1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ ngữ văn những đóng góp của đông dương tạp chí trong quá trình hiện đại hóa văn học, văn hóa việt nam đầu thế kỷ xx

286 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Đóng Góp Của Đông Dương Tạp Chí Trong Quá Trình Hiện Đại Hóa Văn Học, Văn Hóa Việt Nam Đầu Thế Kỷ XX
Tác giả Tạ Anh Thư
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Giang
Trường học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 286
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2 Ý nghĩa (6)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (0)
    • 2.1. Ở trong nước (8)
      • 2.1.1 Trước 1945 (8)
      • 2.1.2. Từ 1945 đến 1975 (9)
        • 2.1.2.1 Ở miền Bắc (9)
        • 2.1.2.2 Ở miền Nam (11)
      • 2.1.3 Từ sau năm 1975 (16)
    • 2.2 Ở nước ngoài (18)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (20)
    • 3.1 Đối tượng nghiên cứu (20)
    • 3.2 Phạm vi nghiên cứu (20)
  • 4. Đóng góp mới của luận án (21)
    • 4.1 Đóng góp về mặt khoa học (21)
    • 4.2 Đóng góp về mặt thực tiễn (21)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (22)
  • 6. Cấu trúc luận án (22)
  • CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ (24)
    • 1.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam và tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX (24)
      • 1.1.1 Bối cảnh xã hội (24)
      • 1.1.2 Giới trí thức Việt Nam trong một thời đại chuyển biến (38)
    • 1.2. Sự ra đời của Đông Dương tạp chí (44)
      • 1.2.1. Chủ trương của Đông Dương tạp chí (44)
        • 1.2.1.1 Nguyễn Văn Vĩnh (1882 -1936) (51)
        • 1.2.1.2 Phan Kế Bính (1875 – 1921) (66)
        • 1.2.1.3 Nguyễn Đỗ Mục (1882 – 1949) (67)
      • 1.2.3 Những chặng đường phát triển của Đông Dương tạp chí (68)
  • CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ (77)
    • 2.1. Đông Dương tạp chí với sự phát triển chữ quốc ngữ - ngôn ngữ văn học của dân tộc (77)
      • 2.1.1 Mục đích của việc xây dựng chữ quốc ngữ của trí thức Việt Nam cuối thế kỷ (77)
      • 2.1.2 Đông Dương tạp chí với nỗ lực đưa chữ quốc ngữ đến với công chúng (81)
    • 2.2. Đông Dương tạp chí và sự tiếp thu tinh hoa văn học thế giới (100)
      • 2.2.1 Tình hình dịch thuật văn học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (100)
      • 2.2.2. Diện mạo văn học phương Tây trên Đông Dương tạp chí (103)
        • 2.2.2.1 Quan điểm lựa chọn tác giả và tác phẩm (103)
        • 2.2.2.2 Những tác giả tiêu biểu (105)
        • 2.2.2.3 Những thể loại chính (107)
      • 2.3.1 Thơ (125)
      • 2.3.2 Tiểu thuyết (132)
      • 2.3.3 Kịch (136)
  • CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ (144)
    • 3.1. Chủ trương hiện đại hoá văn hoá dân tộc của Đông Dương tạp chí (144)
      • 3.1.1 Mối liên hệ văn hoá – văn học trong Đông Dương tạp chí (144)
      • 3.1.2 Đổi mới văn hoá Việt Nam dựa trên nền tảng đổi mới học thuật (148)
      • 3.1.3 Đổi mới văn hoá Việt Nam dựa trên các giá trị cộng hoà (152)
        • 3.1.3.1 Giá trị của Công giáo và giá trị của thể chế cộng hoà ở Bắc Kì (152)
        • 3.1.3.2 Sự lựa chọn các giá trị cộng hoà của Đông Dương tạp chí (155)
    • 3.2. Đông Dương tạp chí và vấn đề canh tân giáo dục (159)
      • 3.2.1. Về tính hiệu quả của nền giáo dục truyền thống (159)
      • 3.2.2 Những phương pháp mới cho giáo dục (165)
    • 3.3. Đông Dương tạp chí và vấn đề đổi mới phong tục, tập quán (172)
      • 3.3.1 Chuyên mục Xét tật mình (172)
      • 3.3.2. Chuyên mục Việt Nam phong tục (184)
    • 3.4. Đông Dương tạp chí và vấn đề nữ quyền (188)
  • KẾT LUẬN (198)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và Tây phương đăng liên tiếp trong Đông Dương tạp chí, ngày nay giở đến người ta còn thấy là những bài có thể dựng thành những bộ

Ý nghĩa

Bài viết này không tập trung vào nghiên cứu lịch sử báo chí, mà khám phá chủ đề hiện đại hóa văn học và văn hóa dưới ảnh hưởng của báo chí Đặc biệt, nó nhấn mạnh mối quan hệ giữa văn học, văn hóa và báo chí, với trường hợp nghiên cứu là tờ báo Đông Dương tạp chí, cùng nội dung và lịch sử của nó.

Luận án này làm sáng tỏ vấn đề hiện đại hóa văn học và văn hóa qua hoạt động của Đông Dương tạp chí, đánh giá sự phát triển của văn học quốc ngữ Việt Nam vào đầu thế kỷ XX Sự phát triển này diễn ra trong bối cảnh xâm lược của thực dân Pháp, cùng với những thành tựu khoa học kỹ thuật mà họ mang đến Sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, nhà in, báo chí và tư tưởng mới từ phương Tây đã mở ra cánh cửa hội nhập cho xã hội phong kiến Việt Nam Cuộc xung đột giữa thực dân Pháp và dân tộc Việt Nam không chỉ là cuộc đối đầu giữa kẻ xâm lược và kẻ bị xâm lược, mà còn là sự va chạm giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây, dẫn đến những biến động không thể tránh khỏi trong xã hội truyền thống Việt Nam, buộc nó phải thay đổi để thích nghi.

Luận án này cung cấp những bằng chứng và kinh nghiệm về ảnh hưởng của báo chí đối với sự phát triển văn hóa và văn học dân tộc Bài học về hiện đại hóa từ đầu thế kỷ XX vẫn giữ nguyên giá trị, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển đầy triển vọng và thách thức mà chúng ta đang đối mặt ngày nay, nhấn mạnh tầm quan trọng của các thế hệ trí thức đầu thế kỷ.

XX không chỉ giữ vai trò quan trọng trong quá khứ mà còn có thể ảnh hưởng đến tương lai của chúng ta thông qua những bài học quý giá Những câu chuyện về họ đặt ra nhiều câu hỏi về thế hệ những người khổng lồ trong văn hóa Việt Nam, mà ngày nay ít thấy Điều gì đã tạo nên “thế hệ vàng” ấy? Nền đại học nào đã sản sinh ra những nhân vật như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, và nhiều người khác? Tại sao họ, những học giả xuất sắc, lại dám từ bỏ những kiến thức cũ để tìm kiếm cái mới, giải phóng trí tuệ cho bản thân và đất nước? Trả lời những câu hỏi này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thách thức mà chúng ta đang đối mặt hôm nay.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở trong nước

Trong tác phẩm "Nhà văn hiện đại", Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh rằng Đông Dương tạp chí là cơ quan văn học đầu tiên trong thời kỳ văn chương quốc văn còn mới mẻ Tạp chí này không chỉ phản ánh tinh hoa của nền cổ học Trung Hoa mà còn cung cấp những tư tưởng mới cần thiết cho người Việt Các bài bình luận và tham khảo về Đông phương và Tây phương được đăng tải liên tục trong Đông Dương tạp chí vẫn có giá trị, có thể biên tập thành những bộ sách vững chắc, góp phần vào sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại và tương lai.

Nguyễn Văn Vĩnh đã có những đóng góp quan trọng trong văn xuôi và các bản dịch của ông được ghi nhận trong cuốn "Việt Nam văn học sử yếu" của Dương Quảng Hàm Bài viết về báo giới và văn học quốc ngữ cùng với các tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh và Trần Trọng cũng thể hiện sự phát triển của văn học Việt Nam.

Những bài viết của Kim…của Thiếu Sơn trên các báo thời bấy giờ chủ yếu nêu rõ tôn chỉ và ý nghĩa hoạt động của nhóm Đông Dương tạp chí.

Tình hình nghiên cứu và đánh giá đóng góp về văn học, văn hóa của Đông

Dương tạp chí trở nên phức tạp trong bối cảnh cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Điều này xuất phát từ việc tờ báo từng là công cụ của chính quyền thực dân Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 và chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, mọi thứ liên quan đến thực dân Pháp xâm lược đều gây ra sự “dị ứng” trong xã hội Số phận của những trí thức Tây học từng cộng tác với Pháp và các ấn phẩm văn hóa liên quan đến chính quyền thực dân cũng chịu ảnh hưởng tương tự.

Trong Lịch sử văn học Việt Nam (tập 4B), Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí được xếp vào khuynh hướng văn học nô dịch, với Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là những nhân vật chủ chốt Cả hai tác giả này đều tuyên truyền cho sự thống trị của Pháp và chống đối cách mạng một cách công khai, không thể lừa dối ai Đông Dương tạp chí và Nam Phong đã thu hút một số thanh niên trí thức yêu thích nghiên cứu, nhưng lại khiến họ xao lãng khỏi tình hình xã hội, đắm chìm vào văn chương như một con đường phục vụ dân tộc Tóm lại, cả hai tạp chí này không có đóng góp tích cực nào cho văn học dân tộc.

Các hoạt động canh tân văn hóa của tạp chí Đông Dương, bao gồm cả những bài viết phản đối sự bóc lột của thực dân Pháp, thường bị hiểu lầm là một chiêu trò nhằm thu hút sự chú ý của quần chúng, củng cố quyền lực của đế quốc phong kiến, và thậm chí là để bán mình với giá cao.

Cũng theo chiều hướng đánh giá tiêu cực về Đông Dương tạp chí, Tập san

Nghiên cứu lịch sử số 116 (1968) của tác giả Nguyễn Anh chỉ trích Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, cho rằng tạp chí này có những đóng góp không đáng kể trong lĩnh vực dịch thuật Bài viết nhấn mạnh rằng Đông Dương tạp chí thực hiện việc dịch thuật một cách bừa bãi, không có sự chọn lọc và thiếu giới thiệu phê bình Tạp chí này chủ yếu dịch các tác phẩm văn học Pháp, bỏ qua sách triết học, và có xu hướng chạy theo thị hiếu của độc giả trẻ để thu hút họ Mục đích của Đông Dương tạp chí được cho là nhằm làm giảm tinh thần yêu nước của nhân dân và làm suy yếu ảnh hưởng của các tư tưởng tiến bộ từ các sĩ phu và cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc.

Có người đã nói Đông Dương tạp chí chỉ giới thiệu văn hoá phương Tây theo kiểu ăn sống nuốt tươi quả là xác đáng…”

Bên cạnh những nhận xét căng thẳng, một số ý kiến trung hòa hơn cũng được đưa ra, điển hình là quan điểm của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong cuốn sách của ông.

Phong trào thơ mới 1932 - 1945 (Nxb Khoa học, 1966) đã chỉ ra vai trò quan trọng của tờ Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí trong việc giới thiệu các tác phẩm văn học phương Tây Phan Cự Đệ đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng của những tạp chí này đối với sự phát triển của văn học Việt Nam trong giai đoạn này.

Trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp đã cho Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản tạp chí Nam Phong, báo Trung Bắc tân văn và Nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng Tại đây, Nam Phong và Đông Dương tạp chí đã giới thiệu và dịch các tác phẩm cổ điển của Corneille, Molière cùng những tác phẩm thế kỷ XIX của Chateaubriand, Lamartine, Victor Hugo, Honoré de Balzac, Guy de Maupassant, và Baudelaire Những tư tưởng bảo thủ trong văn học Pháp như Maurice Barrès, Charles Maurras, Léon Daudet được trình bày song song với các tư tưởng tiến bộ của các nhà triết học khai sáng thế kỷ XVIII như Rousseau và Voltaire.

Montesquieu đã ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ thanh niên trong các trường học, khi họ bắt đầu đam mê văn học Pháp Những tác phẩm của Rousseau, Bernadin de St Pierre, Chateaubriand, và Boutget được đọc nhiều, cùng với sự ca ngợi lãng mạn của "tứ kiệt" như Hugo, Lamartine, Musset và Vigny.

Phan Cự Đệ thừa nhận rằng các nhà thơ mới ở Việt Nam đã tiếp thu truyền thống thơ ca dân tộc và học hỏi sáng tạo từ thơ ca nước ngoài, từ đó xây dựng thể thơ tự do giàu nhạc điệu và màu sắc, có khả năng thể hiện tình cảm con người và thiên nhiên Ngôn ngữ thơ ca cũng trở nên giản dị, trong sáng và phong phú hơn nhờ vào những đóng góp của các nhà thơ mới Điều này ngầm khẳng định vai trò quan trọng của Đông Dương tạp chí và các tờ báo tiên phong trong việc phổ biến các tác phẩm dịch thuật thời kỳ đó.

Trong khi đó, ở miền Nam những năm 1954-1975, việc nghiên cứu và ô phỏn xột ằ Đụng Dương tạp chớ cú phần khỏch quan và thỏa đỏng hơn

Trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Nguyễn Văn Vĩnh, chủ bút Đụng Dương tạp chí Ông chỉ ra rằng Đụng Dương và Nam Phong tạp chí giữ vị trí then chốt trong lịch sử văn học Việt Nam, vì hầu hết các tác phẩm văn chương có giá trị và ảnh hưởng sâu rộng đều xuất hiện trên hai tạp chí này.

Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí đã có sự nghiệp nổi bật, được Phạm Thế Ngũ đánh giá cao trong "Việt Nam văn học sử giản ước tân biên" Trong khoảng 10 năm, từ báo Đăng Cổ đến Đông Dương, ông đã có những hoạt động tư tưởng mạnh mẽ, góp phần làm thay đổi xã hội Việt Nam cổ truyền và thúc đẩy sự biến đổi trong hình thức văn hóa.

Phạm Thế Ngũ viết tiếp: ô Về đường văn học, hiển nhiờn ụng đó đứng ra mở đường cho văn học mới:

2 3 tập, tập 3, Nxb Quốc học Tùng thư 1965

- Ông đã tranh đấu cho việc truyền bá và thắng thế chữ quốc ngữ là thứ chữ của văn học mới

Ông đã giới thiệu nhà in và tờ báo vào xã hội, đây là hai công cụ quan trọng giúp ông xây dựng nền văn học mới và sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho sự phát triển của văn học trong tương lai.

- Ông đã làm được trong bước đầu một tờ báo rất bổ ích cho văn mới lúc phụi thai là tờ Đụng Dương tạp chớ ằ

Trong cuốn Luận đề về Đông Dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế

Ở nước ngoài

Luận án Tiến sĩ của Emmanuelle Affidi, mang tựa đề "Đông Dương tạp chí (1913-1919), một nỗ lực truyền bá tư tưởng và khoa học phương Tây ở Tây Bắc Kỳ: giao thoa văn hóa, chính sách thực dân giữa kiến thức và quyền lực (1906-1936)", là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện về Đông Dương Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và vai trò của nó trong bối cảnh thực dân tại Tonkin trong giai đoạn 1906-1936.

Luận án dài 820 trang, viết bằng tiếng Pháp, hoàn thành năm 2007, trong đó khẳng định:

In the early 20th century, inspired by Japan and China, Vietnamese elites sought to embrace Western modernity to liberate themselves from European colonization In this context, the journal ÐôngDương Tạp Chí (Tonkin, 1913-1919) emerged as a significant effort to introduce Vietnamese people to Western science, including its knowledge, methods, and techniques The journal aimed to familiarize readers with the underlying thought processes of this science through targeted translations in literature, philosophy, and ethics.

Founded by the French publisher F.-H Schneider with the support of Governor General Sarraut and led by Vietnamese journalist and translator Nguyễn Văn Vĩnh, this journal in quốc ngữ (the romanized script of the Vietnamese language) served as a melting pot of diverse aspirations united by a common idea: for the Vietnamese, the French presence in Indochina represented an opportunity to more easily and directly acquire the coveted Western knowledge The republican model of France could even serve as an inspiration for a Việt Nam in search of its identity, especially as the Chinese model had shown its limitations.

This thesis outlines the findings of the review, emphasizing that Ðông Dương Tạp Chí was not an independent entity but rather a manifestation of a broader intellectual movement It navigated the intersection of knowledge and power in early 20th century Vietnam, specifically from 1906 to 1936.

Vào đầu thế kỷ XX, các nhà trí thức Việt Nam đã nỗ lực tiếp cận các công cụ tân tiến của phương Tây để thoát khỏi ách đô hộ của người Châu Âu Trong bối cảnh này, Đông Dương tạp chí (1913-1919) ra đời như một nỗ lực quan trọng nhằm khai tâm người Việt về nền khoa học phương Tây, thông qua việc dịch thuật chọn lọc các tác phẩm văn học, triết học và đạo đức Được sáng lập bởi nhà xuất bản Pháp F-H Schneider và do nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh điều hành, tờ báo quốc ngữ này mang đến nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh rằng sự hiện diện của người Pháp tại Đông Dương có thể là cơ hội để người Việt tiếp thu nền khoa học tiên tiến phương Tây, đồng thời Cộng hoà Pháp có thể trở thành một mô hình cho Việt Nam trong quá trình tìm kiếm một sắc thái chính trị mới.

Luận án này khám phá những nghiên cứu về Đông Dương tạp chí, nhấn mạnh rằng đây không chỉ là một công trình vô bổ mà còn là nguồn cảm hứng cho một trào lưu tư tưởng lớn hơn Nó vạch ra mối liên hệ giữa kiến thức và quyền lực trong bối cảnh Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX (1906-1936).

Emmanuelle Affidi nghiên cứu ảnh hưởng của xu hướng chính trị đến sự phát triển nội dung của tờ báo và vai trò của Đông Dương tạp chí trong việc tiếp thu khoa học phương Tây tại Việt Nam đầu thế kỉ XX Mặc dù đóng góp của Đông Dương tạp chí cho sự đổi mới văn học, văn hóa Việt Nam không phải là mục tiêu chính của luận án, nhưng chúng tôi hy vọng đây sẽ là một trong những công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu hệ thống về những đóng góp của tạp chí này trong tiến trình hiện đại hóa văn học và văn hóa Việt Nam.

Đóng góp mới của luận án

Đóng góp về mặt khoa học

Luận án làm rõ vấn đề hiện đại hóa văn học và văn hóa trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa báo chí và văn hóa, văn học Để đánh giá giai đoạn văn học này, cần có cái nhìn khoa học, toàn diện và khách quan, dựa trên bối cảnh lịch sử cụ thể Qua việc phân tích hiện tượng Đông Dương tạp chí, luận án giải thích phản ứng tự nhiên của một bộ phận văn hóa và con người bản địa trước ảnh hưởng của văn học thế giới do chủ nghĩa thực dân mang lại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án cung cấp những chứng cứ xác thực về hoạt động của một tờ báo quan trọng đầu thế kỷ XX, bổ sung tài liệu và nhận định cho nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn học và báo chí Thông tin chi tiết về ngày ra đời và đình bản của tờ báo, cùng với sự thay đổi nội dung qua các thời kỳ phát hành, giúp các nhà nghiên cứu đánh giá chính xác hơn những đóng góp và hạn chế của tờ báo từng được xem là “có vấn đề.”

Năm 1917, các số báo vi phim bao gồm số 109, 114 đến 124; 126, 128 đến 132, 134 không có phần văn học Tuy nhiên, phần văn học này có mặt trong các số báo giấy mà chúng tôi đã truy cập tại thư viện Khoa học xã hội Hà Nội.

Trong các số báo năm 1917 và 1918, có 7 phần văn học được ghi rõ trong mục lục nhưng lại thiếu vắng trong hầu hết các ấn phẩm Đặc biệt, các số báo năm 1918, dù ở dạng giấy hay Microfilm tại Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM, đều không có mục “văn học” Điều này có thể cho thấy phần văn học đã bị tách rời trước khi các số báo được chuyển đến thư viện, mặc dù không có dấu hiệu nào cho thấy các trang của mục văn học đã bị xé.

Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài này, người viết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau

+ Phương pháp lịch sử: người viết sẽ đặt Đông Dương tạp chí vào bối cảnh xã hội

Việt Nam vào đầu thế kỷ và sự phát triển của báo chí quốc ngữ là bối cảnh quan trọng để nghiên cứu và lý giải sự ra đời cũng như hoạt động của Đông Đương tạp chí trong chương 1.

Phương pháp hệ thống và phương pháp loại hình được áp dụng để tổ chức, phân loại và trình bày những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong lĩnh vực văn học và văn hóa, đặc biệt trong chương 2 và 3 của bài viết.

Luận án áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm phương pháp so sánh giữa Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, phương pháp phân tích các tác phẩm và thể loại, cùng với thao tác tổng hợp để đúc kết vai trò và vị trí của Đông Dương tạp chí trong bối cảnh văn hóa.

Cấu trúc luận án

Luận án gồm 195 trang Ngoài phần Dẫn nhập (18 trang), Kết luận (4 trang) và Thư mục (248 đề mục), luận án được triển khai thành 3 chương:

Chương 1 của bài viết trình bày bối cảnh xã hội Việt Nam và tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX, là tiền đề cho sự ra đời của Đông Dương tạp chí Nội dung của tờ báo đã biến chuyển qua từng giai đoạn phát triển, phản ánh những yếu tố chi phối trong xã hội Bên cạnh đó, chương cũng đề cập đến các đặc điểm nổi bật của Đông Dương tạp chí về mặt chủ trương, đội ngũ biên tập và những chặng đường hoạt động của tờ báo.

Chương 2 của bài viết tập trung vào những đóng góp quan trọng của Đông Dương tạp chí trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Tác giả nêu rõ ảnh hưởng của tạp chí đối với sự phát triển của chữ quốc ngữ, ngôn ngữ văn học của dân tộc Bên cạnh đó, chương cũng trình bày về việc tiếp thu tinh hoa văn học thế giới thông qua mảng dịch thuật của tờ báo Cuối cùng, vai trò của Đông Dương tạp chí trong việc phát triển các thể loại văn học mới như thơ, tiểu thuyết và kịch cũng được đánh giá một cách sâu sắc.

CHƯƠNG 3: Những đóng góp của Đ ông D ươ ng t ạ p chí trong quá trình hiện đại hoá văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XX (53 trang)

Trong chương này, chúng tôi làm rõ những đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với canh tân giáo dục, đổi mới phong tục tập quán và vấn đề nữ quyền Những đóng góp này đã có tác động tích cực đến quá trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc vào đầu thế kỷ XX.

SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ

Bối cảnh xã hội Việt Nam và tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX

Khi các chiến hạm Pháp nổ súng ở Đà Nẵng năm 1858, xã hội Việt Nam như tỉnh dậy sau giấc ngủ dài Trong bối cảnh thế giới đang trải qua cuộc cách mạng công nghệ và nhu cầu tìm thuộc địa của chủ nghĩa tư bản, giai cấp phong kiến Việt Nam đã để đất nước chìm trong lạc hậu Mặc dù có những trí thức như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch cảnh báo, triều đình nhà Nguyễn và quan lại vẫn thờ ơ, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng ngày càng gia tăng.

Từ hoà ước Nhâm Tuất 1862, thực dân Pháp đã chiếm ba tỉnh miền Đông và sau đó là ba tỉnh miền Tây, hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam vào năm 1884 Đất nước bị chia thành ba khu vực với ba chế độ cai trị khác nhau: thuộc địa ở Nam Kỳ, bảo hộ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ dưới sự điều khiển của Triều Nguyễn Trong khi dân chúng Nam Kỳ có một số quyền tự do, thì ở Bắc và Trung Kỳ, sự kìm kẹp của Pháp ngày càng gia tăng Nhiều cuộc nổi dậy và phản kháng đã diễn ra, như phong trào Cần Vương, Duy Tân, và các cuộc khởi nghĩa khác, nhưng đều bị dập tắt một cách tàn bạo Từ năm 1897 đến 1914, Pháp tiến hành đợt khai thác thuộc địa đầu tiên, và đến năm 1919, chúng bắt đầu đợt khai thác thứ hai.

1939) Những cơ sở đầu tiên của kinh tế tư sản bắt đầu phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ

Sau khi chiếm trọn sáu tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã nỗ lực thay đổi toàn bộ nền giáo dục Việt Nam bằng cách thành lập các trường công lập tại Sài Gòn và đưa chữ quốc ngữ vào giảng dạy Họ khuyến khích việc thành lập trường dạy quốc ngữ ở các làng, miễn thuế cho những làng có trường này theo Nghị định 14.06.1880 Tuy nhiên, sau đó, các biện pháp cưỡng chế học sinh đi học đã được áp dụng, với Nghị định 17.03.1879 ban hành chương trình giáo dục Pháp – Việt, bao gồm chương trình Tiểu học dạy quốc ngữ, cấp 2 học cả chữ Nho và quốc ngữ, và cấp 3 dạy các văn thư, khế ước thông dụng cùng sử địa An Nam.

Các kỳ thi truyền thống đã bị bãi bỏ, và Trường Hậu Bổ được thành lập nhằm đào tạo quan chức cho Pháp Nhiều học sinh, đặc biệt là học sinh Công giáo, đã được cử đi du học tại Pháp và các thuộc địa của Pháp Số lượng học sinh theo chương trình giáo dục của Pháp ngày càng tăng khi hệ thống trường Pháp - Việt được mở rộng tại Sài Gòn và các thành phố, tỉnh lỵ lớn khác.

Sự chuyển biến trong hình thức và nội dung giáo dục đã dẫn đến sự xuất hiện của tầng lớp trí thức Tây học, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành đội ngũ sáng tác và công chúng mới tại các thành phố Tầng lớp này đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của nền văn học chữ quốc ngữ ở Nam Bộ, nơi khởi nguồn của báo chí quốc ngữ trên toàn quốc.

Việc bắt buộc sử dụng chữ quốc ngữ trong các văn bản hành chính và lĩnh vực khác đã thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ về văn hóa xã hội của Việt Nam đầu thế kỷ XX, thể hiện rõ rệt sự mở rộng ảnh hưởng của văn hóa phương Tây tại đây.

Chữ quốc ngữ được hình thành bởi các giáo sĩ phương Tây, sử dụng bảng chữ cái Latin quen thuộc và bổ sung các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt, tương tự như một số ngôn ngữ phương Tây như tiếng Bồ Đào Nha.

Linh mục Alexandre de Rhodes, hay còn gọi là Đắc Lộ, được coi là người đầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ ở Việt Nam Năm 1651, ông đã biên soạn và in cuốn Từ điển Việt-Bồ-La tại nhà in của Giáo hội La Mã ở Roma, Ý Cùng năm, ông cũng cho ra mắt cuốn sách giảng đạo mang tên Phép giảng tám ngày, đánh dấu cuốn sách đầu tiên được in bằng chữ quốc ngữ.

Các giáo sĩ phương Tây đã đến Việt Nam và bắt đầu đặt nền móng cho chữ quốc ngữ từ sớm Vào tháng 10 năm 1629, linh mục Bồ Đào Nha Gaspar d’Amaral cùng thầy Paulus Saito người Nhật Bản đã đến Đàng Ngoài Trong thời gian ở Việt Nam, Gaspar d’Amaral đã nghiên cứu và học chữ quốc ngữ, khi đó còn ở dạng sơ khai Ông để lại hai tài liệu viết tay vào các năm sau đó.

Vào các năm 1632 và 1637, linh mục Gaspar d’Amaral đã ghi lại nhiều chữ quốc ngữ Ông cũng bắt đầu soạn thảo cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Diccionário anamita-português-latinum), nhưng tiếc rằng cuốn từ điển chưa kịp ấn hành thì ông đã qua đời vào ngày 23-12-1645 do tàu chở ông bị đắm khi trở về Đàng Ngoài để tiếp tục công việc truyền giáo Cuốn từ điển đang trong quá trình hoàn thiện đã bị thất lạc.

Linh mục Dòng Tên Antonio Barbosa, một người Bồ Đào Nha, đã có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam Ông đã biên soạn cuốn Từ điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) trong khoảng thời gian 6 năm ở Đàng Ngoài Tuy nhiên, giống như cuốn từ điển chưa hoàn thành của linh mục Gaspar d’Amaral, tác phẩm của Barbosa cũng đã bị "mất tích" và hiện không ai biết nó đã bị hủy hoại hay thất lạc ở đâu.

Linh mục Alexandre de Rhodes đã dựa trên những cuốn từ điển bị thất lạc để biên soạn cuốn Từ điển Việt-Bồ-La vào năm 1651, được xem là người sáng tạo ra chữ quốc ngữ Ông đã kế thừa thành quả của những người đi trước, trở thành người soạn thảo và in ấn những công trình đầu tiên về chữ quốc ngữ tại Việt Nam.

Trong quá trình hình thành chữ quốc ngữ, không chỉ có Alexandre de Rhodes mà còn nhiều cá nhân khác, bao gồm cả người Việt Nam, đã đóng góp quan trọng.

Mặc dù đã có những công trình phát triển chữ quốc ngữ, nhưng nó vẫn chưa được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Việt Nam Trong hơn 200 năm tiếp theo, chữ quốc ngữ chủ yếu chỉ được sử dụng trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo, phục vụ cho mục đích truyền đạo của các giáo sĩ, như dịch Kinh thánh và soạn thảo sách truyền đạo.

Trong suốt thời gian này, nhiều giáo sĩ phương Tây đã cố gắng hoàn thiện chữ quốc ngữ sơ khai do Alexandre de Rhodes sáng tạo Một trong những người nổi bật là Đức Giám mục Pierre Joseph Georges Pigneaux de Béhaine, được biết đến ở Việt Nam với tên gọi Bá Đa Lộc.

Sự ra đời của Đông Dương tạp chí

1.2.1 Chủ trương của Đ ông D ươ ng t ạ p chí

Đông Dương tạp chí, ra mắt lần đầu vào ngày 15 tháng, được thành lập trong bối cảnh xâm lược văn hóa của thực dân Pháp, với mục đích chính là phục vụ cho việc tuyên truyền của chính quyền thực dân Mục “Cẩn cáo” trong tạp chí này phản ánh rõ ràng ý đồ của thực dân trong việc kiểm soát thông tin và định hướng tư tưởng.

Vào năm 1913, một bản báo đã được in gấp do tình hình khẩn cấp, và trong số đầu tiên này, không kịp trình bày rõ ràng về chủ nghĩa và cách thức biên soạn Bản báo hứa hẹn sẽ cung cấp thông tin chi tiết trong các kỳ tiếp theo, bao gồm tổng hợp các sự kiện trong tuần, bài luận về thời sự, và thông tin kinh doanh Ngoài ra, bản báo cũng khuyến khích người dân An Nam sử dụng văn Quốc ngữ làm quốc văn và mở một chuyên mục Đăng văn cổ để phản ánh ý kiến của dân chúng lên chính phủ, nhằm truyền đạt những quan điểm cao đẹp của Nhà nước đến với nhân dân.

Trong số báo thứ 2 của Đông Dương tạp chí, phát hành ngày 22/5/1913, mục “Chủ-nghĩa” đã nêu rõ và cụ thể hơn tôn chỉ, mục đích của tạp chí.

Phổ biến văn hóa Tây phương và cổ động học chữ quốc ngữ là những mục tiêu quan trọng, bên cạnh việc giới thiệu kiến thức thực nghiệp như canh nông và công nghệ Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung nhận định rằng tất cả các mục tiêu của Đông Dương tạp chí đều tương đồng với phong trào Đông kinh nghĩa thục, ngoại trừ việc tuyên truyền cho chính phủ bảo hộ.

Chủ trương và mục tiêu của Đông Dương tạp chí đã được Phạm Thế Ngũ đúc kết như sau:

Tờ báo đóng vai trò là cơ quan tuyên truyền cho cuộc bảo hộ của Pháp, thông qua việc thông báo các công việc của nhà nước cho dân chúng Nó khuyến dụ người dân không nên làm loạn và tránh xa các phong trào cách mạng bạo động.

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức học thuật phương Tây bằng tiếng Nôm, giúp người An Nam tiếp cận giáo dục phổ thông mà không cần đến trường lớp chính quy Hình thức giáo dục này mang tính bách khoa, bao quát nhiều lĩnh vực từ nuôi dạy con cái, cải tạo đê điều, đến các phương pháp kinh doanh và phân tích tâm lý học phương Tây.

Chữ quốc ngữ được cổ động mạnh mẽ vì tính tiện lợi vượt trội so với chữ nho, giúp người An Nam dễ dàng tiếp cận thông tin Việc đọc báo quốc ngữ không chỉ giúp người biết chữ hiểu rõ nội dung mà còn cho phép cả những người không biết chữ cũng có thể nghe và hiểu Để khuyến khích việc học chữ quốc ngữ, báo quán không chỉ phát hành báo mà còn hứa tặng sách dạy quốc ngữ miễn phí cho độc giả, nhằm tạo điều kiện cho mọi người tự học và nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng.

Chủ trương chính trị nêu trên phù hợp với tinh thần bản tường trình của Sestier, một viên thanh tra người Pháp, khi ông đề xuất việc thành lập một tờ báo An-nam để cung cấp thông tin chính xác và bình luận hợp pháp về các sự kiện Điều này thể hiện rõ trong giai đoạn đầu của Đông Dương tạp chí, với các bài viết phản ánh thái độ không tích cực của Nguyễn Văn Vĩnh đối với phong trào yêu nước thời bấy giờ.

Trong số đầu tiên của tạp chí Đông Dương, Nguyễn Văn Vĩnh đã chỉ trích mạnh mẽ những người yêu nước đã thực hiện các vụ ném bom, dẫn đến cái chết của một số sĩ quan Pháp tại khách sạn Hà Nội.

Nguyễn Văn Vĩnh trong bài Gốc luận 18 đã chỉ trích những sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, gọi họ là “nguỵ Nho” và “vô công rồi nghề”, đồng thời bảo vệ những người Tây học Ông cho rằng việc học quá nhiều mà không có ứng dụng thực tiễn đã tạo ra những người “hữu tài vô dụng”, dẫn đến tình trạng xã hội bất ổn Những cuộc nổi dậy trước đó được cho là có liên quan đến sự ảnh hưởng của Tây học, khiến cho nhiều người không thể đạt được ước mơ và hoài bão của mình.

Bức thư ngỏ của Nguyễn Văn Hoàn gửi các nhà nghiên cứu Truyện Kiều ở miền Nam nêu rõ ý nghĩa của cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế, được đăng trong Nghiên cứu văn học, Hà Nội, số 12-1960.

Trong số 2 của tạp chí 18 Đông Dương, ngày 22-5-1913, có đề cập đến việc đảng ghét Lang Sa và xúc xiểm dân An-nam, gây ra sự loạn lạc Điều này là một sai lầm nghiêm trọng, và chúng tôi cho rằng cần phải làm rõ để Nhà nước nhận thức được những hành động điên cuồng của một số người có thể ảnh hưởng đến những người trung thành nhất với Lang Sa tại đây.

Chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh thể hiện sự giận dữ đối với những người tham gia vụ ném bom tại khách sạn Hà Nội và xu hướng ca ngợi chính quyền thuộc địa, phản ánh quan điểm chính trị của ông trong giai đoạn đầu hợp tác với người Pháp Ông cho rằng hành động bạo lực chỉ mang lại đổ máu vô ích và nếu có thành công, cũng chỉ duy trì chế độ vua quan hủ bại Vĩnh không tin rằng việc "theo Tây" sẽ dẫn đến mất nước.

"Thực dân không gây hại bằng chế độ phong kiến." Với tư duy thực tế và sự yêu thích khoa học, công nghệ, cùng với nền tự do dân chủ của phương Tây, ông đã thể hiện sự không ưa thích chế độ phong kiến Do đó, việc ông nhiệt tình ca ngợi chính sách "công khai hóa" của nhà nước bảo hộ là điều dễ hiểu.

Theo thời gian, số lượng bài viết tuyên truyền cho chính quyền trên Đông Dương tạp chí giảm dần, nhường chỗ cho các bài viết học thuật Từ năm 1915, tờ báo chuyển hướng chuyên sâu vào văn chương và sư phạm Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã từ bỏ các bài xã thuyết để tập trung vào dịch thuật.

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ

Ngày đăng: 17/05/2023, 17:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm