BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO LÊ ANH ĐỨC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN VÀ THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN CỦA NAM VẬN ĐỘNG VIÊN[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
LÊ ANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN VÀ THANG
ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN CỦA NAM VẬN ĐỘNG
VIÊN ĐUA XE ĐẠP LỨA TUỔI 13-15 MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC
VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN CHUYÊN MÔN HÓA BAN ĐẦU)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
LÊ ANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN VÀ THANG
ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN CỦA NAM VẬN ĐỘNG
VIÊN ĐUA XE ĐẠP LỨA TUỔI 13-15 MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC
VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN CHUYÊN MÔN HÓA BAN ĐẦU)
Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứucủa riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Lê Anh Đức
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các bảng biểu, biểu đồ
1.2.2 Các quan điểm trong đánh giá trình độ tập luyện 10
1.3 Tính chu kỳ và tính giai đoạn của những phản ứng thích
nghi trong quá trình phát triển trình độ tập luyện
19
1.3.1 Tính chu kỳ của những phản ứng thích nghi 191.3.2 Tính giai đoạn của những biến đổi diễn ra trong cơ thể 21
1.4 Cơ sở di truyền học và các qui luật phát triển cơ thể, qui
luật phát triển các tố chất thể lực trong đánh giá trình độ
tập luyện của VĐV thể thao
Trang 51.6 Đặc điểm tâm sinh lý VĐV thể thao lứa tuổi 13-15 361.6.1 Đặc điểm sinh lý thiếu niên lứa tuổi 13-15 36
1.7 Các công trình nghiên cứu đánh giá TĐTL của các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước
41
1.8 Một số nét về xe đạp thể thao Việt Nam hiện nay 48
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ
CHỨC NGHIÊN CỨU
51
2.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 51
3.1 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá TĐTL của nam VĐV đua xe
đạp đường trường 13-15 tuổi một số tỉnh, thành phố
69
Trang 6miền Bắc Việt Nam
3.1.1 Nguyên tắc và các bước lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá
TĐTL của VĐV xe đạp đường trường miền bắc Việt Nam
69
3.1.2 Thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá trình độ tập luyện
của VĐV xe đạp đường trường nước ta
71
3.1.3 Thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá TĐTL của VĐV xe
đạp đường trường ở ngoài nước
72
3.1.4 Thực trạng huấn luyện của VĐV đua xe đạp đường trường
13-15 tuổi
75
3.1.5 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá TĐTL cho VĐV xe đạp
đường trường 13 - 15 tuổi, thành phố miền Bắc Việt Nam
82
3.1.6 Kiểm định tính thông báo và độ tin cậy của các chỉ tiêu, test
đã lựa chọn
83
3.1.7 Bàn luận về việc lựa chọn các chỉ tiêu, test đánh giá TĐTL
cho VĐV xe đạp đường trường lứa tuổi 13-15 các tỉnh, thành
phố miền Bắc Việt Nam
88
3.2 Xây dựng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá
trình độ luyện tập của VĐV đua xe đạp đường trường
13-15 tuổi một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
93
3.2.1 Nghiên cứu diễn biến và tỷ trọng ảnh hưởng củacác chỉ
tiêu đánh giá trình độ tập luyện của VĐV xe đạp xe đạp
đường trường 13-15 tuổi ở một số tỉnh thành phía Bắc
93
3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá TĐTLcho nam
VĐV xe đạp đường trường lứa tuổi 13 – 15 một số tỉnh,
thành phố miền bắc Việt Nam
99
3.3 Kiểm chứng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá
TĐTL của nam VĐV đua xe đạp đường trường 13 -15
100
Trang 7tuổi một số tỉnh, thành phố miền Bắc
3.3.1 Kiểm chứng độ tin cậy của hệ thống chỉ tiêu, thang điểm đã
xây dựng
100
3.3.2 Bàn luận về kết quả xây dựng tiêu chuẩn và thang điềm đánh
giá TĐTL của nam VĐV xe đạp đường trường 13-15 tuổi
một số tỉnh, thành phố miền Bắc Việt Nam
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Bảng 1.1 Độ di truyền của các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa có ý
1.2 Độ di truyền của các chỉ tiêu quyết định tố chất vận
1.3 Tỷ lệ % sự phát triển cơ thể các lứa tuổi so với tuổi
1.4 Sự phát triển các cơ quan nội tạng và cơ quan vận
1.5 Tuổi nhạy cảm của phát triển các tố chất thể lực 311.6 Mô hình VĐV cấp cao môn đua xe đạp 352.1 Bảng trừ điểm trong đánh giá kỹ thuật chuyên môn 592.2 Bảng qui đổi test cooper thành VO2max 633.1 Thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá TĐTL của
VĐV xe đạp đường trường
Sau trang723.2 Kết quả phỏng vấn xác định yêu cầu cơ bản đối với
các chỉ tiêu đánh giá TĐTL được lựa chọn (n=18) 773.3 Kết quả phỏng vấn lựa chọn chỉ tiêu đánh giá
TĐTL của VĐV xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi
ở các tỉnh miền Bắc
Sau trang82
3.5 Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu đánh giá hình
thái chức năng cơ thể với thành tích đua xe 20km
Sau trang843.6 Kết quả xác định tính đại diện của các giá trị trung
bình của đối tượng lập test
Sau trang843.7 Các thông số thống kê so sánh trình độ phát triển Sau trang
Trang 9các chỉ tiêu đánh giá TĐTT của VĐV 13 – 15 tuổi
3.8 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu đánh giá TĐTL
của nam VĐV xe đạp thể thao lứa tuổi 13 (n = 14) 973.9 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu đánh giá TĐTL của
nam VĐV xe đạp đường trường lứa tuổi 14 (n = 13)
Sau trang973.10 Nhịp tăng trưởng của các chỉ tiêu đánh giá TĐTL của
nam VĐV xe đạp đường trường lứa tuổi 15 (n = 12)
Sau trang973.11 Hệ số tương quan giữa các yếu tố thành phần và hệ
số tương quan đa nhân tố với thành tích đạp xe
20Km của nam VĐV xe đạp đường trường 13 tuổi
Sau trang983.12 Hệ số tương quan giữa các yếu tố thành phần và hệ
số tương quan đa nhân tố với thành tích đua xe
20Km của nam VĐV xe đạp đường trường 14 tuổi
Sau trang983.13 Hệ số tương quan giữa các yếu tố thành phần và hệ
số tương quan đa nhân tố với thành tích đua xe
20Km của nam VĐV xe đạp đường trường 15 tuổi
Sau trang983.14 Hệ số ảnh hưởng Bê ta của các yếu tố đánh giá
TĐTL của VĐV nam xe đạp đường trường 13 -15
xe đạp 14 tuổi
Sau trang993.17 Tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện VĐV đua
xe đạp 15 tuổi
Sau trang993.18 Bảng điểm đánh giá tổng hợp phân loại TĐTL của 100
Trang 10nam VĐV xe đạp đường trường 13 - 15 tuổi.
3.19 So sánh thứ hạng tổng điểm đánh giá TĐTL với
xếp hạng thành tích đua xe 20km của VĐV 13 tuổitrước thực nghiệm (n=15)
101
3.20 So sánh thứ hạng tổng điểm đánh giá TĐTL với
xếp hạng thành tích đua xe 20km lứa tuổi 14 trướcthực nghiệm (n=14)
Sau trang1013.21 So sánh thứ hạng tổng điểm đánh giá TĐTL với
thứ hạng thành tích đua xe 20km của VĐV 15 tuổitrước thực nghiệm (n=13)
Sau trang1013.22 So sánh thứ hạng thành tích đua xe 20 km và thứ
hạng tổng điểm đánh giá TĐTL của VĐV xe đạp
13 tuổi lần kiểm tra thứ hai theo quy trình ngược lại
thứ hạng tổng điểm đánh giá TĐTL của VĐV 15tuổi sau thực nghiệm
Sau trang102
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Trang 11Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 12Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặt của nềnkinh tế xã hội Việt Nam Cả nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ cải cách mở cửa Nhờ
đó mà kinh tế xã hội trong đó có Thể dục thể thao (TDTT) đã bắt đầu khởi sắc Năm
1989 Việt Nam đã bắt đầu tham dự Seagames tuy thành tích lúc đó chỉ xếp hạng thứ 5của đại hội song cũng đã thể hiện Thể thao Việt Nam bắt đầu hoà nhập vào thể thaoquốc tế
Song chỉ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 năm 1991 và đặc biệt là sau khi
có Chỉ thị 36 CT/TW của Ban bí thư Trung ương thể thao mới thực sự có đượcphương hướng và cơ hội khởi sắc mạnh mẽ
Từ năm 1994, khắp các tỉnh thành trong cả nước đã tiến hành xây dựng cáctrung tâm thể thao thành tích cao Hàng loạt môn thể thao trong đó có môn đua xe đạp
đã được đưa vào huấn luyện Vì vậy từ năm 1995 trong các kỳ đại hội Seagames lầnthứ 17 trở đi thể thao Việt Nam liên tục gặt hái được thành quả lần sau cao hơn lầntrước và đỉnh cao là Seagames lần thứ 22 năm 2003 tổ chức ở Việt Nam, đoàn thểthao Việt nam đã lần đầu tiên bước lên ngôi vị hàng đầu của đấu trường khu vực ĐôngNam Á
Trong Chiến lược phát triển thể dục, thể thao của Việt Nam đến năm 2020 Thủtướng Chính phủ đã xác định: “Thể thao thành tích cao là một trong ba nhiệm vụchiến lược của ngành, nhằm mục tiêu nhanh chóng dẫn đầu trình độ thể thao của khuvực, đồng thời từng bước hòa nhập với trình độ thể thao Châu Á và thế giới, cụ thể là:
từ nay đến năm 2020, phấn đấu là 1 trong 15 nước có thành tích cao tại Châu Á Giữvững vị trí top 3 của thể thao khu vực Đông Nam Á(Seagames) Phấn đấu có khoảng
45 vận động viên (VĐV) vượt qua các cuộc thi vòng loại có huy chương tại Đại hộithể thao Olympic lần thứ 32, trước mắt hình thành hệ thống đào tạo tài năng quốc gia
về thể thao đào tạo được một lực lượng VĐV trẻ có khả năng tiếp cận các thành tựuthể thao tiên tiến của thế giới trước hết là các môn thể thao trọng điểm
Đóng góp cho sự thành công đó của thể thao Việt Nam có sự có mặt của mônđua xe đạp
Các VĐV đua xe đạp của Việt Nam như Mai Công Hiếu, Trịnh Phát Đạt đãgiành về cho đoàn thể thao 6 tấm huy chương trong đó có 3 HCV và 3HCĐ tại Đại hộithể thao Đông Nam Á
Trang 13Tuy vậy, khách quan mà nhìn nhận trình độ tập luyện (TĐTL) và thành tích thểthao của VĐV đua xe đạp nước ta còn có khoảng cách thua kém nhất định so với cácVĐV đua xe đạp xuất sắc của khu vực và châu lục Điều này đã và đang thôi thúc cácnhà quản lý, các HLV đua xe đạp cũng như các nhà khoa học TDTT cần phải tìm racác giải pháp tiếp tục nâng cao bền vững thành tích môn đua xe đạp của Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, TĐTL là chỉ trình độ phát triển của phức hợp các yếu tốhình thái cơ thể, chức năng cơ thể, tố chất thể lực, năng lực chuyên môn và phấm chấttâm lý, trí tuệ TĐTL của VĐV các môn thể thao khác nhau còn phụ thuộc vào đặctrưng mô hình thể thao ở môn thể thao đó TĐTL của một VĐV được quyết định bởinăng lực thể thao tiên thiên và tác động hậu thiên của yếu tố huấn luyện
Đánh giá TĐTL trong thể thao hiện đại có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúpcho huấn luyện viên (HLV) trong quá trình huấn luyện, xem xét một cách khách quanđúng đắn sự tác động của lượng vận động tập luyện, nhằm kịp thời điều chỉnh kếhoạch và phương pháp huấn luyện, đồng thời cũng giúp cho VĐV có thể tự đánh giáđược năng lực của mình Trong quy trình đào tạo VĐV với mục đích đạt được thànhtích thể thao cao thì yếu tố hết sức quan trọng và không thể thiếu được trong quá trìnhgiảng dạy và huấn luyện là việc đánh giá đúng TĐTL của VĐV Việc đánh giá đúngTĐTL của VĐV các cấp theo độ tuổi, giới tính và môn thể thao chuyên sâu rất có ýnghĩa về mặt thực tiễn và lý luận đặc biệt là trong tuyển chọn và huấn luyện
Đánh giá TĐTL là một quá trình phức tạp, tổng hợp gồm nhiều thành tố y sinhhọc, tâm lý học, kỹ năng chiến thuật, tố chất thể lực Những vấn đề trên ngày càngđược nâng cao hơn nhờ ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài của lượng vận động tập luyện
và thi đấu cũng như các biện pháp hỗ trợ ngoại sinh khác Khái niệm về quá trình biếnđổi lâu dài của TĐTL luôn luôn gắn liền với phạm trù “thích nghi” và “phát triển”
Vì vậy, việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá TĐTL chẳng những là yêu cầu bứcthiết của công tác tuyển chọn khoa học đối với VĐV mà còn là yêu cầu bức thiết đểlàm một loại "thuốc thử" trong kiểm tra đánh giá tính khoa học của huấn luyện Để từ
đó, giúp HLV có thể điều chỉnh phương pháp, biện pháp và nội dung huấn luyện hợp
lý hơn, giúp nâng cao hiệu quả huấn luyện
Do vai trò quan trọng đó của hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn và thang điểm đánhgiá TĐTL, mà nhiều nước có nền thể thao phát triển, như Nga, Đức, Mỹ, TrungQuốc sớm đã đầu tư nghiên cứu xây dựng nên hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn và
Trang 14thang điểm đánh giá trong tuyển chọn và đào tạo VĐV trẻ các môn thể thao rất khácnhau Điển hình là các công trình của các tác giả như A.Kotop, A.Malkin, A.Nôvicôp,L.Mátvêép, V.Zaxiopski, I.Aulic (Nga), Maglac, D.Harre (Đức), Zon Mackes (Mỹ),Hình Văn Hoa, Tăng Phàn Huy ( Trung Quốc) họ đã gặt hái được những thành tíchthể thao to lớn trong những năm gần đây.
Ở Việt nam, một số nhà khoa học TDTT như Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn ThếTruyền, Nguyễn Văn Trạch, Lê Nguyệt Nga, Chung Tấn Phong, Lê Đức Chương,Đàm Quốc Chính, Đàm Tuấn Khôi, Nguyễn Kim Xuân, Nguyễn Kim Lan, Hà MinhDịu, Phạm Văn Liệu đã từ những góc độ sư phạm và y sinh để nghiên cứu xây dựng
hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn thang điểm đánh giá cho các môn thể thao như bơi lội,bóng rổ, bóng ném, điền kinh, thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, cờ vua và môt sốmôn thể thao khác
Tuy vậỵ đối với môn thể thao đua xe đạp ở Việt Nam ngoài công trình nghiêncứu về đặc điểm thể hình của VĐV đua xe đạp nữ ở Việt Nam (năm 2005) củaNguyễn Ngọc Vũ, đến nay vẫn chưa hề có công trình nào nghiên cứu về vấn đề đánhgiá TĐTL của VĐV đua xe đạp đường trường nam 13-15 tuổi
Để góp phần nhanh chóng nâng cao thành tích thi đấu của môn đua xe đạpđường trường ngang tầm với các nước trong khu vực và châu lục, ta cần thiết hìnhthành và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá TĐTL cho VĐV giúphuấn luyện viên có cơ sở cải tiến phương pháp huấn luyện Với lý do này tôi nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá trình độ tập luyện của nam VĐV đua xe đạp lứa tuổi 13 - 15 một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu)”.
Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu đề tài, hướng nghiên cứu là cơ sở lý luận và thực tiễntrình độ tập luyện của nam VĐV đua xe đạp đường trường 13-15 tuổi các tỉnh, thành
phố miền Bắc, ứng dụng các phương pháp khoa học để lập tiêu chuẩn và thang điểm
đánh giá TĐTL của nam VĐV đua xe đạp 13-15 tuổi, góp phần nâng cao hiệu quảhuấn luyện và tuyển chọn VĐV
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 15Để giải quyết được mục đích nghiên cứu trên đề tài tiến hành thực hiện cácmục tiêu nghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá TĐTL của nam VĐV đua xe đạp đường
trường lứa tuổi 13-15 một số tỉnh, thành phố miền Bắc
Mục tiêu 2: Xây dựng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá TĐLT của
VĐV đua xe đạp đường trường 13-15 tuổi một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
Mục tiêu 3: Kiểm chứng hệ thống thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá TĐTL của
nam VĐV đua xe đạp đường trường 13 -15 tuổi một số tỉnh, thành phố miền Bắc
* Giả thuyết khoa học
Thành tích thể thao của VĐV đua xe đạp đường trường phụ thuộc chủ yếu vàocác yếu tố thể hình, chức năng cơ thể, thể lực, năng lực chuyên môn và phẩm chất tâm
lý Nếu xây dựng thang điểm đánh giá chính xác được TĐLT của VĐV thì sẽ giúpcho các HLV điều chỉnh kế hoạch huấn luyện nhằm nâng cao TĐTL và thành tích thiđấu của VĐV
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm huấn luyện nhiều năm trong quá trình đào tạo VĐV trẻ các môn thể thao:
HLTT là một quá trình sư phạm thống nhất vận dụng các quy luật về sự phát triển nhân cách và năng lực thể thao Ngoài ảnh hưởng của di truyền hiệu quả HLTT phần lớn phụ thuộc quá trình luyện tập, môi trường và xã hội.
Theo quan điểm của Harre, quá trình đào tạo VĐV chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ (tạo nên các tiền đề chung và chuyên môn cho thành tích thể thao cao nhất) và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao Trong đó giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ chia thành hai giai đoạn nhỏ là huấn luyện ban đầu và chuyên môn hóa.
Tác giả Nabátnhicôva, Philin cho rằng quá trình đào tạo VĐV trẻ gồm các giai đoạn: Huấn luyện ban đầu; Chuyên môn hóa (từ 9 - 10 tuổi); Hoàn thiện thể thao (16 tuổi trở lên) [44].
Quan điểm của các tác giải A.Nôvicốp, L.MátVêép lại chia quá trình HLTT nhiều năm các giai đoạn lớn: Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ; Giai đoạn chuyên môn hóa bước đầu là tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượng cho những thành tích tương lai [1].
Tác giả Bulgacôva N.G (1983) cho rằng: Đánh giá quá trình huấn luyện đi liền với đánh giá hình thái, chức năng, thể lực, kỹ thuật và tâm lý để xác định năng lực tiềm tàng của VĐV nhằm đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao lựa chọn Năng lực này được biểu hiện cụ thể ở mức chuẩn bị về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, đạo đức - ý chí và trí tuệ Giữa hình thái, chức năng, trình độ thể lực, kỹ thuật, tâm lý và TĐTL có mối liên quan đến nhau nó phụ thuộc vào yêu cầu vận động chuyên môn của môn thể thao sở trường.
Tác giả Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tấn Di Trọng chia quá trình huấn luyện VĐV trẻ thành 4 giai đoạn: Huấn luyện sơ bộ; Huấn luyện ban đầu; Huấn luyện chuyên môn hóa; Hoàn thiện thể thao Huấn luyện ban đầu còn được gọi là giai đoạn dự bị năng khiếu [69],
Trang 17[71], [72].
Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn chia quá trình huấn luyện nhiều năm làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn đào tạo ban đầu, Giai đoạn thực hiện tối đa khả năng thể thao; Giai đoạn duy trì thành tích thể thao [66].
Dưới quan điểm tuyển chọn tài năng thể thao theo các tác giả Nguyễn Ngọc Cừ, Bùi Quang Hải giai đoạn chuyên môn hóa khoảng 4-6 năm Giai đoạn này nên đào thải những VĐV phát dục sớm cuối mỗi năm nên tổ chức đánh giá TĐTL để tuyển chọn lại Trong giai đoạn này nên đo lường và đánh giá nhiều chỉ số hơn giai đoạn trước (về thể hình, chức năng,
tố chất, thể lực chuyên môn, kỹ - chiến thuật) Ngoài ra nên chú ý tới yếu tố ý chí, khả năng chịu đựng lượng vận động trong tập luyện Trong giai đoạn này cũng nên kiểm tra sức khỏe chung để loại trừ các trường hợp có sức khỏe yếu [11], [12], [22]
Theo tác giả Ôđôlin M.G quá trình huấn luyện nhiều năm của VĐV chạy ngắn được chia thành 4 giai đoạn: Huấn luyện ban đầu (từ 9 tuổi và kéo dài trong khoảng 3 năm); Chuyên môn hóa ban đầu (từ lứa tuổi 12 - 13 và kéo dài tới 15 - 16 tuổi); Chuyên môn hóa sâu (từ lứa tuổi 15 - 16 và kéo dài tới 18-19 tuổi); Hoàn thiện thể thao (từ 19 tuổi hoặc lớn hơn và đạt được thành tích cao nhất ở đội tuổi 22 - 28) Trong đó nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là huấn luyện thể lực toàn diện, nâng cao mức độ chịu đựng chung của cơ thể tạo được vốn kỹ năng vận động, tăng tri thức để hình thành những nền tảng ban đầu của tài năng thể thao.
Theo tác giả V.Phi Lin và Điền Mạnh Cửu hệ thống luyện nhiều năm VĐV xe đạp thể thao bao gồm 4 giai đoạn chủ yếu sau: Huấn luyện thể thao sơ bộ (10 - 12 tuổi) ; Chuyên môn hóa ban đầu (13-15 tuổi); Chuyên môn hóa sâu (16 - 19 tuổi); Hoàn thiện thể thao (19 tuổi và nhiều hơn) Việc chia thành các giai đoạn huấn luyện mang tính quy ước vì sự khác nhau trong việc phát triển về mặt sinh học của các VĐV trẻ có thể từ 2 - 3 năm hoặc nhiều hơn.
Từ kết quả phân tích và tổng hợp tài liệu cho thấy đề tài lựa chọn đối tượng nam VĐV
xe đạp thể thao đường trường lứa tuổi 13-15 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là phù
Trang 18hợp với cơ sở lý luận và đặc thù chuyên môn môn xe đạp thể thao Đồng thời lứa tuổi 13-15
là giai đoạn cuối của giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu và chuẩn bị chuyển tiếp sang giai đoạn chuyên môn hóa sâu Vì vậy việc đòi hỏi TĐTL của VĐV nói chung và tố chất thể lực nói riêng cần phải đáp ứng được nhiệm vụ và chỉ tiêu đặt ra.
Theo các tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Lê Văn Lẫm giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là giai đoạn chuyên môn hóa cơ sở Ở giai đoạn chuyên môn hóa thể thao ban đầu cần tận dụng thời kỳ phát triển “nhạy cảm” theo lứa tuổi của cơ thể tránh chuyên môn hóa quá hẹp, sớm.
Theo tác giả Mátvêep L, đặc điểm chuyên biệt của quá trình tập luyện ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là: Hiệu quả cao của lượng vận động được thể hiện ở chỗ lượng vận động tăng trưởng ít, song mức tăng thành tích tương đối lớn; tính đều đặn tương đối của nhịp độ tăng hàng năm về khối lượng của lượng vận động tập luyện thể hiện tính đặc thù, nhưng hiệu quả của chúng lại có phạm vi rộng thể hiện ở khả năng “chuyển” TĐTL khi sử dụng những phương tiện huấn luyện khác nhau có biên độ lớn hơn so với giai đoạn sau.
Kết quả phân tích và tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về đặc điểm các giai đoạn của quy trình huấn luyện nhiều năm đối với các môn thể thao nói chung XĐTT nói riêng cho thấy:
Phân chia các giai đoạn huấn luyện có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau song điều kiện tiên quyết là phải dựa vào quy luật phát triển sinh học tự nhiên của con người Trong quá trình huấn luyện phải tuân thủ quy luật phát triển sinh học để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ trong từng giai đoạn huấn luyện đặt ra trong quy trình huấn luyện hệ thống Một hệ thống huấn luyện nhiều năm phải gắn liền với giới hạn tuổi của VĐV ở mỗi giai đoạn và tuổi đạt thành tích đỉnh cao ở môn thể thao cụ thể.
Quá trình huấn luyện VĐV nói chung và VĐV xe đạp đường trường nói riêng được chia thành các giai đoạn huấn luyện cụ thể và diễn ra nối tiếp trong nhiều năm Việc phân chia thành các giai đoạn huấn luyện chỉ mang tính khái quát tương đối, song nó luôn có tính
kế thừa và hợp nhất Căn cứ vào đặc trưng, đặc thù của mỗi môn thể thao mà xây dựng nên các chỉ tiêu chuẩn cho từng giai đoạn huấn luyện.
Trang 19Để đánh giá TĐTL của VĐV xe đạp đường trường cần phải căn cứ vào mục đích,nhiệm vụ của từng giai đoạn huấn luyện Từ đó lựa chọn được các phương pháp, phương tiện huấn luyện và xuyên suốt trong kế hoạch huấn luyện.
1.2 Các quan điểm trong đánh giá trình độ tập luyện của VĐV thể thao:
1.2.1 Khái niệm về trình độ tập luyện:
TĐTL là một phức hợp gồm nhiều thành tố sinh học, tâm lý, kỹ chiến thuật, tốchất thể lực hợp thành và được hoàn thiện nhờ ảnh hưởng của quá trình tập luyện, thiđấu và các biện pháp hỗ trợ từ bên ngoài Đánh giá TĐTL là nhiệm vụ quan trọngtrong HLTT để hỗ trợ cho công tác huấn luyện và tuyển chọn của người HLV Đểđánh giá đúng về TĐTL cần có một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học bao gồm: bác
sỹ, HLV, kỹ thuật viên, nhân viên thí nghiệm hỗ trợ thêm công tác huấn luyện
Mục đích tập luyện của con người là tăng cường sức khỏe và nâng cao thànhtích thể thao Tập luyện tăng cường sức khỏe là mục đích chung của người tập là quátrình tập luyện liên tục TDTT hàng ngày Đối với VĐV thể thao quá trình tập luyệnkhông ngừng hệ thống các bài tập chuyên môn Mục đích và nhiệm vụ tập luyện khácnhau thì trình độ cũng rất khác nhau Đối với người tập luyện vì mục đích sức khỏedựa vào năng lực tập luyện để đánh giá, còn đối với VĐV cần phải xác định TĐTL đểđịnh ra các kế hoạch huấn luyện khoa học và các bài tập có tính đặc hiệu Đánh giáTĐTL cần phải thông qua các chỉ tiêu, chức năng sinh lý và các chỉ tiêu chuyên môn.Khi tiến hành thực nghiệm phải phân tích đối chiếu các chỉ tiêu biến đổi sinh lý ở cáctrạng thái yên tĩnh và chịu đựng lượng vận động TĐTL là một trạng thái động luônluôn phát triển và tuân theo các quy luật phát triển của thành tích thể thao cũng nhưđặc điểm giới tính, độ tuổi và môn thể thao chuyên sâu Đánh giá TĐTL của VĐV cầnlưu ý đến các chỉ số chịu sự tác động của di truyền như: phản xạ vận động, sức mạnhbột phát, lực cơ tương đối, sức nhanh, nhịp tim tối đa, lượng oxy hấp thụ tối đa so vớitrọng lượng cơ thể, các chỉ số chuyển hóa yếm khí, hô hấp tế bào Mặt khác còn phảiquan tâm đến một số chỉ tiêu chịu sự ảnh hưởng của môi trường giáo dục và huấnluyện như tần số động tác, lực cơ tối đa… Khi đánh giá TĐTL của VĐV cấp cao cầnphải định lượng được những thành tố bên trong cơ thể đó là các chỉ tiêu y sinh baogồm hình thái, sinh lý, sinh cơ, đồng thời xác định những thành tố biểu hiện bên ngoài
đó là các chỉ số sư phạm về tố chất thể lực chung và thể lực chuyên môn, kỹ- chiếnthuật và các phẩm chất tâm lý của từng VĐV vào những thời điểm sung mãn nhất, tức
là trước lúc thi đấu
Trang 20Chỉ số cơ bản để đánh giá TĐTL của VĐV là thành tích thể thao đạt được saunhiều năm tập luyện một cách liên tục, bền bỉ, công phu và khoa học Thành tích thểthao chỉ đạt được trong một giai đoạn ngắn nào đó trong mỗi chu kỳ tập luyện (trạngthái sung sức thể thao) Thành tích thể thao là hiện tượng đa nhân tố, phụ thuộc vàonhiều vấn đề Trong các điều kiện giống nhau thành tích thể thao phụ thuộc vào năngkhiếu và mức độ đào tạo của nguồn VĐV Năng khiếu của VĐV là bẩm sinh còn trình
độ đào tạo, huấn luyện thì luôn thay đổi nhờ kết quả của quá trình tập luyện
1.2.2 Các quan điểm trong đánh giá trình độ tập luyện:
Cho đến nay quan điểm đánh giá về TĐTL được các nhà khoa học trong vàngoài nước mặc dù khó thống nhất song có những cách thể hiện và cách nhìn rất khácnhau
1.2.2.1 Ở ngoài nước:
Theo từ điển TDTT của Trung Quốc xuất bản năm 1991 cho rằng: “Đánh giáTĐTL là đánh giá mức độ khả năng thích nghi của cơ thể VĐV với vận động Do ảnhhưởng của lượng vận động trong tập luyện, tính thích nghi và mặt sinh học của cơthể cũng thay đổi tức là nâng cao năng lực hoạt động chức năng của các tổ chức, cơquan, hệ thống và năng lực tiềm tàng của VĐV cũng như cải thiện năng lực điều tiếtcủa hệ thống thần kinh trung ương đối với chức năng của các tổ chức, cơ quan”
Trong hoạt động TDTT được biểu hiện ở mức độ phát triển tổng hợp về cácmặt tố chất thể lực, kỹ thuật môn chính, tâm lý và trí tuệ thì TĐTL càng cao, năng lựcthể thao càng mạnh, thành tích thể thao càng tốt Khi đánh giá TĐTL của VĐV cần tổchức kiểm tra chuyên môn và đánh giá theo các số liệu đã đo đạc được so với các tàiliệu có liên quan TĐTL là thước đo đánh giá hiệu quả huấn luyện Tìm hiểu trình độhuấn luyện có tác dụng quan trọng đối với việc khắc phục sự mù quáng, nâng caotính tích cực tự giác của VĐV, điều khiển quá trình huấn luyện một cách khoa học
Theo các tác giả Trung Quốc TĐTL bao gồm các nội dung chính sau:
TĐTL là một trạng thái động
Trang 21Thành tích thể thao là nhân tố cơ bản của TĐTL
TĐTL được nâng cao thông qua con đường tập luyện thể thao
Các tác giả cũng phân biệt TĐTL chung và TĐTL chuyên môn TĐTL chungđược biến đổi một cách hợp lý dưới tác động của bài tập nhằm củng cố sức khỏe nângcao mức độ phát triển thể lực và các khả năng chức năng của cơ quan, tổ chức cơ thểtrong các hoạt động cơ bắp khác nhau
Để đạt được thành tích cao trong một môn thể thao nào đó các VĐV phải có các
tố chất thể lực khác nhau trong đó có thể bao gồm: mức độ và phát triển hình thể như:chiều cao, cân nặng; sự phát triển cơ bắp, độ dài chân, tay; loại thể hình hay loạiXôma (yếu, bình thường, khỏe mạnh)
Sự phối hợp vận động, thời gian tiềm phục của phản ứng vận động trình độ kỹchiến thuật; các phẩm chất tâm lý, ý chí, các tố chất thể lực sức nhanh, sức mạnh, sứcbền, khéo léo, độ mềm dẻo và các tố chất thể lực chuyên môn Trong huấn luyện các
tố chất này thuộc về yếu tố của TĐTL
Nguyên tắc cơ bản của việc đánh giá TĐTL là giải quyết một cách tổng hợp.Đôi khi hai hay ba thử nghiệm đơn giản nhưng xác thực, phản ảnh được những khíacạnh của TĐTL có thể cung cấp một lượng thông tin có ích lớn hơn nhiều so với việc
sử dụng chính những thiết bị phức tạp với hàng chục chỉ số nhưng những yếu tố nàykhông bao gồm hết được các yếu tố chủ yếu
Lượng vận động tập luyện và lượng vận động có ảnh hưởng quan trọng đếnTĐTL
Để đánh giá TĐTL người ta phải tiến hành kiểm tra TĐTL Cũng theo như cácnhà khoa học Trung Quốc thì kiểm tra TĐTL là một trong những giai đoạn huấn luyệnnhất định, dùng các phương pháp và công cụ (các dụng cụ và phương tiện) kiểm trathích hợp, có thể nhận được những tư liệu, cũng có thể phản ánh được TĐTL củaVĐV bao gồm hình thái và chức năng cơ thể, tố chất vận động, kỹ thuật, chiến thuật,trí thức cơ bản về TDTT, lý luận môn chuyên sâu phẩm chất tâm lý Kiểm tra phải có
Trang 22độ tin cậy (kết quả kiểm tra lặp lại giống nhau), tính hiệu quả (kết quả kiểm tra) có thểphản ánh chính xác một mặt nào đó của TĐTL, tính khách quan những người kiểm trakhác nhau cho kết quả khác nhau trên cùng một đối tượng kiểm tra.
Theo các tác giả Trung Quốc, TĐTL thể lực và thành tích thể thao đều có cácđặc thù khác nhau do đó việc phát triển các tố chất thể lực là nhằm đáp ứng nhu cầucủa môn thể thao cũng như cấu trúc của thi đấu rất quan trọng để thành công trong đàotạo HLTT Vì vậy, khái niệm trình độ thể lực là chủ yếu nói tới những biến đổi thíchnghi về mặt sinh học (chức năng và hình thái) diễn ra trong cơ thể VĐV dưới tác độngcủa tập luyện và biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hoặc thấp
Theo A.D.Nô Vi cốp và L.P Mát vê ép (1980) TĐTL chủ yếu liên quan đếnnhững biến đổi thích ứng về mặt sinh học (hình thái và chức năng xảy ra trong cơ thểVĐV dưới tác động của lượng vận động tập luyện và những thay đổi đó biểu hiện ở sựphát triển các năng lực của VĐV) [1]
Năm 1982, Aulíc I.V quan niệm về TĐTL như sau: “Yếu tố quan trọng nhất củaTĐTL là đạt thành tích thể thao Vì vậy việc đánh giá TĐTL không phải là mục đích
tự thân mà là nhiệm vụ hàng thứ hai nó như một phương tiện kiểm tra cần phải có đểphục vụ cho vấn đề chính đó là phương pháp tập luyện nhằm tạo điều kiện đạt đượcnhững thành tích thể thao cao” Do đó, theo ông: TĐTL là năng lực tiềm tàng củaVĐV để đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao lựa chọn và năng lựcnày được biểu hiện cụ thể ở mức chuẩn bị về kỹ chiến thuật, thể lực, đạo đức và trítuệ TĐTL càng cao thì VĐV càng có thể làm trọn vẹn được một nhiệm vụ nhất định
và hiệu quả mỹ mãn hơn
I.V.Smirơlốp (1984) đã đưa ra những chỉ tiêu và phương pháp đánh giá tổnghợp về TĐTL Theo ông: “TĐTL của VĐV là kết quả tổng hợp của quá trình tậpluyện thể thao, nó phản ánh sự nâng cao khả năng chức phận cơ thể VĐV, khả nănglàm việc chung và chuyên môn, trình độ hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động củaVĐV được đánh giá, được kiểm tra bằng khả năng chức phận cơ thể VĐV khả năng
Trang 23làm việc chung và chuyên môn, trình độ hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động củaVĐV được đánh giá được kiểm tra bằng khả năng của VĐV đạt thành tích thể thao”.
M.I.a Na bát Nhi cô va (1995), trong tác phẩm “Quản lý đào tạo VĐV trẻ” đãnghiên cứu TĐTL thông qua mô hình hóa các mặt khác nhau của thành tích thể thao.Các chỉ số của mô hình được xây dựng cho cả những VĐV trẻ (cụ thể hóa tiêu chuẩncho VĐV một số môn thể thao) cho phép xác định các phương pháp giảng dạy, huấnluyện theo đặc điểm từng môn thể thao Tác giả đã đặt ra 10 nguyên tắc cơ bản có tínhchủ đạo việc kiểm tra tổng họp các mặt y sinh, sư phạm đối với đánh giá TĐTL củaVĐV trẻ
Theo quan niệm của nhà khoa học người Đức giáo sư Harre D (1996) thì:
“TĐTL của VĐV thể hiện ở sự nâng cao năng lực thể thao nhờ ảnh hưởng của lượngvận động tập luyện, lượng vận động thi đấu và các biện pháp bổ trợ khác” Ông cũngcho rằng: ngoài lượng vận động tập luyện và thi đấu TĐTL của VĐV còn liên quanđến các biện pháp hỗ trợ khác nhau Các thông tin về TĐTL của VĐV còn được thểhiện ở các cuộc thi đấu và kiểm tra thành tích (thông qua các test kiểm tra) Như vậyD.Harre xác định: “Các yếu tố của năng lực thể thao bao gồm: các năng lực về thểchất, năng lực phối hợp vận động, năng lực trí tuệ, kỹ năng kỹ xảo, năng lực về chiếnthuật và các phẩm chất tâm lý” Ngoài ra TĐTL còn thể hiện ở sự thích ứng về cácmặt sinh học thông qua năng lực làm việc được nâng cao của các hệ thống chức năng
cơ thể TĐTL được đánh giá bằng các test sư phạm, tâm lý, sinh lý, các test chuyênmôn và các cuộc thi đấu thể thao Sự ảnh hưởng của lượng vận động trong tập luyện
và thi đấu, năng lực thể thao của VĐV được nâng cao được gọi là TĐTL
Theo quan điểm của Ôdôlin M.G., thì TĐTL của VĐV là kết quả tổng hợp củaviệc giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn của công tác HLTT TĐTL thể hiện ởmức độ nâng cao chức phận cơ thể năng lực hoạt động chung và chuyên môn củaVĐV ở mức độ hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo thể thao phù hợp
Như vậy theo các nhà khoa học nước ngoài, TĐTL được phân thành TĐTL
Trang 24chung và TĐTL chuyên môn Các chỉ số về TĐTL chung của các VĐV được biểu thịmột cách độc lập với hình thức hoạt động Để thực hiện điều trên, người ta chủ yếuphân tích kết quả thử nghiệm gọi là các thử nghiệm chức năng phản ánh trạng tháithần kinh - cơ, tuần hoàn, hô hấp, nội tiết Các chỉ số này ở những môn thể thao khácnhau thì khác nhau Ví dụ, chỉ số TĐTL chung của VĐV cử tạ, thể dục dụng cụ, thểdục nghệ thuật, thể hình có cùng đẳng cấp, song thường bị đánh giá thấp hơn so vớicùng các chỉ số đó ở VĐV của các môn đua xe đạp, chạy, bơi cự ly trung bình hay dài.
Sự đánh giá như vậy thật không khách quan nhất là khi so sánh những trường hợpVĐV là những nhà vô địch thế giới hay châu lục Để tránh được sự không thống nhấtnày có thể không nên sử dụng khái niệm TĐTL chung Vì vậy thay cho thuật ngữ
“trình độ tập luyện chung”, nên dùng khái niệm “trình độ thể lực”, hay “năng lực hoạtđộng thể lực” Trình độ thể lực biểu thị trạng thái chức năng cơ thể và đặc biệt nó biểuhiện trình độ các tố chất thể lực như: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sự khéo léo (nănglực phối hợp vận động) và sự mềm dẻo Ngoài ra còn thể hiện khả năng phối hợp cơ -thần kinh
Khái niệm về TĐTL chuyên môn cũng không nên dùng, bởi vì môn thể thao tậpluyện chuyên môn chính là TĐTL, môn thể thao nào cũng đều ảnh hưởng đến cảithiện trạng thái chức năng cơ thể (hô hấp, tuần hoàn), trạng thái tâm lý, tố chất thể lựcchung và chuyên môn Vì vậy các tác giả nước ngoài cho rằng: chỉ nên dùng kháiniệm TĐTL nói chung thay cho TĐTL chung và TĐTL chuyên môn
Giữa trình độ thể lực và TĐTL có mối liên hệ lẫn nhau vì TĐTL càng cao thìnăng lực hoạt động của VĐV càng cao Điều đó phụ thuộc vào hình thức hoạt độngthể lực nghĩa là phụ thuộc vào môn thể thao Trạng thái của hệ vận động, oxy đượccoi là chỉ số cơ bản của năng lực hoạt động được đặc trưng bởi mức độ hấp thụ oxy tối
đa (V02max) Ở những môn thể thao có chu kỳ (chạy, bơi, xe đạp, ) mà sức bền là tốchất nổi trội nhất thì thành tích của VĐV trực tiếp phụ thuộc vào khả năng hấp thụoxy tối đa có nghĩa là TĐTL phụ thuộc vào TĐTL và trình độ thể lực trùng hợp nhau
Trang 25Các môn thể dục, thể hình, bắn súng, cờ vua, thành tích của VĐV chủ yếu là dohoàn thiện về kỹ thuật hay thể hiện tâm lý, ý nghĩa của sự vận chuyển 0xy là khônglớn và chỉ số thông thường về thể lực không cho ý niệm đầy đủ về TĐTL của VĐV
Từ góc độ sinh lý, tác giả Lưu Quang Hiệp và Phạm Thị Uyên (2003) cho rằng:
“Mức độ thích nghi của cơ thể đối với hoạt động cụ thể nào đó đạt được bằng tậpluyện đặc biệt được gọi là TĐTL”
Năm 1997, tác giả Nguyễn Ngọc Cừ nêu ra định nghĩa: “TĐTL là phạm trù đagiá trị có tính tương đối đến trìu tượng, tiềm ẩn, không thể nhận biết ngay được bằngtrực quan nó là tổng hòa những biến đổi thích nghi của vô số những yếu tố phụ thuộccác lĩnh vực khoa học y sinh, sư phạm và tâm lý diễn ra bên trong cơ thể VĐV thôngqua quá trình huấn luyện lâu dài được biểu hiện ra bên ngoài bằng năng lực vận động
và thành tích thể thao TĐTL được coi là tiền đề là nền tảng cho sự sáng tạo các thành
Trang 26tích thể thao Không phải lúc nào TĐTL tốt cũng được thể hiện một cách thể hiện mộtcách vô điều kiện ra ngoài bằng thành tích thể thao cao, bởi lẽ chúng ta không thểlường hết và cũng không thể điều tiết được tất cả những yếu tố chi phối tiêu cực đốivới các cuộc thi đấu thể thao”.
Năm 2000, tác giả Trương Anh Tuấn cũng nêu định nghĩa về TĐTL và chorằng: “TĐTL thể hiện ở sự phát triển của từng yếu tố của năng lực thể thao như tốchất thể lực, năng lực kỹ thuật, phối hợp vận động, năng lực chiến thuật và cả phẩmchất tâm lý Ngoài ra TĐTL còn thể hiện ở sự thích ứng và thông qua năng lực làmviệc được nâng cao của các hệ thống chức năng cụ thể TĐTL được đánh giá bằng cáctest sư phạm, sinh lý, tâm lý, các test chuyên môn và các cuộc thi đấu thể thao Do ảnhhưởng của lượng vận động trong tập luyện và thi đấu năng lực thể thao của VĐVđược nâng cao phù hợp với từng giai đoạn huấn luyện Trình độ các năng lực thể thaođược nâng cao, được gọi là TĐTL”
Năm 2002 nhóm tác giả Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Kim Minh và Trần QuốcTuấn (Viện khoa học TDTT) cũng cho rằng: “TĐTL là một phức hợp gồm nhiềuthành tố y sinh, tâm lý, kỹ chiến thuật, thể lực ngày càng được nâng cao nhờ ảnhhưởng trực tiếp lâu dài của lượng vận động tập luyện thi đấu cũng như các biện pháp
hỗ trợ ngoại sinh khác”
Như vậy từ các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về TĐTL có thểnhận thấy khái niệm và đánh giá về TĐTL được nhìn nhận theo 5 luận điểm chính sauđây:
TĐTL luôn được xem xét trong trạng thái vận động
TĐTL chủ yếu là những biến đổi thích nghi về hình thái, chức năng sinh lý diễn
ra trong cơ thể dưới tác động của lượng vận động tập luyện và thi đấu mà biểu hiệnchủ yếu là nâng cao khả năng chức phận và năng lực vận động của VĐV
TĐTL là thước đo hiệu quả của quá trình huấn luyện phụ thuộc vào quá trìnhhuấn luyện
Trang 27TĐTL gồm nhiều mặt, nhiều thành phần trong đó yếu tố đặc trưng cơ bảnnhất của nó là thành tích thể thao.
TĐTL có được phải qua con đường tập luyện và thi đấu thể thao
* Nhận xét chung:
Theo các nhà khoa học trong và ngoài nước thì việc đánh giá TĐTL của VĐVthể thao có thể đánh giá dưới các góc độ y sinh học, sư phạm, tâm lý xã hội học
Dưới góc độ sư phạm: Việc đánh giá TĐTL của VĐV thể thao tập trung vào
việc sử dụng các test sư phạm để xác định các yếu tố cấu thành thành tích thể thao nhưtrình độ kỹ thuật, trình độ phát triển các tố chất thể lực chiến thuật, năng lực phối hợpvận động, thành tích đạt được trong các cuộc thi đấu hoặc kiểm tra của VĐV
Dưới góc độ tâm lý học thì TĐTL của VĐV có thể được xác định thông qua
việc sử dụng các test tâm lý đặc thù để xác định trạng thái tâm lý các phẩm chất ý chí
và đạo đức của VĐV
Dưới góc độ y sinh học, đánh giá TĐTL của VĐV thể thao được xác định thông
qua việc xem xét sự biến đổi các chỉ số hình thái chức năng của cơ thể và tình trạngsức khỏe của VĐV Vì sức khỏe tốt và khả năng chức phận cơ thể (chức năng) tốt làyếu tố cần thiết để VĐV có thể đạt được thành tích xuất sắc trong thể thao
Dưới góc độ xã hội học, xem xét đánh giá TĐTL của VĐV thể thao có thể được
xác định bằng trình độ văn hóa thể thao của VĐV trong xã hội nó thể hiện điều kiệnsống của VĐV thể thao
Cũng theo các học giả về kiểm tra và đánh giá TĐTL của VĐV thể thao trên thìnhất thiết việc đánh giá TĐTL của VĐV phải bằng các phương pháp kiểm tra chínhxác có độ tin cậy và được so sánh, đối chiếu với hệ thống các tiêu chí và tiêu chuẩnđánh giá đã được xây dựng một cách khoa học đủ độ tin cậy
Còn quan điểm đánh giá TĐTL của các học giả Trung Quốc như Huỳnh VănHoa (1981); Tăng Phàn Huy (1992); Vương Kim Xán (2005) thì đánh giá TĐTL củaVĐV là một công việc được thực hiện sau một giai đoạn huấn luyện nhất định, tiến
Trang 28hành kiểm tra xác định các tư liệu chi phối TĐTL của VĐV như hình thái, chức năng,
tố chất thể lực kỹ thuật, chiến thuật, tri thức lý luận cơ bản và chuyên môn tố chất tâm
lý v.v tiến hành chỉnh lý và so sánh một cách hệ thống, đồng thời dựa vào đó để đưa
ra các đánh giá phù hợp với TĐTL của VĐV Trong HLTT hiện đại đem kiểm trađánh giá TĐTL, được gọi chung là “chẩn đoán HLTT”
Từ các quan điểm về đánh giá TĐTL của các tác giả trên ta có thể rút ra kếtluận:
Các nhà khoa học đều có chung quan điểm là đánh giá TĐTL của VĐV có thể
từ các góc độ y sinh, sư phạm, tâm lý, xã hội học Song việc đánh giá phải có nội dungtoàn diện bao gồm: hình thái, chức năng, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật, phẩm chấttâm lý Vì chỉ có xem xét đầy đủ các mặt trên mới có thể đánh giá chính xác TĐTLcủa VĐV thể thao
1.3 Tính chu kỳ và tính giai đoạn của những phản ứng thích nghi trong quá trình phát triển trình độ tập luyện:
1.3.1 Tính chu kỳ của những phản ứng thích nghi:
Nếu xem xét những luận điểm cơ bản về lý thuyết phát triển trên nền tảng của
lý thuyết thích nghi, chúng ta có thể nhận thấy: sự phát triển TĐTL thực chất là chu
kỳ của những phản ứng thích nghi Như vậy quá trình thích nghi là một trong nhữngmặt quan trọng của quá trình phát triển TĐTL lâu dài
Từ rất sớm nhà khoa học Canađa, Ông Gans Seley (1936) thông qua kết quảnghiên cứu của mình đã cho rằng: Những chấn động Stress căng thẳng kể cả lượngvận động tập luyện và thi đấu với thời gian tác động tương đối dài sẽ gây nên nhữngphản ứng định hình gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn lo lắng hồi hộp ban đầu
Giai đoạn đề kháng
Giai đoạn kiệt sức
Khi đề xuất đến bản chất có tính chu kỳ của “hội chứng thích ứng” G.Seley đã
Trang 29giải thích và cho rằng: Sở dĩ xuất hiện giai đoạn 3 (giai đoạn kiệt sức là do cạn kiệtnguồn năng lượng thích ứng Cho đến nay, người ta vẫn chưa rõ nguồn năng lượngthích ứng là gì), nhưng bản chất tự nhiên của giai đoạn 3 về hội chứng thích ứng nóichung chứng tỏ nguồn lực thích ứng là có giới hạn Trong các công trình nghiên cứunày tuy chưa xác định được nguồn dự trữ năng lượng thích ứng một cách khách quan,nhưng G.Seley vẫn kiến nghị phân nguồn dự trữ năng lượng thích ứng thành 2 loại.
- Một là loại năng lượng thích ứng thể hiện bên ngoài dễ nhận biết và có thể hồiphục được
- Một loại năng lượng thích ứng khác có chiều sâu, ẩn chứa dưới dạng dự trữ,
để bồi hoàn những nguồn năng lượng đã bị tiêu hao trong quá trình vận động trong tậpluyện và thi đấu vào lúc nghỉ ngơi hoặc chuyển đổi sang các hoạt động khác
Theo các học giả trong và ngoài nước như Dương Tích Nhượng (Trung Quốc),Nguyễn Thế Truyền (Việt Nam), thì trong thực tiễn thi đấu thể thao, có những VĐVsau 2-3 tuần hoặc kéo dài 2-3 tháng nghỉ ngơi đầy đủ do chấn thương hoặc do ốm đaukhi tham gia thi đấu trở lại bỗng nhiên đạt được thành tích cao một cách bất ngờ Hiệntượng này có thể được giải thích bằng lý thuyết thích ứng nêu trên của G.Seley Đó là
do nguồn dự trữ năng lượng thích ứng có chiều sâu đến mức phải sau hàng tháng hoặchơn vẫn phát huy tác động có hiệu quả
Quan điểm trên của G.Seley được tiếp tục phát triển bởi các công trình nghiêncứu của các chuyên gia khác, như David (1956) David chia quá trình thích ứng thành
3 môđun chức năng, gồm:
Một là: Các nguồn dự trữ sinh học quá trình đồng hóa chiếm ưu thế.
Dự trữ sinh học ở dưới góc độ chức năng thứ nhất này cho thấy: Khi chuyển từtrạng thái tĩnh sang trạng thái vận động bình thường với đặc điểm là các phản ứngđồng hóa chiếm ưu thế (phản ứng tổng hợp)
Hai là: Các nguồn dự trữ sinh học cân bằng giữa hai quá trình đồng hóa và dị
Trang 30hóa (phản ứng phân hủy).
Bà là: Dự trữ năng lượng sinh học quá trình dị hóa chiếm ưu thế Quá trình này
năng lượng sinh học có thể được khai thác khi có các tình huống căng thẳng, bồi hồivới sự trả giá đắt và diễn ra dưới dạng phản ứng “Stress cao độ” Một số nhà khoa họcthể thao trong và ngoài nước như Diên Phong (Trung Quốc), Nguyễn Thế Truyền(Việt Nam) còn nhấn mạnh rằng: Trong thi đấu thể thao hiện đại có mức độ cạnhtranh rất gay gắt, quyết liệt VĐV phải chịu đựng những căng thẳng về tâm lý và thểlực rất to lớn trong hàng loạt các cuộc thi đấu quốc tế liên tục, kéo dài cả mùa giảidiễn ra trong 2 -3 tháng Trong tình huống như vậy có thể để lại những hậu quả lâudài, đồng thời có thể gây ra những chấn thương nghiêm trọng do sự mệt mỏi mãn tínhhoặc do “stress” gây nên Trong đó rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm quan điểm củaông khi ông cho rằng: “Sự cạn kiệt nguồn năng lượng thích nghi thường có thể đượcphục hồi sau lượng vận động tập luyện trong thời gian ngắn Nhưng nếu sự cạn kiệtnguồn năng lượng thích ứng thì sẽ khó phục hồi hơn nhiều Điều này đã được chứngminh: Những VĐV đua xe đạp giành được giải vô địch Tây Ban Nha (tháng 4) thì khógiành được vô địch giải đua xe đạp Chỉ duy nhất trong 2 năm 1974 và 1987 có 2VĐV xe đạp là Merks và Roge là đoạt được giải trong 3 cuộc thi liền là giải Italia(tháng 5), giải Tourde France (tháng 6) và giải vô địch thế giới (tháng 8) Hai VĐVnày trong vòng 44 ngày đã thực hiện khối lượng đua xe cường độ lớn là 8000km.Song đáng tiếc những cuộc thi đấu xe đạp ở những năm sau đó hai VĐV này khôngcòn giành được bất kỳ giải thưởng nào nữa
Những sự thực trên đã chứng tỏ không thể duy trì trạng thái sung sức thể thao(TĐTL cao) nếu như coi thường những qui luật thích ứng trong tập luyện và thi đấuthể thao thậm chí còn có thể gây ra những hậu quả chấn thương, mệt mỏi quá độ vàcác hậu quả khôn lường khác
1.3.2 Tính giai đoạn của những biến đổi diễn ra trong cơ thể:
Trang 31Trong hàng loạt các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nướcxem xét về những biến đổi diễn ra trong cơ thể đáp lại những tác động khác nhau cũngnhư quá trình thích ứng của nó có thể được chia thành 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn “cấp báo”: giai đoạn này có đặc điểm là các
chức phận của hệ thống cơ thể vượt quá mức tối đa, không tiết kiệm trong tiêu hao dựtrữ của từng cơ quan trong cơ thể Các phản ứng stress cũng nghiêm trọng hơn và dễgây chấn thương Trong giai đoạn này chưa thấy xuất hiện những đổi mới về chứcphận và hình thái trong các hệ thống khác nhau của cơ thể
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn quá độ: Giai đoạn quá độ của quá trình thích
ứng lâu dài có đặc điểm là: Quá trình đổi mới về hình thái và chức năng diễn ra tíchcực đặc biệt là sự phì đại trong cơ bắp và các hệ thống khác làm hoạt hóa bộ máy ditruyền của cấu trúc tế bào, tổng hợp các thành tố trong cấu tạo (axit nuclêôtíc, các axítamin, ), tăng cường khả năng chức phận của các hệ thống cơ thể dạng thích nghi.Hình thành các dấu vết về mặt cấu trúc còn tản mạn Thực chất giai đoạn này, có thểnói là TĐTL đang phát triển
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn ổn định: Trong giai đoạn này những phản ứng
của cơ thể dần dần giảm đi đối với các yếu tố gây ra thích ứng Những biến đổi về cấutrúc trong các hệ thống cơ thể khác nhau được phát triển ở mức độ nhất định Do vậynâng cao khả năng chức phận của các hệ thống đó và đảm bảo hoạt động tiết kiệm và
ổn định Giai đoạn này đã hoàn thiện quá trình hình thành các dấu vết về mặt cấu trúcmột cách hệ thống những biến đổi về hình thức chức phận trong cơ thể diễn ra theoquy luật từ từ từng bước một
Giai đoạn thứ tư là giai đoạn trạng thái “trời” của hệ thống cơ thể đối với quá
trình thích ứng tuy không nhất thiết xuất hiện, nhưng có thể làm rối loạn quy luậttrong tập luyện thể thao khi sử dụng lượng vận động trong tập luyện và trong thi đấu
có các tình huống căng thẳng - stress
Dưới góc độ miễn dịch học, các học giả R.S Suzdalnixki và V.A Lê -vando
Trang 32cũng chia quá trình thích thích ứng miễn dịch thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Là giai đoạn động viên: Trong giai đoạn này cơ thể huy động các
nguồn dự trữ của hệ miễn dịch trong cơ thể để đáp lại lượng vận động tập luyện vớicường độ thấp (nhịp tim 160 l/p trở xuống)
Giai đoạn 2: Là giai đoạn hồi phục: Ở giai đoạn này khi tăng cường độ và khối
lượng vận động tập luyện, hàng rào phòng vệ sinh lý của cơ thể trên thực tiễn vẫnđược duy trì như ở giai đoạn trước
Giai đoạn 3: Là giai đoạn suy giảm hồi phục: Ở giai đoạn này thường quan sát
thấy trong thời kỳ thi đấu với cường độ lượng vận động cao đã có hiện tượng giảm sútmiễn dịch khá rõ Sau khi thi đấu xuất hiện các hiện tượng như yếu tố stress hiệntượng tê liệt về chức phận của hệ thống miễn dịch
Giai đoạn 4: Là giai đoạn hồi phục: Sau khi sử dụng lượng vận động tập luyện
giảm đi đáng kể có thể quan sát thấy các chỉ số về trạng thái miễn dịch và hoóc mônđược hồi phục dần dần Quá trình thích ứng không phải là để lại các dấu vết giản đơnkhi biến đổi cấu trúc trong các hệ thống chức năng nào đó của cơ thể Thực tiễn thểthao chứng tỏ rằng: Sự biến đổi trong quá trình thích ứng đều có mối quan hệ tương
hỗ giữa các hệ thống, có sự phân phối lại nguồn dự trữ của cơ thể diễn ra trong từnggiai đoạn mới của quá trình thích ứng lâu dài từ đó hình thành trạng thái sung sức thểthao nhờ lượng vận động tập luyện và thi đấu hợp lý trong mỗi chu kỳ huấn luyện dàihạn
Học giả người Mỹ F.D.Merson (1978) cho rằng: khả năng thích ứng của cơ thểkhông phải là vô hạn Mỗi một tiền đề quan trọng để mở rộng những phản ứng thíchứng đều là kết quả của sự thủ tiêu một phần hoặc toàn phần quá trình thích ứng đãđược hình thành trước đó Điều đó có nghĩa là cần thiết có giai đoạn suy thoái (khử)thích ứng Điều này hoàn toàn đúng và có lý vì trong qúa trình phát triển chủng loạicủa con người cũng là quá trình thích nghi lâu dài Những gì không đáp ứng được
Trang 33trong hoàn cảnh mới đều bị loại bỏ và thay thế bằng cái mới phù hợp hơn Quy luậtnày diễn ra trong mỗi chu kỳ tập luyện dài hạn khi mỗi chương trình thích nghi mớibắt đầu hình thành thì cũng là lúc bắt đầu quá trình thủ tiêu cái cũ Ngay từ thập kỷ 60của thế kỷ 20, L.Mát vê ép (Nga) đã cho rằng mỗi một lần trước khi có sung sức thểthao mới cần phải thủ tiêu hoặc vứt bỏ các cũ đi Đó chính là giai đoạn phục hồi gọi làgiai đoạn quá độ sau khi kết thúc quá trình huấn luyện dài hạn.
Tính chất giai đoạn của quá trình thích nghi đã chứng minh rằng sự phát triểnTĐTL là một quá trình có tính chất chu kỳ và giai đoạn Vì vậy không thể kích thíchliên tục để phát triển TĐTL Do những đặc điểm nêu trên của quá trình thích ứng nêntrong quá trình đánh giá tập luyện cần phải chú ý đặc tính tính chu kỳ và tính giaiđoạn trên
Tóm lại, từ những quan điểm trên cho thấy sự biến động của TĐTL theo thời
gian không diễn ra một lộ trình tuyến tính, ngay cả khi năng lượng vận động tập luyệnmột cách hệ thống; mà thực tế diễn biến đó có tính chất giai đoạn và thang bậc khácnhau Bởi vậy trong lý luận cũng như trong thực tiễn việc đánh giá TĐTL phải cónhững thông tin đầy đủ, kịp thời về những quá trình biến động diễn tra trong cơ thểVĐV
1.4 Cơ sở di truyền học và các qui luật phát triển cơ thể, qui luật phát triển các tố chất thể lực trong đánh giá trình độ tập luyện của VĐV thể thao:
1.4.1 Cở sở di truyền học trong đánh giá TĐTL:
Theo các học giả về khoa học đánh giá TĐTL trong và ngoài nước như Aulic(Nga), Hình Văn Hoa (Trung Quốc), Nguyễn Thế Truyền (Việt Nam), thì trong đánhgiá TĐTL cần phải dựa vào cơ sở di truyền học
Theo các học giả trên thì TĐTL là một trạng thái động, luôn luôn phát triển tuântheo các quy luật phát triển thành tích thể thao tùy thuộc vào đặc điểm giới tính độtuổi và môn thể thao chuyên sâu
Trang 34Đánh giá TĐTL của VĐV nói chung, một mặt cần lưu ý đến các chỉ số chịu sựtác động của di truyền như: Phản xạ vận động, test nhanh mạnh, như bật xa tại chỗhay có đà, chạy 30m, lực cơ tương đối, nhịp tim tối đa, lượng oxy hấp thụ tối đa tươngđối với trọng lượng cơ thể, hô hấp tế bào các chỉ số chuyển hóa yếm khí, mặt khác cầnquan tâm tới một số các chỉ tiêu chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường của giáo dục,huấn luyện như lực cơ tuyệt đối, tần số động tác được trình bày tại bảng 1.1 và 1.2.
Bảng 1.1 Độ di truyền của các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa có ý nghĩa với năng lực
(TS Nguyễn Ngọc Cừ “Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao” 1997)
Bảng 1.2 Độ di truyền của các chỉ tiêu quyết định tố chất vận động
Trang 35(TS Nguyễn Ngọc Cừ “Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao” 1997)
Như vậy có thể nói những tác động đơn giản về mặt phối hợp yếu tố di truyềnthể hiện rõ hơn động tác phức hợp đòi hỏi sự phối hợp khéo léo Do đó nên chọnnhững bài tập kiểm tra đơn giản, dễ thực hiện và giúp đánh giá năng lực thực hiện củaVĐV Nói một cách tổng quát khi đánh giá TĐTL cần coi trọng yếu tố di truyền sauđây:
1.4.2.1 Đặc điểm quá trình phát dục trưởng thành ở thiếu niên nhi đồng
Theo các học giả sinh lý thể thao trong và ngoài nước, như Vôn Cốp (Nga),Dương Tích Nhượng (Trung Quốc), Lưu Quang Hiệp, Trịnh Hùng Thanh (Việt Nam),thì trong quá trình phát dục trưởng thành của thiếu niên nhi đồng, có 3 đặc điểm lớnnhư sau:
Trang 36Thứ nhất, là tính làn sóng và tính giai đoạn của quá trình phát dục trưởng
thành Sự phát dục trưởng thành của các em thiếu niên nhi đồng là 1 quá trình liên tụcthống nhất nhưng tốc độ phát dục trưởng thành trong các giai đoạn của nhiều nămxuất hiện tính làn sóng và tính giai đoạn Thời kỳ phát dục trưởng thành của thiếu nhi,thanh niên nữ là từ 7 -17 tuổi và nam là từ 7-19 tuổi được trình bày tại bảng 1.3
Bảng 1 3 Tỷ lệ % sự phát triển cơ thể các lứa tuổi so với tuổi
Trang 37số chiều cao và cân nặng ở các lứa tuổi có làn sóng thứ nhất như sau:
3-6 tuổi, mỗi năm cao 5,9 - 6,4cm Tỷ lệ tăng trưởng chiều cao (so với chiềucao vốn có ) là 5,2 - 7%
7- 10 tuổi thay đổi không lớn, mỗi năm tăng trưởng 4,7cm tỷ lệ tăng trưởng3,7%
8 tuổi bắt đầu vào làn sóng thứ hai, là thời kỳ phát triển nhanh
Nữ 10 - 12 tuổi mức độ tăng trưởng đạt tới đỉnh cao
Nam đa số ở tuổi 12 -14 cũng có mức độ tăng trưởng đạt tới đỉnh cao Sau thời
kỳ đỉnh cao đại đa số các chỉ tiêu giữ ở mức độ tăng trưởng tương đối lớn sau đó giảmxuống Trong làn sóng thứ 2 căn cứ vào sự phát dục nhanh chậm còn có thể chia thànhthời kỳ trước và thời kỳ sau
Nam ở tuổi 12 - 14 và nữ ở tuổi 10 - 12 các thành phần cơ bản của cơ thể hoàntoàn tiến triển rất nhanh (bảng 1.3)
Tỷ lệ % sự phát dục cơ bản hàng năm của nam và nữ ở các nhóm tuổi cũng rấtcao (Chú giải: Tỷ lệ % của năm thứ 2 trừ đi tỷ lệ % của năm thứ nhất)
Ví dụ: Chiều cao cơ thể của các em nam tăng trung bình 6,6% ở lứa tuổi 12
-14 Nhưng ở lứa tuổi 16- 18, thì tỷ lệ tăng trưởng chỉ ở mức 3,7%
Nữ 10 - 12 tuổi, tăng trưởng 7,0%, nhưng đến 14 - 18 tuổi, chỉ tăng 1,4%
Thứ hai là sự phát triển không đồng đều của các chỉ số hình thể.
Trang 38Cơ thể của các em thiếu niên nhi đồng là 1 thể thống nhất hoàn chỉnh Nhưng,cùng 1 thời kỳ cũng như trong cả 1 quá trình phát triển, các bộ phận cơ thể sẽ phát dụctrưởng thành không đồng đều.
Mức độ tăng trưởng hàng năm của sự phát dục trưởng thành ở các bộ phận cơ thể không đều nhau:
Căn cứ vào tài liệu của Trung Quốc, từ năm 1978- 1980 đã điều tra trên 20 vạnthanh thiếu niên cho thấy sự phát triển của các bộ phận cơ thể không đều nhau, có bộphận nhanh, có bộ phận chậm
Ví dụ, thanh thiếu niên thành phố có chỉ số tăng trưởng hàng năm về chiều cao
ngồi khoảng từ 7 - 10 tuổi, so với chiều dài của chân là 0,47 lần, so với cẳng chân là1,5 lần, so với chiều dài bàn chân là 2,8 lần
Tỷ lệ tốc độ phát dục trưởng thành giữa các bộ phận cơ thể không đều nhau.
Ví dụ, tốc độ phát triển nói chung ngắn hơn chiều cao cơ thể; đến giai đoạn
thiếu niên thì dài hơn, hoặc bằng chiều cao cơ thể, còn sang giai đoạn thanh niên,phần lớn là dài hơn chiều cao cơ thể Quy luật này của nữ cũng giống của nam
Điều này nói lên tỷ lệ tốc độ phát triển của tay chân không đều nhau Về vấn đềnày có người nói đặc điểm phát triển tứ chi của thiếu niên là dài chân trước, dài taysau Điều đó cũng có cơ sở khoa học nhất định
Tỷ lệ tốc độ phát dục trưởng thành của các bộ phận cơ thể cũng thay đổi theo
sự tăng tiến của tuổi tác và cũng có quy luật riêng của nó.
Lấy các chỉ số phát triển thân trên của học sinh nam thành phố:
Chiều cao đứng - chiều cao ngồi
x 100Chiều cao
Trang 39Sự phát triển các cơ quan nội tạng như hệ thần kinh, hệ tim mạch, hệ nội tiết, …
và các cơ quan vận động như xương, cơ bắp phát triển không đồng bộ và cân bằng; cócái trước, có cái sau, cái nhanh, cái chậm, như bảng 1.4 trình bày
Bảng 1.4 Sự phát triển các cơ quan nội tạng và cơ quan vận động của lứa tuổi
13-15
Phân loại Giới
tính Thời kỳ phát triển nhanh nhất
Thời kỳ hoàn thành
Hệ thống
xương
Nam Thời kỳ thai -> thời kỳ thanh xuân
Nữ Thời kỳ thai -> thời kỳ thanh xuân
Hệ cơ Nam Thời kỳ thai -> thời kỳ thanh xuân
Nữ Thời kỳ thai -> thời kỳ thanh xuân
Hệ thần kinh
Nam Thời kỳ sơ sinh -> thời kỳ nhỏ dại
(trước 3 tháng) (trước 3 tuổi)
Nữ Thời kỳ sơ sinh -> thời kỳ nhỏ dại
(trước 3 tháng) (trước 3 tuổi)
Hệ tim mạch Nam Thời kỳ sơ sinh -> thời kỳ thanh xuân
Nữ Thời kỳ sơ sinh -> thời kỳ thanh xuân
Hệ phân tích
tiền đình
Nam Thời kỳ sơ sinh -> thời kỳ thanh xuân
Nữ Thời kỳ nhỏ dại -> thời kỳ nhi đồng
(trước 3 tuổi) (trước 7 tuổi)
Hệ cảm thụ
bản thể
Nam Thời kỳ nhỏ dại -> thời kỳ nhi đồng
(trước 3 tuổi) (trước 7 tuổi)
Nữ Thời kỳ nhỏ dại -> thời kỳ nhi đồng
(trước 3 tuổi) (trước 7 tuổi)
Trang 40Quá trình phát dục trưởng thành của thiếu niên nhi đồng là quá trình cơ thểkhông ngừng thích ứng với hoàn cảnh bên ngoài, là quá trình của các điều kiện phản
xạ của hệ thống tín hiệu thứ nhất, thứ hai được hình thành để đáp lại các kích thíchbên ngoài Quá trình phát dục là quá trình mâu thuẫn và thống nhất của cơ thể và hoàncảnh bên ngoài của di truyền và thích ứng Di truyền quyết định khả năng phát dụccủa cơ thể, còn điều kiện hoàn cảnh thì ảnh hưởng tới tốc độ phát dục và mức độ đạtđến cuối cùng Không có hoàn cảnh bên ngoài duy trì sự tồn tại của cơ thể, thì cơ thể,cũng khó tồn tại Có thể nhận thấy, các nhân tố ảnh hưởng sinh trưởng phát dục làtương đối nhiều
1.4.2.2 Các đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của thiếu niên nhi đồng:
Các nhà sinh lý thể thao trong và ngoài nước, như Vôn Cốp (Nga), Dương TíchNhượng (Trung Quốc), Lưu Quang Hiệp (Việt Nam) cũng như các học giả tuyển chọnkhoa học VĐV và các học giả nhân tài học như: Bungacôva (Nga), Tăng Phàn Huy(Trung Quốc), Triệu Quế Ngân, Vương Chính Âu (Trung Quốc) đều cho rằng trongquá trình phát triển các tố chất thể lực của nam nữ VĐV thể thao đều có những đặcđiểm cơ bản sau: Sự phát triển các tố chất thể lực của các VĐV thiếu niên, nhi đồng làmột đường gấp khúc đi lên
Các học giả trên cho rằng thành tích phát triển tất cả các chỉ số thể lực của thiếuniên nhi đồng được tăng dần theo lứa tuổi Song không phải là sự tăng lên đồng đều
và có giai đoạn nhanh, giai đoạn chậm Quá trình đó tạo thành một đường gấp khúc đilên Vì vậy sự phát triển ở mỗi một tố chất lại có thời kỳ nhạy cảm khác nhau Ỏ thời
kỳ nhạy cảm này thành tích tăng nhanh hơn các thời kỳ không nhạy cảm Theo cácnhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam, như Dương Tích Nhượng, Triệu Quế Ngân(Trung Quốc), Lưu Quang hiệp (Việt Nam), thì các tố chất có các thời kỳ nhạy cảm ởcác độ tuổi, như bảng 1.5 trình bày
Bảng 1.5 Tuổi nhạy cảm của phát triển các tố chất thể lực
Tốcđộphảnứng
Khảnăngphốihợpvận
Tínhlinhhoạt
Độmềmdẻo
Tínhnhịpđiệu
Tốcđộ
Sứcmạnh
Sứcbền