1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai Tap Thoa Luan Thu 5 Trach Nhiem Dan Su Boi Thuong Hop Dong Luat Dan Su Ts Le Ha Huy Phat University Of Law.docx

11 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách nhiệm dân sự, vi phạm hợp đồng
Người hướng dẫn Lê Hà Huy Phát
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thể loại Bài tập thảo luận
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 77,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA THƯƠNG MẠI LỚP TM40A2  Môn Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Giảng viên phụ trách Lê Hà Huy Phát BÀI TẬP THẢO LUẬN THỨ 5 Trá[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA THƯƠNG MẠI

LỚP TM40A2



Môn: Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Giảng viên phụ trách: Lê Hà Huy Phát

BÀI TẬP THẢO LUẬN THỨ 5

Trách nhiệm dân sự, vi phạm

hợp đồng

Tên SV: Dụng Nhật Khoa

MSSV: 1553801011152

Nhóm 5

Trang 2

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 5: TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG.

Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra

1/ Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật VN? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Theo Điều 303 Luật thương mại về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;

2 Có thiệt hại thực tế;

3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Những thay đổi của BLDS 2015 với BLDS 2005

Thêm điều khoản loại trừ trong trường gây thiệt hại phải bồi thường:

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định khác

- Quy định lại trường hợp không phải chịu trách nhiệm BTTH:

Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm BTTH trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

- Bổ sung quy định sau:

Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm BTTH, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định nêu trên

2/ Toà án đã buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình những khoản thiệt hại nào? Nêu rõ đoạn của bản án liên quan đến từng khoản thiệt hại được bồi thường

Bitexco phải bồi thường số tiền mà bà Bình đã thanh toán căn hộ AE305 cho Bitexco Bên cạnh đó, công ty Bitexco phải bồi thường tiền thuê nhà trong lúc bà Bình

chờ sửa chữa căn hộ AE305 Đoạn “ Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất kinh doanh

xuất nhập khẩu Bình Minh phải trả cho bà Nguyễn Thị Bình giá trị căn hộ AE305 khu căn hộ cao cấp Bitexco số 91 Nguyễn Hữu Cảnh, phường 22, quận Bình Thạnh số tiền 4.609.094.601 đồng và bồi thường tiền thuê nhà số tiền 418.000.000 đồng Tổng cộng công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh (Bitexco) phải trả cho bà Bình số tiền 5.027.094.601 đồng (Năm tỷ, không trăm hai mươi bảy triệu, không trăm chín mươi tư ngàn sáu trăm lẻ một đồng).”

3/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án

Hướng giải quyết của Toà án là hợp lý khi yêu cầu công ty TNHH phải bồi thường 95% giá trị căn hộ do vi phạm hợp đồng và thiệt hại khi bà Bình phải đi thuê nhà ở Bên

Trang 3

cạnh đó việc vay vốn ngân hang do chậm chi trả nên bà Bình phải chịu cả lãi trong hạn và lãi ngoài hạn là hoàn toàn có cơ sở

4/ Đoạn nào cho thấy bà Bình có yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần?

Đoạn “ Theo đơn yêu cầu phản tố của bà Bình ngày 18/01/2008 thì ngoài những

yêu cầu đã xem xét ở trên bà Bình còn yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất trong căn hộ

AE 305: do nước trào ngược dơ bẩn làm hư hỏng một số tài sản với trị giá là 5.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại tinh thần do chất lượng căn hộ không bảo đảm gây ảnh hưởng về tâm lý là 16.000.000 đồng.”

5/ Tổn thất về tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng không? Vì sao?

Tổn thất về tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng.Vì theo khoản 1 Điều 307

BLDS: “trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về

vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần” Mà trách nhiệm bồi

thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng Như vậy quy định này áp dụng cho nghĩa

vụ dân sự nói chung nên cũng được áp dụng cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

6/ BLDS 2005 và BLDS 2015 có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do không thực hiện đúng hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Trên thực tế thì các văn bản hiện hành chưa quy định rõ về việc cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do không thực hiện đúng hợp đồng Căn cứ theo khoản 3 điều 307 BLDS 2005 thì người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạp đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người đó Như vậy, BLDS 2005 vẫn chưa đề cập đến việc bồi thường tổn thất tinh thần phát sinh do không thực hiện đúng hợp đồng

Tương tự như trên, BLDS 2015 về nội hàm vẫn chưa làm rõ được vấn đề trên Tuy nhiên, liên quan đến các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 đã bổ sung nhiều điểm mới Đặc biệt đáng chú ý là việc tăng mức trần bồi thường tổn thất về tinh thần BLDS 2015 dùng cụm từ “mức lương cơ sở” thay cho

“tháng lương tối thiểu” để tính mức bù đắp tổn thất về tinh thần

Vấn đề 2: Phạt vi phạm hợp đồng

1/ Điểm mới của BLDS 2005 so với BLDS 2015 về phạt vi phạm hợp đồng

Các điểm mới giữa BLDS 2005 và BLDS 1995:

Thoả thuận phạt vi phạm

Quy định chi tiết nội dung thỏa thuận phạt vi phạm như sau:

- Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm

Trang 4

- Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác

- Quy định lại trường hợp thỏa thuận phạt vi phạm và BTTH:

Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi BTTH hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải BTTH

Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải BTTH thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm

(Căn cứ Điều 418 Bộ luật dân sự 2015)

Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng

Đây là nội dung mới được bổ sung tại BLDS 2015

- Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo các quy định đã nêu trên

- Người có quyền có thể yêu cầu BTTH cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng

do hợp đồng mang lại Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức BTTH cho lợi ích mà hợp đồng mang lại

- Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ BTTH

về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc

*Đối với vụ việc thứ nhất

2/ Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng

Đều là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên này giao cho bên kia một khoản tiền

3/ Khoản tiền trả trước 30% được Toà án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?

Theo các bên thoả thuận thì khoản tiền trả trước 30% là tiền đặt cọc nhưng án sơ thẫm của Toà án lại cho rằng đó là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng

4/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Toà án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%

Hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý Tòa án đã đưa ra lập luận chính xác, không có sự mâu thuẫn với các lập luận khác và cũng tuân theo đúng pháp luật Vì khoản tiền trả trước 30% lúc đầu là tiền đặt cọc, nhưng khi phát sinh tranh chấp thì các bên đã đi vào giai đoạn thực hiện hợp đồng, nên áp dụng chế định phạt vi phạm hợp đồng chứ không thể áp dụng chế định phạt cọc như nguyên đơn yêu cầu được

*Đối với vụ việc thứ hai

5/ Trong quyết định của trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn như thế nào?

Trang 5

HĐTT đã xác định mức phạt hợp đồng trong trường hợp này căn cứ theo quy định của Điêu 301 Luật Thương Mại 2005 năm 2005 là 8% giá trị của hợp đồng

6/ So với văn bản, mức giới hạn vi phạm trong quyết định có thuyết phục không? Vì sao?

So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm hợp đồng trong Quyết định có thuyết

phục Vì theo Điều 301 LTM 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc

tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”

Nên mức giới hạn phạt vi phạm hợp đồng trong Quyết định là thuyết phục Cụ

thể : “Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn khoản tiền phạt hợp đồng là 2.780 USD

tương ứng 8% giá trị hợp đồng”.

7/ Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có thoả thuận về vấn đề này? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời

Phạt vi phạm hợp đồng có thể kết hợp với bồi thường thiệt khi giữa hai bên có thoả thuận Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho phép các bên trong giao dịch dân sự được thoả thuận về mức phạt vi phạm; có thể thoả thuận vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm Luật Thương mại quy định: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng

bị vi phạm (Điều 301) Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây

ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302) Chỉ với quy định tại hai luật nói trên đã thấy có sự khác nhau về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong quan hệ hợp đồng tùy theo đó là hợp đồng gì: Dân sự, thương mại hay xây dựng sử dụng nguồn tiền ngân sách nhà nước Có nghĩa là, việc đầu tiên các bên muốn thoả thuận về phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại thì phải xác định

rõ quan hệ giữa các bên là quan hệ gì, khi có thiệt hại do hành vi vi phạm phải bồi thường thiệt hại hay không

8/ Trong Quyết định Trọng tài, phạt vi phạm có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?

Trong Quyết định của Trọng tài, phạt vi phạm được kết hợp với bồi thường thiệt

hại Đoạn “Việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn bồi thường thiệt hại từ việc mở L/C, lãi vay

ngân hàng là có cơ sở, do vậy Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn thiệt hại từ việc

mở L/C ( ).”

Trang 6

9/ Điểm giống nhau và khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng

Điểm giống nhau:

+ Đều là biện pháp chế tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng

+ Cơ sở để áp dụng hai biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế

và phải có lỗi của bên vi phạm

+ Mục đích của việc quy định cũng như áp dụng hai biện pháp này là nhằm ngăn ngừa sự

vi phạm hợp đồng

Điểm khác nhau:

- Về sự thỏa thuận trong hợp đồng :

Phạt vi phạm phải được thỏa thuận trong hợp đồng, còn trách nhiệm bồi thường thiệt hại không cần có sự thỏa thuận

Do bản chất của phạt vi phạm là phải có thỏa thuận trong hợp đồng, nên khi có vi phạm xảy ra mà các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì các bên chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại mà thôi Trong trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại Quy định này của các nhà làm luật là một quy định hợp lý, phù hợp với quan hệ thương mại đang phát triển không ngừng hiện nay

- Mục đích :

Mục đích của phạt vi phạm là nhằm ngăn ngừa các vi phạm có thể xảy ra trong hợp đồng

Mục đích của bồi thường thiệt hại là khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây nên, vì thế thiệt hại bao nhiêu thì sẽ bồi thường bấy nhiêu Theo khoản 2 Điều 302

của Luật thương mại: “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực

tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị

vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.”

- Xuất phát :

Phạt vi phạm xuất phát từ sự dự liệu về quan hệ của các bên khi tiến hành ký kết hợp đồng,

Bồi thường thiệt hại xuất phát từ yêu cầu bù đắp những tổn thất do hành vi vi phạm gây ra

- Áp dụng :

Chế tài phạt vi phạm có thể áp dụng cho dù chưa có thiệt hại xảy ra hoặc thiệt hại nhỏ hơn mức phạt vi phạm

Trong khi đó, chế tài bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp tổn thất nên sẽ chỉ bằng thiệt hại đã xảy ra hoặc thậm chí nhỏ hơn thiệt hại đã xảy ra

CCPL: Điều 300, 302 LTM 2005

10/ Theo văn bản, khoản tiền do kết hợp phại vi phạm với bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Vì sao?

Trang 7

Theo văn bản khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có bị giới hạn

Điều 301 LTM 2005: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng

mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”

Khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại bị giới hạn vì như vậy mới có thể đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự Tránh những trường hợp khi có không có thiệt hại hoặc có thiệt hại không đáng kể mà khoản phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại lại quá lớn hoặc một bên có quyền coi nó như một công cụ

“bóc lột” đối với bên kia

11/ Trong quyết định của Trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trong quyết định về vấn

đề này

Trong Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có bị giới hạn

Giải pháp trong Quyết định của trọng tài về vấn đề này là cho bên bị thiệt hại vừa

có quyền đòi khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt thiệt nhưng tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng vì điều đó sẽ tạo bất ngờ cho Bị đơn Giải pháp trong Quyết định của trọng tài

là hợp lý, hợp tình vừa bảo đảm được quyền lợi và nghĩa vụ cho các đương sự đồng thời phù hợp với quy định của Luật Thương mại 2005 (Điều 301)

12/ Suy nghĩ của anh/chị về khả năng Toà án được quyền giảm mức phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật VN

Trong thực tế pháp luật Việt Nam hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng Tòa án cũng nên được quyền giảm mức phạt vi phạm hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận trong những trường hợp như bên bị vi phạm có thể chứng minh được rằng thiệt hại xảy ra thực tế thấp hơn rất nhiều so với mức phạt vi phạm mà các bên đã thỏa thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng

Tuy nhiên theo quan điểm riêng của chính cá nhân thì việc cho phép Tòa án được quyền giảm mức phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam là không cần thiết vì đối với hợp đồng thương mại thì theo quy định của Luật Thương mại các bên không được vượt quá mức phạt vi phạm mà pháp luật đã quy định Còn Bộ luật dân sự trong khi chưa sửa đổi chúng ta có thể áp dụng những quy tắc chung để làm cơ sở pháp lý, như nguyên tắc thiện chí, hợp tác hay tôn trọng đạo đức xã hội, Tòa án có thể can thiệp để giảm bớt

công bằng Cụ thể, Điều 4 BLDS: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập

quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”, Điều 6: “Trong quan hệ dân

sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân

sự, không bên nào được lừa dối bên nào” và Điều 8: “Việc xác lập, thực hiện quyền,

Trang 8

nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.”

Vấn đề 3: Sự kiện bất khả kháng

1/Những điều kiện để một sự kiện được coi là bất khả kháng? Và cho biết các bên có thỏa thuận với nhau về trường hợp có sự kiện bất khả kháng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

CCPL: khoản 1 Điều 156 BLDS 2015

Điều kiện:

- Là sự kiện khách quan xẩy ra sau khi ký hợp đồng;

- Là sự kiện xẩy ra không do lỗi của các bên trong hợp đồng;

- Là sự kiện mà các bên trong hợp đồng không thể dự đoán và khống chế được Căn cứ khoản 2 Điều 302 Bộ luật Dân sự thì “trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 294 Luật thương mại thì bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng; Như vậy giá trị pháp lý quan trọng nhất của việc soạn thảo hợp đồng điều khoản bất khả kháng chính là ở chỗ sẽ giúp cho các bên hợp đồng lường trước được các trường hợp miễn trách nhiệm nếu mình có vi phạm từ nghĩa vụ hợp đồng Theo quy định của pháp luật thì việc miễn trách nhiệm này được áp dụng nếu các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Vì thế, khi soạn thảo chủ thể cần tiên liệu và lường trước được các trường hợp bất khả kháng có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng và cần phải có thỏa thuận rõ ràng về các trường hợp bất khả kháng nếu không rất dễ bị bên vi phạm lợi dụng bất khả kháng để thoái thác trách nhiệm dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm

2/ Những hệ quả pháp lý trong trường hợp hợp đồng không thực hiện được do sự kiện bất khả kháng trong BLDS và luật thương mại sửa đổi

Việc không thực hiện của một bên sẽ được miễn trừ trách nhiệm, nếu bên này chứng minh được rằng việc không thực hiện là do sự kiện bất khả kháng

Trong một số trường hợp, các sự kiện bất khả kháng sẽ làm chấm dứt việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, nhưng cũng có trường hợp sự kiện bất khả kháng chỉ trì hoãn việc thực hiện và điều khoản này sẽ cho các bên thêm thời gian để thực hiện nghĩa vụ

3/ Số hàng trên có bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng không? Phân tích các điều kiện hình thành sự kiện bất khả kháng với tình huống trên

Số hàng trên có bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng hay không thì phải xét tới ba điều kiện sau:

Trang 9

Thứ nhất, đây phải là “sự kiện xảy ra một cách khách quan” Sự kiện này có thể là

sự kiện tự nhiên như thiên tai, nhưng cũng có thể là do con người gây ra như hành động của một người thứ ba

Thứ hai, đây phải là sự kiện “không thể lường trước được”

Thứ ba, sự việc xảy ra “không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”

Trong trường hợp trên, “tàu bị gió nhấn chìm” là sự kiện xảy ra một cách khách quan nên đã thỏa mãn điều kiện thứ nhất

Điều kiện thứ hai, gió bã” xảy ra sau khi hợp đồng được giao kết nhưng có thật sự không thể lường trước được hay không? Nếu như thông tin đại chúng đã cho biết là sẽ có mưa to, gió bão, gió lốc vào thời điểm này mà anh Văn vẫn vận chuyển hàng thì điều kiện này không thỏa mãn

Điều kiện thứ ba, “tàu bị gió nhấn chìm và hàng bị hư hỏng toàn bộ” có thực sự không thể khắc phục được hay không? Nếu trước khi có giông bão và sau thời điểm hợp đồng được giao kết, thông tin đại chúng đã cho biết là có going bão mà chủ tàu (anh Văn) vẫn không đề phòng, vẫn đưa tàu vào sử dụng thì điều kiện này dường như không được thỏa mãn

4/ Nếu hàng bị hỏng do sự kiện bất khả kháng, anh Văn có phải bồi thường cho anh Bình

về việc hàng bị hư hỏng không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Khi nghĩa vụ hợp đồng không thể thực hiện được vì lý do bất khả kháng thì anh Văn không có trách nhiệm bồi thường cho anh Bình Bởi theo khoản 2 Điều 302 BLDS 2005: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa

vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự.” Chẳng hạn, đối với nghĩa vụ vận chuyển tài sản, khoản 3 Điều 546 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng hoặc bị hủy hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”

Tuy nhiên cũng theo khoản 2 Điều 302 BLDS 2005: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do có sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Tương tự, theo khoản 3 Điều 546 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng hoặc bị hủy hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Vì vậy trong trường hợp trên, nếu anh Văn

đã thỏa thuận với anh Bình là anh Văn sẽ chịu trách nhiệm bồi thường khi sự kiện bất khả kháng xảy ra thì anh Văn phải bồi thường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng Thỏa thuận bồi thường này là phù hợp với quy định của BLDS

5/ Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng và anh Văn thoả thuận bồi thường cho anh Bình giá trị hàng bị hư hỏng thì anh Văn có được yêu cầu Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này không? Tìm câu trả lời nhiều từ góc độ văn bản và thực tế xét xử

Trang 10

Dưới góc độ văn bản, căn cứ Điều 307 LTM 2005 thì anh Văn được quyền yêu cầu Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này

Nếu trong bản hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm không ghi cụ thể về việc

có bồi thường trong trường hợp sự kiện bất khả kháng, thì hợp đồng phải có lợi cho bên

có ưu thế yếu Trong trường hợp trên thì bên Công ty bảo hiểm là bên chiếm ưu thế, còn

bên anh Văn là bên yếu thế Căn cứ khoản 8 Điều 409 BLDS 2005 thì “Trong trường hợp

bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế.” và căn cứ theo Điều 21 Luật kinh doanh

bảo hiểm năm 2000 thì “Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoảng không rõ

ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.”

Vấn đề 4: Bình luận bản án

Tìm kiếm bản án liên quan đến chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Tóm tắt nội dung bản án như sau (Có kèm theo hồ sơ bản án): Bản số 01/2010/KDTM-ST ngày 01/4/2010 Tranh chấp: “hợp đồng mua bán, cung cấp lắp đặt dây chuyền thiết bị chuyển giao công nghệ chế biến tinh bột khoai mì”

Đây là bản án về việc tranh chấp “hợp đồng mua bán, cung cấp lắp đặt dây chuyền thiết bị chuyển giao công nghệ chế biến tinh bột mì” Bên nguyên đơn là Công ty TNHH

1 Thành viên Mía đường Tây Ninh (gọi là Công ty mía đường Tây Ninh) Bên bị đơn là Công ty vật liệu xây dựng và Xây lắp thương mại ( gọi tắt là công ty BMC) Dựa theo lời khai của hai bên nguyên đơn và bị đơn cũng như phần xét thấy của Tòa án, tóm tắt như sau : Công ty Mía đường Tây Ninh đã có hợp đồng về việc cung cấp, mua bán lắp đặt máy móc dây chuyền thiết bị chuyển giao công nghệ chế biến tinh bột mì với Công ty BMC Trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên đã có tranh chấp về việc thanh toán giá trị hợp đồng vì nhận thấy có nhiều sai sót Theo lời khai của Công ty Mía đường Tây Ninh thì mặc dù công ty Mía đường Tây Ninh đã thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng nhưng Công ty BMC đã viện ra những lí do hoàn toàn không phù hợp với nội dung hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận với mục đích là trì hoãn việc nghiệm thu

và không chịu thanh toán số tiền mà Công ty BMC còn nợ theo quy định của hợp đồng và phụ kiện hợp đồng mà hai bên đã kí kết

Còn theo lời khai của công ty BMC thì việc công ty này không đồng ý nghiệm thu

và không đồng ý thanh toán số tiền còn lại cho công ty Mía đường Tây Ninh vì những lí

do chính sau: Thứ nhất, Công ty mía đường Tây Ninh đã có vi phạm thời gian bàn giao theo hợp đồng Thứ hai, Dây chuyền máy móc chỉ đảm bảo công suất 80 tấn sản phẩm/ngày, không đúng theo phụ kiện hợp đồng số 06.1/PKHD/2007 là công suất 100 tấn sản phẩm/ngày Thứ ba, Dây chuyền thiết bị không hoàn chỉnh, không đầy đủ Thứ

tư, hệ thống máy móc không đồng bộ, không hoàn chỉnh cả về công suất, chất lượng công nghệ tương thích, không mới, không chính xác và rõ ràng

Về phía Tòa án đã có sự xem xét và đưa ra kết luận như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH một thành viên Mía đường Tây Ninh

2 Buộc công ty Vật liệu xây dựng và Xây lắp thương mại có nghĩa vụ thanh toán cho công ty Mía đường Tây Ninh

Ngày đăng: 16/05/2023, 20:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w