo quy định sau đây:
a) Thành viên Hội đồng quản trị được hưởng thù lao công việc và thưởng Thù lao công việc được tính theo số ngày công cần thiết hoàn thành nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị và mức thù lao mỗi ngày Hội đồng quản trị dự tính mức thù lao cho từng thành viên theo nguyên tắc nhất trí Tổng mức thù lao và thưởng của Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông quyết định tại cuộc họp thường niên;
b) Thành viên Hội đồng quản trị được thanh toán chi phí ăn, ở, đi lại và chi phí hợp lý khác khi thực hiện nhiệm vụ được giao;
c) Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được trả lương và thưởng Tiền lương và thưởng của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị quyết định.
3 Thù lao của từng thành viên Hội đồng quản trị, tiền lương của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác được tính vào chi phí kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, được thể hiện thành mục riêng trong báo cáo tài chính hằng năm của công ty và phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.”
Căn cứ khoản 1 Điều 90 BLLĐ 2019 thì tiền lương cũng bao gồm mức lương theo chức danh và mức tiền này sẽ phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của công ty V và
theo điểm a khoản 2 Điều 163 LDN 2020: “Thù lao công việc được tính theo số ngày công cần thiết hoàn thành nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị và mức thù lao mỗi ngày Hội đồng quản trị dự tính mức thù lao cho từng thành viên theo nguyên tắc nhất trí Tổng mức thù lao và thưởng của Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông quyết định tại cuộc họp thường niên.”
Trang 7Tuy nhiên khoản tiền thù lao này phụ thuộc vào kết quả, hiệu quả kinh doanh, và dựa vào điều lệ công ty quy định nên không đương nhiên được chi trả Nếu Công ty V làm ăn không hiệu quả thì ông Nguyễn Hồng không được chi trả số tiền này
Tình huống 2
Ông Liên Thanh và Công ty Cổ phần S (gọi tắt là Công ty S) đã ký HĐLĐ với mức lương căn bản 8.000.000 đồng, lương công việc là 24.727.500 đồng, phụ cấp trách nhiệm là 12.000.000 đồng Thu nhập thực lãnh sau khi trừ các khoản khấu trừ 11 (thuế
thu nhập cá nhân, tiền BHXH, BHTN) là 40.000.000 đồng/tháng Ngày 14/3/2016, ông
có viết đơn xin nghỉ việc, thời gian chính thức nghỉ việc của ông sẽ là ngày 13/4/2016 Ngày 18/5/2016, Công ty S ra thông báo vi phạm và tổn thất số 10/2016/TB
nội dung là đang xem xét về công việc của ông và hẹn là ngày 2/6/2016 sẽ có kết quả Sau ngày 02/6/2016, ông Thanh vẫn không nhận được bất cứ kết quả nào từ Công ty S Người đại diện Công ty S trình bày: Hiện Công ty còn giữ của ông Thanh 60.000.000 đồng tiền lương (tiền lương 1 tháng 13 ngày làm việc) Sau khi kiểm tra lại, Công ty mới phát hiện ông có hành vi vi phạm nội quy Công ty, ông Thanh đã có các hành vi vi phạm:
(i) Tự ý chia nhỏ hóa đơn cho khoản mục xây dựng chuồng gà với tổng giá trị 22.817.000 đồng;
(ii) Tự ý mua hàng đắt hơn so với giá khảo sát đối với các mặt hàng: Bảng tên nhân viên, số phòng Mica, In mark nhôm, lắc khóa tròn Do đó, Công ty đã áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương của ông Thanh Các hành vi này gây thiệt hại cho Công ty 27.402.000 đồng nên Công ty đề nghị khấu trừ vào khoản tiền lương hiện Công ty đang giữ, số tiền lương còn lại 32.598.000 đồng, Công ty đồng ý hoàn trả lại cho ông Q Trong đơn khởi kiện, Ông Thanh yêu cầu: Thanh toán cho ông tiền lương tháng 3/2016; 13 ngày công tháng 4/2016 số tiền làm tròn 60.000.000 đồng như Công ty đã xác nhận và thanh toán số tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật, tính từ ngày 13/4/2016 đến ngày xét xử Hỏi, theo quy định của pháp luật hiện hành:
Trang 81 Công ty có thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh hay không? Vì sao?
QLHĐ đã chấm dứt hay chưa? Nếu QHLĐ đã chấm dứt thì không áp dụng BLLĐ được
Khấu trừ lương là không thể nào vì qhlđ đã kết thúc thì không thể khấu trừ
NLĐ đã nghỉ việc thì cũng không thể nào triệu tập họ
NLĐ đã nghỉ việc thì không có công đoàn nào bảo vệ
Nếu tiến hành thì sẽ tiến hành xử lý vắng mặt Điều 30 BLLĐ, Điều 71 NĐ 145
TH1: 71-72 NĐ145, 130
TH2: QHLĐ đã kết thúc trước khi cty phát hiện ra những hành vi sai phạm thì sẽ
áp dụng BLDS
Công ty không thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 BLLĐ 2019 (dẫn chiếu tới Khoản 1 Điều 129) thì khi người lao động có hành vi gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động Mà trong trường hợp này, ông Thanh đã gây thiệt hại cho công ty S với tổng giá trị thiệt hại là 27.402.000 đồng với các hành vi cụ thể:
Những quy định tại khoản 1 Điều 129 là thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất
TH khi quan hệ lao động vẫn còn thì cty phải chứng minh có thiệt hại xảy ra… (i) Tự ý chia nhỏ hóa đơn cho khoản mục xây dựng chuồng gà với tổng giá trị 22.817.000 đồng;
(ii) Tự ý mua hàng đắt hơn so với giá khảo sát đối với các mặt hàng: Bảng tên nhân viên, số phòng Mica, In mark nhôm, lắc khóa tròn
Mặt khác, theo quy định tại Khoản 3 Điều 102 BLLĐ 2019: “Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân” Trong trường hợp này, tiền lương hằng tháng mà ông
Trang 9Thanh được nhận sau khi trích nộp các khoản bắt buộc là 40.000.000 đồng mà khoản tiền công ty khấu trừ là 27.402.000 đồng đã vượt mức 30% Điều này là trái với quy định của pháp luật
2 Các yêu cầu trên đây của ông Thanh được giải quyết như thế nào?
Các yêu cầu trên của ông Thanh sẽ được giải quyết như sau:
TH1
TH2:
NSDLĐ phải trả lương đúng hẹn, TH này lương t3 đã chậm so với kì hạn tham khảo k4D97 thì phải trả kèm với mức lãi suất Nếu tháng t4 đã chấm dứt QHLĐ thì quay
về Điều 48, NSDLĐ phải có trách nhiệm thanh toán cho NLĐ Nếu lương t4 chậm thì phần lãi chậm trả sẽ tính theo BLDS
Công ty phải thanh toán cho ông Thanh tiền lương của 1 tháng 13 ngày Nếu có khấu trừ tiền lương do vi phạm nội quy thì số tiền không vượt quá 30% tiền lương thực trả hàng tháng theo quy định tại Điều 102 Bộ luật Lao động năm 2019
Công ty cũng phải thanh toán số tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật, nhưng tính từ ngày 2/6/2016 đến ngày xét xử Vì trước đó ông Thanh có viết đơn xin nghỉ việc
từ ngày 13/4/2016 nhưng chưa có sự chấp thuận của Công ty nên không thể tính lãi chậm trả từ ngày 13/4/2016
Tình huống 3:
Ông Bùi Quang là chuyên viên công tác tại Công ty TNHH G (viết tắt là Công
ty G) theo HĐLĐ số 30VP-HĐLĐ ngày 18/6/2012 Ban điều hành Công ty G gồm hai thành viên là ông Lee Dong C (đại diện bên nước ngoài) được Hội đồng thành viên bổ nhiệm làm Tổng giám đốc; ông Bùi Quang (đại diện bên Việt Nam) được Hội đồng thành viên bổ nhiệm làm Phó tổng giám đốc Ngày 17/02/2014 Hội đồng thành viên
Trang 10Công ty G ra Nghị quyết số 07/HĐTV , thống nhất tại mục 4 ghi: “Lương, phụ cấp và các chế độ của Phó tổng giám đốc như sau: mức lương 2.850 USD/tháng; tiền thưởng 500USD/tháng; hoàn thành công việc được giao 300USD/tháng; tiền thưởng quí (3 tháng) 1.500 USD/quí, ”
Ông Lee Dong C tự ý ban hành nhiều văn bản, chỉ thị không trả lương cho ông Bùi Quang từ tháng 9/2014 Đồng thời ông Lee Dong C - Tổng giám đốc buộc ông Quang là Phó Tổng giám đốc phải ký HĐLĐ với Tổng giám đốc và chỉ thị thu hồi tiền lương của ông Quang đã nhận từ tháng 3/2014 đến tháng 8/2014 Ông Quang khởi kiện yêu cầu Công ty G thực hiện việc trả lương từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/5/2015) và các khoản tiền thưởng tháng, quý
Đại diện bị đơn đã xác nhận từ khi Công ty hoạt động cho đến nay Hội đồng thành viên chưa có tổ chức cuộc họp hoặc lập biên bản đánh giá về việc hoàn thành tốt công việc của Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, nhưng hàng năm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc (trừ ông Quang) cũng vẫn được nhận đầy đủ các khoản thưởng hàng tháng, quý và Tết Dương lịch; Trước khi xảy ra vụ việc, ông Quang vẫn làm việc bình thường.
Tại Điều 7, 8, 9 Điều lệ Công ty quy định: “Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc
do Hội đồng thành viên bổ nhiệm và bãi nhiệm Tiền thù lao, phúc lợi và các phụ cấp khác của Tổng giám đốc; Phó tổng giám đốc cùng các điều khoản và điều kiện lao động khác do Hội đồng thành viên quy định phù hợp với luật pháp Việt Nam” Hội đồng thành viên và Ban điều hành của Công ty chưa có bất kỳ Quyết định nào việc thay đổi Chế độ tiền lương, thưởng, phụ cấp và các chế độ khác của mọi người lao động trong Công ty
Từ khi Công ty không trả tiền lương, thưởng cho ông Quang đến nay thì Phó Tổng giám đốc người nước ngoài vẫn được chi trả tiền thưởng bình thường”; tình hình
kinh doanh của Công ty K rất tốt
Hỏi, theo quy định hiện hành: