TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Tên đề tài Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong cuộc chiến chống dịch Covid 19 Họ và tên Nguyễn Quốc H[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Tên đề tài: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong cuộc
chiến chống dịch Covid-19
Họ và tên: Nguyễn Quốc Hà
Mã sinh viên:20810301385
MÃ ĐỀ:.19.
Trang 2Hà Nội, 10/2021
Trang 3MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I, Cơ sở lý luận: 2
1 Đặc điểm của dân tộc Việt Nam 2
2 Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam4 II Vận dụng: 6
1 Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong phòng, chống đại dịch Covid-19 6
2 Thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong phòng, chống đại dịch Covid-19 7
3 Bài học kinh nghiệm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong phòng, chống đại dịch Covid-19 10
C KẾT LUẬN 14
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay, đại dịch COVID-19 đã và đang đe dọa nghiêm trọng
an toàn và sức khỏe của nhân dân ta Xã hội bị xáo trộn, kinh tế bị ảnh hưởng nặng
nề, đặc biệt là với những người dân nghèo Rất nhiều gia đình đã mất việc làm, hoặc thu nhập rơi vào tình trạng hết sức bấp bênh Đặc biệt hiện nay, Việt Nam bước vào một giai đoạn đầy thách thức khi dịch bệnh bùng phát trở lại với cường độ mạnh hơn, tốc độ lây nhiễm của chủng mới tăng gấp nhiều lần Sau những thành công ở những giai đoạn đầu, trong những ngày vừa qua, chúng ta ghi nhận hàng trăm rồi đến hàng nghìn ca nhiễm mới mỗi ngày Đợt bùng phát dịch bệnh lần này rất nguy hiểm do chủng virus mới đang lây lan rất nhanh
Đại dịch COVID-19 đã và đang tiếp tục là một thách thức đặc biệt không chỉ với riêng Việt Nam và đối với toàn nhân loại Nhờ sự huy động kịp thời, sự vào cuộc quyết liệt, không một phút chần chừ của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng, đồng thuận, chung sức của toàn dân, việc thực hiện công tác phòng, chống dịch tại nước ta
đã và đang diễn ra ở quy mô chưa có tiền lệ “Lửa thử vàng, gian nan thử sức” chính trong cơn hoạn nạn vì đại dịch, lòng người Việt Nam được lan tỏa rộng khắp và đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được phát huy giá trị để đất nước chiến đấu và chiến thắng giặc Covid-19.Gần hai năm qua, kể từ khi đại dịch COVID -19 bùng phát đầu năm 2020, chưa bao giờ từ tinh thần “đoàn kết” của dân tộc lại được nhắc đến nhiều như vậy và hơn lúc nào hết, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ được phát huy bằng sức mạnh của cả hệ thống chính trị
Trước những vấn đề về sự nguy hiểm của đại dịch đối với nhân dân và nhà nước ta, và cách ta dối phó lại với đại dịch thì em đã thực hiện nghiên cứu đề tài :
“Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong cuộc chiến chống dịch Covid-19.” Đề tài này nhằm nói lên sự cố gắng và kiên quyết chiến thắng đại dịch của nhân dân và nhà nước ta
Em xin chân thành cảm ơn TS: Đặng Thành Chung đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài này Và em rất mong có sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để cho đề tài này hoàn thiện hơn nữa.
Trang 5B NỘI DUNG
I, Cơ sở lý luận:
1 Đặc điểm của dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất: Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người:
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó, dân tộc người Kinh có 73.594.341 người chiếm 85,7% dân số cả nước; 53 dân tộc thiểu số có 12.252.656 người, chiếm 14,3% dân số Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cũng không đồng đều, có dân tộc với số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Mông ), nhưng có dân tộc với số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, ơ đu) Thực tế cho thấy nếư một dân tộc
mà số dân có hàng trăm sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc thiểu số rất ít người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam có những chính sách quan tâm đặc biệt
Thứ hai: Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau:
Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam Á Tính chất chuyển cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán, xen kẽ và làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn Đặc điểm này một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Mặt khác, do có nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh sống cũng dễ nảy sinh mâu thuẫn, xung đột, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước Thứ ba: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng:
Mặc dù chỉ chiếm 14,3% dân số, nhưng 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lại cư trú trên % diện tích lãnh thổ và ở những vị trí trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái - đó là vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng
xa của đất nước Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Khơme, dân tộc Hoa
Trang 6Do vậy, các thế lực phản động thường lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam
Thứ tư: Các dân tộc ở Việt Nam cỏ trình độ phát triển không đều:
Các dân tộc ở nước ta còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống, quan hệ xã hội của các dân tộc thiểu số khác nhau, về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau: Một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm đoạt, dựa vào khai thác tự nhiên; tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang phương thức sản xuất tiến bộ, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về văn hóa, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số còn thấp Muốn thực hiện bình đẳng dân tộc, phải từng bước giảm, tiến tới xoá bỏ khoảng cách phát triển giữa các dân tộc về kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là nội dung quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam để các dân tộc thiểu số phát triển nhanh và bền vững
Thứ năm: Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc - quốc gia thống nhất:
Đặc trưng này được hình thành do yêu cầu của quá trình cải biến tự nhiên và nhu cầu phải hợp sức, hợp quần để cùng đấu tranh chống ngoại xâm nên dân tộc Việt Nam đã hình thành từ rất sớm và tạo ra độ kết dính cao giữa các dân tộc Đoàn kết dân tộc trở thành truyền thống quý báu của các dân tộc ở Việt Nam, là một trong những nguyên nhân và động lực quyết định mọi thắng lợi của dân tộc trong các giai đoạn lịch sử; đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược để giành độc lập thống nhất Tổ quốc Ngày nay, để thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, các dân tộc thiểu số cũng như đa số phải ra sức phát huy nội lực, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Thứ sáu: Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú,
đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất:
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trong văn hóa của mỗi dân tộc đều có những sắc thái độc đáo riêng góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng Sự thống nhất đó, suy cho cùng là bởi, các dân tộc đều có chung một lịch sử dựng nước và giữ nước, đều sớm hình thành ý thức về một quốc gia độc lập, thống nhất Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta
Trang 7luôn luôn quan tâm đến chính sách dân tộc, xem đó là vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn và toàn diện gắn liền với các mục tiêu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2 Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam
Đoàn kết là một giá trị văn hóa truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hình thành và phát triển trong lịch sử đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước Đoàn kết, yêu nước nồng nàn, cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động và sống thích ứng là những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam Trong quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước từ xưa cho đến nay đã hình thành một cộng đồng dân tộc Việt Nam gắn bó keo sơn Từ lòng yêu nước nồng nàn, sự đoàn kết muôn người như một đã tạo nên sức mạnh vô địch, giúp dân tộc ta đánh thắng các cuộc xâm lược của những đội quân hùng mạnh nhất, giữ gìn độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia Đại hội XII khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu hành động chia
rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”
Tựu trung lại, quan điểm cơ bản của Đảng ta về vấn đề dân tộc thể hiện ở các nội dung sau:
- Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn
đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất
Trang 8- Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và toàn bộ-hệ thống chính trị”
Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là từ khi đổi mới đến nay, tinh thần đoàn kết của dân tộc ta tiếp tục được phát huy với nhiều hình thức tổ chức
và vận động nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; đoàn kết cùng nhau giải quyết những khó khăn về đời sống, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy ý chí, sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam Đảng ta đã lãnh đạo cả hệ thống chính trị tập trung tuyên truyền, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, tạo sự thống nhất và đồng thuận trong xã hội; triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo và huy động các nguồn lực trong xã hội, tham gia thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc
Trang 9II Vận dụng:
1 Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong phòng, chống đại dịch Covid-19
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn thường nhắc: Đoàn kết là một truyền thống và bài học cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết!” Từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn xác định “đoàn kết” là giá trị cốt lõi
và “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam Đó cũng là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, là động lực to lớn tạo nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công!”
Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là phòng, chống dịch Covid-19 như “chống giặc”; bởi vậy, tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và huy động mọi năng lực của nhân dân, để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc”, được vận dụng sáng tạo và thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong phòng, chống đại dịch Covid-19 hiện nay Đại đoàn kết dân tộc theo Bác không chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của dân tộc Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi”
Đảng ta khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” Và Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách kịp thời, trong đó nhấn mạnh việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, tính mạng và ổn định đời sống của nhân dân, được đặt lên trên hết, trước hết Điều đó được thể hiện rõ quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống đại dịch Covid-19 Ngày 30/3/2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch Covid-19, nêu rõ: “Toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ
Trang 10trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh”
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: “Chống dịch như chống giặc”
và tuyên bố rất dứt khoát: “Việt Nam chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của người dân” Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu, càng khó khăn, phức tạp, càng phải đoàn kết, thống nhất, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, “sức dân như nước” Tuyên bố trên thể hiện rõ sự đoàn kết thống nhất và tinh thần làm chủ của nhân dân trong phòng, chống đại dịch Covid-19 hiện nay
Từ khi bùng phát đại dịch Covid-19 lần thứ 4, từ ngày 27/4/2021 đến nay, nhiều địa phương phải phong toả, giãn cách từng khu vực hoặc toàn bộ địa bàn, làm ảnh hưởng lớn đời sống của hàng chục triệu người Trước tình hình đó, ngày 29/7/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch Covid-19 Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng”
Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định tinh thần “đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch”, gắn kết mỗi người dân Việt Nam lại với nhau để cùng đất nước vượt qua khủng hoảng Đảng ta chỉ rõ: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” Bởi vậy, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện và vận dụng sáng tạo trong phòng, chống đại dịch Covid-19, đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy ý chí, quyết tâm và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận
xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong phòng, chống đại dịch Covid-19
Ngay từ khi ghi nhận ca bệnh đầu tiên (ngày 23/01/2020), trên cơ sở kinh nghiệm trong việc phòng, chống dịch SARS (năm 2003), cúm A/H1N1 (năm 2009), Việt Nam đã triển khai các biện pháp quyết liệt nhằm ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của dịch bệnh Khi tình hình diễn biến phức tạp và lan rộng tại nhiều quốc gia khác