Untitled BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ / / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LẠI VÂN ANH QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI ĐẮK LẮK LUẬN VĂN THẠ[.]
Trang 1H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
L ẠI VÂN ANH
LU ẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
ĐẮK LẮK - NĂM 2022
Trang 2H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
L ẠI VÂN ANH
QU ẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHI ỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
QU ẢN LÝ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI ĐẮK LẮK
LU ẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8 31 01 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC THAO
ĐẮK LẮK - NĂM 2022
Trang 3độc lập của tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Luận văn có sự kế thừa của các công trình trước đây Những tư liệu mới và những kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Đắk Lắk, ngày tháng năm 2022
Học viên
Lại Vân Anh
Trang 4Sau đại học - Học viện Hành chính Quốc gia, sự tận tình giảng dạy của các thầy cô trong suốt khóa học và sự giúp đỡ của bạn bè cùng lớp
Tôi xin chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS GVCC Nguyễn Ngọc Thao đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian thực hiện luận văn và cung cấp nhiều thông tin khoa học có giá trị để luận văn này được hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban Giám đốc Công ty TNHH MTV Công trình Thủy lợi Đắk Lắk đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến người thân, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHI ỆP
9
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp 9
1.1.4 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 12
1.2 Lý luận về quản lý tài chính trong doanh nghiệp 18 1.2.1 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp 19 1.2.2 Nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp 20 1.2.3 Quản lý tài chính trong công ty TNHH nhà nước MTV 33 1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính doanh
1.3 Kinh nghiệm về quản lý tài chính của một số doanh nghiệp và
bài học cho công ty TNHH MTV Quản lý Công trình Thủy lợi Đắk Lắk
38
1.3.1 Kinh nghiệm của Công ty TNHH một thành viên khai thác
1.3.2 Kinh nghiệm của Công ty TNHH một thành viên khai thác
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý tài chính cho Công ty TNHH
một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk 40
Trang 62.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Công ty TNHH
MTV Quản lý công trình Thủy lợi Đắk Lắk 42
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu sản xuất kinh doanh của
Công ty
43
2.1.4 Bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức của công ty 48 2.2 Kết quả hoạt động của Công ty TNHH MTV Quản lý công
2.3 Nguyên tắc quản lý tài chính trong công ty TNHH MTV
2.4 Thực trạng quản lý tài chính của Công ty TNHH MTV Quản
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch tài chính của Công ty 57 2.4.2 Thực trạng công tác quản lý vốn của Công ty 64 2.4.3 Công tác quản lý, sử dụng tài sản của Công ty TNHH MTV
2.4.4 Thực trạng quản lý doanh thu của Công ty TNHH MTV Quản
2.4.5 Thực trạng quản lý, phân bổ chi phí của công ty 81 2.4.6 Thực trạng phân phối lợi nhuận và trích lập các quỹ của Công
Trang 7Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QU ẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
H ẠN MỘT THÀNH VIÊN QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI ĐẮK LẮK
82
3.1 Định hướng, mục tiêu hoạt động của Công ty TNHH một
thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk 94 3.1.1 Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty
TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk 95 3.1.2 Mục tiêu hoạt động của Công ty TNHH một thành viên quản
lý công trình thủy lợi Đắk Lắk trong giai đoạn 2021 -2025 97 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính của
Công ty TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk
3.3.3 Đối với các Hiệp hội đoàn thể trong lĩnh vực cấp thoát nước
Trang 8BHYT Bảo hiểm y tế DNNN Doanh nghiệp nhà nước HĐND Hội đồng nhân dân HĐTV Hội đồng thành viên KT-XH Kinh tế - xã hội NVL Nguyên vật liệu QLNN Quản lý nhà nước SXKD Sản xuất kinh doanh TNHH Trách nhiệm hữu hạn TSCĐ Tài sản cố định TSLĐ Tài sản lưu động
Trang 9B ảng 2.4 Giá dịch vụ thủy lợi đối với chăn nuôi, nuôi trồng thủy
sản và cấp nước tưới cho cây công nghiệp, cây ăn
quả…
63
B ảng 2.5 Thực trạng vốn chủ sở hữu tại Công ty 66
B ảng 2.6 Thực trạng tài sản cố định hữu hình của công ty 70
B ảng 2.7 Thực trạng hao mòn tài sản cố định tại công ty 71
B ảng 2.8 Thực trạng tài sản lưu động của công ty 72
B ảng 2.9 Thực trạng các khoản phải trả của Công ty 76
B ảng 2.10 Thực trạng doanh thu hàng năm của công ty 80
Bảng 2.11 Tổng hợp chi phí của công ty từ năm 2018 – 2020 82
B ảng 2.12 Thực trạng xác định kết quả kinh doanh tại Công ty 85
DANH M ỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Tên hình Trang
Trang 10ủy lợi Đắk Lắk
Hình 2.3 Tổng hợp diện tích phục vụ giai đoạn 2018 – 2020 53
Hình 2.4 Chi phí bảo trì thực hiện giai đoạn 2018 – 2020 55
Hình 2.5 Doanh thu từ nguồn cấp bù thủy lợi phí giai đoạn
2018 – 2020
79
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam từ lâu nay vẫn được biết đến là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với một số sản phẩm nông nghiệp có chất lượng trên thị trường quốc tế Nông nghiệp không đơn giản chỉ là phục vụ nhu cầu ăn uống của con người mà còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Hội nhập quốc tế đã dẫn tới một xu hướng tất yếu là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Để phù hợp với xu thế đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm giảm tỷ trọng nông nghiệp theo hướng bền vững Có nghĩa là chú trọng vào mặt chất lượng và nâng nông nghiệp lên một tầm cao mới, là điểm tựa vững chắc cho các ngành kinh tế khác phát triển Trong các biện pháp được
áp dụng thì thủy lợi là biện pháp có tầm quan trọng bậc nhất tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển Hệ thống các công trình thủy lợi có nhiệm vụ cung cấp nước và tiêu úng khi cần thiết Nước đối với nông nghiệp là vô cùng quan trọng Trong dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền câu nói: ''Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống''
Đắk Lắk là một tỉnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp vì vậy các công trình thủy lợi đã và đang được quan tâm đầu tư – xây dựng Toàn tỉnh có 339 công trình thủy lợi, trong đó 246 hồ chứa các loại, 81 đập dâng, 12 trạm bơm Trong những năm qua, hệ thống các công trình thủy lợi đã góp phần to lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng, phục vụ dân sinh và các ngành kinh
tế khác Công ty TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk
là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thoát nước
phục vụ dân sinh và công nghiệp, xây dựng các công trình cấp nước, lắp đặt
Trang 12thiết bị quản lý mạng lưới cấp nước Công ty đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của tỉnh, đáp ứng đủ nhu cầu về cấp thoát nước cho
nền kinh tế và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh, đóng góp một phần quan
trọng vào ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện tốt công cuộc công nghiệp hóa nông thôn và các nhiệm vụ xã hội được giao Cũng như nhiều doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường với hoạt động chủ yếu của là tìm
kiếm lợi nhuận, chuyển hóa các dạng khác nhau của nguồn lực kinh tế thành các dạng khác có giá trị hơn để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Đối với các doanh nghiệp, quản lý tài chính là thước đo cho sự tăng trưởng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì vấn đề quản lý tài chính lại càng có tầm quan trọng đặc biệt và phải được doanh nghiệp đưa vào mục tiêu hàng đầu để có thể đứng
vững, ổn định và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt
Luôn đổi mới và không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là chủ trương và mục tiêu của Công ty TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắkk Song mục tiêu và giải pháp đạt mục tiêu khác nhau qua từng giai đoạn Hiện nay, đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và quản lý hiệu quả là những nhiệm vụ trọng tâm tại Công ty TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk Sau khi xem xét, đánh giá kết quả sản
xuất kinh doanh những năm gần đây của Công ty còn nhiều bất cập trong cơ
chế tài chính của Công ty mà em đã chọn đề tài: "Quản lý tài chính tại công
ty TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk" làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình, để nghiên cứu với mong muốn làm sáng tỏ thêm lý luận về tài chính doanh nghiệp, phân tích những tồn tại trong công tác quản lý tài chính và tìm hiểu nguyên nhân từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty trong thời gian tới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 13Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp cũng như quản lý tài chính tại doanh nghiệp Một số tác giả đã thực hiện nghiên cứu trong phạm vi ngành, nhóm doanh nghiệp hoặc một vài doanh nghiệp, có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu về quản lý tài chính tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ - thủy tinh, tác giả Ngô Thị Thu Huyền (2016) tập trung nghiên cứu
về quản lý tài sản, quản trị vốn, phân tích thực trạng hiệu quả quản trị tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ - thủy tinh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2008 - 2014 Đồng thời đề xuất một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong các doanh nghiệp này Tuy nhiên tác giả chưa đánh giá lượng hóa tác động của quản trị tài chính đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Luận án chưa đề cập đến vấn đề quản lý chi phí và phân phối lợi nhuận Đây là 2 vấn đề quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp
Một số luận văn thạc sĩ kinh tế cũng đã đề cập đến quản lý tài chính doanh nghiệp Cụ thể có nghiên cứu của các tác giả Phạm Quang Trung (2013) về giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh doanh bán lẻ ở Việt Nam hiện nay; hay của Vũ Hà Cường về Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng CT Hàng không Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế; Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế: “Hoàn thiện công tác
quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G” (2017);
“Quản lý tài chính công ty TNHH Nhà nước MTV Lâm nghiệp Tiền Phong thuộc UBND Thừa Thiên Huế” (2018)… Những nghiên cứu trên đây đi sâu tới hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực ngành nghề
cụ thể, chưa xác định lượng hóa ảnh hưởng của quản lý tài chính đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 14Bên cạnh những nghiên cứu về quản lý tài chính nói chung tại doanh nghiệp, cũng có nhiều nghiên cứu tập trung vào một nội dung cụ thể của quản
lý tài chính như huy động vốn, sử dụng vốn hay quản lý tài sản Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình như: Nghiên cứu về vấn đề quản lý tài sản, tác giả Hà Thị Thu Thủy (2015) đã tập trung nghiên cứu quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán - một nội dung của quản lý tài chính Tác giả đề cập vấn đề quản lý tài sản, nhân tố ảnh hưởng và thực trạng quản lý tài sản của các công ty cổ phần thuộc ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam
Vấn đề sử dụng vốn tại doanh nghiệp được Phan Xuân Hải (2018) nghiên cứu về quản lý vốn nhà nước trong các DNNN trên địa bàn thành phố Hải Phòng; hay Bùi Việt Sỹ (2019) nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xây dựng ngành giao thông Tác giả đã đánh giá, phân tích tình hình huy động vốn, sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xây dựng nói chung, chỉ ra những đặc thù trong công tác quản lý vốn của doanh nghiệp ngành giao thông nói riêng Xác định nguyên nhân dẫn tới hạn chế trong sử dụng vốn, trong đầu tư ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng giao thông Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ cấu vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp xây dựng giao thông Tưy nhiên tác giả không đề cập đến những nội dung khác của quản lý tài chính doanh nghiệp như lựa chọn đầu tư, quản lý chi phí hay phân phối lợi nhuận
Qua khảo sát, có thể thấy các nghiên cứu trên đã đề cập đến nội dung quản lý tài chính tại các công ty thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau: như trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ Doanh nghiệp nhà nước; công ty tư nhân, tổng công ty… Tuy vậy, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý tài chính tại công ty TNHH MTV trong lĩnh vực quản
Trang 15lý, khai thác công trình thủy lợi
Như vậy, có thể thấy đề tài: "Quản lý tài chính tại công ty TNHH một thành viên qu ản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk" không trùng lặp hoàn toàn
với các công trình nghiên cứu đã công bố mà tác giả được tham khảo ở trên
về phạm vi, thời gian nghiên cứu cũng như cách tiếp cận
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn công tác quản lý tài chính tại doanh nghiệp Cụ thể là: quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên, mô hình doanh nghiệp được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước thành Công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu là nhà nước
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk trên các nội dung quản lý: Dự đoán nhu cầu vốn, lập kế hoạch tài chính;
Huy động vốn; Quản lý thu - chi và phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ; và công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh của công
Trang 164.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk để từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty
lý tài chính của Công ty
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính của Công ty Công ty TNHH MTV quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk trong thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu
Đề tài đã sử dụng thông tin số liệu thứ cấp Thu thập thông qua các nguồn tài liệu sách báo, tạp chí chuyên ngành, các Nghị định, Nghị quyết, Chỉ thị, các chính sách của Nhà nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các công trình nghiên cứu khoa học được công bố, số liệu và các báo cáo tổng kết, báo cáo tài chính, báo cáo quản lý, quy chế quản lý của Công ty TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk và các công ty khác để có được số liệu thống kê
- Phương pháp tổng hợp số liệu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp các đặc điểm về tăng
Trang 17cường công tác quản lý tài chính tại Công ty Các kết quả được tổng hợp hợp thành các bảng thống kê nhằm làm tăng tính chính xác khi phân tích và so sánh
Phương pháp phân tích số liệu
+ Phương pháp thống kê mô tả: thu thập, mô tả và trình bày số liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau, trong những điều kiện thời gian cụ thể để chứng minh cho kết quả nhận định, đánh giá được đưa ra trong quá trình phân tích Dự liệu được biểu diễn thành các bảng số liệu tóm tắt về dự liệu
+ Phương pháp so sánh: nghiên cứu tổng hợp, so sánh các chi tiêu, dự liệu ở các thời điểm, thời kỳ khác nhau để thấy được sự thay đổi và mức độ đạt được của các hiện tượng chỉ tiêu để từ đó phân tích, giải thích các hiện tượng nhằm đưa ra kết luận Phương pháp này nhằm so sánh giữa các năm với nhau và năm sau so với năm trước
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong doanh nghiệp, phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk, luận văn đã xây dựng một hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác này tại công ty
Ngoài ra, thông qua kết quả nghiên cứu, luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần tóm tắt luận văn, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Trang 18Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý tài chính trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành
viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của
Công ty TNHH một thành viên quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Trong mọi hệ thống kinh tế, doanh nghiệp là một trong những cấu thành thành cơ bản và có vai trò quan trọng Xét trong mối quan hệ với các yếu tố cấu thành của nền kinh tế, doanh nghiệp là chủ thể có đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà nước, bổ sung vào nguồn dự trữ quốc gia và khai thác, nâng cao giá trị tài nguyên thiên nhiên Với bản chất là những thực thể xã hội, được sinh ra nhằm thực hiện chức năng kinh doanh, doanh nghiệp không phải là khối tài sản tồn tại dưới hình thức bất động sản mà giá trị của doanh nghiệp luôn thay đổi bởi sự tác động trở lại của chính sự vận động không ngừng từ hoạt động sản xuất, kinh doanh Quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp gắn liền với các các giao dịch, các mối quan hệ kinh tế, quan hệ quản
lý, quan hệ với người lao động và quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp Khác với các tổ chức nói chung, doanh nghiệp có hoạt động nghề nghiệp là kinh doanh, sử dụng và hội tụ nhiều yếu tố kinh tế Trừ một số lĩnh vực nhà nước cấm, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ trong hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu xã hội Trong quá trình tổ chức sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp đã sử dụng lực lượng lao động lớn, giải quyết việc làm cho người lao động và tạo ra tăng trưởng kinh tế Với vị trí của một chủ thể kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường, một quốc gia chỉ có thể kiểm soát được nền kinh tế bắt đầu từ hệ thống doanh nghiệp
Từ những quan điểm trên có thể hiểu về doanh nghiệp như sau: Doanh
Trang 20nghiệp là chủ thể pháp luật có hoạt động kinh tế, sử dụng các nguồn lực (đầu vào) để sản xuất kinh doanh, nhằm mục tiêu thu lợi nhuận
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và mục tiêu quản lý, ở những nước khác nhau vẫn tồn tại những khác biệt nhất định khi quan niệm
về doanh nghiệp Tại Việt Nam, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau, doanh nghiệp được phân thành nhiều loại hình khác nhau Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 thì có 5 loại hình doanh nghiệp sau:
- Công ty cổ phần
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp tư nhân
Trong phạm vi luận văn này, sẽ đề cập đến quản lý tài chính của loại hình doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn
1.1.2 K hái niệm về tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, theo mỗi cách tiếp cận khác nhau thì việc phân loại doanh nghiệp lại khác nhau Nhưng dù là loại hình doanh nghiệp nào thì trong hoạt động kinh doanh đều phải sử dụng tài chính doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu kinh doanh Tức là luôn gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và
Trang 21sử dụng các quỹ tiền tệ Bên trong quá trình này là những quan hệ giá trị giữa
doanh nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế, các quan hệ này được gọi là các quan hệ tài chính Vì thế, tài chính doanh nghiệp được hiểu là các quan hệ tài chính Bao gồm:
Thứ nhất, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước Quan hệ
này phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và khi Nhà nước góp vốn kinh doanh vào doanh nghiệp
Thứ hai, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có vốn để tiến hành hoạt động kinh doanh, nó là yếu tố quyết định đối với sự thành lập, quy mô và sự hoạt động của doanh nghiệp
Nguồn vốn này có thể là tự có hoặc huy động từ các nhà tài trợ bên ngoài, song phần huy động từ các nhà tài trợ bên ngoài là rất quan trọng Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của mình từ các nguồn vốn vay ngắn hạn hoặc cũng có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, để được sử dụng các nguồn vốn này thì doanh nghiệp cũng phải trả lãi vay hoặc cổ phần cho các nhà tài trợ Trong trường hợp doanh nghiệp có những khoản tiền nhàn rỗi, tạm thời chưa sử dụng có thể đem đầu tư hoặc gửi ngân hàng Khi đó doanh nghiệp lại trở thành những nhà tài trợ vốn trên thị trường tài chính
Thứ ba, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác
Bên cạnh việc huy động các nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh thì việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đó là một vấn đề không kém phần quan trọng Trong quá trình sử dụng các nguồn vốn này, doanh nghiệp phải có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên các thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động nhằm đảm bảo các đầu vào và đầu ra cho quá trình kinh
Trang 22doanh của mình Chẳng hạn như tiến hành đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nguyên
liệu sản xuất, hàng hoá, sức lao động đồng thời xác định nhu cầu của thị trường để từ đó hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, marketing
Thứ tư, quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Các quan hệ này
tồn tại trong nội tại của doanh nghiệp, như quan hệ giữa người sở hữu vốn và người có quyền sử dụng vốn, quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động Việc đảm bảo tính ổn định và vững chắc của các quan hệ này là rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp
1.1.3 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội Hay, tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối,
sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh
1.1.4 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn
Một doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì cần phải có vốn và quyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động Tưy nhiên cũng cần phải làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy
ở đâu ? Làm thế nào để có thể huy động được vốn ?
Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung ngân sách nhà nước cấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốc doanh Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự hoạt
Trang 23động của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế khác nhau, nhiều xí nghiệp quốc doanh đã tỏ ra sự yếu kém của mình Thực trạng đó đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế nói chung và các nhà quản lý tài chính nói riêng một vấn đề là: làm thế nào để đưa các xí nghiệp làm ăn thua lỗ đó thoát khỏi tình trạng hiện nay ? Chính sự bất ổn định này đã tạo ra một sự chưa được nhất quán trong việc định hình các nguồn vốn cho các doanh nghiệp ở nước ta Tưy nhiên, dù thay đổi cụ thể như thế nào chăng nữa thì mọi doanh nghiệp với mọi hình thức sở hữu trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch
vụ đều có thể huy động được vốn từ các nguồn sau:
-Vốn do ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp đối với doanh nghiệp nhà nước được xác định trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn giao đó Khi mới thành lập nhà nước hoặc cấp trên cấp vốn đầu tư ban đầu để công ty thực hiện sản xuất kinh doanh phù hợp với quy mô và ngành nghề Số vốn này thường bằng hoặc lớn hơn số vốn pháp định Sau quá trình hoạt động nếu thấy cần thiết, nhà nước sẽ cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp để phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh
Vốn tự bổ sung: là vốn nội bộ của doanh nghiệp bao gồm:
+ Phần vốn khấu hao cơ bản để lại doanh nghiệp
+ Phần lợi nhuận sau khi đã nộp thuế
+ Phần tiền nhượng bán tài sản (nếu có)
- Vốn liên doanh liên kết: đó là sự góp tiền hoặc góp tài sản của các doanh nghiệp khác để cùng với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
- Vốn vay: chủ yếu là vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Ngoài các loại vốn nói trên, các doanh nghiệp còn có thể huy động vốn của
Trang 24cán bộ công nhân viên và doanh nghiệp sẽ trả lãi cho số vốn vay đó theo lãi suất ngân hàng
Qua đó ta hình dung ra được, quá trình thành lập doanh nghiệp cần phải
có một lượng vốn đầu tư tối thiểu Đối với doanh nghiệp nhà nước số vốn này
do ngân sách nhà nước cấp có thể là 100% hoặc tối thiểu là 51% Còn đối với các Công ty cổ phần, Công ty TNHH thì số vốn đầu tư ban đầu được hình thành từ việc đóng góp vốn hoặc hùn vốn của các cổ đông dưới hình thức cổ phần Mức vay vốn được quy định theo từng doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển kinh doanh, trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn vì vậy doanh nghiệp có thể huy động vốn bên trong doanh nghiệp nhu vốn tự tài trợ Nếu như nguồn
tự tài trợ mà nhu cầu đầu tư dài hạn vẫn không đáp ứng được thì doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài nhu các hình thức đã nêu ở trên Với chức năng tổ chức vốn, tài chính doanh nghiệp không đơn thuần chỉ thực hiện việc huy động vốn mà còn phải tiến hành phân phối vốn sao cho với
số vốn pháp định, vốn tự có và các nguồn vốn huy động, doanh nghiệp có thể
sử dụng chúng một cách có hiệu quả Muốn vậy, trong từng thời kỳ kinh doanh doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu về vốn là bao nhiêu và kết cấu nhu thế nào là hợp lý
Chức năng phân phối
Sau khi huy động vốn và đã sử dụng nguồn vốn đó sẽ thu được kết quả là việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp tiến hành phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
ở nước ta, do tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, hình thức sở hữu khác nhau, cho nên quy mô và phương thức phân phối ở các loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau Sau mỗi kỳ kinh doanh, số tiền mà doanh nghiệp thu
Trang 25được bao gồm cả giá vốn và chi phí phát sinh Do vậy các doanh nghiệp có thể phân phối theo dạng chung nhu sau:
Bù đắp chi phí phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ bao gồm:
+ Trị giá vốn hàng hoá
+ Chi phí lưu thông và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã đã bỏ ra
như lãi vay ngân hàng, chi phí giao dịch, lợi tức trái phiếu
+ Khấu hao máy móc
- Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí được gọi là lợi nhuận của doanh
- Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí được gọi là lợi nhuận của doanh nghiệp Phần lợi nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức thuế, phần còn lại tuỳ thuộc vào quy định của từng doanh nghiệp
mà tiến hành chia lãi liên doanh, trả lợi tức cổ phần, trích lập các quỹ doanh nghiệp
Chức năng giám đốc
Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính làm công cụ kiểm tra, giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trị và phương tiện thanh toán của tiền tệ Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện chức năng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính cần thiết, quy mô của việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua các quỹ tiền tệ
Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp toàn diện, tự thân và diễn ra thường xuyên vì giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, tồn tại để khác phục Hoạt động tài chính diễn ra trên mọi lĩnh vực của quá trình tái sản xuất
xã hội trên tầm vĩ mô và vi mô Trong các hoạt động đó tài chính không chỉ
Trang 26phản ánh kết quả sản xuất mà còn thúc đẩy phát triển Động lực để thúc đây nhanh nền sản xuất xã hội không chỉ phụ thuộc vào sự phân phối cân bằng, hợp lý và cân đối giữa các bộ phận mà còn trực tiếp phụ thuộc vào sự kiểm tra, kiểm soát nghiêm ngặt mọi hoạt động tài chính
Nội dung giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển của nguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành các chính sách về tài chính
Thực hiện quản lý tài chính đã khẳng định, để thực hiện triệt để và có hiệu quả việc giám đốc tài chính cần phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp với cơ chế chính sách quản lý kinh tế
và thực tiễn sản xuất kinh doanh Thông qua đó giúp cho việc thực hiện các giải pháp tối ưu nhằm làm lành mạnh tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.5 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Vai trò của tài chính doanh nghiệp được ví như những tế bào có khả năng tái tạo, hay còn được coi như “cái gốc của nền tài chính” Sự phát triển hay suy thoái của sản xuất - kinh doanh gắn liền với sự mở rộng hay thu hẹp nguồn lực tài chính Vì vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động, thậm chí có thể là tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ
thuộc vào khả năng, trình độ của người quản lý; sau đó nó còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, phụ thuộc vào cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước Tài chính doanh nghiệp có vai trò sau:
Tài chính doan h nghiệp - một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh
Trang 27Để thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có một yếu tố tiền đề - đó là vốn kinh doanh
Trong cơ chế quản lý hành chính bao cấp trước đây, vốn của các doanh nghiệp nhà nước được nhà nước tài trợ hầu hết Vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đặt ra như một nhu cầu cấp bách, có tính sống còn với doanh nghiệp
Chuyển sang nền kinh tế thị trường đa thành phần, các doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận cùng song song tồn tại trong cạnh tranh, cho việc đầu
tư phát triển những ngành nghề mới nhằm thu hút được lợi nhuận cao đã trở thành động lực và là một đòi hỏi bức bách đối với tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, khi đã có nhu cầu về vốn, thì nảy sinh vấn đề cung ứng vốn Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp có đầy
đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác thu hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và phát triển của mình
Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả
Cũng như đảm bảo vốn, việc tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và
có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế
đã đặt ra trước mọi doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khe khắt; sản xuất không phải với bất kỳ giá nào Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được phản ánh bằng các chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêu tài chính, bằng các số liệu của kế toán và bảng tổng kết tài sản Với đặc điểm này, người cán bộ tài chính có khả năng phân tích, giám sát các hoạt động kinh doanh để một mặt phải bảo toàn được vốn, mặt khác phải sử dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay vốn, nâng cao khả năng sinh lời
Trang 28của vốn kinh doanh
Tài chính doanh nghiệp có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh
Khác với nền kinh tế tập trung, trong nền kinh tế thị trường các quan hệ tài chính doanh nghiệp được mở ra trên một phạm vi rộng lớn Đó là những quan hệ với hệ thống ngân hàng thương mại, với các tổ chức tài chính trung gian khác, các thành viên góp vốn đầu tư liên doanh và những quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Những quan hệ tài chính trên đây chỉ có thể được diễn ra khi cả hai bên cùng có lợi và trong khuôn khổ của pháp luật Dựa vào khả năng này, nhà quản lý có thể sử dụng các công cụ tài chính như đầu tư, xác định lãi suất, tiền lương, tiền thưởng để kích thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêu dùng, kích thích thu hút vốn nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh
Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Thông qua các chỉ tiêu tài chính như: hệ số nợ, hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu các thành phần vốn có thể dễ dàng nhận biết chính xác thực trạng tốt, xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Để sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính và duy trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
1.2 Lý luận về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Trang 291.2.1 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh nghiệp hay là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Quản lý tài chính trong doanh nghiệp là mảng hoạt động rất quan trọng của Ban lãnh đạo công ty Các quyết định của nhà quản lý tài chính được chia thành 2 loại:
+ Quyết định chiến lược: là các quyết định có ảnh hưởng rất lớn, lâu dài đến sự phát triển và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai như quyết định đầu tư dài hạn để đổi mới kĩ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, các quyết định mở rộng hoặc thu hẹp quy mô kinh doanh, các quyết định tham gia liên doanh liên kết hoặc huy động vốn trên thị trường, quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể
+ Quyết định chiến thuật: là các quyết định mang tính tác nghiệp, thường liên quan đến việc đáp ứng các yêu cầu kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp Ví dụ các quyết định về việc thanh toán, chi trả hoặc thu hồi các khoản nợ đến hạn đối với khách hàng, việc mua sắm vật tư, công cụ dụng cụ phục vụ cho sản xuất, việc huy động các nguồn vốn ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu tạm thời của doanh nghiệp, các quyết định phân phối, sử dụng các quỹ dành cho người lao động trong doanh nghiệp Các quyết định này ít ảnh hưởng lớn, lâu dài đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Quản lý tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản lý doanh nghiệp Chức năng quản lý tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong doanh nghiệp như: chức năng quản lý sản xuất, chức năng
Trang 30quản lý marketing, chức năng quản lý nguồn nhân lực
Quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản lý tài sản theo mục tiêu chung của công ty Vì vậy, chức năng quyết định của quản lý tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản lý tài sản, trong đó quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản theo mục tiêu tạo giá trị cho các
cổ đông
Như vậy, “Quản lý tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản lý tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế hoạch”
1.2.2 Nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính là một công việc hết sức quan trọng của doanh nghiệp Một chiến lược tài chính đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp đạt đến mục tiêu trong thời gian ngắn nhất, chi phí thấp nhất, hiệu quả cao nhất Chiến lược tài chính đúng đắn giúp doanh nghiệp tạo khoảng cách khác biệt và vượt qua đối thủ cạnh tranh của mình một cách thận trọng và dễ dàng Nội dung của quản
lý tài chính doanh nghiệp được thể hiện cụ thể như sau:
1.2.2.1 Dự đoán nhu cầu vốn, lập kế hoạch tài chính
Dự đoán vốn có vị trí vô cùng quan trọng Dự đoán nhu cầu lớn hơn nhu cầu thực tế dẫn đến hoạt động vốn nhiều hơn, chi phí cao ứ đọng trong các khâu sản xuất gây ra lãng phí vốn, chi phí sử dụng cao
Dự đoán nhu cầu vốn nhỏ hơn nhu cầu thực tế dẫn đến hoạt động không
đủ vốn khiến sản xuất bị gián đoạn, trì trệ, kém hiệu quả
Xét về mặt lý thuyết, có hai học thuyết về dự đoán vốn như sau:
Trang 31+ Thuyết chi phí: mọi chi phí bỏ ra đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động sẽ được sử dụng để xác định nhu cầu vốn Nhược điểm của phương pháp này là thời điểm mua tài sản sẽ ảnh hưởng tới chi phí bỏ ra Ví dụ, có thời điểm lạm phát cao khiến giá tài sản cao vì thế chi phí bỏ ra cao và ngược lại
+ Thuyết thu nhập: Dựa trên cơ sở doanh thu và tài sản lưu động có liên quan chặt chẽ với nhau Khi dự trữ tăng, sản phẩm sản xuất và tiêu thụ tăng thì doanh thu cũng tăng tương ứng Từ đó căn cứ vào thu nhập trong tương lai
và tỉ lệ huy động vốn, ta dự kiến được vốn lưu động trong tương lai
Khi lập kế hoạch dự đoán nhu cầu vốn, nhà quản trị cần chú ý đến các yếu tố sau:
+ Tính linh hoạt Kế hoạch là chỉ dẫn, là kim chỉ nam cho các hoạt động của doanh nghiệp nhưng để phù hợp với tình hình thực tế luôn biến động, doanh nghiệp cần có sự thay đổi linh hoạt cho phù hợp Ví dụ: trong trường hợp doanh nghiệp có hệ số nợ cao thì có thể dùng trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thường, từ đó làm giảm hệ số nợ của doanh nghiệp + Tính khách quan: phải dự đoán dựa trên các nguồn số liệu đảm bảo và phải xây dựng dựa trên những phân tích kinh tê chứ không phải dựa trên những suy nghĩ chủ quan, cảm tính của nhà quản trị Trước mỗi quyết định, doanh nghiệp cần xem xét, đánh giá những lợi ích thu được công nghệ mới so với chi phí bỏ ra để có được công nghệ đó
+ Tính phù hợp: dự đoán vốn phải phù hợp với từng doanh nghiệp Ví dụ
như đối với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ tỉ trọng vốn lưu động cao hơn
so với vốn cô định, còn đôi với các doanh nghiệp sản xuất, xây dựng thì ngược lại Dự đoán vốn còn phải phù hợp với từng thời kì: thời kì mùa vụ thì cần huy động nhiều vốn hơn nhu các doanh nghiệp sản xuất quạt, điều hoà, áo
Trang 32cưới
+ Chi phí sử dụng vốn: cần dự đoán những nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn thấp nhưng phải đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp Chẳng hạn, khi doanh nghiệp đi vay thường có chi phí sử dụng vốn thấp nhất nhưng làm hệ số nợ của doanh nghiệp tăng, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp Ngược lại, phát hành cổ phiếu làm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp nhưng chi phí sử dụng vốn cao, do đó quản trị tài chính doanh nghiệp cần cân nhắc, xem xét, lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp
1.2.2.2 Huy động vốn; quản lý, sử dụng tài sản của công ty
a) Huy động vốn cho công ty: phải đảm bảo yêu cầu huy động vốn kịp
thời, đầy đủ, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành liên tục
- Kịp thời tức là huy động vốn đúng thời điểm, cần là có
- Đầy đủ tức là huy động vốn không thừa và cũng không thiếu so với nhu cầu, sẽ đều dẫn đến sản xuất kinh doanh không có hiệu quả
Ngày nay, khi thị trường tài chính phát triển có rất nhiều nguồn vốn để tài trợ nhu cầu vốn của doanh nghiệp:
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: lợi nhuận để lại, vốn góp cổ phần, vốn góp liên doanh, liên kết; phát hành cổ phần
+ Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp, thông qua thị trường như vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, đi thuê tài sản…
Cho dù việc huy động vốn từ nguồn nào, Ban lãnh đạo công ty cũng cần xem xét đến các yếu tố sau:
+ Ưu, nhược điểm của từng nguồn vốn
+ Cơ cấu nguồn vốn hiện có (hệ số nợ đã quá cao thì dù đi vay có chi phí
Trang 33thấp thì doanh nghiệp cũng không nên vay thêm nữa)
+ Chi phí sử dụng vốn (mỗi nguồn vốn được huy động có chi phí sử dụng khác nhau, doanh nghiệp cần xem xét vì chi phí sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận, lợi ích của doanh nghiệp)
+ Thời gian cần huy động để đảm bảo đáp ứng kịp thời, đủ
+ Thời gian cần huy động để đảm bảo đáp ứng kịp thời, đúng, đủ, tránh hiện tượng chưa cần đã huy động, cần mà chưa huy động đủ sẽ làm tăng chi phí, gián đoạn sản xuất
Thực chất của quản lý nguồn vốn là việc xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, Ban lãnh đạo công ty cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt nhu: kết cấu nguồn vốn, khả năng tài chính, các mối quan hệ với đối tác, ngân hàng để huy động vốn vay, vốn chủ cho hợp lý vì mỗi hình thức huy động vốn đều có ưu, nhược điểm riêng
Trong quá trình triển khai kế hoạch tài chính, doanh nghiệp để hoạt động cần có vốn để đầu tư vào các tài sản, muốn như vậy doanh nghiệp phải giải quyết vấn đề vốn Đó bao gồm vốn tự có của doanh nghiệp, vốn doanh nghiệp phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu gọi chung là vốn dài hạn Mặt khác doanh nghiệp cũng có thể huy động vốn ngắn hạn, Đây thường là vốn vay tín dụng trong thời hạn ngắn thường là 1 năm Câu hỏi đặt ra cho nhà quản lý tài chính là nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu khi đã xét đến vấn đề huy động vốn? Giải đáp cho vấn đề này là dự toán vốn đầu tư, đó là quá trình kế hoạch ho á và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Như vậy để đảm bảo nguyên tắc sinh lợi doanh nghiệp phải xác định được dự án đầu tư mang tính khả thi và đạt hiệu quả sinh lợi Điều đó có nghĩa là đầu tư vào một dự án
Trang 34mà thu nhập mang lại cao hơn chi phí phải bỏ ra, tức là giá trị hiện tại của dòng tiền do các tài sản mang lại phải lớn hơn chi phí b ỏ ra để hình thành các tài sản đó
Nhà quản lý tài chính không phải chỉ quan tâm đến dòng tiền trong tương lai mà dự án mang lại là bao nhiêu mà rất quan trọng khác là họ phải quan tâm là thời gian để thu được khoản thu nhập đó để xác định vấn đề này người quản lý cần xác dịnh thời gian thu hồi vốn nội bộ
Khi nhà quản lý xác định được vấn đề thứ nhất thì vấn đề lại đặt ra là
có được vốn bằng cách nào để đầu tư dài hạn? Chủ sở hửu sẽ là người bỏ ra một phần vốn của mình để đầu tư gọi là vốn tự có của doanh nghiệp, ngoài ra nhà quản lý tài chính còn phải huy động vốn từ nhiều kenh khác nhau dựa trên tình hình cụ thể của doanh nghiệp và loại hình kinh doanh của doanh nghiệp đó
Vấn đề quan trọng cuối cùng là nhà quản lý tài chính quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như thế nào? Hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới các dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ Ngân quỹ là một vấn đề vô cùng quan trọng của doanh nghiệp, nó đảm bảo khả năng chi trả cho doanh nghiệp từ đó đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp, tránh tình trạng xấu nhất xảy ra là sự phá sản của doanh nghiệp
b) Quản lý tài sản: Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và
có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai
Tài sản công ty bao gồm:
+ Tài sản lưu động: tài sản lưu động là những tài sản nhu tiền mặt, tiền gửi, hàng tồn kho, nợ phải thu Các tài sản này chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng lại được hoàn lại một lần sau một chu kì kinh doanh
+ Tài sản cố định là những tài sản có thể có hình thái vật chất cụ thể nhu
Trang 35máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, các công trình kiến trúc
và cả những tài sản không có hình thái vật chất, nhưng doanh nghiệp vẫn xác định được giá trị nhu quyền sử dụng đất, nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành được sử dụng để thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh, có giá trị lớn và được sử dụng trong một thời gian dài
Yêu cầu của quản lý tài sản:
+ Sử dụng có hiệu quả tài sản lưu động: Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản phải thu
+ Sử dụng có hiệu quả tài sản cố định: lựa chọn công nghệ phù hợp với tình hình tài chính, trình độ của doanh nghiệp; xác định phương pháp khấu hao hợp lý; xây dựng chính sách thanh lý, bảo quản, bảo hiểm tài sản tránh thất thoát tài sản
1.2.1.3 Quản lý doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu Doanh thu của công ty có thể bao gồm:
+ Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: là tiền bán sản phẩm, hàng hóa dịch vụ sau khi đã từ các khoản tiền chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thu từ phần trợ giá của Nhà nước, nếu doanh nghiệp có cung cấp hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước
+ Doanh thu từ các hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu từ các hoạt động mua bán trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, cho thuê tài sản, liên doanh, liên
Trang 36kết, thu lãi tiền gửi, lãi từ tiền đã cho vay các khoản thu từ lãi.
Doanh nghiệp nếu thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước giao về sản
xuất hay cung ứng các dịch vụ về quốc phòng, an ninh, cung cấp các sản
phẩm dịch vụ theo giá cả của Nhà nước mà thu nhập không đủ bù đắp chi phí
sẽ được hưởng sự trợ cấp, trợ giá của Nhà nước
Yêu cầu của quản lý doanh thu: xác định giá bán hợp lý vừa có tính cạnh tranh lại vừa đảm bảo nguồn thu cho doanh nghiệp;
1.2.1.4 Quản lý chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của của tất cả các hao phí về mặt vật chất và về mặt lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
Phân loại chi phí sản xuất dựa trên lĩnh vực và địa điểm sử dụng bao gồm
+ Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí tiền lương, tiền công, các khoản tính nộp như quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn…
+ Chi phí sản xuất chung là chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền phát sinh trong quá trình hoạt động
+ Chi phí bán hàng là những chi phí liên quan đến quá trình tiêu thụ và phân phối hàng hoá đến người sử dụng
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm các chi phí cho bộ máy quản
lý và điều hành doanh nghiệp nhu: tiền lương và các khoản trích nộp của bộ máy quản lý và điều hành, chi phí về công cụ và dụng cụ, khấu hao TSCĐ
Trang 37phục vụ cho bộ máy quản lý chung của doanh nghiệp, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác
Yêu cầu của công tác quản lý chi phí: cần quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và có lợi nhuận
1.2.2.5 Phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ
a) Phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí trong kì Phân phối lợi nhuận là việc phân chia lợi nhuận theo những tỉ lệ nhất định nhằm thoả mãn lợi ích của các bên liên quan đồng thời đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp
Lợi nhuận sau khi nộp thuế được chia thành 2 phần
+ Trả cho chủ sở hữu (cổ đông, các thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn, nhà nước )
+ Một phần để lại doanh nghiệp để tái đầu tư (thông qua việc trích lập các quỹ như quỹ đầu tư phát triển để mở rộng kinh doanh, đổi mới công nghệ, đào tạo tay nghề cho công nhân; quỹ dự phòng tài chính dùng để bù đắp các tổn thất, thiệt hại mà doanh nghiệp phải gánh chịu trong sản xuất kinh doanh; quỹ khen thưởng dùng để thưởng công nhân viên cuối năm hoặc hàng kỳ; quỹ phúc lợi dùng để đầu tư xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi của doanh nghiệp, trợ cấp khó khăn cho nguời lao động, làm công tác từ thiện xã hội) Phân phối lợi nhuận cũng là 1 chức năng quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp Do vậy, yêu cầu của công tác phân phối lợi nhuận phải đảm bảo 2 yêu cầu sau:
Trang 38+ Giải quyết hài hoà mỗi quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nguời lao động
+ Doanh nghiệp phải giành 1 phần lợi nhuận thích đáng để giải quyết nhu cầu sản xuất kinh doanh đồng thời đảm bảo lợi ích cho các thành viên trong đơn vị mình
Nếu lợi nhuận chỉ chia cho chủ sở hữu, không giữ lại tái đầu tư thì doanh nghiệp sẽ mất cơ hội đầu tư mang lại hiệu quả cao ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp
Nếu lợi nhuận chỉ giành để giữ lại tái đầu tư, không chia cho chủ sở hữu thì sẽ triệt tiêu động lực phấn đấu tăng lợi nhuận vì có lợi nhuận mà cổ đông cũng không được nhận gì Do vậy, nhà quản trị cần có chính sách phân phối lợi nhuận hợp lí
* Nội dung phân phối lợi nhuận doanh nghiệp:
Tổng số lợi nhuận thực hiện cả năm của doanh nghiệp sau khi nộp thuế thu nhập theo luật định được phân phối như sau:
Nộp tiền thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nước Nếu doanh nghiệp bị
lỗ thì không phải nộp về khoản này Nếu lợi tức sau thuế không đủ nộp tiền thu sử dụng vốn theo mục đích quy định thì doanh nghiệp phải nộp toàn bộ lợi tức sau thuế
Doanh nghiệp phải trả các khoản tiền bị phạt nhu: tiền phạt do vi phạm
kỷ luật thu nộp ngân sách, tiền phạt vi phạm hành chính, phạt vi phạm hợp đồng, phạt vì nợ quá hạn, các khoản chi phí hợp lệ chưa được trừ khi xác định thuế lợi tức phải nộp Trừ các khoản lỗ không được trừ vào lợi tức trước thuế Nhưng doanh nghiệp kinh doanh trong một số ngành đặc thù như ngân hàng, bảo hiểm mà pháp luật quy định phải trích lập các quỹ đặc biệt từ lợi tức, thì
Trang 39sau khi trừ các khoản nêu trên, doanh nghiệp được trích lập các quỹ đó theo tỷ
dự trữ tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi
Những phương hướng cơ bản để tăng lợi nhuận và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp là:
+ Phấn đấu giảm chi phí kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm
+ Doanh nghiệp phải tăng sản lượng sản xuất và tiêu thụ không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, giữ uy tín với khách hàng
1.2.2.6 Quản lý phân bổ chi phí công ty
Chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của của tất cả các hao phí về mặt vật chất và về mặt lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
Phân loại chi phí sản xuất có thể dựa trên các tiêu chí như lĩnh vực và địa điểm sử dụng bao gồm:
+ Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí tiền công, tiền lương và các khoản tính nộp như quỹ BHXH, BHYT, BHTN
+ Chi phí sản xuất chung là chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền phát sinh trong quá trình hoạt động
+ Chi phí bán hàng là những chi phí liên quan đến quá trình tiêu thụ hàng hóa
Trang 40+ Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các chi phí cho bộ máy quản
lý và điều hành doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản trích nộp của bộ máy quản lý và điều hành, chi phí về công cụ và dụng cụ, khấu hao TSCĐ phục vụ cho bộ máy quản lý chung của doanh nghiệp, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác
Phân loại chi phí sản xuất dựa trên mối quan hệ tỷ lệ với khối lượng hàng hoá tiêu thụ
+ Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi theo sự thay đổi của khối lượng sản phẩm tiêu thụ
+ Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi theo sự thay đổi của khối lượng sản phẩm tiêu thụ
Ngoài ra chi phí sản xuất kinh doanh c òn được chia thành chi phí cơ bản và chi phí chung
+ Chi phí cơ bản là những khoản chi phí chủ yếu cần thiết cho quá trình tiêu thụ sản phẩm kể từ lúc nhập sản phẩm cho đến giai đoạn tiêu thụ
+ Chi phí chung là những khoản chi phí không liên quan trực tiếp đến quá trình tiêu thụ sản phẩm
Để quản lý tốt chi phí của doanh nghiệp cần phải xem xét cơ cấu chi phí và xu hướng thay đổi kết cấu chi phí
Kết cấu chi phí sản xuất kinh doanh là tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng số các chi phí sản xuất kinh doanh
Những nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu chi phí là đặc điểm sản xuất chung của từng loại doanh nghiệp, của từng ngành kinh tế, loại hình có quy
mô sản xuất kinh doanh, điều kiện tự nhiên, công tác quản lý và tiêu thụ sản phẩm
1.2.2.7 Kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch tài chính và đánh giá kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
a) Kiểm tra, giám sát tài chính doanh nghiệp