ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ***** TIỂU LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Đề tài số 01 Trình bày lý luận của C Mác về hàng hóa sức lao động? Thực trạng và giải pháp phát t[.]
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
*****
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Đề tài số 01: Trình bày lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động? Thực trạng
và giải pháp phát triển thị trường hàng hóa sức lao động ở nước ta hiện nay?
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Mã sinh viên:
HÀ NÔI – 2023
Trang 2MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG 2
1.1 Khái niệm và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 2
1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 2
1.2.1 Giá trị hàng hóa sức lao động 2
1.2.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động 3
CHƯƠNG 2 VẬN DUNG QUAN ĐIỂM C.MÁC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 4
2.1 Thực trạng về thị trường lao động Việt Nam hiện nay 4
2.1.1 Những kết quả đã đạt được 4
2.1.2 Những hạn chế còn tồn tại 5
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 8
2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách tiền lương ở Việt Nam 8
3.3 Liên hệ trách nhiệm của sinh viên 9
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Xưa kia, ông cha ta đã có câu: “Hiến tài là nguyên khí quốc gia” Ở bất kỳ một
đất nước nào, trong năm yếu tố đóng góp vào sự tăng trường: lực lượng lao động, nguyên liệu, vốn, công nghệ và thể chế pháp lý,… Thì yếu tố lực lượng lao động hay còn gọi là nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất Bởi vì, con người mới có khả năng điều phối và sử dụng hiệu quả các yếu tố còn lại để tạo ra của cải vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống Trước khi đổi mới, Việt Nam hầu như không thừa nhận thị trường sức lao động, tuy nhiên hiện nay việc thừa nhận nó là yêu cầu tất yếu Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề thị trường hàng hóa sức lao động không chỉ là tiêu thức kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị Sức lao động được coi là một hàng hóa đặc biệt, tiền lương được coi là mức giá của sức lao động
và được quyết định bởi sự thỏa thuận giữa các bên Cả người lao động và người sử dụng lao động đều có những quyền cơ bản đảm bảo cho việc tham gia thị trường lao động Lý luận về hàng hóa đặc biệt – sức lao động, Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã có những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó, tạo tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải pháp nhằm ổn định
và phát triển thị trường của loại hàng hóa đặc biệt này cùng những vấn đề liên quan đến nó
Từ những phân tích trên, em xin lựa chọn đề tài số 01: “Trình bày lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động? Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường
hàng hóa sức lao động ở nước ta hiện nay?” cho bài tiểu luận của mình.
1
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
1.1.1 Khái niệm
Để tìm hiểu về hàng hóa sức lao động, trước hết cần hiểu về sức lao động là gì
Theo C Mác: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể
chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người
đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”1 Như vậy, sức lao động là thứ có sẵn trong một con người
1.1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định sau:
Thứ nhất, người lao động là người tự do về thân thể của mình, có khả năng chi phối sức lao động ấy và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
Thứ hai, người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình đứng ra
tổ chức sản xuất nên muốn sống chỉ còn cách bán sức lao động cho người khác sử dụng
1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
1.2.1 Giá trị hàng hóa sức lao động
Giá trị của hàng hóa sức lao động, cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất hàng hóa sức lao động quyết định Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu thụ một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc, ở, học nghề… Ngoài ra người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái họ Vì vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất hàng hóa sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
1 C.Mác – Ph.Ăng ghen (1993), Toàn tập, Tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.251
2
Trang 5ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói cách khác, giá trị của hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp thông qua giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt, giá trị của nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Lượng giá trị hàng hóa sức lao động được hợp thành từ những
bộ phận: Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái tạo sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân Để biết sự biến đổi của giá trị hàng hóa sức lao động trong một thời kì nhất định cần nghiên cứu hai loại nhân tố tác động, đối lập nhau đến sự biến đổi giá trị sức lao động
1.2.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là công dụng của nó làm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh của nhà tư bản Giá trị sử dụng được thể hiện trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân Quá trình này khác với hàng hóa thông thường ở chỗ, đó là, trong quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa thông thường, thì cả giá trị và giá trị sử dụng của nó sẽ giảm dần và tiêu biến mất dần theo thời gian Trong khi, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, sáng tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động
Từ quá trình tiêu dùng sức lao động, tạo ra một lượng giá trị hàng hóa dôi ra so với giá trị sức lao động, đó là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó
3
Trang 6CHƯƠNG 2 VẬN DUNG QUAN ĐIỂM C.MÁC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng về thị trường lao động Việt Nam hiện nay
2.1.1 Những kết quả đã đạt được
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thị trường lao động tuy nhiên có thể hiểu đơn giản thị trường lao động là nơi cung cấp, trao đổi hàng hoá đặc biệt (sức lao động) giữa một bên là người cần mua sức lao động (người sử dụng lao động) và một bên là người cần bán/ cung cấp dịch vụ lao động (người lao động) Có hai yếu tố
cơ bản cấu thành thị trường lao động là cung lao động và cầu lao động
Thị trường lao động được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường
và có mối quan hệ hữu cơ với các loại thị trường khác, như: vốn, khoa học kĩ thuật, thông tin và tiền tệ Phát triển thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển tri thức và hội nhập quốc
tế, đã được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng bằng những chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể, thiết thực và phù hợp
Năm 2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính là 51,87 triệu người trong quý III, tăng 1,17 triệu người người (tương ứng 2,31%) so với thời điểm quý IV/2021 Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý III/2022 ước tính
là 50,80 triệu người, tăng 1,7 triệu người (tương ứng 3,46%) so với thời điểm Quý IV/20212
2 Tổng Cục thống kê
4
Trang 7Lực lượng lao động theo quý giai đoạn 2020-2022 (Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Trong quý III/2022, thu nhập bình quân tháng của người lao động ghi nhận ở mức 6,7 triệu đồng, cao hơn mức 6,6 triệu đồng của quý trước cũng như mức 5,9 triệu đồng trong quý III/2019 (cùng kỳ năm chưa xảy ra Covid-19)
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật được hoàn thiện tương đối đồng bộ và toàn diện tạo ra hành lang pháp lý để phát triển thị trường lao động Quy mô và chất lượng cung - cầu lao động được gia tăng; chất lượng việc làm ngày càng được cải thiện Đặc biệt, theo đánh giá của Bộ Lao động – Thương bình và Xã hội: “chúng ta đã từng bước chính thức hóa một phần khu vực lao động phi chính thức; cơ cấu lao động có bước chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng việc làm dễ bị tổn thương, tăng tỷ lệ việc làm được bảo vệ Bốn, tiền lương của người lao động được cải thiện rõ rệt, năng suất lao động và tính cạnh tranh của lực lượng lao động được nâng lên…”3
2.1.2 Những hạn chế còn tồn tại
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thị trường lao động Việt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn
3 Phát triển thị trường lao động truy cập từ https://vneconomy.vn/phat-trien-thi-truong-lao-dong-linh-hoat-hien-dai-ben-vung-va-hoi-nhap.htm , truy cập ngày 15/4/2023
5
Trang 8Trước hết là những tác động của đại dịch Covid-19 đã khiến cho thị trường lao động chịu biến động nặng nề Quan hệ cung – cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh tế đang diễn ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng ở một số ngành nghề như ngân hàng, quảng cáo, khuyến mãi, đối ngoại và chăm sóc khách hàng, sản xuất, IT,… tình trạng dư thừa lao động không có kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ thuật, tay nghề phổ biến Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động, không chỉ là lao động qua đào tạo mà còn khó tuyển cả lao động phổ thông có tay nghề
Thứ hai, về chất lượng lao động Hiện nay, ình trạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, cả về chiều cao, cân nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế Cụ thể: chiều cao của thanh niên 15 tuổi thấp hơn so với chuẩn quốc tế 8,34 cm đối với nam, 9,13 cm đối với nữ, thấp hơn thanh niên Nhật Bản là 8 cm đối với nam, 4 cm đối với nữ, thấp hơn thanh niên các nước trong khu vực là Thái Lan, Singapore từ 2-6 cm ảnh hưởng đến việc sử dụng, vận hành máy móc, hiện đại, hạn chế năng suất lao động, bắt buộc người lao động phải gắng sức nhiều và làm tăng nguy cơ mất an toàn lao động4
Thứ ba, về trình độ lao động Tỷ trọng lao động qua đào tạo ngày càng được cải thiện nhưng mức độ cải thiện và chênh lệch lao động có tay nghề là chưa đáng kể giữa các vùng kinh tế - xã hội trong cả nước so với tốc độ phát triển của khu vực và thế giới Chúng ta chưa có cơ chế đào tạo và sử dụng hợp lý để tạo được động lực cho lực lượng này làm trụ cột dẫn dắt nền kinh tế phát triển đúng hướng, cạnh tranh và hiệu quả
Thứ tư, chính sách tiền lương cho người lao động
- Về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động còn thấp hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước ta trên thị trường thế giới, giá trị hàng hóa sức lao động còn bất
4 Báo cáo Thực trạng cung cầu lao động, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
6
Trang 9cập, chưa bao quát hết những yếu tố đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho một bộ phận lớn những người làm công ăn lương, hệ thống thông tin lao động việc làm chưa được quản lí chặt chẽ, hệ thống giáo dục – đào tạo chưa đủ khả năng cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, từ đó tiền lương cho người lao động còn thấp
- Tiền lương khu vực công còn thấp, chưa bảo đảm nhu cầu đời sống của cán
bộ, công chức, viên chức và gia đình họ, thiết kế hệ thống bảng lương còn phức tạp, chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, còn mang tính bình quân, cào bằng, chưa thực sự tạo được động lực để nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động Quy định mức lương bằng hệ số nhân với mức lương tối thiểu đã không thể hiện rõ giá trị thực của tiền lương Nhiều trường hợp tiền lương của lãnh đạo cấp trên thấp hơn tiền lương của lãnh đạo cấp dưới, không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ Chưa có giải pháp gắn cải cách tiền lương với sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế Việc đổi mới tổ chức và quản lý, cơ chế tài chính đối với khu vực sự nghiệp công lập chưa đáp ứng yêu cầu Nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương cơ bản vẫn do ngân sách Nhà nước bảo đảm (khoảng 98%) và chủ yếu từ ngân sách Trung ương (khoảng 68%)5
- Quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa cũng chưa hợp lý, nhất là hệ
số trung bình quá thấp trong quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa nên không cải thiện được đời sống và khuyến khích được CBCCVC có hệ số lương thấp; tiền lương trả cho CBCCVC được quy định bằng hệ số được tính trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung; tiền lương chưa được trả đúng với vị trí làm việc, chức danh và hiệu quả công tác, chất lượng cung cấp dịch vụ công Theo Bộ Nội vụ, giai đoạn 2016-2020 thực hiện mở rộng quan hệ mức lương tối thiểu - trung bình - tối đa từ mức 1 - 2,34 - 10 hiện nay lên mức 1 - 3,2 - 15
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế
5 Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Phước (2018), Cải cách chính sách tiền lương để nâng cao đời sống cho CBCCVC,
LLVT và người lao động trong doanh nghiệp, link truy cập < https://binhphuoc.gov.vn/vi/news/Thong-tin-chi-dao-dieu-hanh/cai-cach-chinh-sach-tien-luong-de-nang-cao-doi-song-cho-cbccvc-llvt-va-nguoi-lao-dong-trong-doanh-nghiep- >, truy cập ngày 15/4/2023
7
Trang 10Thứ nhất, thị trường lao động là vấn đề phức tạp, ảnh hưởng lớn đến nhiều
mặt của đời sống xã hội; còn tư tưởng bình quân, cào bằng; chưa có nghiên cứu toàn diện về thị trườn lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được vận dụng triệt để trong công tác xây dựng chính sách hiện nay
Thứ hai, tiền lương chưa phản ánh đúng giá cả sức lao động, chưa thực sự gắn
với mối quan hệ cung cầu lao động trên thị trường, tốc độ tăng tiền lương nhỏ hơn tốc
độ tăng của năng suất lao động Mức lương tối thiểu còn thấp chưa theo kịp với yêu cầu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động và sự phát triển kinh tế – xã hội
Thứ ba, những quy định pháp luật hiện nay còn hạn chế, lỗ hổng trong vấn đề
pháp lý và sự thiếu thực thi trong các chính sách đã dẫn đến những bất cập về thị trường lao động ở nước ta
2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách tiền lương ở Việt Nam
Từ những phân tích, đánh giá ở trên, có thể thấy yêu cầu cấp thiết hiện nay là tìm ra được các giải pháp phù hợp, nâng cao hiệu quả thực hiện thị trường lao động tại Việt Nam trong thời gian tới Để làm được điều đó, cần thực hiện đồng bộ và nhanh chóng các giải pháp sau:
Thứ nhất, vận dụng lí luận hàng hóa sức lao động phù hợp với quá trình hội
nhập và xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức và việc vận dụng đó phải gắn liền với việc hình thành đội ngũ lao động có trình độ cơ cấu hợp lí, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng chính sách về thị trường lao động phù hợp với năng suất lao động, đặc điểm từng vùng kinh tế và quan
hệ cung cầu lao động của thị trường
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật đồng bộ, thống nhất
để thị trường lao động phát triển theo hướng linh hoạt, hiệu quả; tiếp tục nội luật hóa
và quy định cụ thể các tiêu chuẩn lao động phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các FTA thế
hệ mới Việt Nam đã cam kết và phê chuẩn; nâng cao hiệu quả tổ chức, vận hành thị
8