1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị

12 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Tác giả Đỗ Minh Đức
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 560,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị phân tích bối cảnh ra đời của Nghị định 24, sẽ đánh giá những kết quả đạt được của Nghị định cho đến nay trên các phương diện: (i) cơ cấu lại thị trường vàng và giảm thiểu “vàng hóa” nền kinh tế, (ii) ổn định giá vàng, giảm thiểu tác động của giá vàng đến ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó nêu một số kiến nghị về quản lý thị trường vàng trong bối cảnh hiện nay.

Trang 1

khuyến nghị

Đỗ Minh Đức

Nghiên cứu sinh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ngày nhận: 30/03/2023 Ngày nhận bản sửa: 17/04/2023 Ngày duyệt đăng: 17/04/2023

Tóm tắt: Mặc dù không còn được biết đến với vai trò là một loại tiền tệ, vàng

vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói

riêng Trong bối cảnh diễn biến phức tạp của thị trường vàng đầu những năm

2000, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản theo hướng ổn định thị trường

vàng, bao gồm: (i) quy định về chấm dứt hoạt động của sàn giao dịch vàng

và kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước, (ii) quy định về chấm dứt huy

động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng, (iii) quy định về quản

lý hoạt động kinh doanh vàng, (iv) quy định về xử phạt vi phạm hành chính

The gold market after the regulations of Decree 24/2012/ND-CP on the management of gold

business activities and some suggestions

Abstract: Gold plays an instrumental role in the world economy in general and Vietnam in particular, even

though it is no longer a currency In an attempt to stabilize the fluctuated gold market in the early 2000s, the Vietnamese government issued numerous documents, including (i) regulations on the termination of the

gold trading floor and domestic gold trading accounts, (ii) regulations on the termination of gold mobilizing

and lending activities of credit institutions, (iii) regulations on the management of gold business activities,

(iv) regulations on the sanctions for administrative violations in the field of foreign exchange and gold

Decree 24/2012/ND-CP, regulations on the management of gold business activities, is supposed to be the

most comprehensive document, which contributes to the restructuring and reorganization of the entire

Vietnamese gold market under the control of the State Bank This paper analyzes the context of Decree 24

issuance and evaluates the outcomes of Decree 24 application based on the following criteria: (i) restructure the gold market and put a restraint on the “goldalized” economy, (ii) stabilize the gold price and reduce the

impacts of gold price on the macro-economy, in turn, proposing suggestions regarding the gold market

management in the current context.

Key words: gold market, goldalization, Decree 24/ND-CP.

Doi: 10.59276/TCKHDT.2023.04.2517

Do, Minh Duc

PhD Student, National Economics University

Email: dominhduc@doji.vn

Trang 2

trong lĩnh vực ngoại hối và vàng Trong các chính sách đã ban hành, Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được đánh giá là văn bản toàn diện nhất, góp phần cơ cấu và tổ chức lại toàn bộ thị trường vàng Việt Nam dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Bài viết này sau khi phân tích bối cảnh ra đời của Nghị định 24, sẽ đánh giá những kết quả đạt được của Nghị định cho đến nay trên các phương diện: (i) cơ cấu lại thị trường vàng và giảm thiểu “vàng hóa” nền kinh tế, (ii) ổn định giá vàng, giảm thiểu tác động của giá vàng đến ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó nêu một số kiến nghị về quản lý thị trường vàng trong bối cảnh hiện nay

Từ khóa: thị trường vàng, vàng hóa, Nghị định 24/2012/NĐ-CP

1 Giới thiệu

Nghị định 24/2012/NĐ-CP (sau đây gọi

tắt là Nghị định 24) về quản lý hoạt động

kinh doanh vàng của Chính phủ ban hành

ngày 03/04/2012, có hiệu lực từ ngày

25/05/2012 đã có những tác động tới

thị trường vàng trong nước Nhìn lại bối

cảnh ra đời của Nghị định 24 cho thấy, thị

trường vàng đầu những năm 2000 được

định hướng tự do hóa theo tinh thần của

Nghị định số 174/1999/NĐ-CP được

Chính phủ ban hành vào ngày 09/12/1999

Thời điểm này, thị trường vàng phát triển

mạnh mẽ, sôi động với đa dạng các hình

thức kinh doanh vàng như hoạt động kinh

doanh vàng tài khoản, nghiệp vụ huy động

và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức

tín dụng (TCTD) Tuy nhiên, trước những

biến động khó lường của giá vàng thế giới

vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu

năm 2008, thị trường vàng trong nước đã

bộc lộ nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cho nền

kinh tế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, thiếu một cơ chế quản lý nhất

quán, tập trung đối với thị trường vàng

Trước khi Nghị định 24/NĐ-CP ra đời,

vàng miếng được coi là một loại hàng hóa

thông thường, được tự do lưu thông và dần

trở thành một phương tiện thanh toán thay

thế tiền đồng, gây ra tình trạng “vàng hóa”

khá nghiêm trọng trong nền kinh tế

Thứ hai, diễn biến khó kiểm soát của thị

trường vàng đã tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô Tại Việt Nam, theo truyền thống, tích trữ vàng không chỉ nhằm mục đích như là “của hồi môn” cho con cháu mà còn là tài sản tiết kiệm truyền thống để phòng ngừa những biến động về chính trị, kinh tế Mỗi khi lạm phát tăng cao, người dân lại có xu hướng thu mua vàng, điều này không chỉ “chôn chặt” nguồn vốn phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến giá trị đồng nội tệ, giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ Theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước (2013), nước ta phải sử dụng một lượng lớn ngoại tệ từ nền kinh

tế để nhập khẩu chính thức thêm khoảng 40- 60 tấn vàng mỗi năm Thị trường vàng trong nước bất ổn kết hợp với việc nhập khẩu vàng trên quy mô lớn đã ảnh hưởng tiêu cực đến các biến số kinh tế vĩ mô như

tỷ giá, lạm phát cũng như mục tiêu điều tiết chính sách của Nhà nước

Thứ ba, chính sách cho phép các TCTD

thực hiện nghiệp vụ huy động và cho vay vốn bằng vàng có lợi cho nền kinh tế khi thị trường ổn định, nhưng lại bộc lộ nhiều mặt hạn chế khi thị trường bất ổn, nhất là vào giai đoạn giá vàng thế giới biến động bất thường do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 Trước

Trang 3

đó, nhằm tận dụng nguồn vàng dự trữ trong

dân, Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN ra

đời vào năm 2000 với mục tiêu cấp phép

huy động và cho vay vốn bằng vàng của

các TCTD Tuy nhiên, theo Phạm Đức Anh

& Nguyễn Thành Nam (2019), nghiệp vụ

huy động và cho vay vốn bằng vàng không

chỉ tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho các tổ

chức tín dụng mà còn tác động tiêu cực đến

lãi suất khi thực hiện huy động kỳ hạn ngắn

để cho vay dài hạn Không chỉ vậy, Đào

Xuân Tuấn (2021) còn cho rằng hoạt động

huy động và cho vay vốn bằng vàng làm

tăng hoạt động đầu cơ, gián tiếp gây nên

hiện tượng “vàng hóa” nền kinh tế, từ đó,

dẫn tới bất ổn kinh tế vĩ mô

Do vậy, việc xây dựng, ban hành khuôn khổ

pháp lý nhằm giải quyết những tồn đọng và

bất cập của chính sách quản lý thị trường

vàng lúc đó là rất cấp thiết, và Nghị định

24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh

doanh vàng của Chính phủ ban hành ngày

3/4/2012, có hiệu lực từ ngày 25/5/2012

(sau đây gọi tắt là Nghị định 24), ra đời

trong bối cảnh đó Nghị định này được ban

hành nhằm thực hiện hai mục tiêu chính:

Một là, thiết lập lại trật tự, kỉ cương thị

trường vàng, đặc biệt là thị trường vàng

miếng; hai là, giảm thiểu tác động của biến

động giá vàng đến các biến số kinh tế vĩ

mô như tỷ giá, lạm phát, đẩy lùi tình trạng

“vàng hóa” trong nền kinh tế

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng

kể, nhiều ý kiến cho rằng việc áp dụng Nghị

định 24 trong một thời gian dài đang tồn tại

những bất cập cần sửa đổi để đáp ứng kịp

thời nhu cầu phát triển của thị trường vàng

(Bùi Thị Thùy Nhi, 2015; Trần Vũ Hải

& Đào Ánh Tuyết, 2016; Phạm Đức Anh

& Nguyễn Thành Nam 2019) Một trong

những vấn đề thu hút nhiều sự chú ý dư

luận kể từ năm 2020 đến nay là biến động

bất thường của giá vàng nội địa cũng như

khoảng cách chênh lệch lớn giữa giá vàng

trong nước và thế giới (Cát Tường, 2022;

Lê Đạt Chí, 2022; Võ Đình Trí, 2022) Do

đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá lại Nghị định 24 về bối cảnh ra đời (như đã phân tích ở trên) cũng như kết quả thực hiện dựa trên mục tiêu ban hành chính sách Từ đó, đề xuất những giải pháp hiệu quả để hoàn thiện thị trường vàng trong bối cảnh hiện nay

Bài viết dựa trên cơ sở đánh giá thị trường vàng trong nước qua ba loại hình sản phẩm đang được cấp phép giao dịch trên thị trường là vàng miếng, vàng trang sức và vàng nguyên liệu, bên cạnh đó, xem xét mối quan hệ giữa giá vàng và các biến số kinh

tế vĩ mô Nội dung về thực trạng thị trường vàng dưới tác động của Nghị định 24 sẽ được diễn giải trong mục 2, trong khi đó, kết luận và đề xuất khuyến nghị hoàn thiện thị trường vàng sẽ được trình bày trong mục 3

2 Thực trạng thị trường vàng trong nước dưới tác động của Nghị định 24

2.1 Cơ cấu lại thị trường vàng và giảm thiểu “vàng hóa” nền kinh tế

- Đối với thị trường vàng miếng

Kể từ khi Nghị định 24 ra đời, vàng miếng không còn là hàng hoá thông thường mà được coi là loại hàng hoá đặc biệt, chịu

sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Theo Quyết định số 1623/QĐ-NHNN ngày 23/08/2012 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng, Công ty TNHH SJC với 100% vốn Nhà nước được lựa chọn để sản xuất độc quyền vàng miếng với khối lượng

và mức phí gia công được quyết định bởi NHNN Theo Bùi Thị Thùy Nhi (2015), số thương hiệu vàng miếng trên thị trường đã giảm từ 8 thương hiệu xuống chỉ còn một là SJC- thương hiệu vàng quốc gia Việc đưa sản xuất vàng miếng về một mối là NHNN

Trang 4

không chỉ nâng cao vai trò của Nhà nước

trong việc kiểm soát và điều tiết thị trường

vàng miếng, mà còn giúp ngăn chặn tình

trạng sử dụng vàng nguyên liệu không rõ

nguồn gốc để sản xuất vàng miếng, từ đó,

đảm bảo quyền lợi sở hữu vàng miếng với

chất lượng đảm bảo cho người dân Bên

cạnh đó, Trần Đoàn Khánh (2020) cho rằng

chiếu theo quy định mới này thì chỉ có gần

2.500 cửa hàng thuộc các tổ chức tín dụng

và doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh

vàng miếng, đây là một phần nhỏ so với

trong số 12.000 cơ sở được cấp phép hoạt

động trước Nghị định 24 Số lượng cơ sở

mới được sàng lọc đủ điều kiện kinh doanh,

đáp ứng được yêu cầu niêm yết giá và chấp

hành nghiêm túc các quy định đã từng bước

khôi phục lại niềm tin của người dân vào

một thị trường vàng công khai, minh bạch

- Đối với thị trường vàng nguyên liệu

Từ năm 2014 đến nay, nhằm mục tiêu giảm

nhập siêu để tăng dự trữ ngoại hối, Nhà

nước vẫn chưa cấp phép nhập khẩu thêm

vàng nguyên liệu cho các doanh nghiệp sản

xuất vàng trang sức mỹ nghệ Vì thế, thị

trường vàng nguyên liệu tự cân đối và dựa

chủ yếu vào nguồn lực vàng trong nước

Việc tự điều tiết cung- cầu đã giúp nền kinh

tế tiết kiệm được một lượng lớn ngoại tệ

dùng để nhập khẩu vàng, bên cạnh đó, tận

dụng được nguồn lực vàng trong nhân dân phục vụ mục tiêu phát triển ngành công nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ (Phương Dung, 2018)

- Đối với thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ

Việc ban hành Nghị định 24 kết hợp với sự

ra đời của Thông tư 22/2013/TT-BKHCN ngày 26/9/2013 của Bộ Khoa học và Công nghệ về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức,

mỹ nghệ lưu thông trên thị trường đã góp phần tổ chức, sắp xếp lại thị trường trang sức, mỹ nghệ một cách căn bản theo hướng trật tự, kỷ cương Hiện nay, vàng trang sức,

mỹ nghệ lưu thông trên thị trường đều được giám sát và quản lý về chất lượng, tránh tình trạng gian lận tuổi vàng cũng như hàm lượng vàng, góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, đồng thời củng cố niềm tin cho các doanh nghiệp làm

ăn chân chính, thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư máy móc, trang thiết bị để sản xuất kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ, phục

vụ nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu

- Mức độ vàng hóa trong nước

Theo số liệu của WGC (2022), nhu cầu vàng bình quân đầu người ở Việt Nam năm

2022 đã cho thấy sự sụt giảm mạnh, chỉ

Nguồn: WGC (2022)

Hình 1 Nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân ở Việt Nam 2010- 2022

Trang 5

bằng ½ so với đỉnh điểm vào năm 2011,

khi nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân đầu

người vào khoảng 1,2 gram (Hình 1)

Xét trên quy mô toàn nền kinh tế, hiện

tượng “vàng hóa” cũng đã dần được đẩy

lùi Nếu như trước khi ban hành Nghị định

24, với mỗi 1 tỷ USD tạo ra từ nền kinh tế,

người dân sẽ có nhu cầu tiêu thụ khoảng

0,5 tấn vàng Tuy nhiên, tính đến thời điểm

hiện tại năm 2022, con số này đã giảm

khoảng 5 lần, chỉ còn 0,1 tấn vàng tiêu thụ

trên khoảng 1 tỷ USD GDP

Hình 3 cũng cho thấy, nhu cầu tiêu thụ

vàng miếng tại Việt Nam giảm mạnh, chỉ

còn một nửa so với giai đoạn trước khi Nghị định 24 ra đời Ngoài ra, tỷ trọng vàng miếng trong tổng cầu vàng vật chất cũng giảm 21,6% từ mức 88% vào năm

2013 xuống còn 69% vào năm 2022

Mặc dù đã cho thấy sự sụt giảm rõ rệt, nhu cầu về vàng miếng có xu hướng gia tăng trở lại trong những năm gần đây Tính riêng trong năm 2022, nhu cầu vàng miếng tăng 32% so với năm 2021, điều này được

lý giải bởi những lo ngại về lạm phát tăng cao, giảm giá trị đồng nội tệ, bất ổn về thị trường trái phiếu và diễn biến không thuận lợi của thị trường chứng khoán (WGC,

Nguồn: IMF, WGC (2022)

Hình 2 Tỷ lệ nhu cầu tiêu thụ vàng miếng so với GDP ở Việt Nam

Nguồn: WGC (2022)

Hình 3 Nhu cầu tiêu thụ vàng trang sức, vàng miếng tại Việt Nam

Trang 6

2022) Trong nước vẫn còn tồn tại nhu cầu

người dân mua vàng miếng nhằm mục đích

nắm giữ, phòng ngừa rủi ro trước những

biến động của kinh tế vĩ mô

- Mức độ vàng hóa của các quốc gia trong

khu vực

So với các quốc gia khác ở châu Á, thu nhập

bình quân của Việt Nam xếp vào hàng thấp

nhất, tuy nhiên nhu cầu tiêu thụ vàng trên

đầu người lại ở ngưỡng trung bình (Hình

4) Như vậy, mặc dù đã giảm đáng kể, mức

độ “ưa thích giữ vàng” ở Việt Nam vẫn còn khá cao khi so sánh với các thị trường khác trong khu vực

Xu hướng chung ở các nước là nhu cầu về vàng miếng và tiền vàng đều giảm dần qua các năm so với quy mô nền kinh tế Tuy nhiên, khi so sánh với hai quốc gia có nhu cầu về vàng đứng đầu của thế giới, tỷ lệ tiêu thụ vàng miếng và tiền vàng so với GDP ở Việt Nam lại cao hơn hẳn, gấp 2 lần Ấn Độ

Nguồn: IMF, WGC (2022)

Hình 4 Nhu cầu tiêu thụ vàng và thu nhập bình quân ở một số nước châu

Á năm 2022

Nguồn: WGC (2022)

Hình 5 Tỷ lệ nhu cầu vàng miếng, tiền vàng so với GDP ở các nước

Trang 7

và gấp 10 lần Trung Quốc (Hình 5) Như

vậy, nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân của

Việt Nam xấp xỉ Trung Quốc và Ấn Độ

(Hình 4), nhưng khi xét riêng về vàng miếng

thì tiêu thụ của Việt Nam lại nhỉnh hơn hẳn

Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này là do

nhu cầu về vàng ở Trung Quốc và Ấn Độ

chủ yếu đến từ vàng trang sức khi tỷ trọng

về cầu vàng trang sức trên tổng nhu cầu

vàng vật chất của hai nước lần lượt là 72%

và 78% Trong khi đó, nhu cầu vàng trang

sức ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 30% trên

tổng cầu vàng vật chất (WGC, 2022) Nói

cách khác, phần lớn tiêu thụ vàng ở Việt

Nam được sử dụng với mục đích đầu tư,

nắm giữ dưới dạng vàng miếng

2.2 Giảm thiểu tác động tiêu cực của thị

trường vàng đến ổn định kinh tế vĩ mô

- Ổn định giá vàng, bám sát biến động của

thị trường thế giới

Nghị định 24 giúp tăng tính minh bạch,

hạn chế tình trạng đầu cơ, lũng đoạn thị

trường vàng Theo ghi nhận, giá vàng SJC

cuối năm 2013 đã giảm trên 11 triệu đồng/

lượng so với thời điểm đầu năm và trong nước cũng không còn xuất hiện các đợt sốt vàng như thời điểm trước khi ban hành Nghị định 24 (Xuân Thân, 2013) Bên cạnh

đó, các chính sách ban hành đã khiến giá vàng trong nước diễn biến ổn định, bám sát giá vàng thế giới nhưng không bị dao động nhiều như giá vàng quốc tế

- Mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá

Nghị định 24 đã giúp giảm áp lực của giá vàng lên tỷ giá Kể từ khi Nghị định 24 cùng với nghiệp vụ đấu thầu vàng miếng của NHNN ra đời, mối tương quan giữa giá vàng và tỷ giá không còn rõ ràng như trước Theo Nguyễn Đức Trung (2013), mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá có sự thay đổi đáng kể trước và sau khi Nghị định

24 được ban hành Cụ thể, từ tháng 4/2010 đến tháng 5/2012, hệ số tương quan của chỉ

số giá vàng và giá USD là 0,49 Tuy nhiên, khi Nghị định 24 chính thức có hiệu lực thì hệ số này lại đảo chiều và không còn rõ rệt như trước (-0,15) Tương tự, Trần Đoàn Khánh (2020) cũng cho thấy Nghị định 24

đã thay đổi mối quan hệ giữa giá vàng và

Nguồn: Tổng hợp giá vàng của DOJI

Hình 6 Biến động giá vàng

Trang 8

tỷ giá từ thuận chiều sang nghịch chiều và

giảm mối tương quan giữa giá vàng và tỷ

giá (hệ số tương quan trước và sau Nghị

định lần lượt là 0,2 và -0,1)

Những năm gần đây, giá vàng SJC diễn

biến bất thường và xuất hiện chênh lệch

lớn so với giá vàng thế giới, tuy nhiên,

điều này không ảnh hưởng đến tỷ giá, bên

cạnh đó, thị trường ngoại hối vẫn diễn biến

thông suốt và đáp ứng đủ nhu cầu của các

tổ chức, cá nhân (Đào Xuân Tuấn, 2021)

- Mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát

Kể từ khi Nhà nước ban hành một loạt các

biện pháp kiềm chế lạm phát, cũng như

giảm thiểu sức hấp dẫn của vàng, sự tương

quan giữa giá vàng và lạm phát đã suy giảm

đáng kể Về mặt thực tiễn, người dân đã giảm hẳn thói quen tích trữ vàng, hiện nay không còn xuất hiện tình trạng mọi người xếp hàng dài để mua vàng khi lạm phát gia tăng Về mặt thực nghiệm, các nghiên cứu trong những năm gần đây cũng cho thấy vàng không còn được coi là tài sản phòng ngừa lạm phát do biến lạm phát không có hoặc có tác động rất yếu đến giá vàng (Bùi Kim Yến & Nguyễn Khánh Hoàng, 2014; Trịnh Thị Phương Thảo, 2017)

Như vậy, các giải pháp quản lý nhà nước đối với thị trường vàng cho thấy những kết quả tích cực, giá vàng trong nước tuy

có diễn biến có lúc bất thường nhưng vẫn không ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô và

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2023)

Hình 7 Chỉ số giá vàng và USD

Nguồn: Tổng hợp giá vàng của DOJI

Hình 8 Giá vàng

Trang 9

không gây xáo trộn tâm lý trong xã hội

2.3 Chênh lệch cao giữa giá vàng miếng

SJC trong nước so với giá vàng nguyên

liệu và các thương hiệu vàng miếng khác

Phần lớn nguồn cung vàng trong nước chủ

yếu đến từ nhập khẩu Vì thế, giá vàng

nguyên liệu 9999 và SJC biến động cùng

chiều và thường có xu hướng cao hơn giá

vàng thế giới Mặc dù vậy, kể từ năm 2020,

trong khi giá vàng nguyên liệu 9999 chênh

lệch không nhiều so với giá vàng thế giới,

giá vàng SJC lại diễn biến bất thường và

không cùng pha với giá vàng thế giới khi

tốc độ điều chỉnh tăng thì nhanh hơn, tốc độ

điều chỉnh xuống thì chậm hơn Điều này đã

tạo ra hai tình trạng chênh lệch giá trên thị

trường vàng Việt Nam, bao gồm: (1) chênh

lệch giá vàng giữa thị trường quốc tế và giá

vàng SJC; (2) chênh lệch giữa giá vàng SJC

và vàng 9999 của các thương hiệu khác

Chênh lệch cao giữa giá vàng miếng SJC

trong nước so với giá vàng nguyên liệu và

giá các thương hiệu vàng miếng khác là do

một số nguyên nhân như sau:

(i) Về nguyên nhân khách quan

Vàng miếng SJC chiếm thị phần chủ yếu

trên thị trường và được chấp nhận giao dịch

rộng rãi tại tất cả các địa điểm giao dịch vàng miếng Trong khi đó, thị phần của các thương hiệu vàng miếng khác khá phân mảnh, đồng thời, khách hàng khi mua vàng miếng của các doanh nghiệp này sẽ thường chỉ bán tại các điểm giao dịch trực thuộc doanh nghiệp Mặt khác, SJC là thương hiệu vàng miếng quốc gia với chất lượng và

uy tín đảm bảo, do đó, được các tổ chức và

cá nhân tin tưởng giao dịch, điều này cũng khiến thanh khoản và giá của loại vàng này cao hơn hẳn so với thương hiệu khác

(ii) Về nguyên nhân chủ quan

Kể từ năm 2014 đến nay, nhằm mục tiêu hạn chế “vàng hóa” nền kinh tế, NHNN vẫn chưa can thiệp và bổ sung nguồn cung vàng miếng cho thị trường Vì thế, nguồn cung vàng miếng SJC không tăng và chủ yếu có sẵn từ năm 2013 trở về trước Bên cạnh đó, có thời điểm vàng SJC được sử dụng để sản xuất vàng trang sức, khiến nguồn cung của vàng SJC sụt giảm Không chỉ vậy, nguyên nhân còn đến từ tâm lý

đề phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh vàng Đặc biệt trong những thời điểm giá vàng thế giới biến động mạnh, việc doanh nghiệp trong nước không chủ động được nguồn cung vàng miếng SJC nên đã có xu hướng niêm

Nguồn: Tổng hợp giá vàng của DOJI

Hình 9 Chênh lệch giá mua - bán vàng SJC

Trang 10

yết chênh lệch mức giá mua bán ở mức cao

để đảm bảo an toàn (Hình 9)

Như vậy, có thể thấy, ngay cả các doanh

nghiệp trong nước cũng bị động phải bán

vàng SJC ở mức giá cao để đề phòng rủi

ro Có ý kiến cho rằng người tiêu dùng

SJC bị thiệt hại bởi cùng một chất lượng

vàng tương đương là 9999, giá vàng SJC

lại được định giá cao hơn hẳn so với vàng

miếng của các thương hiệu khác (Trần Vũ

Hải & Đào Ánh Tuyết, 2016; Trần Đoàn

Khánh, 2020) Tuy nhiên, việc mua bán

vàng miếng trên thị trường về cơ bản là do

quy luật cung- cầu đối với vàng SJC, cũng

như đối với vàng 9999 của các thương hiệu

khác Bên cạnh đó, theo WGC (2022), nhu

cầu tiêu thụ vàng miếng những năm gần

đây đã giảm đáng kể so với thời điểm trước

khi ban hành Nghị định 24 (Hình 3) Do

vậy, mức chênh lệch giá vàng cao góp phần

không khuyến khích nhu cầu nắm giữ vàng

miếng trong nền kinh tế Dựa trên lý thuyết

về lượng cầu tài sản, (Nguyễn Mạnh Hùng,

2014) cũng cho rằng giá vàng trong nước

cao hơn giá vàng thế giới sẽ làm giảm lợi

nhuận kỳ vọng của các nhà đầu tư trong

nước, từ đó, giảm nhu cầu nắm giữ vàng

của người dân

3 Kết luận và một số khuyến nghị

Sau khi đánh giá bối cảnh ra đời Nghị định

24, dựa trên việc đánh giá thực trạng thị

trường vàng sau Nghị định 24, có thể thấy

chính sách đã đạt được kì vọng đề ra là giúp

bình ổn thị trường vàng trong nước ngay cả

khi giá vàng thế giới biến động mạnh, bên

cạnh đó, tình trạng “vàng hóa” nền kinh

tế đã được đẩy lùi Tuy vậy, bối cảnh thị

trường hiện nay cũng thể hiện rằng một số

nội dung của Nghị định 24 cần được xem

xét lại và có những điều chỉnh cần thiết sau

hơn 10 năm áp dụng

Thứ nhất, về việc sản xuất vàng trang

sức, mỹ nghệ

Mặc dù là một đất nước có truyền thống văn hóa gắn liền với vàng, tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất, tiêu dùng trong nước

và xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ chưa được chú trọng phát triển Theo Hội đồng Vàng thế giới, quy mô thị trường xuất khẩu vàng mỹ nghệ của các nước như Indonesia, Singapore và Thái Lan lần lượt vượt ngưỡng

6 tỷ, 8 tỷ và 10 tỷ USD Trong khi đó, căn

cứ theo số liệu của Tổng cục Hải quan, Việt Nam mới xuất khẩu được hơn 2 tỷ USD vàng trang sức mỹ nghệ (Đào Vũ, 2021) Một trong những khó khăn thường gặp phải của các doanh nghiệp muốn tham gia thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ là vấn đề về mặt pháp lý Vì thế, Nhà nước cần có nghiên cứu về vấn đề này nhằm tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư trang thiết bị máy móc sản xuất và phát triển thị trường về lâu dài, hướng tới mục tiêu xuất khẩu ra thế giới Bên cạnh đó, vàng nguyên liệu đầu vào cũng là một rào cản lớn mà các doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt Căn cứ vào Nghị định 24, vàng nguyên liệu không phải là hàng hóa đặc biệt nhưng chịu sự quản lý chặt chẽ của NHNN, các doanh nghiệp chỉ có thể nhập khẩu nếu được cấp phép Trên thực tế, nhu cầu mua vàng nguyên liệu của các doanh nghiệp trong nước phục vụ sản xuất trang sức, mỹ nghệ vào khoảng hơn 20 tấn một năm (Nguyễn Hiền, 2016) Do đó, chính sách về vàng nguyên liệu nhằm khuyến khích ngành công nghiệp xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh cần được quan tâm

Thứ hai, về việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng

Việc lựa chọn SJC trở thành thương hiệu vàng miếng quốc gia là phù hợp với bối cảnh thị trường cách đây hơn 10 năm khi vàng miếng bị đầu cơ, mức độ “vàng hóa”

Ngày đăng: 17/05/2023, 19:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân ở Việt Nam 2010- 2022 - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 1. Nhu cầu tiêu thụ vàng bình quân ở Việt Nam 2010- 2022 (Trang 4)
Hình  3  cũng  cho  thấy,  nhu  cầu  tiêu  thụ - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
nh 3 cũng cho thấy, nhu cầu tiêu thụ (Trang 5)
Hình 2. Tỷ lệ nhu cầu tiêu thụ vàng miếng so với GDP ở Việt Nam - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 2. Tỷ lệ nhu cầu tiêu thụ vàng miếng so với GDP ở Việt Nam (Trang 5)
Hình 5. Tỷ lệ nhu cầu vàng miếng, tiền vàng so với GDP ở các nước - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 5. Tỷ lệ nhu cầu vàng miếng, tiền vàng so với GDP ở các nước (Trang 6)
Hình 4. Nhu cầu tiêu thụ vàng và thu nhập bình quân ở một số nước châu - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 4. Nhu cầu tiêu thụ vàng và thu nhập bình quân ở một số nước châu (Trang 6)
Hình 6. Biến động giá vàng - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 6. Biến động giá vàng (Trang 7)
Hình 7. Chỉ số giá vàng và USD - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 7. Chỉ số giá vàng và USD (Trang 8)
Hình 8. Giá vàng - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 8. Giá vàng (Trang 8)
Hình 9. Chênh lệch giá mua - bán vàng SJC - Thị trường vàng sau Nghị định 24 và một số khuyến nghị
Hình 9. Chênh lệch giá mua - bán vàng SJC (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w