Câu 1 Trình bày bản chất, vai trò và nội dung của Thương mại dịch vụ trong nền kinh tế thị trường Bài tập Kinh Tế Thương Mại Dịch Vụ GVHD PGS TS Phan Tố Uyên Mục lục 2Câu 1 Trình bày bản chất, vai trò[.]
Trang 1Mục lục
Câu 1: Trình bày bản chất, vai trò và nội dung của Thương mại dịch vụ trong
nền kinh tế thị trường? 2
1.1.Vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế 2
1.2.Bản chất của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế 5
Câu 2:Thực trạng thương mại Việt Nam từ năm 2007 đến nay 10
Lời Mở Đầu 10
I.Thực trạng thương mại Việt Nam từ năm 2007 đến nay 11
1.1.Những thành tựu thương mại đạt được từ năm 2007 đến nay 11
1.1.2.Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2007 đến nay 14
1.2.Những tồn tại của thương mại từ năm 2007 15
1.3 Nguyên nhân của những tồn tại đó 19
II Giải pháp thúc đẩy phát triển thương mại Việt Nam 22
2.1 Giải pháp từ phía nhà nước 22
2.2.Giải pháp từ phía doanh nghiệp 26
2.3.Đề xuất của bản thân 27
KẾT LUẬN 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 2Câu 1: Trình bày bản chất, vai trò và nội dung của Thương mại dịch vụ trong nền kinh tế thị trường?
1.1.Vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế.
Trong thời đại ngày nay, thương mại dịch vụ có một ví trí ngày càngquan trọng trong buôn bán toàn cầu và trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia,đặc biệt là các quốc gia phát triển ở nhiều nước, một số ngành dịch vụ đượcxem là ngành kinh tế có vị trí mũi nhọn, ngành công nghiệp không ốngkhói Theo thống kê của WTO, tổng giá trị thương mại dịch vụ của nhữngnăm đầu thế kỷ XI đã tăng gấp 4 lần so với tổng giá trị thương mại dịch
vụ năm 1980 Giá trị thương mại dịch vụ năm 2002 đạt 2.900 tỷ USD,chiếm 20% tổng giá trị thương mại thế giới (1) ở các nước phát triển, cácngành dịch vụ chiếm tỷ trọng khoảng 60-70% GNP, như Anh, Pháp, Đứckhoảng 65%, riêng Hoa Kỳ chiếm gần 80%, và ở các nước đang phát triển
tỷ trọng này cũng chiếm khoảng 50% Mỹ, EU và Nhật Bản là những quốcgia có sức cạnh tranh cao trong các ngành dịch vụ, đặc biệt là tài chính, viễnthông, vận tải Các nước này đang tăng cường vị trí của mình trong thươngmại dịch vụ nhiều hơn thương mại hàng hóa Với vị trí đó, thương mại dịch
vụ đã đem lại những vai trò đặc biệt quan trọng cho các quốc gia trong thờiđại ngày nay, cụ thể:
- Thương mại dịch vụ có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào GNP của nền kinh tế các quốc gia.
Vai trò của thương mại dịch vụ với tăng trưởng kinh tế không những thểhiện ở sự tăng trưởng nhanh chóng của bản thân những ngành dịch vụ màvai trò này còn thể hiện ở việc thúc đẩy, hỗ trợ các ngành kinh tế kháctrong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là vai trò của các ngành dịch vụ nhưbưu chính - viễn thông, tài chính - ngân hàng, giao thông - vận tải… Với khảnăng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đó, những đóng góp của thương mại dịch
Trang 3vụ vào GNP cũng ngày càng được khẳng định Theo WTO, giai đoạn1980-2002, hàng năm bản thân thương mại dịch vụ trên thế giới có tốc độtăng trưởng bình quân 9%, cao hơn tốc độ tăng 6% của thương mại hànghóa Về đầu tư, khoảng 60% giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nayđầu tư vào lĩnh vực dịch vụ
- Vai trò của thương mại dịch vụ với tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế, cải thiện cán cân thương mại của các quốc gia.
Xu thế tự do hóa thương mại không chỉ còn diễn ra ở lĩnh vực thương mạihàng hóa, mà tự do hóa thương mại dịch vụ cũng đang từng bước mở ra.Hiện nay, các nước phát triển đang chú trọng vào phát triển và tìm cơ hộixuất khẩu ở các ngành dịch vụ như tài chính, viễn thông, y tế và giáo dục.Các nước này thường thu được lợi ích rất cao nhờ vào những ngành dịch
vụ và thường gây sức ép đòi hỏi các nước mở cửa hơn đối với thịtrường này Mặc dù các nước đang phát triển và chậm phát triển thường
có nhiều bất lợi khi mở của thị trường dịch vụ, song họ cũng đang khaithác những lợi thế so sánh của mình để hội nhập và cải thiện cán cânthương mại thông qua các ngành dịch vụ như du lịch, xuất khẩu lao động
- Vai trò của thương mại dịch vụ với việc thúc đẩy phân công lao động
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phâncông lao động xã hội, các ngành dịch vụ mới không ngừng ra đời và pháttriển nhanh chóng Do vậy, lĩnh vực dịch vụ đã ngày càng chiếm tỷtrọng cao trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Đồng thời, một sốngành dịch vụ ra đời đã thúc đẩy tích cực trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữacác vùng, giữa các quốc gia, đưa đến xu thế phân bổ nguồn lực theo nguyên
lý cân bằng hiệu quả cận biên (Marginal Efficiency) Những tác động đó
đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phạm vi từng quốc gia, cũng như trên
Trang 4phạm vi toàn thế giới phù hợp với lợi thế so sách của từng vùng và từngquốc gia.
- Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc tạo ra công ăn việc làm cho
xã hội.
Một mặt, qui mô của lĩnh vực dịch vụ ngày càng được mở rộng sẽđem lại công ăn việc làm ngày càng nhiều cho xã hội Mặt khác, đối vớimột số ngành dịch vụ, sự phát triển nó sẽ đem lại số lượng công ăn việclàm mới cả về số tương đối và tuyệt đối Đây là những lĩnh vực dịch vụ cócấu tạo hữu cơ mà việc sử dụng lao động sống có xu hướng tăng nhanhhơn lao động vật hóa Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốcgia phát triển, tỷ trọng lao động của các ngành dịch vụ chiếm khoảng 60-70% công ăn việc làm trong xã hội Chỉ tính riêng ngành du lịch, năm 2002
đã thu hút khoảng 204 triệu lao động trên toàn thế giới (ước tính cứ 9 laođộng thì có 1 lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch), chiếm khoảng10,6% lực lượng lao động thế giới
- Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Trước hết, xuất phát từ những vai trò của thương mại dịch vụ nói trên
mà nó đã góp cải thiện tích cực thu nhập cho xã hội và người lao động.Theo đó việc cải thiện thu nhập được xem là một yếu tố quan trọng chophép con người nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Mặt khác, thực tếngày nay ở hầu hết các quốc gia thì chất lượng cuộc sống đang phụ thuộcchủ yếu vào khả năng thỏa mãn nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ, đặcbiệt là
các dịch vụ liên quan đến chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí, giải trí hay phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
Trang 5Ngoài ra, thương mại dịch vụ còn đóng vai trò quan trọng trongviệc tăng cường giao lưu văn hóa, chuyển giao công nghệ…
1.2.Bản chất của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế
a Tính đặc thù về đối tượng trao đổi trong thương mại dịch vụ
Sự khác biệt rõ nhận thấy nhất giữa thương mại hàng hóa và thươngmại dịch vụ chính là ở đối tượng của hoạt động trao đổi Trong thươngmại hàng hóa đối tượng trao đổi là các sản phẩm vật thể còn trong thươngmại dịch vụ chúng là các sản phẩm phi vật thể Mặc dù có sự khác biệtnhưng dịch vụ và hàng hóa vẫn có những điểm giống nhau:
Là sản phẩm của lao động vì vậy dich vụ mang giá trị Trong trao đổigiá trị dịch vụ thể hiện thông qua giá cả thị trường Dịch vụ cũng có giá trị sửdụng, giá trị sử dụng của dịch vụ hay công dụng của chúng chính là các lợiích mà người tiêu dùng nhận được và thỏa mãn khi tiêu dùng chúng
Vì dịch vụ vô hình nên so với hàng hoá chúng khó thương mại hoáhơn, điều này lý giải vì sao cho mãi đến thập niên 70 các nhà kinh tế học
vẫn cho rằng: “ngành dịch vụ là tập hợp chủ yếu của những hoạt động phi thương mại” (theo UNCTAD) Cũng chính vì thế mà cho đến nay tỷ trọng
của các ngành dịch vụ trong GDP khá cao nhưng giá trị kim ngạch dịch vụcho xuất khẩu hoặc trao đổi là tương đối nhỏ Đối với các nước phát triển
tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP chiếm khoảng hai phần banhưng kim ngạch thương mại dịch vụ trong nền kinh tế chỉ chiếm khoảngmột phần năm (theo Service Economy)
Vì dịch vụ vô hình nên khi xẩy ra mất cân đối cung cầu theo thờigian người ta không dự trữ chúng lại trong các kho hoặc nếu có sự mấtcân đối cung cầu theo không gian người ta không thể điều hoà bằng cáchvận chuyển chúng từ nơi này qua nơi khác bằng các phương tiện vận tảinhằm điều tiết cung cầu như trong trường hợp thương mại hàng hoá
Trang 6Trong thương mại dịch vụ để thoả mãn đòi hỏi của khách hàngngười ta luôn phải đảm bảo sự sẵn sàng cung ứng tại nơi và thời điểm màthị trường có nhu cầu Mâu thuẫn là ở chỗ cầu về dịch vụ thường có tínhđàn hồi cao và mang tính thời vụ lớn trong khi cung dịch vụ lại có tính
“cứng” Điều này dẫn tới những mâu thuẫn về cung cầu Đây là bài toánnan giải trong nhiều ngành dịch vụ Ví dụ: khả năng truyền tải mạng điệnthoại di động hay mạng Internet thì có hạn nhưng cầu lại biến động vàmang tính thời vụ rất cao nên thường xẩy ra tình trạng “quá tải” do cónhiều người cùng sử dụng vào những giờ cao điểm hoặc ngược lại cónhững lúc lại có rất ít người sử dụng như ban đêm hay ngày nghỉ cuốituần
b Tính đặc thù về các phương thức cung cấp trong thương mại dịch vụ
Do những đặc trưng của sản phẩm dịch vụ nên các giao dịch trongthương mại dịch vụ giữa người mua, người bán thường đòi hỏi phải có sựtiếp xúc trực tiếp Trao đổi các dịch vụ có thể xảy ra trong các trường hợpsau: dịch vụ được chuyển dịch trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêudùng (trong thương mại hàng hóa hoạt động trao đổi này là phổ biến thìtrong thương mại dịch vụ chỉ có một số ít dịch vụ được thực hiện theocách này Ví dụ như chuyển tiền qua ngân hàng…) Các trường hợp giaodịch phổ biến trong lĩnh vực dịch vụ là: nhà cung cấp dịch vụ dịchchuyển đến nơi có người tiêu dùng (ví dụ các bác sỹ đến khám bệnh tạinhà) hoặc người tiêu dùng di chuyển đến nơi có nhà cung cấp dịch vụ (ví
dụ bệnh nhân đến bệnh viện để khám, chữa bệnh) hoặc nhà cung cấp dịch
vụ và người tiêu dùng cùng di chuyển đến một địa điểm thứ ba, ví dụ: mộtdoanh nghiệp của Pháp mở bệnh viện ở Việt Nam (bệnh viện Việt Pháp) đểkhám, chữa bệnh cho một bệnh nhân đến từ Nhật Bản
Trang 7Trong buôn bán quốc tế dịch vụ được cung cấp giữa các quốc gia theo một trong bốn phương thức sau:
- Phương thức 1: di chuyển qua biên giới của các sản phẩm dịch vụ (các
dịch vụ có thể truyền qua phương tiện viễn thông như chuyển tiền quangân hàng)
- Phương thức 2: di chuyển của người tiêu dùng sang nước khác( khách du
lịch sang thăm một nước khác)
- Phương thức 3: thiết lập hiện diện thương mại tại một nước để cung cấp
dịch vụ (thành lập chi nhánh hay công ty con ở nước ngoài)
- Phương thức 4: di chuyển tạm thời của thể nhân sang một nước khác để
cung cấp dịch vụ tại đó (các luật sư hay bác sỹ di chuyển đến nước khác đểlàm việc)
c Tính liên ngành của các dịch vụ
Lĩnh vực dịch vụ có một đặc điểm nổi bật là sự liên kết cao giữa cácngành và phân ngành dịch vụ Một mặt, sự phát triển của mỗi ngành kinhdoanh dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào các ngành dịch vụ khác như là cácyếu tố đầu vào Mặt khác do tính chất của nhiều loại nhu cầu của dịch
vụ mà sự thoả mãn chúng đòi hỏi sản phẩm dịch vụ không chỉ là nhữngdịch vụ riêng lẻ mà chúng như là một tổ hợp gồm nhiều dịch vụ có tínhchất bổ sung lẫn nhau Để tạo ra một sản phẩm dịch vụ loại này phải là
sự liên kết và phối hợp hoạt động của nhiều ngành dịch vụ khác nhaucùng tạo ra và cung ứng các dịch vụ (ví dụ như sản phẩm du lịch)
d Tính đa dạng cúa các loại hình dịch vụ
Dịch vụ là lĩnh vực rất rộng, đa dạng về quy mô và tính chất kinhdoanh Bên cạnh một số ngành dịch vụ quy mô kinh doanh lớn: vốn đầu
tư lớn, công nghệ hiện đại, lao động chuyên môn cao như dịch vụ viễnthông, dịch vụ tài chính, dịch vụ hàng không, vận tải biển, vận tải đường
Trang 8sắt… còn có vô số những ngành dịch vụ kinh doanh nhỏ, linh hoạt, phân tán, lao động giản đơn, thích hợp với loại hình kinh doanh nhỏ, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ Những ngành dịch vụ này tồn tại khách quan do
nhu cầu đời sống như trông xe, giữ trẻ, xe ôm, giúp việc gia đình… cho dù
sự phát triển ở trình độ nào của nền kinh tế thì chúng vẫn tồn tại như làmột bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế xã hội và vai trò củachúng không nhỏ, nhất là trong việc thỏa mãn nhu cầu muôn màu,muôn vẻ của đời sống xã hội và tạo công ăn việc làm cho dân cư
Sự đa dạng về vai trò của dịch vụ đối với đời sống và sản xuất: có
nhiều ngành dịch vụ là những ngành quan trọng cung cấp yếu tố đầu vàocủa sản xuất kinh doanh và trình độ của những ngành dịch vụ này có ảnhhưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ của quốc gia ví
dụ dịch vụ vận tải, dịch vụ viễn thông…Nhiều ngành dịch vụ khôngchỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất mà cả nhu cầu sinh hoạt của dân cư như dịch
vụ điện thoại Ngoài ra có một số dịch vụ hoàn toàn chỉ đáp ứng nhu cầusinh hoạt của dân cư
e Tính chất nhạy cảm về tác động của dịch vụ với đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường
Thương mại dịch vụ là lĩnh vực hoạt động kinh tế có sự phụ thuộcchặt chẽ và đặc biệt nhậy cảm vấn đề chính trị, an ninh, quốc phòng.Ngược lại, cũng là lĩnh vực mà hoạt động của chúng có tác động rất phứctạp và khó dự báo đối với đời sống xã hội
1.3.Nội dung của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế
Thương mại dịch vụ là một khái niệm phân biệt với khái niệm thươngmại về hàng hoá Nếu thương mại hàng hoá về cơ bản là mua bán các sảnphẩm hữu hình, thì thương mại dịch vụ về cơ bản là trao đổi về các sản
phẩm vô hình “Bất kỳ thứ gì mua bán trong thương mại mà không thể rơi
Trang 9vào chân bạn đó là dịch vụ”.Trên thị trường dịch vụ được cung cấp thông
qua các phương thức khác nhau để đổi lấy tiền công trả cho việc cung cấpcác dịch vụ đó
Dịch vụ có thể được cung cấp trên thị trường như một sản phẩm độclập (ví dụ cung cấp một khoá học tiếng anh), một số trường hợp chúngđược cung cấp nhu một tập hợp nhiều dịch vụ riêng lẻ có tính chất bổ sunglẫn nhau (ví dụ một tour du lịch bao gồm: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưutrú, dịch vụ nhà hàng…), trường hợp khác chúng phải đi kèm cùng với cácsản phẩm hàng hoá (ví dụ các dịch vụ nhà hàng luôn đi kèm với thức ăn,
đồ uống).Cần lưu ý rằng không phải bất kỳ sự cung ứng dịch vụ nào trong
xã hội cũng có tính thương mại Thương mại dịch vụ chỉ bao gồm nhữnghoạt động mua bán và trao đổi nhằm vào mục đích lợi nhuận
Vậy thương mại dịch vụ là toàn bộ những hoạt động cung ứng dịch
vụ trên thị trường thông qua mua bán nhằm mục đích lợi nhuận.
Trang 10
Câu 2:Thực trạng thương mại Việt Nam từ năm 2007 đến nay
Lời Mở Đầu
Ngày 11-1-2007 là một dấu mốc hết sức quan trọng trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế của nước ta: Việt Nam chính thức trở thành thành viênthứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựngChiến lược hội nhập kinh tế quốc tế Ðể thực hiện các cam kết khi gia nhậpWTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướngminh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật
để thực hiện các cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ,cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các
cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập
Mặc dù chúng ta đã thực hiện nhiều cải cách về thương mại trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, nhiều vấn đề còn cần được tiếp tụcxem xét như việc liên kết doanh nghiệp và Chính phủ trong việc hoàn thiệnchính sách thương mại quốc tế; phát huy vai trò của khu vực kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài trong việc thực hiện chính sách; và cách thức vận dụng cáccông cụ của chính sách thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Chính sách thương mại phải được hoàn thiện để vừa phù hợp với các chuẩnmực thương mại quốc tế hiện hành của thế giới, vừa phát huy được lợi thế sosánh của Việt Nam
Vì vậy, việc xem xét và điều chỉnh chính sách thương mại của ViệtNam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cho phù hợp với điều kiện, hoàncảnh mới của đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp phần đưaViệt Nam hội nhập thành công và đạt được mục tiêu về cơ bản trở thànhquốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020
Trang 11I.Thực trạng thương mại Việt Nam từ năm 2007 đến nay
1.1.Những thành tựu thương mại đạt được từ năm 2007 đến nay
1.1.1.Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam
a Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu
Tốc độ tăng trưởng của ngoại thương Việt Nam khá cao qua các năm(trung bình trên 20% năm) và cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất xã hội(cao hơn khoảng 2-3 lần) Điều đó làm cho quy mô của kim ngạch xuất nhậpkhẩu cũng tăng lên nhanh chóng, có thể thấy rõ điều này qua bảng số liệu dướiđây Những thành quả trên đạt được là do chính sách mở cửa của Đàng và Nhànước ta trong những năm qua
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất – nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010
Trang 12Nguồn:Tổng Cục Thống Kê((đơn vị: tỷ USD)
Thị trường trong hoạt động ngoại thương của Việt Nam ngày càng mởrộng và đã chuyển mạnh từ đơn thị trường ra thành đa thị trường Trước năm
1986 thị trường chủ yếu của ta là Liên Xô và Đông Âu (chiếm khoảng 80% kimngạch xuất khẩu).Từ năm 1987 với chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà Nướctheo hướng đa phương hoá trong quan hệ bạn hàng đa dạng hoá trong các lại sảnphẩm như hiện nay Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 165 quốc gia trênthế giới, trong đó ký hợp đồng thương mại song phương với 72 nước Các bạnhàng lớn nhất của Việt Nam hiện nay là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc,Singapore, Trung Quốc, Mỹ, EU Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên củaWTO đang và sẽ giúp nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng trong thời gianqua và những năm tới
Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước xây dựng những mặt hàng quy mô lớnđược thị trường thế giới chấp nhận: dầu khí, gạo, thuỷ sản, dệt may, giày dép…Việc xây dựng những mặt hàng trên cho phép chúng ta khai thác những lợi thế
so sánh của nền kinh tế trong phân công lao động và hợp tác quốc tế
Nền ngoại thương Việt Nam đã chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá tập trungquan liêu bao cấp sang cơ chế hoạch toán kinh doanh, phát huy quyền tự chủ chocác doanh nghiệp, chuyển từ việc vay nợ nước ngoài để nhập khẩu là chủ yếusang đầy mạnh xuất khẩu để lấy kim ngạch xuất khẩu trang trải cho nhập khẩu,nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động ngoại thương
Cùng với qua trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, sự tham gia vào các định chế kinh tế quốc tế và đàm phán gia nhập các tổ chức kinh
tế khu vực và toàn cầu, cơ chế chính sách của Việt Nam đã được đổi mới mạnh
mẽ theo hướng tăng tự do hoá thương mại đầu tư, giảm thiểu mức can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực buôn bán quốc tế Điều đó đóng góp thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương Việt Nam
b Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu
Trang 13 Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:
Hàng dầu thô và than đá đã chiếm 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
cả nước Khối lượng xuất khẩu dầu thô giảm nhẹ trong năm cả về số lượng vàtrữ lượng Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khicông tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiềutiến triển
Nhóm hàng nông lâm thủy sản
Trong năm 2010-2011 giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên.Đây là những mặt hàng chịu nền tác động của thị trường thế giới
Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thỷ sản trướcnhững thời cơ và thách thức mới
Nhóm hàng chế biến
Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực: dệt may,giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹnghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm:
Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thựcphẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xâydựng, sản phẩm gỗ
Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến dệt may, dagiày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phảinhập khẩu từ nước ngoài Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩuchưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp
đồng Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công
c Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu
Các thị trường xuất khẩu chủ yếu:
Các thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo tứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN,Nhật Bản, Trung Quốc, Australia Trong giai đoạn 2001-2007, kim ngạch
Trang 14xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuấtkhẩu vào EU tăng 2.8 lần , vào Nhật là 2.3 lần và ASEAN là 2.8 lần Đángchú ý nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ.
Định hướng xuất khẩu Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăngxuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang cácnước Châu Á
Các thị trường nhập khẩu chủ yếu:
Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực ĐôngÁ: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản , Hàn Quốc, Thái Lan,Malaysia, Hồng Kông Trong chính sách về thị trường nhập khẩu, định hướngđưa ra là giảm thị trường nhập khẩu từ các nước Châu Á xuống còn 55% vàonăm 2010
Các đối tác xuất khẩu chủ yếu là các thị trường có công nghệ nguồn,trong khi các đối tác nhập khẩu chủ yếu là các thị trường không có công nghệnguồn
1.1.2.Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2007 đến nay
a.Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu:
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trưởng khá nhanh và vững chắctrong thời gian 2001 - 2008 Trong thời gian 2001 - 2007, xuất khẩu hàng hóacủa Việt Nam tăng với tốc độ trung bình hằng năm là 18,89%, cao hơn so vớitốc độ kế hoạch đề ra cho giai đoạn 2001 - 2005 là 16% (theo mục tiêu chiếnlược xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2010) và cao hơn mức tăng trưởng 18%theo chỉ tiêu kế hoạch đề ra của xuất khẩu năm 2006 và 2007
Do tốc độ xuất khẩu hàng hóa tăng cao đã đưa quy mô xuất khẩu hànghóa tăng gấp 3,35 lần trong khoảng thời gian 7 năm qua Đây là một trongnhững mức tăng xuất khẩu nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa theo đầu người cũng tăng nhanh Nếu
Trang 15năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa theo đầu người mới chỉ là 186 USDthì đến năm 2007 đã tăng lên mức 569 USD, tức là tăng gấp 3,05 lần
Trang 16b.Về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu:
Trong thời gian qua, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có nhiều chuyển biến tích cực Sản phẩm xuất khẩu đa dạng, phong phú hơn Cơ cấu hàng xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng dần các sản phẩm chế biến, giảm dần sản phẩm thô, nguyên liệu
c.Về chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu liên tục được mở rộng và đa dạng hóa, nhất là đãđột phá xuất khẩu thành công vào thị trường Mỹ và duy trì được thị phần trênthị trường lớn nhất thế giới này
Xuất khẩu hàng hóa đã huy động ngày càng đông đảo các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế tham gia Đặc biệt, các doanh nghiệp FDI vàcác doanh nghiệp xuất khẩu không thuộc khu vực kinh tế nhà nước đang trởthành động lực chính cho xuất khẩu Các doanh nghiệp FDI đang đóng gópquan trọng nhất cho xuất khẩu với việc khai thông thị trường, phát triển cácmặt hàng chế biến, chế tạo cho xuất khẩu (điện tử, bản mạch máy tính )
Tăng trưởng xuất khẩu thời gian qua đã thực sự trở thành động lực thúcđẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luôn caotrong thồi gian qua ,xuất khẩu đã thực sự trở thành một động lực của tăngtrưởng kinh tế Việt Nam, góp phần tạo việc làm cho hàng triệu lao động vàcải thiện thu nhập cho hàng triệu nông dân và các lao động khác nhờ tham giaxuất khẩu hàng nông sản, hàng dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ vàcác hàng hóa khác
1.2.Những tồn tại của thương mại từ năm 2007
Quy mô xuất nhập khẩu còn quá nhỏ bé so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam còn trong tình trạng lạc hậu, chất lượng thấp, mặt hàng manh mún, sức cạnh tranh yếu (gần 40% kim