ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI – SỰ SÀNG LỌC[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
Đề tài:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI – SỰ SÀNG LỌC NGHIÊM KHẮC CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT
NAM TRONG THỜI ĐẠI MỚI
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1 QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 5
1.1 Bối cảnh thế giới 5
1.2 Bối cảnh trong nước 6
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 8
Chương 2 QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 10
2.1 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến 10
2.1.1 Phong trào yêu nước của giai cấp phong kiến 10
2.1.2 Phong trào yêu nước của giai cấp nông dân 10
2.2 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản 11
2.2.1 Phong trào vào đầu thế kỷ XX 11
2.2.2 Phong trào sau chiến tranh thế giới lần thứ 1 12
2.3 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản 14
2.3.1 Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản (1911-1920) 14
2.3.2 Sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng-chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam 17
2.3.3 Sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 21
Chương 3 SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 23
3.1 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên 23
3.1.1 Bối cảnh tổ chức Hội nghị thành lập Đảng 23
3.1.2 Nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên 26
3.2 Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên 28
3.2.1 Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (1930-1975) 28 3.2.2 Giá trị đối với sự xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay 29
Trang 4PHẦN KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam từ năm 1858, đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta phải chịu ách thống trị từ phương Tây – một khu vực mà tiềm lực kinh tế, quân sự quá khác biệt và hiện đại so với Việt Nam lúc bấy giờ Triều đại nhà Nguyễn lúc này với tiềm lực kinh tế hạn hẹp kết hợp với tinh thần đấu tranh, đường lối lãnh đạo không đúng đắn khiến cho nước nhà bị rơi vào tay Pháp Nhận thấy tình hình cấp bách lúc bấy giờ, đã có nhiều tổ chức cộng sản được ra đời, tuy nhiên việc
có nhiều tổ chức cùng hoạt động trong phạm vi lãnh thổ ít nhiều sẽ có vấn đề, và chính những vấn đề đó đã làm phân tán lực lượng cách mạng đã ít lại còn ít Nhận thấy điều này, đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm về Hương Cảng – Trung Quốc chủ động triệu tập, chủ trì cuộc Hội nghị hợp nhất Đảng, và Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được định tên từ đó Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước trong bao nhiêu năm qua
Với sự hiện diện của đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam, Việt Nam lúc bấy giờ nhanh chóng, khẩn trương thiết lập lại đường lối cách mạng và bước đầu đạt được những thành tựu to lớn Đóng góp trong việc vận dụng sáng tạo và phát triển bổ sung lý luận về vấn đề thuộc địa và giải phóng dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay Đưa Việt Nam từ một nước không có trên bản đồ thế giới trở thành một nước độc lập xã hội chủ nghĩa như bây giờ Không dừng lại ở đó, việc xây dựng và thực hiện đường lối chiến lược về an sinh xã hội, phát triển kinh tế đi kèm với củng cố công tác an ninh quốc gia cho đến nay vẫn luôn nằm trong kế hoạch và sự đầu tư trên hết của Đảng
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp vô cùng to lớn như vậy, Đảng ta vẫn còn một
số điểm yếu cần được khắc phục Mặc dù đã khắc phục hạn chế, song việc khắc phục chưa thực sự triệt để và còn để lại dư âm không tốt cho đến ngày hôm nay Ví dụ một
số bộ phận Đảng viên thoái hóa, biến chất, mất đi tinh thần cách mạng đã làm cho hình ảnh của Đảng bị xấu đi Cũng có lúc, Đảng đề ra và thực hiện một vài chủ trương không hợp lý, chính những điều này tuy không nhiều nhưng cũng góp phần làm hạn chế đi hình
Trang 6ảnh trong sáng của Đảng, và đôi khi còn tác động đến suy nghĩ, mất đi niềm tin của nhân dân vào Đảng, ảnh hưởng đến sự phát triển, an ninh quốc gia
Và chính những điều hạn chế này mà các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá, nhằm mục đích hạ thấp uy tín của Đảng hoặc nhằm mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn xây dựng đa nguyên chính trị và đa Đảng đối lập Và Đảng chúng ta cùng nhân dân yêu nước đang cố gắng nhằm ngăn chặn tối đa những ảnh hưởng xấu mà các thế lực thù địch này mang lại cho đất nước cũng như nhân dân Việt Nam
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 02-1930 là cả một quá trình sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử Việt Nam, từ đó góp phần khẳng định sự lãnh đạo của Đảng hiện nay, bác bỏ những tư tưởng tìm cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và mong muốn thiết lập đa Đảng đối lập Bởi nhiều thế lực cho rằng Hồ Chí Minh có thể lựa chọn con đường khác, có thể đi lên TBCN thay vì XHCN như bây giờ Vậy tại sao họ nghĩ như vậy, bởi họ tìm cách chống phá, dựa vào những hạn chế của Đảng Và mục đích của việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ vai trò của Đảng trong công cuộc khôi phục và phát triển đất nước cũng như chứng minh rằng những quan điểm, luận điệu của các kẻ đang cố chống phá nhà nước, chống phá Đảng là vô lý và không có cơ sở
Với những lý do trên, nhóm đã chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời – sự
sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thời đại mới” làm bài tập
lớn để kết thúc môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhiệm vụ của đề tài
Một là, làm rõ đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp
Hai là, làm rõ những nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam
theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ đầu 1930
Ba là, làm rõ quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc
(1911-1920) và sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng-chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam
Trang 7Bốn là, làm rõ sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản, sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Năm là, làm rõ giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1 Bối cảnh thế giới
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, thế giới có sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản, chuyển
từ nền kinh tế cạnh tranh sang nền kinh tế độc quyền Chính điều này làm cho nền kinh
tế hàng hóa phát triển mạnh đi kèm với nó là sự thiếu hụt và nhu cầu nhân công, thị trường tiêu thụ bùng nổ Điều này dẫn tới hệ lụy là các cuộc xâm lược, đánh chiếm các quốc gia phương Đông nhằm phục vụ và giải quyết vấn đề bức thiết lúc bấy giờ Việt Nam cũng là một trong những nước bị các nước phương Tây dòm ngó
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi mà chủ nghĩa tư bản Phương Tây phát triển mạnh mẽ, phong trào đấu tranh của các giai cấp công nhân rầm rộ, đặt ra vấn đề cấp thiết là phải có hệ thống lý luận chính trị khoa học, hệ thống này phải là đại diện cho tiếng nói của công nhân Và Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời làm nền tảng đại diện cho tiếng nói của người công nhân, lý tưởng vô sản
Trong giai đoạn này, thế giới còn chứng kiến một sự kiện có thể nói mang tầm quan trọng vô cùng to lớn lúc bấy giờ cho các phong trào công nhân nói riêng và của các nước đang là thuộc địa nói chung, một sự kiện được coi là vĩ đại nhất trong thế kỷ
XX, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử loài người, đó là sự kiện Cách mạng tháng
10 Nga giành thắng lợi Cách mạng tháng 10 Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một kiểu nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới Báo hiệu một làn sóng cải tạo thế giới theo chủ nghĩa xã hội bắt đầu Đặc biệt cách mạng đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa, và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời Đảng Cộng sản của nhiều nước trên thế giới
Nhờ sự lan tỏa và sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Cách mạng tháng 10 Nga và cấp thiết xã hội lúc bấy giờ, năm 1919 Quốc tế Cộng sản thành lập Chính sự ra đời của Quốc tế Cộng sản là một yêu cầu khách quan và bức thiết của phong trào công nhân và cách mạng thế giới vào thời điểm này
Trang 9Thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga và những hoạt động cách mạng của Quốc
tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam
1.2 Bối cảnh trong nước
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một nước phong kiến với nền nông nghiệp lạc hậu, xã hội thì mâu thuẫn giai cấp, sự lãnh đạo, điều hành của nhà nước phong kiến thối nát khiến cho dân chúng ngày càng trở nên khốn cùng, bất mãn, đất nước càng nghèo khổ, lạc hậu
Chính vì mục đích mở rộng thị trường và thôn tính nhân công lao động giá rẻ cùng với xã hội thời cuộc Việt Nam lúc bấy giờ đã khiến nước ta trở thành một miếng mồi ngon cho các nước phương Tây đang dòm ngó, tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược vào năm 1958 Pháp tiến hành khai thác thuộc địa trên lãnh thổ Việt Nam sau hai giai đoạn chinh phục từ năm 1858 đến năm 1884 và giai đoạn bình định từ năm 1885 đến năm 1896 Thời đại đen tối và cùng cực của nhân dân Việt Nam bước sang một trang mới, kinh khủng hơn bắt đầu từ đây
Những chính sách cai trị của thực dân Pháp làm biến đổi toàn diện và sâu sắc nhất đối với kinh tế - xã hội Việt Nam:
Về chính trị, chúng thực hiện chính sách chia để trị, chia nước ta ra làm Bắc Kỳ,
Trung Kỳ và Nam Kỳ, mỗi Kỳ có một chế độ cai trị riêng Thực hiện chính sách tước đoạt quyền tự do, dân chủ của nhân dân
Về kinh tế, có sự du nhập phương thức sản xuất phương Tây, nhưng quan hệ kinh
tế vẫn là quan hệ kinh tế phong kiến lạc hậu, chính sự du nhập nhưng không có quan hệ kinh tế phù hợp, điều phối làm cho nền kinh tế của nước ta vẫn là nền kinh tế nông nghiệp thuần, lạc hậu và phụ thuộc
Nền kinh tế Việt Nam dưới ách thống trị, đô hộ thực dân Pháp hết sức què quặt, bị kìm hãm nặng nề, tiến triển chậm chạm và lệ thuộc vào Pháp
Trang 10Về xã hội, có sự phân hóa giai cấp hết sức rõ rệt, chính điều này làm dấy lên mối
lo ngại về mâu thuẫn giai cấp và thực sự nó đã là vấn đề Các giai cấp được phân hóa: Địa chủ, nông dân, công nhân, tiểu tư sản và tư sản
Giai cấp địa chủ phân hóa thành đại địa chủ, trở thành tay sai của Pháp, ra sức vơ vét, đàn áp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp nông dân; trung và tiêu địa chủ: Đây là giai cấp mới, có tinh thần cách mạng và lòng yêu nước
Giai cấp tư sản bị phân hóa ra làm hai thiên hướng là tư bản mại bản và tư bản dân tộc Đối với tư bản mại bản, tầng lớp này được Pháp hậu thuẫn, làm tay sai cho Pháp
Tư bản dân tộc là một bộ phận những người có ít tài sản và có lòng yêu nước, bị Pháp bóc lột, là bộ phận những người có ý chí tham gia cách mạng
Ngoài hai giai cấp trên thì lúc này còn chứng kiến sự ra đời của giai cấp công nhân – là một giai cấp mới xuất hiện Thực dân Pháp và bọn tay sai (đại địa chủ) ra sức chèn
ép nông dân, cướp ruộng đất khiến một bộ phận không nhỏ nông dân Việt Nam mất ruộng canh tác, không thể sống tại quê hương họ đành bỏ lên thành thị làm việc, và giai cấp công nhân Việt Nam chính thức hình thành từ đây Giai cấp này mặc dù có số lượng hết sức hạn chế (chỉ khoảng 2-3% dân số Việt Nam lúc bấy giờ), mặc dù vậy nhưng vì
bị áp lực nặng nề, nên họ có tinh thần cách mạng chống Pháp mãnh liệt
Giai cấp vô sản khác là nông dân, đây là giai cấp lâu đời nhất cũng như đông đảo nhất trong xã hội, trước khi thực dân Pháp xâm lược thì với xã hội phong kiến thối nát, nông dân Việt Nam đã phải chịu rất nhiều bất công, gánh nặng và bị bóc lột về tài sản cũng như sưu thuế Đến khi có thực dân Pháp vào thì đời sống nông dân lại khốn cùng hơn vô vàn, nông dân “một cổ hai tròng” sống dưới sự xiềng xích, áp bức của kẻ thù Chính điều này lại càng nung nấu tình thần yêu nước của họ, một lòng căm thù giặc mà không tầng lớp nào sánh nổi Vì vậy họ là lực lượng cách màng nòng cốt của đấu tranh giành giải phóng dân tộc cũng như lật đổ chế độ phong kiến Việt Nam
Ngoài nhưng tầng lớp trên thì trong xã hội còn có sự xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản, đây là một lớp người có quy mô nhỏ, có một chút của cải và một số trong họ là tri thức
Và tầng lớp này cũng bị thực dân Pháp bóc lột và họ cũng có tinh thần cách mạng, mặc
Trang 11dù nhỏ là vậy nhưng đây vẫn là một tầng lớp đắc lực trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã có những tác động to lớn đến xã hội Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đặc biệt là sự xuất hiện và ra đời tầng lớp công nhân Việt Nam Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều là những người bị mất nước, tuy ở các mức độ và chính sách khác nhau song cũng đều bị Pháp áp lực, bóc lột
Xã hội Việt Nam tồn tại hai chế độ song song: Chế độ phong kiến và chế độ thực dân Pháp Mặc dù triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ vẫn có vua đứng đầu nhưng thực chất chỉ là vua bù nhìn, không có tiếng nói trong các vấn đề chính trị, điều hành đất nước Triều đình phong kiến không dám đứng lên bảo vệ nhân dân mà còn chia đất cho thực dân, chính nó lại tạo nên một lòng căm thù triều đình sâu sắc trong quần chúng nhân dân
Qua những điều đã phân tích ở trên, thực tiễn cho thấy rằng Việt Nam lúc này phải đánh đuổi thực dân Pháp, trả lại độc lập dân tộc và Nhất quyết phải xóa bỏ chế độ phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân (chủ yếu là vấn đề ruộng đất) Tuy vậy, Chống
Đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu Đi kèm với giải phóng dân tộc là xóa bỏ chế độ phong kiến, lựa chọn con đường khác để giải phóng và phát triển đất nước Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc không thể gắn liền với chế độ phong kiến
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Thế giới dưới sự phát triển chủ nghĩa tư bản, các nước tư bản đứng trước khủng hoảng thị trường nên họ đã tìm cách xâm lược các nước khác, biến các nước đó thành các nước thuộc địa và khai thác từ đây, chính điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam Ngoài ra sự ra đời của lý luận Mác – Lênin, sự thành lập tổ chức Quốc tế Cộng sản, đặc biệt là thành công của cách mạng tháng 10 Nga, sự kiện này khẳng định chủ nghĩa xã hội chính thức được xác lập đặt ra một bước lựa chọn đối với các nước trên thế giới, về con đường phát triển của các dân tộc là cách mạng vô sản
Trang 12Dưới chính sách thống trị của thực dân Pháp, đã tác động đến Việt Nam trên mọi lĩnh vực, đặt ra những yêu cầu mà nước ta cần phải giải quyết: Là chống đế quốc giành độc lập cho dân tộc, xóa bỏ chế độ phong kiến để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là vấn đề ruộng đất Giải phóng dân tộc thì lựa chọn những nhà yêu nước, nhiệm
vụ song song của nhà yêu nước Việt Nam sau giải phóng dân tộc thì phải lựa chọn con đường đi lên cho đất nước Việc lựa chọn con đường nào, phát huy nó ra sao là nhiệm
vụ và sứ mệnh lịch sử của các nhà yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ
Trang 13Chương 2 QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
2.1 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
Ngay từ khi Pháp xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục, rộng khắp Đến năm 1884, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đã cùng với nhân dân vẫn tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp
2.1.1 Phong trào yêu nước của giai cấp phong kiến
Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng (1385
- 1896)
Hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương cứu nước, các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh) diễn ra sôi nổi, thể hiện tinh thần quật cường chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân Nhưng ngọn cờ phong kiến lúc
đó không còn là ngọn cờ tiêu biểu để tập hợp một cách rộng rãi toàn thể các tầng lớp nhân dân, không có khả năng liên kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc nữa
Cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng thất bại (1896) cũng là dấu mốc chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiến đối với phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam
2.1.2 Phong trào yêu nước của giai cấp nông dân
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở vùng miền núi và trung du phía Bắc, phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) nổ ra dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám Nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, lập căn cứ và đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp suốt gần 30 năm
Phong trào của Hoàng Hoa Thám vẫn mang nặng “cốt cách phong kiến”, không có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất tạo thành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, do vậy cũng bị thực dân Pháp đàn áp
Nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến:
Trang 14Thứ nhất, tương quan lực lượng của Pháp mạnh, hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi
thời, lạc hậu
Thứ hai, các phong trào đấu tranh yêu nước thời kỳ này chưa quy tụ được sức
mạnh của đông đảo các giai cấp tầng lớp yêu nước, lực lượng còn khá mỏng Phong trào Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra tuy nhiên lực lượng nghĩa quân cũng chỉ từ khoảng 300 đến tới 1000, quy mô hoạt động nhỏ hẹp, cục bộ ở một vài địa phương
Thứ ba, người đứng đầu có thể bị bắt sống hoặc bị ám sát do tổ chức lỏng lẻo có
nội gián, có những người bị mua chuộc bởi thực dân Pháp đã phản bội tổ chức của mình
Tóm lại, sự thất bại của các phong trào đấu tranh trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo các phong trào yêu nước
cũng như giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam
2.2 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
Từ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng, tác động của trào lưu dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu,
xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của
tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng (12/1927 - 2/1930) tiếp tục diễn ra rộng khắp các tỉnh Bắc Kỳ, nhưng tất cả đều không thành công
2.2.1 Phong trào vào đầu thế kỷ XX
Khuynh hướng bạo động
Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo Chủ trương tập hợp lực lượng với phương pháp bạo động chống Pháp, xây dựng chế độ chính trị như ở Nhật Bản Phong trào theo xu hướng này tổ chức đưa thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bản học tập (gọi là phong trào Đông Du) Đến năm 1908 Chính phủ Nhật Bản câu kết với thực dân Pháp trục xuất lưu học sinh Việt Nam và những người đứng đầu phong trào
Sau khi phong trào Đông Du thất bại, với sự ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, năm 1912, Phan Bội Châu lập tổ chức Việt Nam Quang phục Hội với tôn chỉ là vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước cộng hòa dân quốc Việt Nam Tuy nhiên chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội thiếu
rõ ràng
Trang 15Cuối năm 1913, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam tại Trung Quốc cho tới đầu năm 1917 và sau này bị quản chế tại Huế cho đến khi ông mất (1940) Ảnh hưởng
xu hướng bạo động của tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội đối với phong trào yêu nước Việt Nam đến đây chấm dứt
Khuynh hướng cải cách
Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh: Phan Châu Trinh và những người cùng chí hướng muốn giành độc lập cho dân tộc nhưng không đi theo con đường bạo động như Phan Bội Châu, mà chủ trương cải cách đất nước
Phan Châu Trinh cho rằng bất bạo động, bạo động tắc tử; phải “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, phải bãi bỏ chế độ quân chủ, thực hiện dân quyền, khai thông dân trí, mở mang thực nghiệp Để thực hiện được chủ trương ấy, Phan Châu Trinh đã đề nghị nhà nước “bảo hộ” Pháp tiến hành cải cách
Đó chính là sự hạn chế trong xu hướng cải cách để cứu nước, vì Phan Châu Trinh
đã “đặt vào lòng độ lượng của Pháp cái hy vọng cải tử hoàn sinh cho nước Nam, Cụ không rõ bản chất của đế quốc thực dân” Do vậy, khi phong trào Duy Tân lan rộng khắp
cả Trung Kỳ và Nam Kỳ, đỉnh cao là vụ chống thuế ở Trung Kỳ (1908), thực dân Pháp
đã đàn áp dã man, giết hại nhiều sĩ phu và nhân dân tham gia biểu tình Nhiều sĩ phu bị bắt, bị đày đi Côn Đảo, trong đó có Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Đặng Nguyên Cẩn Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị thực dân Pháp dập tắt, cùng với sự kiện tháng 12/1907 thực dân Pháp ra lệnh đóng của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục phản ánh
sự kết thúc xu hướng cải cách trong phong trào cứu nước của Việt Nam
2.2.2 Phong trào sau chiến tranh thế giới lần thứ 1
Phong trào quốc gia cải lương (1919 – 1924) do tư sản và địa chủ lãnh đạo với mục đích đòi quyền tự do kinh tế và chống độc quyền kinh doanh Phong trào được diễn
ra ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn với các cuộc vận động như kêu gọi nhân dân tẩy chay hàng hóa của thực dân Pháp ở Sài Gòn, chống xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kỳ
Năm 1925 – 1926 phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản thành thị
và tư sản lớp dưới nổ ra Họ lập ra các tổ chức chính trị Việt Nam nghĩa đoàn, Phục Việt, Hưng Nam….cùng nhiều tờ báo như Cường học thư xã, Chuông rạn, Quan hải tùng thư, Người nhà quê,… Bên cạnh đó, có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây
Trang 16tiếng vang khá lớn như: phong trào đòi thả Phan Bội Châu (năm 1925), phong trào đòi thả Nguyễn An Ninh ( năm 1926), phong trào để tang Phan Châu Trinh (năm 1926
Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng: Khi thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần thứ hai, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp càng trở nên gay gắt, các giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội Việt Nam đều bước lên vũ đài chính trị Trong đó, hoạt động có ảnh hưởng rộng và thu hút nhiều học sinh, sinh viên yêu nước ở Bắc Kỳ là tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo Trên cơ sở các tổ chức yêu nước của tiểu tư sản trí thức, Việt Nam Quốc dân Đảng được chính thức thành lập tháng 12/1927 tại Bắc Kỳ
Mục đích của Việt Nam Quốc dân Đảng là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ cộng hòa tư sản, với phương pháp đấu tranh vũ trang nhưng theo lối manh động, ám sát cá nhân, lực lượng chủ yếu là binh lính, sinh viên Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở một số tỉnh, chủ yếu và mạnh nhất là ở Yên Bái (2/1930), tuy oanh liệt nhưng nhanh chóng bị thất bại Sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái thể hiện
là “ một cuộc bạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi chết luôn không bao giờ ngóc đầu lên nổi Khẩu hiệu “không thành công thì thành nhân” biểu lộ tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũng biểu lộ tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản"
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước theo ngọn cờ phong kiến, ngọn cờ dân chủ tư sản của nhân dân Việt Nam đã diễn ra quyết liệt, liên tục và rộng khắp Dù với nhiều cách thức tiến hành khác nhau, song đều hướng tới mục tiêu giành độc lập cho dân tộc Tuy nhiên, các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại” Nguyên nhân thất bại:
Thứ nhất, do thiếu đường lối chính trị đúng đắn để giải quyết triệt để những mâu
thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội
Trang 17Thứ hai, chưa có một tổ chức vững mạnh để tập hợp được đông đảo quần chúng,
nhất là chưa tập hợp được hai lực lượng xã hội cơ bản là công nhân và nông dân Chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù
Thứ ba, giai cấp tư sản Việt Nam ra đời muộn, thế lực kinh tế, chính trị nhỏ yếu,
không thể trở thành giai cấp trung tâm đại diện cho cả dân tộc
Tuy thất bại song các phong trào yêu nước đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại Nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước đương thời là cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc
Nhận xét
Các cuộc khởi nghĩa theo hệ tư tưởng phong kiến nổi bật như phong trào Cần Vương (1885-1896), do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động hay cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng Song cả hai đều đi đến một kết quả là không thành công Thất bải của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam
Nhìn chung, các phòng trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam Nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ bé yếu về
cả kinh tế - chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc
2.3 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản
2.3.1 Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản (1911-1920)
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm xã hội Việt Nam bắt đầu
có những chuyển biến rất quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã hội Chính sách khai
Trang 18thác, bóc lột của thực dân Pháp đã làm phân hóa, nảy sinh hai giai cấp mới, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phân người dân mất nước, ở những mức độ khác nhau nhưng đều bị thực dân Pháp
áp bức, bóc lột Những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện, trong đó, mẫu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất và ngày càng gay gắt dẫn đến những cuộc đấu tranh khởi nghĩa của nhân dân Các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản như: Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ, phong trào đánh Pháp như vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế,…
Tuy nhiên các phòng trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến Giai cấp phong kiến, đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc Giai cấp tư sản mới ra đời, xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân, còn non yếu vì tiềm lực kinh tế phụ thuộc và có khuynh hướng chính trị cải lương Mặc dù phần lớn giai cấp tư sản Việt Nam có tinh thần dân tộc, yêu nước, nhưng không có khả năng tập hợp các giai tầng để tiến hành cách mạng chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do Trong khi đó, giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự
do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng Ở thời điểm ấy, cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước
Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí
sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối Tuy lúc ấy tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành chưa tiếp xúc với chủ nghĩa
xã hội nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời là tự ra đi tìm đường cứu nước, không dựa dẫm, nhờ vả hay kêu gọi một thế lực nào giúp cả Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu Pháp cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng
Trang 19Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến1”
Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, với nhiệt huyết cứu nước, với nhãn quan chính trị sắc bén, vượt lên trên hạn chế của các bậc yêu nước đương thời, 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Người đã rời đi trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng lên đường đi sang Pháp Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động(phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…)
Từ năm 1911 đến 1916, Người nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn nhiều nước
tư bản và các nước tư bản thuộc địa Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác
ái về quyền con người của các cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789) Bên cạnh đó, Người cũng nhận thấy rằng: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc
và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người, xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến Nhưng đó là cuộc cách mạng “chưa đến nơi” bởi vì cách mạng xong rồi dân chúng vẫn đói khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột Cách mạng tư sản thành công chỉ đem lại lợi ích và giải phóng cho một bộ phận rất nhỏ trong xã hội, trong khi đó giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân vẫn âm mưu làm một cuộc cách mạng nữa Từ đó, Người đi đến kết luận: “chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này” Người đã tìm ra những mặt trái của
xã hội phương Tây, nhận ra rằng ở đâu cũng có người nghèo khổ bị áp bức, bóc lột Điều
đó đã giúp Người nhận thức được một cách rạch ròi: ”dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” , từ đó xác định rõ kẻ thù và lực lượng đồng minh của nhân dân các dân tộc bị áp bức
Người nghiên cứu về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và cũng đến được nước Nga để chứng kiến sự tự do của nhân dân sau cách mạng Chính nhờ nghiên cứu
và tổng kết thực tiễn, Người đã khẳng định rằng chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là