TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN Tên đề tài Tác động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu đến phát triển kinh tế xã[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
Trang 2PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
2 Tác động của quy luật giá trị
3 Quy luật cung – cầu, cạnh tranh và các hình thức cạnh tranh
4 Tác động của cạnh tranh trong nền KTTT
II.VẬN DỤNG:
1. Quan điểm của Đảng về việc nghiên cứu và vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong nền KTTT định hướng XHCN
2 Thực trạng KT - XH địa phương Hà Nam
3 Một số giải pháp nhằm phát triển KT-XH tại Hà Nam
C KẾT LUẬN
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3A.LỜI MỞ ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia thì sản xuất hàng hoá luôn luôn giữ vị trí quantrọng, đây là một trong những hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự phát triểncủa quốc gia Sản xuất hàng hoá thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động, phát triển chuyên môn hoá, tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng,mỗi đơn vị sản xuất, tạo điều kiện cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ sản suất,
mở rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển Ngoài ra, sản xuất hànghoá còn làm cho quá trình giao lưu kinh tế văn hoá giữa các địa phương, cácvùng, các nước ngày càng phát triển, đời sống tinhthần được nâng cao, phong phú và đa dạng, tạo điều kiện cho sự phát triển tự do độc lập của cá nhân Trongsản xuất hàng hoá, có một quy luật rất quan trọng đó là quy luật giá trị Đây làquy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá Theo quy luật này, sản xuất và trao đổihàng hoá được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết Thông qua sựvận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị giá
cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chế tácđộng của quy luật giá trị Cơ chế nàyphát sinh tác dụng trên thị trường thôngqua cạnh tranh, cung -cầu, sức mua của đồng tiền Điều này cắt nghĩa vì sao khitrình bày quy luật kinh tế chi phối hoạt động của sản xuất và lưu thông hànghoá người ta chỉ trình bày quy luật giá trị, một quy luật bao quát cả bản chất vàcác nhân tố cấu thành cơ chế tác động của nó
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, phải đối mặt với rất nhiềuthách thức và khó khăn nhất là trong phát triển kinh tế, do đó đòi hỏi chúng ta phải áp dụng những biện pháp phát triển kinh tế thật thận trọng,khẩn trương và
có hiệu quả Chính vì vậy, việc vận dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là rất quan trọng
Trước tầm quan trọng của quy luật giá trị, em đã thực hiện nghiên cứu đềtài: “Tác động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu đến phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương Hà Nam.” Quy luật này nhằm khẳngđịnh lại một lần nữa vai trò quan trọng của quy luật giá trị, và nêu nên sự vậndụng quy luật này đối với nước ta
Em xin chân thành cảm ơn TS: Đặng Thành Chung đã giúp đỡ em rất nhiềutrong quá trình nghiên cứu đề tài này Và em rất mong có sự đóng góp ý kiếncủa các thầy cô giáo để cho đề tài này hoàn thiện hơn nữa
Trang 4B NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
Nội dung của quy luật giá trịQuy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và traođổi hàng hoá Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự xuấthiện và hoạt động của quy luật giá trị Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tếtrong sản xuất và lưu thông hàng hoá đều chịu sự tác động và chi phối của quyluật này Tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại
và phát triển được, ngược lại sẽ bị thua lỗ và phá sản
Quy luật gia trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưuthông hàng hoá Theo quy luật này, sản xuất và trao đổi hàng hoá tuân theomệnh lệnh của giá cả thị trường Thông qua sự vận động của giá cả thị trường
sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị Giá cả thị trường lên xuống xoayquanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Cơ chếnày phát sinh tác dụng trên thị trường thông qua cạnh tranh, cung -cầu, sức muacủa đồng tiền Điều này cắt nghĩa vì sao khi trình bày quy luật kinh tế chi phốihoạt động của sản xuất và lưu thông hàng hoá người ta chỉ trình bày quy luậtgiá trị, một quy luật bao quát cả bản chất và các nhân tố cấu thành cơ chế tácđộng của nó
Do tầm quan trọng của cơ chế tác động và để tăng ý nghĩa thực tiễn củaquy luật giá trị, những năm gần đây, các nhà kinh tế học thấy cần phải nhấnmạnh các nhân tố cạnh tranh, lượng tiền cấn thiết cho lưu thông cung –cầu đốivới sự biến động của giá cả thị trường và trình bày chúng thành các quy luật:cạnh tranh,cung -cầu và lưu thông tiền tệ Mặc dù được trình bày thành nhữngquy luật kinh tế riêng, song, về nhận thức lý luận, chúng ta cũng chỉ nên coichúng là những quy luật kinh tế phát sinh từ quy luật giá trị, hiểu theo nghĩa đầy
đủ của quy luật này
Yêu cầu cẩu quy luật giá trị:
Thứ nhất, theo quy luật này, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá
Trang 5khứ và lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của nó phải nhỏhơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó,tức là giá cả thị trường của hàng hóa.
Thứ hai, trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phảiđảm bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất (tất nhiên chi phí đó phải dựatrên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải bất kỳ chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng
Sự tác động, hay biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị được thể hiệnthông qua sự vận động của giá cả hàng hoá Vì giá trị là cơ sở của giá cả, còngiá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên trước hết giá cả phụ thuộc vàogiá trị
Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khácnhư: cạnh tranh, cung - cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tốnày làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và lên xuống xoayquanh trục giá trị của nó Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoayquanh trục giá trị của nó hình là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Thôngqua sự vận
động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng
2 Tác động của quy luật giá trị
Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:
Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa cácngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Tác lộng này của quy luật giá trị thông qua
sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luậtcung - cầu
- Nếu cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa là hàng hóa sảnxuất ra có lãi, bán chạy Giá cả cao hơn giá trị sẽ kích thích mở rộng và đẩymạnh sản xuất để tăng cung; ngược lại cầu giảm vì giá tăng
- Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu, giá
cả thấp hơn giá trị, hàng hóa khó bán, sản xuất không có lãi Thực tế đó, tựngười sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sản xuất; ngược lại, giá giảm sẽkích thích tăng cầu, tự nó là nhân tố làm cho cung tăng
- Cung cầu tạm thời cân bằng; giá cả trùng hợp với giá trị Bề mặt nền kinh
tế người ta thường gọi là “bão hòa”
Trang 6Tuy nhiên nền kinh tế luôn luôn vận động, do đó quan hệ giá cả và cungcầu cũng thường xuyên biến động liên tục Như vậy, sự tác động trên của quyluật giá trị đã dẫn đến sự di chuyển sức lao động và tư liệu sản xuất giữa cácngành sản xuất khác nhau Đây là vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị.Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua diễn biến giá cả trênthị trường Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồnghàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hoáthông suốt Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ
rõ sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá
Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suấtlao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thểkinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng
do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi ngườikhác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí laođộng xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu được lãi cao Người sản xuất nào
có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Để giành lợi thế trong cạnh tranh, và tránh nguy cơ vỡ nợ, phásản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho bằng hao phí laođộng xã hội cần thiết Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cảitiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động Sựcạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mangtính xã hội Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnhmẽ
Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hànghoá thành người giàu, người nghèo
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: nhữngngười có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹthuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cầnthiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất,
mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những người không có điều kiện thuậnlợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phásản trở thành nghèo khó
Trang 83 Quy luật cung – cầu, cạnh tranh và các hình
thức cạnh tranh
Quy luật cung cầu
Lý luận và thực tiễn đều khẳng định: ở nơi nào có nhu cầu thì ở nơi đócũng xuất hiện luồng cung ứng hàng hoá, dịch vụ để hình thành mối quan hệcung cầu Mối quan hệ nhân quả giữa cung và cầu liên tục tiếp diễn trên thịtrường, tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người được gọi
là quy luật cung cầu
Sự hoạt động của quy luật này thể hiện ở cơ chế vận động giữa giá cả thịtrường và giá trị hàng hoá thông qua các trường hợp: cung bằng cầu, cung lớnhơn cầu và cung nhỏ hơn cầu:
- Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị hàng hoá trong sản xuất.-Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất.-Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất
Vai trò của quy luật cung cầu:
Quy luật cung cầu giải thích rõ nhất, chính xác nhất vì sao giữa giá trịvàgiá cả thị trường lại không ăn khớp với nhau, tạo điều kiện cho quy luật giá trị
có cơ chế hoạt động Tuy cung cầu không trực tiếp quyết định sự hình thành giátrị hàng hoá, nhưng nó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến chu kỳ sản xuất sau đốivới sự hình thành giá trị hàng hóa, thông quatác động của thị trường làm thayđổi điều kiện sản xuất và thay đổi năng suất lao động, giúp các giám đốc cónhững quyết định ăng động, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh và trong kýkết các hợp đồng kinh tế
Quy luật cạnh tranhCạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh về kinh tế giữa những người sảnxuất với nhau,giữa người sản xuất với người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ,nhằm dành được những đều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Những người sản xuất, tiêu thụ có điều kiện khác nhau về trình độ trang
bị kỹ thuật, chuyên môn, không gian, môi trường sản xuất, điều kiện nguyên vậtliệu nên chi phí lao động cá biệt khác nhau Kết quả có người lãi nhiều, có
Trang 9người lãi ít, có người phá sản Để dành lấy các điều kiện thuận lợi trong sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm buộc họ phải cạnh tranh Cạnh tranh có hai loại: canhtranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh lành mạnh là dùngtài năng của mình về kinh tế và quản lý để tăng năng suất, chất lượng, và hiệuquả, vừa có lợi cho nhà kinh doanh, vừa có lợi cho xã hội Cạnh tranh khônglành mạnh là dùng những thủ đoạn phi đạo đức, vi phạm pháp luật( trốn thuế,nâng giá ) có hại cho xã hội và người tiêu dùng.
Quy luật cạnh tranh có tác dụng đào thải cái lạc hậu, bình tuyển cái tiến
bộ để thúc đẩy xã hội phát triển
Tóm lại: nghiên cứu các quy luật giá trị, lưu thông tiền tệ và cung cầukhông chỉ để nhận thức lực lượng khách quan chi phối thị trường , mà còn có ýnghĩa đối với việc thực hiện chức năng quản lý ở hai tầng quản lý kinh tế vĩ môcủa nhà nước và quản lý vi mô của các doanh nghiệp
Các hình thức cạnh tranha) Cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nướcDựa vào vai trò điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh được chia thành hailoại: cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước
-Cạnh tranh tự do:
Lý thuyết về cạnh tranh tự do ra đời vào thời kỳ giá cả tự do vận động lênxuống theo sự chi phối của quan hệ cung cầu, của các thế lực thị trường Kháiniệm cạnh tranh tự do được hiểu từ sự phân tích các chính sách xây dựng vàduy trì thị trường tự do, theo đó thị trường tự do tồn tại khi không có sự canthiệp của Chính phủ và tại đó các tác nhân cung cầu được phép hoạt động tự do
Mô hình cạnh tranh tự do ra đời cùng với quan điểm về bàn tay vô hình do nhàkinh tế học người Anh Adam Smith (1723-1790) đề xuất Ông tôn vinh vai tròđiều tiết thị trường của “bàn tay vô hình”và cho rằng, sự tự do tự nhiên đã sảnsinh ra một hệ thống điều tiết các quan hệ và các lợi ích thị trường đơn giản và
rõ ràng Theo đó, khi chạy theo lợi ích cá nhân, mỗi người đã vô tình đồng thờiđáp ứng lợi ích của xã hội, cho dù trước đó họ không có ý định này (cơ chế nàyđược gọi là sự điều hoà tự nhiên về lợi ích) Vì vậy, hệ thống cạnh tranh tự do
tự nó đã sản sinh những quyền lực cần thiết để điều tiết và phân bổ các nguồnlực một cách tối ưu Vì vậy, công quyền không cần phải can thiệp sâu vào đờisống thị trường
-Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước:
Trang 10Khác với cạnh tranh tự do, cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thứccạnh tranh mà ở đó Nhà nước bằng các chính sách và công cụ pháp luật canthiệp vào đời sống thị trường để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vậnđộng và phát triển trong một trật tự, đảm bảo sự phát triển công bằng và lànhmạnh Yêu cầu về sự điều tiết của Nhà nước đối với cạnh tranh xuất phát từnhận thức của con người về mặt trái của cạnh tranh tự do và sự bất lực của “bàntay vô hình” trong việc điều tiết đời sống kinh tế.
Với sự giục giã của lợi nhuận và khả năng sáng tạo những thủ pháp cạnh tranhtrong kinh doanh, các doanh nghiệp khi tham gia thương trường đã khôngngừng tiến hành cải tiến và nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý laođộng, quản lý sản xuất kinh doanh để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu củakhách hàng Bên cạnh những tính toán để nâng cao khả năng kinh doanh mộtcách chính đáng, còn phát sinh nhiều toan tính không lành mạnh nhằm tiêu diệtđối thủ để chiếm lĩnh vị trí thống trị thị trường, giảm bớt sức ép của cạnh tranh,nhiều thủ đoạn chiếm đoạt thị phần của người khác một cách bất chính, lừa dốikhách hàng để trục lợi…
Những biểu hiện không lành mạnh ấy ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn
độ phức tạp trong biểu hiện, làm ô nhiễm môi trường kinh doanh của thị trường.Trong trường hợp này, xã hội và thị trường cần phải có thêm “bàn tay hữuhình” của một thế lực đủ mạnh, đứng trên các chủ thể kinh doanh (là những chủthể có tư cách pháp lý bình đẳng nhau), bằng những công cụ cần thiết để ngănchặn, trừng phạt những hành vi xâm hại trật tự công bằng của thị trường, khôi phục những lợi ích chính đáng bị xâm hại
b) Cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyềnCăn cứ vào tính chất mức độ biểu hiện, cạnh tranh được chia thành cạnhtranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền
– Cạnh tranh hoàn hảo:
Là hình thức cạnh tranh mà ở đó người mua và người bán đều không cókhả năng tác động đến giá cả của sản phẩm trên thị trường Trong hình thái thịtrường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả của sản phẩm hoàn toàn do quan hệ cungcầu, quy luật giát trị quyết định; không có sự tồn tại của bất cứ khả năng hayquyền lực nào có thể chi phối các quan hệ trên thị trường
– Cạnh tranh không hoàn hảo:
Là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất, trongmôi trường các doanh nghiệp phân phối hoặc sản xuất có đủ sức mạnh và thế
Trang 11lực để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường Trong thực
tế, hình thức cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh phổ biến trênthị trường, ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành của nền kinh tế
Nếu như trong cạnh tranh hoàn hảo thì không có ai có đủ khả năng chi phối thị trường, Trong cạnh tranh không hoàn hảo, do không đầy đủ các điềukiện cho sự hoàn hảo nên mỗi thành viên của thị trường đều có một mức độquyền lực nhất định đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm Tùy từng biểuhiện của hình thức cạnh tranh này mà cách thức và phạm vi tác động đến giá cả
sẽ là khác nhau
c) Cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không lành mạnh và hạn chếcạnh tranh
– Hành vi cạnh tranh lành mạnhCạnh tranh lành mạnh được định nghĩa là hình thức cạnh tranh công khai,công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh các nhàkhoa học cũng đã có một sự thống nhất khi đưa ra những đặc trưng của cạnhtranh lành mạnh như sau: Cạnh tranh bằng tiềm năng vốn có của doanh nghiệp,
có mục đích thu hút khách hàng, không trái pháp luật và tập quán kinh doanhlành mạnh
Cạnh tranh lành mạnh đem lại cho người tiêu dùng chất lượng sản phẩmngày càng cao, sự đa dạng sản phẩm theo nhu cầu, giá cả hợp lý; đem lại chođời sống kinh tế – xã hội những thành tựu phát triển của khoa học kỹ thuật, sựhợp lý trong việc sử dụng các nguồn lực kinh tế như: vốn, lao động, nguyênliệu Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh sẽ là trọng tài công bằng đểlựa chọn những nhà kinh doanh có đủ năng lực, đủ bản lĩnh để tồn tại và kinhdoanh hiệu quả
– Hành vi cạnh tranh không lành mạnhCạnh tranh không lành mạnh được hiểu là bất cứ hành vi cạnh tranh nàotrái với các hoạt động thực tiễn, không trung thực trong lĩnh vực công nghiệp vàthương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Từ định nghĩa được nêu ra trong Luật Cạnh Tranh, có thể nhận thấy cạnhtranh không lành mạnh sẽ có các đặc điểm sau:
– Vì mục đích cạnh tranh;
– Nhằm vào đối thủ cạnh tranh hiện hữu (cụ thể);
– Vi phạm pháp luật hoặc đi ngược lại với đạo đức, tập quán tốt đẹp;