Bài tập lớn KTPT Bài tập lớn KTPT Đề 2 Ứng dụng lý thuyết lợi thế ngoại thương để phân tích chiến lược ngoại thương Việt Nam đã và đang áp dụng Anh/Chị hãy đưa ra dự báo/định hướng chiến lược ngoại th[.]
Trang 1Đề 2: Ứng dụng lý thuyết lợi thế ngoại thương để phân tích chiến lược ngoại thương Việt Nam đã và đang áp dụng Anh/Chị hãy đưa ra dự báo/định hướng chiến lược ngoại thương của Việt Nam trong vòng 10 năm tới.
Học viên: Hoàng Minh Hiếu
Lớp: CH 20Q
Chuyên nghành: QLKT & Chính sách
Nội Dung
I Lý thuyết chung.
1 Khái niệm ngoại thương
2 Lợi ích của thương mại quốc tế (ngoại thương)- lý giải từ các mô hình kinh tế.
II Ngoại thương Việt Nam những năm qua.
1 Những lợi thế và hạn chế trong phát triển ngoại thương của Việt Nam.
2. Ngoại thương của Việt Nam những năm qua
2.1 Tình hình ngoại thương thời kì 1975- 1986
2.1.1. Chiến lược phát triển ngoại thương thời kì 1975-1986
2.1.2 Thực trạng ngoại thương Việt Nam thời kì 1975-1986
2.1.3 Đánh giá ngoại thương Việt Nam thời kì 1975-1986
2.2. Tình hình ngoại thương thời kì 1986 đến nay
Trang 22.2.1 Chiến lược phát triển ngoại thương thời kì 1986 đến nay
2.2.2 Thực trạng ngoại thương Việt Nam thời kì 1986 đến nay
2.2.3 Đánh giá ngoại thương Việt Nam thời kì 1986 đến nay
III Triển vọng, định hướng, dự báo chiến lược ngoại thương Việt Nam trong 10
2 Mục tiêu phát triển ngoại thương của Việt Nam trong 10 năm tới.
3 Phương hướng phát triển ngoại thương Việt Nam trong 10 năm tới.
4 Một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện chiến lược phát triển ngoại
thương Việt Nam trong 10 năm tới.
Trang 3I Lý thuyết chung
1 Khái niệm ngoại thương.
Ngoại thương là sự trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hóa và các dịch vụkèm theo, lấy tiền tệ làm môi giới giữa các nước khác nhau
Ngoại thương là một trong những hoạt động chủ yếu của kinh tế đối ngoại củamột quốc gia Điều kiện để ngoại thương sinh ra rồn tại và phát triển là:
- Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ, kèm theo đó là
sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp
- Sự ra đời của Nhà nước và sự phân công lao động quốc tế giữa cácnước
2 Lợi ích của thương mại quốc tế( ngoại thương)- lý giải từ các mô hình kinh tế.
Adam Smith và Ricardo đều cho rằng thương mại quốc tế làm tăng trưởng kinh
tế do thực hiện chuyên môn hóa sản xuất và, khai thác lợi thế tương đối và tínhkinh tế nhờ quy mô
xuất-Thời gian cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm
Nước Quần áo Rượu Chi phí cơ hội để
sản xuất quần áotính theo rượu
Chi phí cơ hộ đểsản xuất rượu tínhtheo quần áo
Anh
Bồ Đào Nha
10090
12080
0.8331.125
1.200.888
Trang 4 Lợi ích của thương mại:
( biểu đồ trong phần 3 slide bài giảng)
Lợi ích từ thương mại và tăng trưởng trung hạn trong mô hình Solow ( nghiêncứu của Baldwin)
- Lợi ích từ thương mại giống như gia tăng công nghệ , tức là làm dịchchuyển đường hàm sản xuất lên trên
- Sự thay đổi này tạo ra 2 tác động:
Ngắn hạn: tăng từ y* đến y**
Trung hạn: tăng từ y** đến y***
- Không có sự tăng trưởng vĩnh viễn
- Muốn tăng trưởng vĩnh viễn phải liên tục tăng số lượng công nhân hiêuquả
( biểu đồ xem phần 3 slide bài giảng)
Lợi ích của thương mại của các nước khác nhau xuất nhập khẩu hàng hóa khácnhau( nghiên cứu của Mazumdar)
Đối với các nước phát triển: xuất khẩu hàng hóa vốn
- Sự tăng giá của hàng hóa vốn làm tăng chi phí thay thế vốn , do đó làmtriệt tiêu tác động tích cực của gia tăng sản xuất
- Tự do thương mại:f(k) dịch chuyển tới g(k)
mức vốn:k*
mức sản lượng tăng từ y* tới y** ( chỉ có ngắn hạn không có trunghạn)
( biểu đồ xem phần 3 slide bài giảng)
Đối với các nước đang phát triển: xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng
- Sự giảm giá của hàng hóa vốn làm giảm chi phí thay thế vốn, do đó làmgia tăng tác động tích cực của gia tăng sản xuất nhiều hơn so với trườnghợp của Baldwin
- Tự do thương mại:f(k) dịch chuyển tới g(k)
mức vốn:k* tăng tới k***
Trang 5 mức sản lượng tăng từ y* đến y****
( biểu đồ xem phần 3 slide bài giảng)
Thương mại quốc tế và tăng trưởng dài hạn _ mô hình của Adam Smith:chuyên môn hóa là nguồn gốc của tăng trưởng vĩnh viễn
( biểu đồ xem phần 3 slide bài giảng)
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh với thương mại quốc tế
- Mô hình hiệu ứng ngoại biên của tiến bộ công nghệ
- Học thông qua xuất khẩu_ “ learning by exporting”
- Thương mại quốc tế và mô hình R&D
II Chiến lược ngoại thương Việt Nam đã và đang áp dụng.
1 Những lợi thế và hạn chế trong phát triển ngoại thương của Việt Nam 1.1 Lợi thế về vị trí địa lý.
Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, là vùng có tốc độtăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới, bình quân mỗi nước ở khu vực nàymức tăng trưởng kinh tế đạt 6- 7 %/ năm Việt Nam nằm trên tuyến đườnggiao lưu hàng hải quốc tế ven biển nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiềucảng nước sâu tàu bè có thể cập bến an toàn quanh năm Sân bay Tân SơnNhất nằm ở vị trí lý tưởng
1.2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên
Về đất đai : diện tích đất đai cả nước khoảng 330.363Km2 trong đó có tới
50% là đất vào nông nghiệp và ngư nghiệp khí hậu nhiệt đới mưa nắng điềuhòa cho phép chúng ta phát triển nông lâm sản xuất xuất khẩu có hiệu quả caonhư gạo, cao su và các nông sản nhiệt đới Chiều dài bờ biển 3260km, diện tíchsông ngòi và ao hồ hơn 1triệu ha, cho phép phát triển ngành thủy sản xuất khẩu
và phát triển thủy lợi , vận tải biển và du lịch
Về khoáng sản: dầu mỏ hiện nay là nguồn tài nguyên mang lại nguồn thu
ngoại tệ đáng kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng và là nơi thu hút nhiềuvốn dầu tư nước ngoài Than đá trữ lượng cao, khoảng 3,6 tỷ tấn ; mỏ sắt với
Trang 6trữ lượng lớn vài trăm triệu tấn; cả ba miền Bắc Trung , Nam đều có nguồnclanh_ke để sản xuất xi măng dồi dào.
1.3 Lợi thế về lao động.
Đây là thế mạnh của nước ta, tính đến cuối năm 2011 dân số cả nước ướctính đạt 87,84 triệu người ( theo báo lao động ngày 30 tháng 12 năm 2011),đang trong thời kì “ dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động dồidào, chiếm khoảng hơn 50 triệu người( theo báo lao động ngày 5.7.2011) Laođộng dồi dào , giá nhân công rẻ khiến cho lao động là một lợi thế cơ bản đểphát triển các ngành hàng sử dụng nhiều lao động như dệt, may , chế biến nônglâm thủy sản, lắp ráp sản phẩm điện tử, điện…
1.4 Những hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển ngoại thương của Việt
Nam.
- Diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người của ta thấp so với bìnhquân của thế giới , chỉ khoảng 0,1ha/người Sản lượng lương thực có caonhưng trước hết phải đảm bảo nhu cầu của hơn 87 triệu dân nên không thể tạo
ra một nguồn tích lũy lớn cho những đòi hỏi cao hơn của sự phát triển kinh tế
Về tài nguyên tuy có phong phú nhưng phân bổ tản mạn Giao thông vận tảikém nên khó khai thác, trữ lượng chưa xác định và chưa có khoáng sản nào cótrữ lượng lớn để trở thành mặt hàng chiến lược Tài nguyên rừng, biển , thủysản bị khai thác quá mức mà không được chăm bồi
- Vị trí địa lý đẹp nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém, các hải cảng ít và nhỏ,đường sá và phương tiện giao thông ít và lạc hậu
- Trình độ quản lý kinh tế, xã hội kém, bộ máy chính quyền kém hiệu quả ,quan liêu, tham nhũng;chính sách , pháp luật không rõ ràng thiếu đồng bộ, lạihay thay đổi gây cản trở cho quá trình đổi mới kinh tế
- Trình độ quản lý của cán bộ và tay nghề của công nhân còn thấp cho nênnăng suất lao động thấp, chất lượng hàng hóa chưa cao
Trang 7- Công nghệ và trang thiết bị của nhiều ngành kinh tế Việt Nam còn ở trình
độ thấp, hàng hóa của Việt Nam chưa mang tính cạnh tranh trên thị trườngquốc tế
- Những năm đầu thế kỉ 21, trong xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam có nhiềuđiều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động kinh tế ngoại thương, tạo điều kiệncho đất nước hòa nhập với nền kinh tế thế giới Tuy nhiên còn nhiều trở ngạikhó khăn cho tiến trình này Việc đề ra một đường lối phát triển ngoại thươngphù hợp cho phép khai thác những lợi thế, hạn chế tối thiểu những trở ngạimang tính cấp bách và thiết thực
2 Chiến lược ngoại thương của Việt Nam.
2.1 Tình hình ngoại thương thời kì 1975-1986
2.1.1 Chiến lược phát triển ngoại thương thời kì 1975-1986.
Đặc điểm chung của ngoại thương giai đoạn này là chúng ta tiếp tục nhậnđược sự hợp tác và hỗ trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, Mỹ vàcác nước phương Tây thực hiện cấm vận kinh tế và phân biệt đối xử trên thịtrường quốc tế như ngưng viện trợ dầu tư, ngừng các khoản tín dụng đã camkết…đã gây cho ta nhiều khó khăn trong phát triển ngoại thương Ngoài ra,nguyên tắc Nhà nước đọc quyền về ngoại thương và các quan hệ kinh tế đốingoại khác được coi là nền tảng hình thành cơ chế quản lý và tổ chức hoạtđông ngoại thương lúc này đã kiềm chế sự phát triển
2.1.2 Thực trạng ngoại thương Việt Nam thời kì 1975-1986
Sau ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, cùng với công cuộcxây dựng nền kinh tế, phát triển đất nước, hoạt động ở lĩnh vực ngoại thương cónhững sự kiện đáng chú ý sau:
Trang 8Kết quả hoạt động ngoại thương của Việt Nam giai đoạn 1976-1985
Đơn vị tính : Triệu rup-USD
- Tháng 7/1978 nước ta gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế
- Ngày 18/4/1977, Chính phủ ta ban hành Điều lệ về đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam
2.1.3 Đánh giá ngoại thương Việt Nam thời kì 1975-1986.
Trong vòng 10 năm , từ 1976 đến 1985 chúng ta đã nhập siêu khoảng 10 tỷRúp- USD trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng năm chỉ đạt vài trăm triệu Rúp-USD Nếu so sánh với nhập khẩu, tỷ lệ xuất khẩu hàng năm chỉ đạt khoảng từ 21%đến 40%
2.2 Tình hình ngoại thương thời kì 1986 đến nay
2.2.1 Chiến lược phát triển ngoại thương thời kì 1986 đến nay.
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đường lối Đổi mới với ba trụ cột:
Trang 9(i) Chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang vận hành theo cơ
chế thị trường;
(ii) Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó khu vực dân doanh đóng
vai trò ngày càng quan trọng;
(iii) Chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới một cách hiệu quả và phù
hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam
Ngoại thương và hội nhập kinh tế quốc tế: Với chủ trương tích cực, chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước,các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng Việt Nam là thành viên quantrọng trong ASEAN, tích cực thực hiện các cam kết Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA), là thành viên tích cực của APEC, ASEM và nhiều tổchức kinh tế quốc tế khác Hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nền kinh
tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng đượccủng cố và mở rộng, Việt Nam đã ký hiệp định thương mại song phươngvới Mỹ, đang đàm phán hiệp định đầu tư với Mỹ, Hiệp định khung Đối tác
và Hợp tác toàn diện (PCA) với EU, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện vớiNhật Bản Tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), có quan hệ với trên 220 quốc gia và vùnglãnh thổ, đánh dấu sự hội nhập toàn diện và đầy đủ của Việt Nam vào nềnkinh tế toàn cầu
2.2.2 Thực trạng ngoại thương Việt Nam thời kì 1986 đến nay.
a Giai đoạn từ 1986 đến 2000:
Trang 10Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 1986 đến 200
Trang 11Cơ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu 1986-2000
Kết quả hoạt động ngoại thương của Việt Nam giai đoạn 1986 -2000.
Đơn vị : triệu USD
(Nguồn : niên giám thống kế qua các năm)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
kí(triệu USD)
Tổng số vốn thựchiên(triệu USD)
Trang 12(Nguồn: niêm giám thống kê qua các năm) tổng cục thống kê
b Giai đoạn từ 2001 đến nay( tập trung chủ yếu vào những năm gần đây)
Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam 6 tháng đầu năm giai đoạn 2005-2011
Một số thị trường nhập siêu chính của Việt Nam 6tháng/2011
Trang 13Một số thị trường xuất siêu chính của Việt Nam 6 tháng/2011
Trang 14Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo châu lục trong 6 tháng/2011
Thị trường
Kim ngạch (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
So với cùng
kỳ 2010 (%)
Kim ngạch (triệu USD)
Tỷ trọng (%)
Trang 16Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo các đối tác đầu tư chủ yếu.
(Nguồn:niên giám thống kê qua các năm; tổng cục thống kê)
2.2.3 Đánh giá ngoại thương Việt Nam thời kì 1986 đến nay
Trang 17- Nhập siêu vẫn còn nhưng nhờ tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao (so vớinhập khẩu xuất khẩu đã chiếm tỷ lệ từ 33,6% đến 101,5% so với nhập khẩuhàng năm) nên đã phần nào làm giảm khoảng cách giữa kim ngạch xuất khẩu
và nhập khẩu Ngoài ra , trong giai đoạn này, đầu tư nước ngoài vào lãnh thổnước ta và đầu tư trong nước gia tăng, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị vànguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân giatăng nhập siêu, nhưng điều đó lại cần thiết vô cùng cho sự phát triển
Giai đoạn 2001 đến nay:
Xuất nhập khẩu:
- Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm giai đoạn2001-2010 ở mức cao, đạt 19%/năm Quy mô xuất khẩu tăng từ 15 tỷ USDnăm 2001 lên 72,19 tỷ năm 2010, tăng hơn 4,7 lần Tỷ trọng kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam trên GDP tăng từ 46% năm 2001 lên 70% năm 2010 Mặthàng xuất khẩu ngày càng phong phú và đa dạng Nếu như năm 2004, ViệtNam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD thì đến hết năm 2010 đã
có 18 nhóm hàng, trong đó có 10 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷUSD và 8 nhóm hàng trên 2 tỷ USD Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã cómặt trên thị trường của 220 nước và vùng lãnh thổ
- Trong 10 năm qua, xuất khẩu đã đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăngtrưởng kinh tế bên cạnh các yếu tố khác là tiêu dùng, đầu tư và nhập khẩu[1].Tăng trưởng xuất khẩu cao và tương đối ổn định trong nhiều năm đã góp phần
ổn định kinh tế vĩ mô như hạn chế nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán quốc
tế và tăng dự trữ ngoại tệ Chính sách khuyến khích xuất khẩu trong giai đoạnvừa qua cũng đã góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn và pháttriển hệ sinh thái Khả năng đáp ứng các quy định về môi trường và an toàn vệsinh thực phẩm của nhiều nhóm hàng được nâng cao[2] Các phương pháp sảnxuất thân thiện môi trường ngày càng được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là trong
Trang 18sản xuất nông nghiệp và thủy sản Phát triển xuất khẩu đã góp phần tạo thêmviệc làm[3], tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với khu vực nôngthôn Phát triển xuất khẩu cũng đã có tác dụng tích cực trong việc nâng caotrình độ lao động, hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn vàthành thị, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa.
- Trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế, công nghệ nước ta còn thấp,chính sách nhập khẩu trong thời gian qua đã tạo thuận lợi để Việt Nam tiếp cậncông nghệ tiên tiến, giải quyết sự thiếu hụt về nguyên, nhiên liệu, máy mócthiết bị Nhập khẩu đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện trình
độ công nghệ của nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân Người tiêu dùngđược tiếp cận hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn và tốt hơn…
Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng 12/1987 đã tạokhuôn khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tạiViệt Nam Luật đã có một số lần được sửa đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửađổi vào những năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo môi trường đầu tư thôngthoáng, hấp dẫn hơn để khuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vàonhững mục tiêu trọng điểm và những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngànhcông nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu và các vùng kinh tế trọngđiểm của đất nước
- Cùng với Luật Doanh nghiệp, việc ban hành Luật Đầu tư 2005 đã tạo bướctiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến môi trường đầu tư của Việt Nam để tạothêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, việc đẩy mạnhtháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửathuế thu nhập cá nhân theo hướng hạ thấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện
cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ viễn thông xuống ngang bằng mức giá tại
Trang 19các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng lĩnh vực đầu tư, chophép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào một số lĩnh vực trước đâychưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu thị, ngân hàng…cũng góp phần tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn ở Việt Nam.
- FDI vào Việt Nam tăng nhanh còn do các nguyên nhân quan trọng khácnhư: sự ổn định về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế ViệtNam liên tục đạt mức tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chếthị trường tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân đượcnâng cao góp phần làm tăng mức cầu nội địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tạiViệt Nam trên các thị trường thế giới ngày càng được nâng cao
- Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được một lượng đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng lớn Từ ở mức gần như con số khôngvào năm 1986, vốn đăng ký FDI đã tăng lên 64 tỷ USD năm 2008 Việt Namhiện có 10.700 dự án đầu tư trực tiếp của 90 quốc gia và vùng lãnh thổ đanghoạt động với tổng số vốn đầu tư gần 170 tỉ USD FDI tăng không chỉ hứa hẹnmang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài, mà còn đóng vai tròquan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ và phươngthức kinh doanh hiện đại, khai thác các tiềm năng của đất nước, đào tạo taynghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội Việt Nam
b Tồn tại:
Xuất nhập khẩu
- Xét về tổng thể tuy đã đạt được nhiểu thành tựu đáng khích lệ nhưng hoạtđộng xuất khẩu vẫn còn khá nhiều mặt tồn tại và bất cập
Trang 20- Xuất khẩu của ta còn khá nhỏ bé so với một sô nước trong khu vực, xét cả
về tổng kim ngạch lẫn kim ngach tính theo đầu người
- Tuy chủng loại hàng hóa xuất khẩu đã đa dạng hơn nhưng nhìn chung thìdiện mặt hàng vẫn còn khá đơn điệu dẫn đến sự phụ thuộc quá mạnh vào một
số mặt hàng chủ lực
- Sự thay dổi cơ cấu hàng xuất khẩu là tích cực nhưng phải là những thay đổitheo chiều sâu Có thể nhận thấy việc dịch chuyển cơ cấu diến ra chủ yếu lànhờ tăng nhanh kim ngach của 4 nhóm hàng chính là dệt may, giày dép, sảmphẩm gỗ tinh chế và điện tử Hơn nữa Việt Nam chưa tạo đươc những ngànhcông nghiệp gắn kết với nhau để cùng hướng về xuất khẩu và tạo ra giá trị giatăng ngày càng lớn
- Một số mặt hàng đã có chỗ đứng trên thì trường thế giới nhưng nhìn chungsức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn yếu ( giá thànhcao, chất lượng không ổn định , mẫu mã chủng loại nghèo nàn, bao bì kém hấpdẫn, khả năng giao hàng không chắc chắn, dịch vụ hậu mãi kém )
- Tóm lại những tồn tại và bất cập trong hoạt động xuất khẩu như đã nêutrên có mối liên quan chặt chẽ đến nhau vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả củanhau Trong thời gian tới, để đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa thì đòi hỏi nhữngbất cập này phải được xử lý một cách dứt khoát
Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI):
- Cơ cấu phân bổ vốn FDI vào Việt Nam hiện nay còn chưa hợp lý Hiện tại
lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư vốnFDI nhất (với 8,8 tỉ USD vốn cấp mới và tăng thêm) Trong đó, có 32 dự áncấp mới (tổng vốn đầu tư là 4,9 tỉ USD) và 8 dự án tăng vốn (với số vốn tăngthêm là 3,8 tỉ USD) Đứng thứ 2 là lĩnh vực bất động sản (7,6 tỉ USD vốn đăng
ký mới và tăng thêm), với nhiều dự án quy mô lớn được cấp phép như khu du
Trang 21lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty trách nhiệm hữu hạnmột thành viên Galileo Investment Group Việt Nam… Lĩnh vực công nghiệpchế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký đứng thứ 3 trong năm 2009 (với 2,97
tỉ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỉ USD đăng ký mới và 749 triệu USDvốn tăng thêm) Với cơ cấu vốn FDI như thế thì rõ ràng FDI vào lĩnh vực côngnghệ chế tạo và chế biến đã bị giảm liên tục từ năm 2005 (70,4% năm 2005xuống 68,9% năm 2006, 51% năm 2007, 36% năm 2008 và còn 13,6% năm2009) Không những thế, trong lĩnh vực này, vốn đầu tư chủ yếu tập trung vàocông nghiệp lắp ráp nhằm tận dụng lao động rẻ, có giá trị gia tăng thấp Trongkhi đó, đầu tư vào khai thác tài nguyên và bất động sản tăng lên Vốn FDI đầu
tư vào khai thác mỏ đã tăng từ 0,8% năm 2005 lên 1,2% năm 2006 và lên tới18,5% năm 2008; đầu tư vào khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng cũng tăng
từ 0,9% năm 2005 lên tới 15,1% năm 2008 Song, đầu tư vào lĩnh vực nông,lâm nghiệp và thủy sản vốn dĩ đã ít lại đang có xu hướng giảm (năm 2006chiếm khoảng 6% tổng vốn đăng ký, nhưng đến tháng 11-2008 chưa đạt tới1%) Một cơ cấu đầu tư như vậy hoàn toàn khó có thể bảo đảm cho quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng bền vững
- Ngoài ra, một hạn chế khác của nguồn vốn FDI vào Việt Nam là, loại trừnăm 2009, trong các năm khác, tỷ lệ vốn thực hiện đạt được của nước ta cònrất thấp (năm 2007 đạt 38%, năm 2008 chỉ đạt 17% so với vốn đăng ký), phảnánh khả năng tiếp nhận nguồn vốn này của Việt Nam còn thấp
- Về địa bàn đầu tư, mặc dù nguồn vốn FDI đã phân bổ ở nhiều địa phương
mới và có sự dịch chuyển từ các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam sang các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, duyên hải miềnTrung,… song những ưu đãi đối với các dự án ở những địa bàn khó khăn, vùngsâu, vùng xa dường như vẫn chưa phát huy được hiệu quả Chẳng hạn, năm