Bài viết Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị phân tích bối cảnh ra đời của Nghị định 24, sẽ đánh giá những kết quả đạt được của Nghị định cho đến nay trên các phương diện: (i) cơ cấu lại thị trường vàng và giảm thiểu “vàng hóa” nền kinh tế, (ii) ổn định giá vàng, giảm thiểu tác động của giá vàng đến ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó nêu một số kiến nghị về quản lý thị trường vàng trong bối cảnh hiện nay.
Trang 1khuyến nghị
Đỗ Minh Đức
Nghiên cứu sinh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ngày nhận: 30/03/2023 Ngày nhận bản sửa: 17/04/2023 Ngày duyệt đăng: 17/04/2023
Tóm tắt: Mặc dù không còn được biết đến với vai trò là một loại tiền tệ, vàng
vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng Trong bối cảnh diễn biến phức tạp của thị trường vàng đầu những năm
2000, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản theo hướng ổn định thị trường
vàng, bao gồm: (i) quy định về chấm dứt hoạt động của sàn giao dịch vàng
và kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước, (ii) quy định về chấm dứt huy
động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng, (iii) quy định về quản
lý hoạt động kinh doanh vàng, (iv) quy định về xử phạt vi phạm hành chính
The gold market after the regulations of Decree 24/2012/ND-CP on the management of gold
business activities and some suggestions
Abstract: Gold plays an instrumental role in the world economy in general and Vietnam in particular, even
though it is no longer a currency In an attempt to stabilize the fluctuated gold market in the early 2000s, the Vietnamese government issued numerous documents, including (i) regulations on the termination of the
gold trading floor and domestic gold trading accounts, (ii) regulations on the termination of gold mobilizing
and lending activities of credit institutions, (iii) regulations on the management of gold business activities,
(iv) regulations on the sanctions for administrative violations in the field of foreign exchange and gold
Decree 24/2012/ND-CP, regulations on the management of gold business activities, is supposed to be the
most comprehensive document, which contributes to the restructuring and reorganization of the entire
Vietnamese gold market under the control of the State Bank This paper analyzes the context of Decree 24
issuance and evaluates the outcomes of Decree 24 application based on the following criteria: (i) restructure the gold market and put a restraint on the “goldalized” economy, (ii) stabilize the gold price and reduce the
impacts of gold price on the macro-economy, in turn, proposing suggestions regarding the gold market
management in the current context.
Key words: gold market, goldalization, Decree 24/ND-CP.
Doi: 10.59276/TCKHDT.2023.04.2517
Do, Minh Duc
PhD Student, National Economics University
Email: dominhduc@doji.vn
Trang 2trong lĩnh vực ngoại hối và vàng Trong các chính sách đã ban hành, Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được đánh giá là văn bản toàn diện nhất, góp phần cơ cấu và tổ chức lại toàn bộ thị trường vàng Việt Nam dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Bài viết này sau khi phân tích bối cảnh ra đời của Nghị định 24, sẽ đánh giá những kết quả đạt được của Nghị định cho đến nay trên các phương diện: (i) cơ cấu lại thị trường vàng và giảm thiểu “vàng hóa” nền kinh tế, (ii) ổn định giá vàng, giảm thiểu tác động của giá vàng đến ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó nêu một số kiến nghị về quản lý thị trường vàng trong bối cảnh hiện nay
Từ khóa: thị trường vàng, vàng hóa, Nghị định 24/2012/NĐ-CP
1 Giới thiệu
Nghị định 24/2012/NĐ-CP (sau đây gọi
tắt là Nghị định 24) về quản lý hoạt động
kinh doanh vàng của Chính phủ ban hành
ngày 03/04/2012, có hiệu lực từ ngày
25/05/2012 đã có những tác động tới
thị trường vàng trong nước Nhìn lại bối
cảnh ra đời của Nghị định 24 cho thấy, thị
trường vàng đầu những năm 2000 được
định hướng tự do hóa theo tinh thần của
Nghị định số 174/1999/NĐ-CP được
Chính phủ ban hành vào ngày 09/12/1999
Thời điểm này, thị trường vàng phát triển
mạnh mẽ, sôi động với đa dạng các hình
thức kinh doanh vàng như hoạt động kinh
doanh vàng tài khoản, nghiệp vụ huy động
và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức
tín dụng (TCTD) Tuy nhiên, trước những
biến động khó lường của giá vàng thế giới
vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu
năm 2008, thị trường vàng trong nước đã
bộc lộ nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cho nền
kinh tế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thiếu một cơ chế quản lý nhất
quán, tập trung đối với thị trường vàng
Trước khi Nghị định 24/NĐ-CP ra đời,
vàng miếng được coi là một loại hàng hóa
thông thường, được tự do lưu thông và dần
trở thành một phương tiện thanh toán thay
thế tiền đồng, gây ra tình trạng “vàng hóa”
khá nghiêm trọng trong nền kinh tế
Thứ hai, diễn biến khó kiểm soát của thị
trường vàng đã tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô Tại Việt Nam, theo truyền thống, tích trữ vàng không chỉ nhằm mục đích như là “của hồi môn” cho con cháu mà còn là tài sản tiết kiệm truyền thống để phòng ngừa những biến động về chính trị, kinh tế Mỗi khi lạm phát tăng cao, người dân lại có xu hướng thu mua vàng, điều này không chỉ “chôn chặt” nguồn vốn phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến giá trị đồng nội tệ, giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ Theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước (2013), nước ta phải sử dụng một lượng lớn ngoại tệ từ nền kinh
tế để nhập khẩu chính thức thêm khoảng 40- 60 tấn vàng mỗi năm Thị trường vàng trong nước bất ổn kết hợp với việc nhập khẩu vàng trên quy mô lớn đã ảnh hưởng tiêu cực đến các biến số kinh tế vĩ mô như
tỷ giá, lạm phát cũng như mục tiêu điều tiết chính sách của Nhà nước
Thứ ba, chính sách cho phép các TCTD
thực hiện nghiệp vụ huy động và cho vay vốn bằng vàng có lợi cho nền kinh tế khi thị trường ổn định, nhưng lại bộc lộ nhiều mặt hạn chế khi thị trường bất ổn, nhất là vào giai đoạn giá vàng thế giới biến động bất thường do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 Trước
Trang 3đó, nhằm tận dụng nguồn vàng dự trữ trong
dân, Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN ra
đời vào năm 2000 với mục tiêu cấp phép
huy động và cho vay vốn bằng vàng của
các TCTD Tuy nhiên, theo Phạm Đức Anh
& Nguyễn Thành Nam (2019), nghiệp vụ
huy động và cho vay vốn bằng vàng không
chỉ tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho các tổ
chức tín dụng mà còn tác động tiêu cực đến
lãi suất khi thực hiện huy động kỳ hạn ngắn
để cho vay dài hạn Không chỉ vậy, Đào
Xuân Tuấn (2021) còn cho rằng hoạt động
huy động và cho vay vốn bằng vàng làm
tăng hoạt động đầu cơ, gián tiếp gây nên
hiện tượng “vàng hóa” nền kinh tế, từ đó,
dẫn tới bất ổn kinh tế vĩ mô
Do vậy, việc xây dựng, ban hành khuôn khổ
pháp lý nhằm giải quyết những tồn đọng và
bất cập của chính sách quản lý thị trường
vàng lúc đó là rất cấp thiết, và Nghị định
24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh
doanh vàng của Chính phủ ban hành ngày
3/4/2012, có hiệu lực từ ngày 25/5/2012
(sau đây gọi tắt là Nghị định 24), ra đời
trong bối cảnh đó Nghị định này được ban
hành nhằm thực hiện hai mục tiêu chính:
Một là, thiết lập lại trật tự, kỉ cương thị
trường vàng, đặc biệt là thị trường vàng
miếng; hai là, giảm thiểu tác động của biến
động giá vàng đến các biến số kinh tế vĩ
mô như tỷ giá, lạm phát, đẩy lùi tình trạng
“vàng hóa” trong nền kinh tế
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể, nhiều ý kiến cho rằng việc áp dụng Nghị
định 24 trong một thời gian dài đang tồn tại
những bất cập cần sửa đổi để đáp ứng kịp
thời nhu cầu phát triển của thị trường vàng
(Bùi Thị Thùy Nhi, 2015; Trần Vũ Hải
& Đào Ánh Tuyết, 2016; Phạm Đức Anh
& Nguyễn Thành Nam 2019) Một trong
những vấn đề thu hút nhiều sự chú ý dư
luận kể từ năm 2020 đến nay là biến động
bất thường của giá vàng nội địa cũng như
khoảng cách chênh lệch lớn giữa giá vàng
trong nước và thế giới (Cát Tường, 2022;
Lê Đạt Chí, 2022; Võ Đình Trí, 2022) Do
đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá lại Nghị định 24 về bối cảnh ra đời (như đã phân tích ở trên) cũng như kết quả thực hiện dựa trên mục tiêu ban hành chính sách Từ đó, đề xuất những giải pháp hiệu quả để hoàn thiện thị trường vàng trong bối cảnh hiện nay
Bài viết dựa trên cơ sở đánh giá thị trường vàng trong nước qua ba loại hình sản phẩm đang được cấp phép giao dịch trên thị trường là vàng miếng, vàng trang sức và vàng nguyên liệu, bên cạnh đó, xem xét mối quan hệ giữa giá vàng và các biến số kinh
tế vĩ mô Nội dung về thực trạng thị trường vàng dưới tác động của Nghị định 24 sẽ được diễn giải trong mục 2, trong khi đó, kết luận và đề xuất khuyến nghị hoàn thiện thị trường vàng sẽ được trình bày trong mục 3
2 Thực trạng thị trường vàng trong nước dưới tác động của Nghị định 24
2.1 Cơ cấu lại thị trường vàng và giảm thiểu “vàng hóa” nền kinh tế
- Đối với thị trường vàng miếng
Kể từ khi Nghị định 24 ra đời, vàng miếng không còn là hàng hoá thông thường mà được coi là loại hàng hoá đặc biệt, chịu
sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Theo Quyết định số 1623/QĐ-NHNN ngày 23/08/2012 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng, Công ty TNHH SJC với 100% vốn Nhà nước được lựa chọn để sản xuất độc quyền vàng miếng với khối lượng
và mức phí gia công được quyết định bởi NHNN Theo Bùi Thị Thùy Nhi (2015), số thương hiệu vàng miếng trên thị trường đã giảm từ 8 thương hiệu xuống chỉ còn một là SJC- thương hiệu vàng quốc gia Việc đưa sản xuất vàng miếng về một mối là NHNN
Trang 4không chỉ nâng cao vai trò của Nhà nước
trong việc kiểm soát và điều tiết thị trường
vàng miếng, mà còn giúp ngăn chặn tình
trạng sử dụng vàng nguyên liệu không rõ
nguồn gốc để sản xuất vàng miếng, từ đó,
đảm bảo quyền lợi sở hữu vàng miếng với
chất lượng đảm bảo cho người dân Bên
cạnh đó, Trần Đoàn Khánh (2020) cho rằng
chiếu theo quy định mới này thì chỉ có gần
2.500 cửa hàng thuộc các tổ chức tín dụng
và doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh
vàng miếng, đây là một phần nhỏ so với
trong số 12.000 cơ sở được cấp phép hoạt
động trước Nghị định 24 Số lượng cơ sở
mới được sàng lọc đủ điều kiện kinh doanh,
đáp ứng được yêu cầu niêm yết giá và chấp
hành nghiêm túc các quy định đã từng bước
khôi phục lại niềm tin của người dân vào
một thị trường vàng công khai, minh bạch
- Đối với thị trường vàng nguyên liệu
Từ năm 2014 đến nay, nhằm mục tiêu giảm
nhập siêu để tăng dự trữ ngoại hối, Nhà
nước vẫn chưa cấp phép nhập khẩu thêm
vàng nguyên liệu cho các doanh nghiệp sản
xuất vàng trang sức mỹ nghệ Vì thế, thị
trường vàng nguyên liệu tự cân đối và dựa
chủ yếu vào nguồn lực vàng trong nước
Việc tự điều tiết cung- cầu đã giúp nền kinh
tế tiết kiệm được một lượng lớn ngoại tệ
dùng để nhập khẩu vàng, bên cạnh đó, tận
dụng được nguồn lực vàng trong nhân dân phục vụ mục tiêu phát triển ngành công nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ (Phương Dung, 2018)
- Đối với thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ
Việc ban hành Nghị định 24 kết hợp với sự
ra đời của Thông tư 22/2013/TT-BKHCN ngày 26/9/2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức,
mỹ nghệ lưu thông trên thị trường đã góp phần tổ chức, sắp xếp lại thị trường trang sức, mỹ nghệ một cách căn bản theo hướng trật tự, kỷ cương Hiện nay, vàng trang sức,
mỹ nghệ lưu thông trên thị trường đều được giám sát và quản lý về chất lượng, tránh tình trạng gian lận tuổi vàng cũng như hàm lượng vàng, góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, đồng thời củng cố niềm tin cho các doanh nghiệp làm
ăn chân chính, thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư máy móc, trang thiết bị để sản xuất kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ, phục
vụ nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu
- Mức độ vàng hóa trong nước
Theo số liệu của WGC (2022), nhu cầu vàng bình quân đầu người ở Việt Nam năm
2022 đã cho thấy sự sụt giảm mạnh, chỉ
Nguồn: WGC (2022)
Hình 1 Nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân ở Việt Nam 2010- 2022
Trang 5bằng ½ so với đỉnh điểm vào năm 2011,
khi nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân đầu
người vào khoảng 1,2 gram (Hình 1)
Xét trên quy mô toàn nền kinh tế, hiện
tượng “vàng hóa” cũng đã dần được đẩy
lùi Nếu như trước khi ban hành Nghị định
24, với mỗi 1 tỷ USD tạo ra từ nền kinh tế,
người dân sẽ có nhu cầu tiêu thụ khoảng
0,5 tấn vàng Tuy nhiên, tính đến thời điểm
hiện tại năm 2022, con số này đã giảm
khoảng 5 lần, chỉ còn 0,1 tấn vàng tiêu thụ
trên khoảng 1 tỷ USD GDP
Hình 3 cũng cho thấy, nhu cầu tiêu thụ
vàng miếng tại Việt Nam giảm mạnh, chỉ
còn một nửa so với giai đoạn trước khi Nghị định 24 ra đời Ngoài ra, tỷ trọng vàng miếng trong tổng cầu vàng vật chất cũng giảm 21,6% từ mức 88% vào năm
2013 xuống còn 69% vào năm 2022
Mặc dù đã cho thấy sự sụt giảm rõ rệt, nhu cầu về vàng miếng có xu hướng gia tăng trở lại trong những năm gần đây Tính riêng trong năm 2022, nhu cầu vàng miếng tăng 32% so với năm 2021, điều này được
lý giải bởi những lo ngại về lạm phát tăng cao, giảm giá trị đồng nội tệ, bất ổn về thị trường trái phiếu và diễn biến không thuận lợi của thị trường chứng khoán (WGC,
Nguồn: IMF, WGC (2022)
Hình 2 Tỷ lệ nhu cầu tiêu thụ vàng miếng so với GDP ở Việt Nam
Nguồn: WGC (2022)
Hình 3 Nhu cầu tiêu thụ vàng trang sức, vàng miếng tại Việt Nam
Trang 62022) Trong nước vẫn còn tồn tại nhu cầu
người dân mua vàng miếng nhằm mục đích
nắm giữ, phòng ngừa rủi ro trước những
biến động của kinh tế vĩ mô
- Mức độ vàng hóa của các quốc gia trong
khu vực
So với các quốc gia khác ở châu Á, thu nhập
bình quân của Việt Nam xếp vào hàng thấp
nhất, tuy nhiên nhu cầu tiêu thụ vàng trên
đầu người lại ở ngưỡng trung bình (Hình
4) Như vậy, mặc dù đã giảm đáng kể, mức
độ “ưa thích giữ vàng” ở Việt Nam vẫn còn khá cao khi so sánh với các thị trường khác trong khu vực
Xu hướng chung ở các nước là nhu cầu về vàng miếng và tiền vàng đều giảm dần qua các năm so với quy mô nền kinh tế Tuy nhiên, khi so sánh với hai quốc gia có nhu cầu về vàng đứng đầu của thế giới, tỷ lệ tiêu thụ vàng miếng và tiền vàng so với GDP ở Việt Nam lại cao hơn hẳn, gấp 2 lần Ấn Độ
Nguồn: IMF, WGC (2022)
Hình 4 Nhu cầu tiêu thụ vàng và thu nhập bình quân ở một số nước châu
Á năm 2022
Nguồn: WGC (2022)
Hình 5 Tỷ lệ nhu cầu vàng miếng, tiền vàng so với GDP ở các nước
Trang 7và gấp 10 lần Trung Quốc (Hình 5) Như
vậy, nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân của
Việt Nam xấp xỉ Trung Quốc và Ấn Độ
(Hình 4), nhưng khi xét riêng về vàng miếng
thì tiêu thụ của Việt Nam lại nhỉnh hơn hẳn
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này là do
nhu cầu về vàng ở Trung Quốc và Ấn Độ
chủ yếu đến từ vàng trang sức khi tỷ trọng
về cầu vàng trang sức trên tổng nhu cầu
vàng vật chất của hai nước lần lượt là 72%
và 78% Trong khi đó, nhu cầu vàng trang
sức ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 30% trên
tổng cầu vàng vật chất (WGC, 2022) Nói
cách khác, phần lớn tiêu thụ vàng ở Việt
Nam được sử dụng với mục đích đầu tư,
nắm giữ dưới dạng vàng miếng
2.2 Giảm thiểu tác động tiêu cực của thị
trường vàng đến ổn định kinh tế vĩ mô
- Ổn định giá vàng, bám sát biến động của
thị trường thế giới
Nghị định 24 giúp tăng tính minh bạch,
hạn chế tình trạng đầu cơ, lũng đoạn thị
trường vàng Theo ghi nhận, giá vàng SJC
cuối năm 2013 đã giảm trên 11 triệu đồng/
lượng so với thời điểm đầu năm và trong nước cũng không còn xuất hiện các đợt sốt vàng như thời điểm trước khi ban hành Nghị định 24 (Xuân Thân, 2013) Bên cạnh
đó, các chính sách ban hành đã khiến giá vàng trong nước diễn biến ổn định, bám sát giá vàng thế giới nhưng không bị dao động nhiều như giá vàng quốc tế
- Mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá
Nghị định 24 đã giúp giảm áp lực của giá vàng lên tỷ giá Kể từ khi Nghị định 24 cùng với nghiệp vụ đấu thầu vàng miếng của NHNN ra đời, mối tương quan giữa giá vàng và tỷ giá không còn rõ ràng như trước Theo Nguyễn Đức Trung (2013), mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá có sự thay đổi đáng kể trước và sau khi Nghị định
24 được ban hành Cụ thể, từ tháng 4/2010 đến tháng 5/2012, hệ số tương quan của chỉ
số giá vàng và giá USD là 0,49 Tuy nhiên, khi Nghị định 24 chính thức có hiệu lực thì hệ số này lại đảo chiều và không còn rõ rệt như trước (-0,15) Tương tự, Trần Đoàn Khánh (2020) cũng cho thấy Nghị định 24
đã thay đổi mối quan hệ giữa giá vàng và
Nguồn: Tổng hợp giá vàng của DOJI
Hình 6 Biến động giá vàng
Trang 8tỷ giá từ thuận chiều sang nghịch chiều và
giảm mối tương quan giữa giá vàng và tỷ
giá (hệ số tương quan trước và sau Nghị
định lần lượt là 0,2 và -0,1)
Những năm gần đây, giá vàng SJC diễn
biến bất thường và xuất hiện chênh lệch
lớn so với giá vàng thế giới, tuy nhiên,
điều này không ảnh hưởng đến tỷ giá, bên
cạnh đó, thị trường ngoại hối vẫn diễn biến
thông suốt và đáp ứng đủ nhu cầu của các
tổ chức, cá nhân (Đào Xuân Tuấn, 2021)
- Mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát
Kể từ khi Nhà nước ban hành một loạt các
biện pháp kiềm chế lạm phát, cũng như
giảm thiểu sức hấp dẫn của vàng, sự tương
quan giữa giá vàng và lạm phát đã suy giảm
đáng kể Về mặt thực tiễn, người dân đã giảm hẳn thói quen tích trữ vàng, hiện nay không còn xuất hiện tình trạng mọi người xếp hàng dài để mua vàng khi lạm phát gia tăng Về mặt thực nghiệm, các nghiên cứu trong những năm gần đây cũng cho thấy vàng không còn được coi là tài sản phòng ngừa lạm phát do biến lạm phát không có hoặc có tác động rất yếu đến giá vàng (Bùi Kim Yến & Nguyễn Khánh Hoàng, 2014; Trịnh Thị Phương Thảo, 2017)
Như vậy, các giải pháp quản lý nhà nước đối với thị trường vàng cho thấy những kết quả tích cực, giá vàng trong nước tuy
có diễn biến có lúc bất thường nhưng vẫn không ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô và
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2023)
Hình 7 Chỉ số giá vàng và USD
Nguồn: Tổng hợp giá vàng của DOJI
Hình 8 Giá vàng
Trang 9không gây xáo trộn tâm lý trong xã hội
2.3 Chênh lệch cao giữa giá vàng miếng
SJC trong nước so với giá vàng nguyên
liệu và các thương hiệu vàng miếng khác
Phần lớn nguồn cung vàng trong nước chủ
yếu đến từ nhập khẩu Vì thế, giá vàng
nguyên liệu 9999 và SJC biến động cùng
chiều và thường có xu hướng cao hơn giá
vàng thế giới Mặc dù vậy, kể từ năm 2020,
trong khi giá vàng nguyên liệu 9999 chênh
lệch không nhiều so với giá vàng thế giới,
giá vàng SJC lại diễn biến bất thường và
không cùng pha với giá vàng thế giới khi
tốc độ điều chỉnh tăng thì nhanh hơn, tốc độ
điều chỉnh xuống thì chậm hơn Điều này đã
tạo ra hai tình trạng chênh lệch giá trên thị
trường vàng Việt Nam, bao gồm: (1) chênh
lệch giá vàng giữa thị trường quốc tế và giá
vàng SJC; (2) chênh lệch giữa giá vàng SJC
và vàng 9999 của các thương hiệu khác
Chênh lệch cao giữa giá vàng miếng SJC
trong nước so với giá vàng nguyên liệu và
giá các thương hiệu vàng miếng khác là do
một số nguyên nhân như sau:
(i) Về nguyên nhân khách quan
Vàng miếng SJC chiếm thị phần chủ yếu
trên thị trường và được chấp nhận giao dịch
rộng rãi tại tất cả các địa điểm giao dịch vàng miếng Trong khi đó, thị phần của các thương hiệu vàng miếng khác khá phân mảnh, đồng thời, khách hàng khi mua vàng miếng của các doanh nghiệp này sẽ thường chỉ bán tại các điểm giao dịch trực thuộc doanh nghiệp Mặt khác, SJC là thương hiệu vàng miếng quốc gia với chất lượng và
uy tín đảm bảo, do đó, được các tổ chức và
cá nhân tin tưởng giao dịch, điều này cũng khiến thanh khoản và giá của loại vàng này cao hơn hẳn so với thương hiệu khác
(ii) Về nguyên nhân chủ quan
Kể từ năm 2014 đến nay, nhằm mục tiêu hạn chế “vàng hóa” nền kinh tế, NHNN vẫn chưa can thiệp và bổ sung nguồn cung vàng miếng cho thị trường Vì thế, nguồn cung vàng miếng SJC không tăng và chủ yếu có sẵn từ năm 2013 trở về trước Bên cạnh đó, có thời điểm vàng SJC được sử dụng để sản xuất vàng trang sức, khiến nguồn cung của vàng SJC sụt giảm Không chỉ vậy, nguyên nhân còn đến từ tâm lý
đề phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh vàng Đặc biệt trong những thời điểm giá vàng thế giới biến động mạnh, việc doanh nghiệp trong nước không chủ động được nguồn cung vàng miếng SJC nên đã có xu hướng niêm
Nguồn: Tổng hợp giá vàng của DOJI
Hình 9 Chênh lệch giá mua - bán vàng SJC
Trang 10yết chênh lệch mức giá mua bán ở mức cao
để đảm bảo an toàn (Hình 9)
Như vậy, có thể thấy, ngay cả các doanh
nghiệp trong nước cũng bị động phải bán
vàng SJC ở mức giá cao để đề phòng rủi
ro Có ý kiến cho rằng người tiêu dùng
SJC bị thiệt hại bởi cùng một chất lượng
vàng tương đương là 9999, giá vàng SJC
lại được định giá cao hơn hẳn so với vàng
miếng của các thương hiệu khác (Trần Vũ
Hải & Đào Ánh Tuyết, 2016; Trần Đoàn
Khánh, 2020) Tuy nhiên, việc mua bán
vàng miếng trên thị trường về cơ bản là do
quy luật cung- cầu đối với vàng SJC, cũng
như đối với vàng 9999 của các thương hiệu
khác Bên cạnh đó, theo WGC (2022), nhu
cầu tiêu thụ vàng miếng những năm gần
đây đã giảm đáng kể so với thời điểm trước
khi ban hành Nghị định 24 (Hình 3) Do
vậy, mức chênh lệch giá vàng cao góp phần
không khuyến khích nhu cầu nắm giữ vàng
miếng trong nền kinh tế Dựa trên lý thuyết
về lượng cầu tài sản, (Nguyễn Mạnh Hùng,
2014) cũng cho rằng giá vàng trong nước
cao hơn giá vàng thế giới sẽ làm giảm lợi
nhuận kỳ vọng của các nhà đầu tư trong
nước, từ đó, giảm nhu cầu nắm giữ vàng
của người dân
3 Kết luận và một số khuyến nghị
Sau khi đánh giá bối cảnh ra đời Nghị định
24, dựa trên việc đánh giá thực trạng thị
trường vàng sau Nghị định 24, có thể thấy
chính sách đã đạt được kì vọng đề ra là giúp
bình ổn thị trường vàng trong nước ngay cả
khi giá vàng thế giới biến động mạnh, bên
cạnh đó, tình trạng “vàng hóa” nền kinh
tế đã được đẩy lùi Tuy vậy, bối cảnh thị
trường hiện nay cũng thể hiện rằng một số
nội dung của Nghị định 24 cần được xem
xét lại và có những điều chỉnh cần thiết sau
hơn 10 năm áp dụng
Thứ nhất, về việc sản xuất vàng trang
sức, mỹ nghệ
Mặc dù là một đất nước có truyền thống văn hóa gắn liền với vàng, tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất, tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ chưa được chú trọng phát triển Theo Hội đồng Vàng thế giới, quy mô thị trường xuất khẩu vàng mỹ nghệ của các nước như Indonesia, Singapore và Thái Lan lần lượt vượt ngưỡng
6 tỷ, 8 tỷ và 10 tỷ USD Trong khi đó, căn
cứ theo số liệu của Tổng cục Hải quan, Việt Nam mới xuất khẩu được hơn 2 tỷ USD vàng trang sức mỹ nghệ (Đào Vũ, 2021) Một trong những khó khăn thường gặp phải của các doanh nghiệp muốn tham gia thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ là vấn đề về mặt pháp lý Vì thế, Nhà nước cần có nghiên cứu về vấn đề này nhằm tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư trang thiết bị máy móc sản xuất và phát triển thị trường về lâu dài, hướng tới mục tiêu xuất khẩu ra thế giới Bên cạnh đó, vàng nguyên liệu đầu vào cũng là một rào cản lớn mà các doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt Căn cứ vào Nghị định 24, vàng nguyên liệu không phải là hàng hóa đặc biệt nhưng chịu sự quản lý chặt chẽ của NHNN, các doanh nghiệp chỉ có thể nhập khẩu nếu được cấp phép Trên thực tế, nhu cầu mua vàng nguyên liệu của các doanh nghiệp trong nước phục vụ sản xuất trang sức, mỹ nghệ vào khoảng hơn 20 tấn một năm (Nguyễn Hiền, 2016) Do đó, chính sách về vàng nguyên liệu nhằm khuyến khích ngành công nghiệp xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh cần được quan tâm
Thứ hai, về việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng
Việc lựa chọn SJC trở thành thương hiệu vàng miếng quốc gia là phù hợp với bối cảnh thị trường cách đây hơn 10 năm khi vàng miếng bị đầu cơ, mức độ “vàng hóa”