1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông

231 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông
Tác giả Phạm Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Thế Bình, TS. Nguyễn Xuân Trường
Trường học Trường đại học sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 4,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu về sử dụng di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông .... Với giá trị

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình 2 TS Nguyễn Xuân Trường

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án chưa từng được công

bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Phạm Thị Thanh Huyền

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Đóng góp của Luận án 4

8 Cấu trúc của Luận án 4

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử và di tích lịch sử quốc gia đặc biệt 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 7

1.2 Các công trình nghiên cứu về sử dụng di tích trong dạy học nói chung, di tích lịch sử trong dạy học lịch sử nói riêng ở trường phổ thông 12

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về lí luận dạy học 12

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về sử dụng di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 17

1.3 Nhận xét chung về các công trình đã công bố, những vấn đề luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu 22

1.3.1 Nhận xét chung 22

1.3.2 Những vấn đề luận án kế thừa 23

1.3.3 Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu 23

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TẠI HÀ NỘI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25

Trang 4

2.1.1 Quan niệm về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 25

2.1.2 Quan niệm về sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 28

2.1.3 Các loại di tích quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 30

2.1.4 Đặc điểm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 32

2.1.5 Giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 35

2.1.6 Mối quan hệ giữa di tích lịch sử quốc gia đặc biệt với kiến thức lịch sử 37

2.17 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 38

2.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 44

2.2.1 Thực trạng việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 44

2.2.2 Khảo sát thực trạng sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 48

Chương 3: NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TẠI HÀ NỘI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 61

3.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 61

3.1.1 Vị trí 61

3.1.2 Mục tiêu 61

3.1.3 Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 62

3.1.4 Nội dung lịch sử Việt Nam cấp trung học phổ thông cần sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 67

3.2 Nội dung của các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội có thể và cần khai thác để dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 72

3.2.1 Bảng thống kê các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội cần sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 72

Trang 5

dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 74

3.3 Hình thức sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 90

3.3.1 Sử dụng trực tiếp các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 90

3.3.2 Sử dụng gián tiếp các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 98

Chương 4: CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TẠI HÀ NỘI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 108

4.1 Một số yêu cầu khi lựa chọn các biện pháp sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử 108

4.2 Các biện pháp sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 111

4.2.1 Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội để khởi động, tạo hứng thú học tập cho học sinh 111

4.2.2 Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội để tổ chức học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới 114

4.2.3 Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội để luyện tập, củng cố kiến thức đã học 125

4.2.4 Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 128

4.3 Thực nghiệm sư phạm toàn phần 130

4.3.1 Mục đích, đối tượng và giáo viên thực nghiệm sư phạm 130

4.3.2 Mô hình, quy trình và nội dung thực nghiệm 131

4.3.3 Phương pháp tiến hành và kết quả thực nghiệm 135

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 148

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐỀ TÀI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 6

CNTB : Chủ nghĩa tư bản CNXH : Chủ nghĩa xã hội

ĐHSP : Đại học Sư phạm DHLS : Dạy học lịch sử DSVH : Di sản văn hóa DTLS : Di tích lịch sử DTLSQGĐB : Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt DTQGĐB : Di tích quốc gia đặc biệt

GV : Giáo viên

LSVN : Lịch sử Việt Nam NXB : Nhà xuất bản

PPDH : Phương pháp dạy học SGK : Sách giáo khoa

THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông

TN : Thực nghiệm

Trang 7

Bảng 2.1 Nhận thức của GV về khái niệm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt 49

Bảng 2.2 Nhận thức của GV về ý nghĩa của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử 50

Bảng 2.3 Mức độ sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 51

Bảng 2.4 Mức độ hiệu quả khi sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt 52

Bảng 2.5 Các phương pháp sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử 52

Bảng 2.6 Mức độ hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp dạy học 53

Bảng 2.7 Mức độ tổ chức các hoạt động ngoại khóa về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt 54

Bảng 2.8 Hiệu quả của các hoạt động ngoại khóa tại di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 54

Bảng 2.9 Mức độ sử dụng các biện pháp khai thác di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 55

Bảng 2.10 Hiệu quả sử dụng các biện pháp khai thác di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 55

Bảng 2.11 Những khó khăn khi sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội 56

Bảng 2.12 Hứng thú học tập Lịch sử của HS 56

Bảng 2.13 Hình thức di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội theo đánh giá của HS 57

Bảng 2.14 Mức độ PP sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội của GV từ HS 57

Bảng 4.1 So sánh kết quả học tập giữa lớp đối chứng và thực nghiệm biện pháp 2.1 117

Bảng 4.2 So sánh kết quả học tập giữa lớp đối chứng và thực nghiệm biện pháp 2.2 121 Bảng 4.3 Phân phối điểm kiểm tra trước TN của các lớp TN và ĐC 136

Bảng 4.4 Phân phối điểm kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp TN 138

Bảng 4.5 Phân phối điểm kiểm tra sau thực nghiệm của các lớp TN và ĐC 139

Biểu đồ 4.5 Phân phối điểm kiểm tra sau thực nghiệm của lớp TN và ĐC 139

Bảng 4.6 Phân loại theo thang đánh giá kết quả sau TN lớp TN và ĐC 140

Bảng 4.7 Kết quả tự đánh giá hứng thú của HS trước thực nghiệm 141

Bảng 4.8 Kết quả tự đánh giá hứng thú của HS sau thực nghiệm 141

Bảng 4.9 Kết quả thực nghiệm toàn phần bài nội khóa tại di tích 143

Bảng 4.11 Đánh giá của HS về hoạt động trải nghiệm 146

Trang 8

Biểu đồ 4.1 Phân phối điểm kiểm tra trước TN lớp TN và ĐC 136

Biểu đồ 4.2 Đường lu tích điểm kiểm tra trước TN của 2 lớp TN và ĐC 137

Biểu đồ 4.3 Phân phối điểm kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp TN 138

Biểu đồ 4.4 Đường lu tích điểm kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp TN 138

Biểu đồ 4.5 Phân phối điểm kiểm tra sau thực nghiệm của lớp TN và ĐC 139

Biểu đô 4.6 Đường lu tích điểm kiểm tra sau TN lớp TN và ĐC 140

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ Tịch 75

Hình 3.2 Di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 76

Hình 3.3 Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu - Quốc Tử Giám 79

Hình 3.4 Di tích thành Cổ Loa 82

Hình 3.5 Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh hồ Hoàn kiếm và đền Ngọc Sơn 84

Hình 3.6 Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Phù Đổng, huyện Gia Lâm 85

Hình 3.7 Di tích lịch sử đền Hai Bà Trưng 86

Hình 3.8 Di tích lịch sử đền Hát Môn 87

Hình 3.9 Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn 88

Hình 3.10 Di tích lịch sử Gò Đống Đa 89

Hình 3.11 Thiết kế di tích ảo trên phần mềm Panotour 101

Hình 3.12 Di tích ảo Văn Miếu - Quốc Tử Giám 102

Hình 3.13 Di tích thành Cổ Loa 105

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Thế kỷ XXI chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, giáo dục và đào tạo cũng đứng trước những thách thức mới để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa Đối với giáo dục phổ thông, Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11

năm 2013 về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công

nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế” nêu rõ: “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Do đó, giáo dục phổ thông cần có sự đổi mới căn bản và toàn diện, trong đó, đổi

mới nội dung và phương pháp dạy học là yêu cầu cấp bách

1.2 Ở trường phổ thông, Lịch sử là môn học có ưu thế đặc biệt không chỉ giúp

HS nhận thức được quá khứ, tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại, mà còn cung cấp cho người học những tri thức, bài học kinh nghiệm, giá trị văn hóa, lịch sử của cha ông để lại Trên cơ sở đó, HS có sự nhận thức đúng đắn về hiện tại, quan trọng hơn là hình thành những phẩm chất tốt đẹp như lòng tự hào về truyền thống dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, ý thức giữ gìn bản sắc, đề cao trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Do đó, vị thế, nội dung, chương trình, phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Thực tế đó đòi hỏi phải tìm kiếm những con đường, cách thức dạy học, biện pháp sư phạm phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của môn học

Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông mới (2018), vấn đề đa dạng các hình thức tổ chức dạy học, đặc biệt các hoạt động trải nghiệm, thực hành được chú trọng Từ kinh nghiệm một số nước phát triển trên thế giới trong việc đưa di sản vào giảng dạy ở trường phổ thông là một trong những con đường đem lại hiệu quả giáo dục cao được các nhà khoa học công nhận và thực tiễn chứng minh Trong đó, di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt nói riêng thuộc di sản văn hóa vật thể, được coi là một nguồn sử liệu quý giá đã và đang được sử dụng ngày càng phổ biến trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

1.3 Hà Nội là địa phương sở hữu số lượng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt nhiều nhất trong cả nước, (chiếm khoảng 20%) Tiêu biểu là các di tích Cổ Loa, Hoàng Thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ Tịch Cụm di tích đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm, …Đây là những di sản quý báu có giá trị đặc biệt, thiêng liêng của vùng đất địa linh nhân kiệt, xứ kinh kỳ từ ngàn xưa đến nay Đồng thời, được hình thành trong quá trình lịch sử, gắn liền với những nhân vật, sự kiện lịch sử cụ thể, quan trọng của đất nước Do đó, mỗi di tích đều phản ánh bản sắc tâm hồn, bản lĩnh, khí phách của dân tộc, minh chứng cho những sự kiện, những chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử

Trang 10

Với giá trị đặc biệt như vậy, việc khai thác và sử dụng các di sản văn hóa Việt Nam nói chung, các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng với tư cách nguồn kiến thức sống động, là công cụ dạy học đa phương tiện, là môi trường học tập gắn liền thực tiễn

… ngày càng trở nên cấp thiết đối với việc hình thành kiến thức lịch sử, nâng cao hiệu quả giáo dục, phát triển năng lực và bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách tốt đẹp cho HS Khai thác

và sử dụng hiệu quả di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội sẽ là một đóng góp không nhỏ đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay

1.4 Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt nói chung, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng trong dạy học lịch sử, nhiều GV đã xây dựng nội dung và thiết kế các hình thức tổ chức dạy học và bước đầu mang lại hiệu quả tích cực Tuy nhiên, thực tiễn việc khai thác và sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay chưa phản ánh đầy đủ giá trị to lớn của di tích cũng như chưa đạt được hiệu quả giá dục như mục tiêu đề ra Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu k lưỡng về lý luận, xác định nội dung, thiết kế hình thức và đề xuất các biện pháp khai thác và sử dụng hiệu quả hệ thống các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong quá trình dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông" để

làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử, với mong muốn khai thác giá trị to lớn của nguồn sử liệu quý giá này vào dạy học lịch sử ở trường THPT Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT Trong đó, tập trung vào

các hình thức và biện pháp sử dụng

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận án không đi sâu nghiên cứu về di tích lịch sử nói

chung, mà chỉ tập trung tìm hiểu việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam cho HS THPT (áp dụng trên cả nước)

- Phạm vi điều tra, khảo sát thực tiễn được tiến hành tại một số trường THPT đại diện cho các vùng miền ở các tỉnh, thành trong phạm vi cả nước

- Phạm vi vận dụng: Luận án đi sâu nghiên cứu chương trình sách giáo khoa phần

LS Việt Nam để đề xuất các hình thức sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT Các biện pháp sư phạm tập trung chủ yếu trong giờ học nội khóa trên lớp

- Phạm vi thực nghiệm: Gồm thực nghiệm từng phần và toàn phần một số bài trong giờ học nội khóa và hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm ở một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh ở phía Bắc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khẳng định vai trò của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt

Trang 11

tại Hà Nội, luận án lựa chọn nội dung cơ bản, đề xuất hình thức và biện pháp sử dụng hiệu quả di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Xây dựng cơ sở lý luận về sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử ở trường THPT thông qua tài liệu giáo dục học, tâm lý học và giáo dục lịch sử

- Khảo sát thực trạng việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong quá trình dạy học ở các trường THPT

- Tìm hiểu nội dung chương trình SGK lịch sử Việt Nam (hiện hành và chương trình mới) ở trường THPT Qua đó, xác định nội dung cần khai thác và sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT

- Xác định các hình thức tổ chức dạy học và đề xuất các biện pháp sử dụng trực tiếp và gián tiếp các DTLSQGĐB tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT

- Soạn giáo án và tiến hành thực nghiệm sư phạm từng phần, toàn phần những biện pháp sư phạm đã đề xuất để kiểm chứng tính khả thi của đề tài

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về giáo dục và giáo dục lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, có sự tiếp cận, kế thừa thành tựu của nhiều ngành khoa học khác Tuy nhiên, đề tài thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục nên chúng tôi tập trung vào bốn nhóm phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Nhóm phương pháp lý thuyết: Sưu tầm, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các

tài liệu tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học, tài liệu giáo dục lịch sử, tài liệu lịch sử văn hóa, khảo cổ học liên quan trực tiếp đến đề tài; nghiên cứu chương trình,

SGK phần lịch sử Việt Nam ở trường THPT

- Nhóm phương pháp thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy và học lịch sử của GV, HS

thông qua dự giờ, thăm lớp

+ Điều tra bằng phiếu hỏi: Thông qua GV lịch sử và HS ở một số trường THPT nhằm thu thập thông tin về việc sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

trong quá trình dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT

+ Hỏi ý kiến chuyên gia: Về các vấn đề liên quan đến luận án, đặc biệt là hình

thức và biện pháp sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

+ Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần ở một số

trường trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận để khẳng định tính khả thi của những biện pháp sư phạm mà luận án đề xuất

- Phương pháp xử lý dữ liệu bằng toán thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS để

xử lý các dữ liệu điều tra thực tiễn và kết quả thực nghiệm sư phạm, làm cơ sở rút ra các kết luận khoa học và kiến nghị cho đề tài

Trang 12

5 Giả thuyết khoa học

Trong thực tiễn, việc sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT còn nhiều bất cập Nếu GV xác định được nội dung di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội cần khai thác trong dạy học lịch sử Việt Nam và đề xuất được hình thức, biện pháp sử dụng phù hợp với điều kiện nhà trường, khả năng nhận thức của

HS, sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm lí luận về phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử nói chung, phương pháp sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng trong quá trình dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT

- Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp GV biết sử dụng hiệu quả di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vào dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng môn học, đồng thời góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị của các DTLSQGĐB ở Hà Nội Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho GV,

HS, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh trong quá trình giảng dạy, học tập

và nghiên cứu

7 Đóng góp của Luận án

- Làm sáng tỏ bản chất, giá trị của di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội, khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT

- Khảo sát và đánh giá được thực trạng sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT

- Xác định được nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam cần sử dụng di tích và nội dung các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội cần khai thác trong dạy học lịch

sử Việt Nam ở trường THPT

- Đề xuất được các hình thức, biện pháp sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử hiện nay

8 Cấu trúc của Luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án gồm bốn chương: Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 3: Nội dung và hình thức sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại

Hà Nội trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT

Chương 4: Các biện pháp sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

DTLS nói chung, DTLSQGĐB tại Hà Nội nói riêng được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Các nhà quản lý văn hoá thường tiếp cận theo hướng bảo tồn và phát triển các DTLS Các nhà sử học tập trung nghiên cứu nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển và giá trị của DTLS đối với dân tộc và nhân loại Các nhà giáo dục lịch sử coi DTLS như một nguồn kiến thức khoa học, một phương tiện trực quan, một môi trường giáo dục lí tưởng đối với HS Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, chúng tôi tiếp cận theo hai hướng sau:

1.1 Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử và di tích lịch sử quốc gia đặc biệt

1.1.1.1 Công trình của tác giả nước ngoài

Trong việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam thời tiền thực dân, có một nguồn tư liệu phong phú, đa dạng và quan trọng đó là các tài liệu ghi chép và những chuyên khảo của các tác giả phương Tây Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn đã xuất bản 6/10 tập thuộc bộ sách Việt Nam trong quá khứ:

Tư liệu nước ngoài trong đó hai cuốn đáng chú ý là Tập du ký mới và kỳ thú về vương

quốc Đàng Ngoài của Jean Baptiste Tavernier, dịch giả Lê Tư Lành Nhà xuất bản

Thế giới, 2005 Cuốn sách là những chuyên khảo, các bản thảo, tranh ảnh, bản đồ về

xứ sở Đàng Ngoài với trung tâm là kinh thành Thăng Long của Đại Việt thế kỷ XVII – XVIII Cuốn sách phác họa bức tranh toàn cảnh về tự nhiên, kinh thành, phố thị với những công trình văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo của người Thăng Long xưa

Từ góc nhìn của những học giả phương Tây cho thấy họ rất quan tâm, thích thú, ngưỡng mộ nền văn hóa lâu đời Thăng Long, không chỉ thế, họ còn đem sự ngưỡng

mộ đó quảng bá đến bạn bè thế giới Mặc dù chưa đề cập trực tiếp đến DTLSQGĐB tại Hà Nội, nhưng cuốn sách là cơ sở để nhận thức về giá trị lịch sử - văn hóa Thăng Long và định hướng cho công tác giáo dục, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống Thăng Long – Hà Nội trong nhà trường nói chung, DHLS nói riêng

Cuốn thứ hai trong bộ sách là Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 của William Dampier, Nhà xuất bản Thế giới, 2011 Trong số những nhà du hành

châu Âu đến thăm và mô tả về vương quốc Đàng Ngoài cuối thời trung đại, William Dampier được coi là một trong những nhà du hành vĩ đại nhất của thời đại Chuyến du hành của ông tới Đàng Ngoài được thực hiện năm 1688, ngay sau khi ông vừa từ miền Tây Ấn vượt Thái Bình Dương sang phương Đông W.Dampier đã kỳ công nghiên cứu, quan sát và học hỏi để viết nên cuốn du ký nổi tiếng Cuốn sách gồm 5 nội dung chính: Chương I Hành trình của W.Dampier từ Achin đến Malacca và Đàng Ngoài; Chương II Điều kiện tự nhiên của Đàng Ngoài; Chương III Về dân cư bản địa, phong

Trang 14

tục tập quán, tôn giáo và thương mại; Chương IV Về chính quyền, những người cầm quyền, binh lính và quan lại; Chương V Chuyến đi đến Tenan (Hải Ninh), hành trình đường bộ đến Kẻ Chợ và những sự kiện diễn ra trên đường đi Đây là nguồn tư liệu quý giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, kinh tế, thương mại… của Đàng Ngoài thế kỷ XVII Điều đặc biệt là trong cuốn sách có viết

về những giao tiếp với chính quyền chúa Trịnh Điều đó cho thấy sự kế thừa và tiếp nối của trung tâm quyền lực lớn nhất Đại Việt – Hoàng Thành - Thăng Long, một trong những di tích lịch sử quốc gia đặc biệt quan trọng Cuốn sách cho thấy giá trị to lớn của vùng đất Kinh kì – nơi chứa đựng những giá trị tinh hoa của dân tộc Việt

Hippolyte Le Breton – một học giả người Pháp đã viết An Tĩnh cổ lục (Le vieux

An - Tĩnh), Tập san Đô Thành hiếu cổ xuất bản năm 1936, sau này được NXB Nghệ An

và Trung tâm văn hóa Đông Tây tái bản năm 2005 viết về lịch sử, văn hóa xứ Nghệ nói chung Trong tác phẩm tác giả đã có phần riêng viết về các danh lam thắng tích xứ Diễn Châu và Vinh Tác phẩm đã cho thấy sự quan tâm của những học giả nước ngoài trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản Việt Nam, tạo động lực và nguồn cảm hứng cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu về DTLSQGĐB tại Hà Nội

1.1.1.2 Công trình của tác giả trong nước

Tác giả Nguyễn Đăng Duy – Trịnh Minh Đức trong cuốn Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, NXB Đại học văn hóa Hà Nội, 1993, đã khẳng định tầm quan trọng của DTLS

văn hóa, coi đó là bộ mặt quá khứ của một dân tộc, là những di sản quý báu mà cha ông

để lại Đồng thời nhấn mạnh, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của DTLS văn hóa

là trách nhiệm của toàn xã hội Nhận định trên là cơ sở để chúng tôi khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng DTLS trong DHLS ở trường phổ thông

Trong cuốn Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc

(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997) Hoàng Vinh đã nêu lên một hệ thống lý luận

về DSVH dựa trên những quan niệm quốc tế Trên cơ sở đó, bước đầu tác giả đã vận dụng nghiên cứu thực tiễn: tiến hành phân loại; đề xuất một số giải pháp bảo tồn, gìn giữ và phát huy DSVH dân tộc Trong đó, nhấn mạnh kinh nghiệm từ Nhật Bản trong việc phát huy các giá trị văn hóa bằng việc đưa chúng thâm nhập vào đời sống cộng đồng, bảo tồn DSVH được nhấn mạnh trong nhận thức con người DTLS là một bộ phận của DSVH nên kết quả của công trình nghiên cứu là những gợi ý quan trọng để nghiên cứu sinh vận dụng trong quá trình phân loại DTLS định hướng xác định hình thức, biện pháp sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

Bộ sách Một con đường tiếp cận di sản văn hoá Việt Nam gồm 07 tập, do Bộ

Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng với Cục Di sản văn hóa biên soạn từ 2005 - 2014 là tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trên các tạp chí Di sản văn hóa Trong đó, DSVH đã được tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, góp phần hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá dân tộc Bộ sách đã giải mã nhiều hiện tượng văn hoá, cung cấp phong phú những hiểu biết về hệ thống DSVH của dân tộc nói chung, DTLS nói riêng Vì vậy, góp phần định hướng cho luận án lựa chọn những nội dung di tích phù hợp với việc sử dụng trong DHLS ở trường phổ thông

Trang 15

Cuốn sách Con đường tiếp cận di sản văn hoá Việt Nam của nhiều tác giả (NXB

Văn hoá dân tộc, Hà Hội, 2014) gồm 04 phần, trong đó, các tác giả dành Phần 1 đề cập những vấn đề chung về DSVH, phần còn lại nghiên cứu sâu về DSVH phi vật thể, văn hóa vật thể và bảo tàng Công trình đề xuất các giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản, trong đó có DTLSQGĐB với sự tham gia tích cực của cộng đồng Đây là những gợi ý quý báu để luận án vận dụng linh hoạt trong quá trình xác định hình thức và biện pháp sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

Cuốn Di sản văn hóa trong xã hội Việt Nam đương đại của Nhiều tác giả (NXB

Thế giới, 2014) được thực hiện với sự tài trợ của Viện Harvard Yenching Các bài viết được tập hợp trong cuốn sách đã thể hiện những cách tiếp cận đa chiều về DSVH Việt Nam trong bối cảnh xã hội đương đại Đó là sự vận động, biến đổi của DSVH với tác động của những biến chuyển về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội; là quá trình hội nhập văn hoá, sáng tạo truyền thống, phục hồi DS, bảo tồn, khai thác DS trong bối cảnh mới DSVH nói chung, DTLSQGĐB nói riêng là sợi dây kết nối giữa hiện tại với quá khứ lịch

sử, với tác động của xã hội đương đại đã có sự vận động và thay đổi nhất định Theo đó, cần có cách tiếp cận đa chiều để khai thác hợp lý và khoa học giá trị của DTLS trong dạy học bộ môn LS ở trường THPT Vì vậy, cuốn sách có đóng góp thiết thực về lý luận và thực tiễn cho hướng nghiên cứu của đề tài luận án

Các công trình nghiên cứu trên có những con đường tiếp cận khác nhau, góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu Đó là khái niệm di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch sử quốc gia, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Khẳng định giá trị quan trọng của di tích trong các lĩnh vực của cuộc sống - trong đó có lĩnh vực giáo dục - đào tạo, coi di tích lịch

sử quốc gia đặc biệt là nguồn tài nguyên quý báu của quốc gia; gợi ý cách tiếp cận di tích lịch sử quốc gia đặc biệt đa chiều, nhấn mạnh việc cần thiết bảo tồn và phát huy giá trị của

di tích Đồng thời, bước đầu gợi ý một số định hướng trong việc phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

1.1.2.1 Công trình của tác giả nước ngoài

Nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội nói chung, DTLSQGĐB tại Hà Nội nói riêng được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học nước ngoài Đặc biệt là các học giả Pháp, tiêu biểu là một số công trình sau:

Cuốn Hanoi pendant la periode heroique 1873-1888 (Hà Nội giai đoạn 1873 – 1888) của André Masson Ông vốn là nhân viên lưu trữ tại Sở Lưu trữ và Thư viện

Đông Dương Cuốn sách được in lần đầu vào năm 1929 bằng tiếng Pháp NXB P Geuthner, Paris 1929, đã được Lưu Đình Tuân dịch ra tiếng Việt, NXB Hải Phòng,

2003 NXB Hà Nội tái bản năm 2009 Cuốn sách đã mô tả lại chi tiết những thay đổi của Hà Nội trong một thời kỳ lịch sử đặc biệt khi đô thị này chuyển mình từ thành thị phương Đông bao gồm thành lu phong kiến và các phường thợ thủ công sang một đô thị theo kiểu Âu châu dưới sự kiểm soát của chính quyền thực dân Pháp Lời tựa cho cuốn sách của Paul Boudet, Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương " những trang dành cho thành Hà Nội biện minh đầy đủ cho đề nghị xếp hạng lịch sử cho

Trang 16

những vết tích cuối cùng của tường lu Tương tự, những chi tiết chính xác về các khu khác, là những lập luận vững chắc nhất để ngăn chặn sự lấn chiếm các cơng trình hiện đại vào mảnh đất gắn với nhiều kỷ niệm" [1, tr.3] Mặc dù cuốn sách khơng đề cập trực tiếp đến các DTLSQGĐB tại Hà Nội, nhưng kết quả của cơng trình là những gợi ý quan trọng cho tác giả nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

Hanọ - Le cycle des metamorphoses (Hà Nội - Chu kỳ của những đổi thay), thuộc Tập san nghiên cứu kiến trúc đơ thị và xã hội do Pierre Clément và Nathalie Lancret (cb) thuộc dự án Đào tạo chuyên ngành đơ thị Hà Nội, hợp tác giữa Hội đồng

vùng Ile-de-France với UBND TP Hà Nội, người dịch Mạc Thu Hương, Trương Quốc Tồn, NXB Khoa học và K thuật - Hà Nội, 2003 Sách là tập hợp các bài viết cĩ giá trị của 22 tác giả đến từ các trung tâm nghiên cứu nổi tiếng của Pháp và Viện Viễn Đơng

Bác Cổ Nội dung quyển sách đi sâu tìm hiểu về di sản và hình thái đặc trưng của thành

phố Đặc biệt là hệ thống bản đồ sớm nhất về Hà Nội Điểm rất cĩ giá trị là hầu như tất

cả các bản đồ và bản vẽ của người Pháp chú thích rất chi tiết về người thực hiện Đây là một trong những cuốn sách giá trị nhất về Hà Nội những năm gần đây Vì vậy, giúp chúng tơi cĩ nhận thức tổng quát khi nghiên cứu về các DTLSQGĐB tại Hà Nội

Cuốn Famous communal houses and temples in Thăng Long - Hà Nội của

Ban chỉ đạo quốc gia kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Lê Thanh Hương, Nguyễn Thu Hà dịch, NXB Thế giới, 2009 Sách giới thiệu về lịch sử, đặc điểm nghệ thuật kiến trúc các ngơi đình, đền ở Việt Nam Đặc biệt, đi sâu tìm hiểu những nét riêng biệt của các ngơi đình, đền ở Hà Nội xưa Đây là nguồn tư liệu quý để chúng tơi tham khảo trong quá trình lựa chọn nội dung DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS

Như vậy, các cơng trình nghiên cứu của các học giả Pháp đã đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của Hà Nội trong một khoảng thời gian dài, giúp cho người đọc cĩ cái nhìn tổng quan về lịch sử phát triển của Hà Nội Mặc dù khơng trực tiếp đề cập đến những DTLS của Hà Nội nhưng đĩ là những gợi ý đầu tiên cho chúng tơi trong quá trình khảo cứu nguồn tư liệu về DTLSQGĐB tại Hà Nội, đặt cơ sở cho việc nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

1.1.2.2 Cơng trình của tác giả trong nước

Nghiên cứu về DTLS nĩi chung, DTLS tại Hà Nội nĩi riêng, thu hút được

nhiều nhà khoa học trong nước tham gia, tiêu biểu là Cuốn Thăng Long - Hà Nội - Thƣ mục chọn lọc - Catalogue sélectif rất đồ sộ với 754 trang nhân dịp kỷ niệm 1000

năm Thăng Long - Hà Nội do Phan Thị Kim Dung, Chu Tuyết Lan (chủ biên), NXB Thư viện Quốc gia Việt Nam, 2010 Ở phần phụ lục của bộ sách này cĩ các tư liệu quý do các học giả người Pháp viết vào các giai đoạn khác nhau trong lịch sử Cuốn sách cũng cung cấp cho bạn đọc nguồn tư liệu phản ánh bức tranh tồn cảnh về Thăng Long - Hà Nội trên các lĩnh vực lịch sử, địa lý, kinh tế, chính trị, văn hĩa và xã hội, nhằm cung cấp thơng tin tồn diện về quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ, hội nhập và phát triển của Thăng Long - Hà Nội trong suốt chiều dài 1000 năm lịch sử Sách cũng dành một phần viết về

Văn hĩa vật thể, đây thực sự là nguồn tư liệu quý giá cho luận án trong quá trình xác định

bản chất và nội dung của DTLSQGĐB tại Hà Nội

Trang 17

Cuốn sách Văn Bia Quốc Tử Giám, Hà Nội do Đỗ Văn Ninh biên soạn, NXB Văn

hóa Thông tin, năm 2001 với nội dung 651 trang gồm hai phần: Phần 1: Lịch sử xây dựng

và phát triển di tích Quốc Tử Giám (Hà Nội) Phần 2: 82 tấm bia Tiến sĩ Cuốn sách xuất bản đúng dịp cả nước kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cũng là cơ sở cho tác giả luận án xác định các nội dung DTLSQGĐB tại Hà Nội có thể và cần khai thác trong DHLS ở trường THPT hiệu quả

Nhà xuất bản Thông Tấn xuất bản cuốn Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám của

Trần Mạnh Thường (2/2004), cung cấp cho người đọc những thông tin ngắn gọn về giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc của di tích Đồng thời, giới thiệu đôi nét về nền giáo dục dưới các triều đại phong kiến Việt Nam Đặc biệt là nghiên cứu về 82 bia đá Tiến sĩ trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám Cuốn sách chỉ 74 trang nhưng phản ánh khá đầy

đủ, súc tích và hấp dẫn, đặc biệt phù hợp với người nước ngoài khi đến thăm khu di tích

và đối tượng là HS phổ thông Đây cũng là một nguồn tài liệu có giá trị cho luận án tham khảo để chọn lọc những nội dung tiêu biểu nhất của di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám phục vụ cho quá trình DHLS ở trường THPT

Cuốn Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội của tác giả Hà Nguyễn, NXB Thông tin và

truyền thông, năm 2010 được xuất bản bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh (do Châu Quốc Hùng dịch) Qua những trang viết, Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội hiện lên qua các di tích lịch sử - văn hóa – biểu tượng của sức sống nội tại, một quá khứ vàng son của phẩm chất, đặc trưng cho con người Hà Nội Cuốn sách đã giới thiệu được bốn di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội, đó là khu di tích Cổ Loa, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Thầy, khu di tích đền Sóc – chùa Non Nước, góp phần quảng bá vẻ đẹp cổ kính của Hà Nội đến bạn bè quốc tế Tác phẩm là một tư liệu quý cho tác giả luận án chọn lọc nội dung của DTLSGQĐB tại Hà Nội để phục vụ cho quá trình giảng dạy LS ở trường THPT

Tác giả Đinh Ngọc Bảo (chủ biên) trong cuốn Một số di tích lịch sử văn hóa Việt Nam Dùng trong nhà trường, NXB ĐHSP (2012), đã sưu tầm và sắp xếp thành

hệ thống các di tích lịch sử văn hóa theo tỉnh Trong phần viết về Hà Nội, đã giới thiệu mười bảy di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu Trong số đó, giới thiệu được 6 DTLSQGĐB tại Hà Nội gồm Chùa Thầy và khu núi đá Sài Sơn; đền Ngọc Sơn và khu vực hồ Hoàn Kiếm; Hoàng Thành Thăng Long; Khu di tích Phủ Chủ Tịch; Khu di tích Phù Đổng, Gia Lâm; thành Cổ Loa; Văn Miếu – Quốc Tử Giám Với cách viết súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu nhưng khá đầy đủ thông tin, từ lịch sử tên gọi, quá trình hình thành khu di tích, đặc điểm nổi bật, giá trị của di tích,…Đó là nguồn tư liệu hữu ích giúp tác giả luận án xác định và chọn lựa nội dung tiêu biểu của DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

Phan Văn Các, Trần Ngọc Vương cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Di sản văn chương Văn Miếu - Quốc Tử Giám, NXB Hà Nội, 2010 trong dịp kỷ niệm đại lễ ngàn năm Thăng

Long – Hà Nội Tác giả khẳng định giá trị to lớn của DTLSQGĐB Văn Miếu - Quốc Tử Giám Bởi vì, đây là nơi gìn giữ và tôn vinh đạo học, lưu giữ và thể hiện đặc sắc nhất những giá trị nổi bật của nền văn hiến Việt Nam Với bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa, Văn Miếu

- Quốc Tử Giám là nơi lưu giữ rất nhiều những “di văn”, trong đó có 82 tấm bia đề danh tiến

Trang 18

sĩ được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới Cuốn sách không chỉ là nguồn tư liệu

phong phú phản ánh các giai đoạn lịch sử của dân tộc, mà còn là bức tranh sinh động về việc tuyển dụng và đào tạo nhân tài độc đáo ở Việt Nam, thể hiện tư tưởng trị quốc dựa vào nhân tài của cha ông ta Cuốn sách là nguồn tài liệu tốt cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch

sử Đồng thời, là cơ sở để luận án khẳng định giá trị của DTLS và xác định nội dung DTLSQGĐB tại Hà Nội trong quá trình DHLS ở trường phổ thông

Nhiều bài viết của cơ quan bảo tồn di sản và nhà khoa học đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội, tiêu biểu như:

Bài viết Giới thiệu di tích lịch sử Hà Nội tại Phòng bảo tồn bảo tàng, Sở Văn

hoá - Thông tin Hà Nội, 1971 (tr.16), giới thiệu những nét chính về sự tích, lịch sử xây dựng, trùng tu, kiến trúc của một số di tích lịch sử tiêu biểu của Hà Nội như Thành Cổ Loa, Đền Hai Bà Trưng, Đền Quan Thánh, Chùa Một Cột, Đền Voi Phục, Chùa Láng, Chùa Trấn Quốc, Chùa Liên Phái, Chùa Bộc, Khu Đống Đa, Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn, Đền Phù Đổng Những kiến thức tổng hợp về những khu di tích này giúp tác giả luận án có cái nhìn khái quát về các DTLSQGĐB tại Hà Nội, làm cơ sở để lựa chọn nội dung tiêu biểu của DTLSQGĐB tại Hà Nội phục vụ cho việc khai thác và sử dụng hiệu quả trong quá trình DHLS ở trường THPT

Bài viết Một số kiến trúc xƣa của Thăng Long - Hà Nội của Nguyễn Du Chi,

Tạp chí Văn hoá dân gian, 1983, số 3- 4 đã giới thiệu một số công trình kiến trúc cổ của Thăng Long - Hà Nội Trong đó, có DTLSQGĐB tại Hà Nội như: Văn Miếu - Quốc Tử Giám; chùa Tây Phương (xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất) Những nghiên cứu của bài viết khẳng định giá trị lịch sử - văn hóa của những công trình này Đó là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi trong quá trình xác định bản chất, nội dung và dự kiến cách thức khai thác trong quá trình DHLS ở trường THPT

Trong Tạp chí Khảo cổ với chủ đề Những phát hiện mới về khảo cổ học năm

1987- 1988 có bài viết của Bùi Thiết về Cấu trúc mặt bằng thành Thăng Long thế

kỷ XV - thế kỷ XVIII, trình bày cấu trúc mặt bằng thành Thăng Long thế kỷ XV - thế

kỷ XVIII, dựa vào hệ thống tài liệu chữ viết, địa danh, bản đồ, tài liệu khảo cổ học Đặc biệt là dựa vào hệ thống thoát nước lộ thiên của khu di tích là cơ sở quan trọng và tin cậy để dựng lại được cấu trúc thành Thăng Long Những nghiên cứu mới về khảo

cổ học là cơ sở khoa học để khẳng định giá trị lịch sử - văn hóa của Hoàng Thành Thăng Long – một trong những DTLSQGĐB tiêu biểu nhất của Hà Nội cần khai thác

và đưa vào giảng dạy trong môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông phù hợp và hiệu quả

Bài viết “Di tích lịch sử - văn hoá trong khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm

- Hà Nội” của Trần Thanh Tùng - Nguyễn Doãn Văn, trên trang

http://thegioidisan.vn/vi/cac-di-tich-xung-quanh-ho-hoan-kiem.html cho người đọc hình dung đầy đủ về không gian lịch

sử - văn hóa Hồ Hoàn Kiếm gồm: đền Bà Kiệu, Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Khai Trí Tiến Đức, Khu tưởng niệm Vua Lê, đình Nam Hương, tháp Báo Thiên, cụm di tích đình - đền - chùa Vũ Thạch, tháp Hòa Phong, Tượng đài vua Lý Thái Tổ Đặc biệt, Hồ Gươm

là nền cảnh và tháp Rùa là di tích điểm nhấn quan trọng góp vào sự đa dạng, hấp dẫn của

quần thể di tích lịch sử - văn hóa quanh Hồ Gươm Đó là một gợi ý quan trọng để tác giả luận

Trang 19

án xác định địa điểm tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS trong hoạt động tham quan ngoại khóa khi tiến hành thực nghiệm sư phạm cho luận án

Bài viết Hoàng thành Thăng Long những phát hiện mới của khảo cổ học của Đào Hùng, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 1, năm 2004, đã giới

thiệu những phát hiện mới trong quá trình khai thác khảo cổ học ở khu Hoàng thành Thăng Long, thông qua những hiện vật thu được ở khu 18 Hoàng Diệu Tác giả khẳng định, Hoàng thành Thăng Long là phát hiện mới, có giá trị khoa học đặc biệt quan trong của ngành Khảo cổ học nước nhà Bởi vì, nơi đây là bằng chứng lưu giữ thời kì phát triển rực rỡ của chế độ phong kiến Đại Việt, với những hiện vật phản ánh nét đặc trưng của các triều đại Lý – Trần – Lê sơ Đó là nguồn tư liệu gốc quý giá giúp NCS hiểu được giá trị, cũng như xác định nội dung và hình thức sử dụng khu di tích này vào dạy học bộ môn LS ở trường THPT phù hợp và hiệu quả

Một số Luận án Tiến sĩ đã nghiên cứu về lịch sử Hà Nội và các di tích lịch sử

- văn hóa tại Hà Nội, nổi bật trong số đó là:

Luận án phó tiến sĩ Sử học của Nguyễn Thừa Hỷ với đề tài Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII – XIX, (1982) tập trung nghiên cứu sự chuyển biến về kinh tế, xã

hội của Hà Nội trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX Đồng thời, đánh giá vai trò của nhà nước phong kiến trong kết cấu kinh tế - xã hội Việt Nam Tuy luận án không trực tiếp đề cập đến từng DTGQĐB tại Hà Nội, nhưng những nghiên cứu của tác giả là gợi ý để NCS

có sự nhận thức khái quát về tiến trình phát triển của Thăng Long – Hà Nội trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam, làm cơ sở để lựa chọn những DTLSQGĐB tại Hà Nội trong quá trình DHLS ở trường THPT

Luận án phó tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Doãn Huân với đề tài Lịch sử khu di tích Cổ Loa, (1997) tập trung nghiên cứu về khu di tích lịch sử thành Cổ Loa trên các

bình diện lịch sử, văn hoá trải qua các thời kỳ trước An Dương Vương và thời kỳ sau

An Dương Vương Thành công của tác giả giúp cho NCS hiểu được sâu sắc giá trị lịch

sử - văn hóa của DTLSQGĐB Cổ Loa Từ đó, định hướng cho tác giả trong việc xác định nội dung và hình thức khai thác, sử dụng khu di tích này hiệu quả trong quá trình DHLS ở trường THPT dưới các hình thức khác nhau

Những di vật thời Tây Sơn ở Hà Nội (tƣợng, bia đá, sắc phong) là luận án

phó tiến sĩ Khảo cổ học của Nguyễn Văn Hùng (1996) Tác giả đi sâu phân loại, mô tả

và nhận xét về 3 nhóm di vật thời Tây Sơn như tượng, bia đá, sắc phong Qua đó, tìm hiểu đặc trưng của những di vật, đánh giá giá trị của chúng đối với dân tộc và bước đầu lý giải tính phát triển tất yếu và tính kế thừa có quy luật của chúng Đây là nguồn

tư liệu gốc đặc biệt, gắn liền với phong trào Tây Sơn và triều đại Tây Sơn (thế kỷ XVIII), nên có giá trị khoa học to lớn trong công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đồng thời, cũng là nguồn sử liệu quý để NCS sử dụng trong quá trình làm luận án

Như vậy, những công trình nghiên cứu trên có những con đường tiếp cận khác nhau về DTLSQGĐB tại Hà Nội ở những khía cạnh khác nhau, như tìm hiểu nguồn gốc, lịch sử hình thành, phát triển, đánh giá thực trạng và bước đầu xác định giá trị của

di tích trên một số lĩnh vực văn hoá, lịch sử, xã hội Kết quả nghiên cứu của các công

Trang 20

trình là nguồn tài liệu quan trọng về nội dung DTLSQGĐB tại Hà Nội, là cơ sở để

chúng tôi lựa chọn và sử dụng trong từng bài học cụ thể trong quá trình DHLS ở

trường THPT Mặc dù các công trình nghiên cứu trên không đề cập nhiều đến việc

khai thác, sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong quá trình DH, nhưng đã góp phần

quan trọng định hướng cho chúng tôi khi viết cơ sở lý luận của đề tài Đó là làm rõ

khái niệm DTLS, DTLSQGĐB, khẳng định giá trị quan trọng của DTLSQGĐB tại Hà

Nội trong các lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có lĩnh vực giáo dục - đào tạo Vì thế,

việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của chúng là nhiệm vụ chính trị qua trọng đối

với toàn xã hội nói chung, trong DH bộ môn LS ở trường THPT nói riêng

1.2 Các công trình nghiên cứu về sử dụng di tích trong dạy học nói chung,

di tích lịch sử trong dạy học lịch sử nói riêng ở trường phổ thông

Chúng tôi tiếp cận các công trình dưới góc độ DTLSQG là một phương tiện trực

quan, là một nguồn kiến thức cơ bản, là môi trường học tập quan trọng đối với HS trong

quá trình dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về lí luận dạy học

1.2.1.1 Công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Tác giả M.Crugiắc trong cuốn Phát triển tư duy HS như thế nào, NXB

Moscow, 1976 (Tài liệu dịch lưu trữ tại thư viện ĐHSP Hà Nội) đã khẳng định, phương

pháp sử dụng đồ dùng trực quan là phương pháp tốt nhất đem lại sự phát triển tư duy

cho HS DTLS lại là một loại đồ dùng trực quan đặc biệt có ích trong phát triển tư duy

HS Vì vậy, kết quả nghiên cứu của công trình là những gợi ý để chúng tôi xác định các

biện pháp sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội để phát triển kĩ năng tư duy của HS trong

quá trình học tập bộ môn LS ở trường THPT

Aleexep (chủ biên) trong cuốn Phát triển tư duy HS, NXB Moscow, năm

1976, (Tài liệu dịch lưu trữ tại thư viện ĐHSP Hà Nội) nhấn mạnh, công tác tham

quan, học tập tại di tích lịch sử văn hóa là một hoạt động quan trọng trong nhà trường

đó là một phương thức dạy cho HS đọc cuốn sách của cuộc sống Là một nghiên cứu

có ý nghĩa khoa học giúp các nhà giáo dục nói chung, NCS nói riêng trong quá trình

xác định được các nguyên tắc, phương pháp và hình thức học tập tại di tích lịch sử cho

HS trong DHLS ở trường THPT

I.F.Kharlamov trong cuốn Phát huy tính tích cực học tập của HS như thế

nào, NXBGD Hà Nội, 1978 Nguyễn Ngọc Quang và Trần Thị Trang dịch khẳng định,

tác dụng của đồ dùng trực quan kết hợp với lời nói sinh động đem lại hiệu quả cao

trong việc dạy học Sử dụng đồ dùng trực quan giúp HS thấy được bản chất của các

đối tượng, kích thích sự ham tìm hiểu, khám phá của HS Ông nhấn mạnh, hoạt động

tự học và việc tham gia khám phá kiến thức một cách chủ động của HS trong quá trình

học tập giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của

HS Những nhận định của tác giả là cơ sở để chúng tôi khẳng định giá trị to lớn của

DTLSQGĐB – một loại hình đặc biệt của đồ dùng trực quan Đồng thời, là cơ sở để

xác định các biện pháp sử dụng DTLSQGĐB trong quá trình DHLS ở trường THPT

theo nguyên tắc phát huy tính tích cực của HS

Trang 21

M.B Коpоткова, M.T Стyденикин, Memoдuка oбyчeнuя ucmopuu в cxeмx, mаблuцax, onucанuяx, Гуманитарный Издательский Центр Владос Москва, 1999 (Các tác giả M.B.Kôrôkôva và T.T.Studennhikin trong cuốn Phương pháp dạy môn Lịch sử theo sơ đồ, bảng biểu, mô tả, xuất bản tại Matxcova năm 1999) thực sự có giá trị đối với đề tài Ông đã khẳng định phương pháp tiếp cận lịch sử- văn hoá được coi là mô hình phổ biến nhất hiện nay như một phần của nền văn minh 15 chủ đề trong cuốn sách nghiên cứu về

“Dụng cụ trực quan trong DHLS” Với cách trình bày bằng bảng biểu, sơ đồ, các tác giả đã phân loại và gợi ý cách sử dụng, phương pháp sử dụng cho mỗi loại (trong đó có loại hình thuộc di tích lịch sử) rất hiệu quả Đó là những gợi ý quan trọng để chúng tôi vận dụng linh hoạt trong quá trình xác định các biện pháp sử dụng DTLSQGĐB đạt hiệu quả

Trong cuốn Các phương pháp sư phạm, NXB Thế Giới, Hà Nội, 1999,

GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong

óc trẻ một biểu tượng bền vững Đặc điểm của phương pháp này là cung cấp cho HS, trong phạm vi có thể những dữ kiện dễ quan sát, dễ lĩnh hội DTLSQGĐB là phương tiện trực quan có ý nghĩa lớn trong DHLS Vì vậy, kết quả nghiên cứu của công trình

là những gợi ý quan trọng cho NCS trong quá trình lựa chọn hình thức và phương pháp sử dụng DTLSQGĐB trong dạy học LS ở trường THPT

David A Jacobsen, Paul Eggen, Donal Kauchak trong cuốn Methods for Teaching (Phương pháp dạy học – Prentice Half-Gale, 2002) nhấn mạnh, người dạy học

nếu biết đa dạng hóa cách dạy sẽ đạt hiệu quả hơn những người luôn chỉ làm theo một cách nhất định Do người học có những phong cách học khác nhau nên người dạy cần hướng dẫn để người học biết được họ nên học như thế nào là tốt nhất, nhận ra được điểm yếu của từng cá nhân Đồng thời, đưa ra các phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm khuyến khích vai trò chủ động của người học, cách hướng dẫn phương pháp học phù hợp với phong cách học khác nhau của người học Quan điểm trên của các nhà nghiên cứu gợi ý cho chúng tôi trong quá trình sử dụng nguồn tư liệu về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội để đa dạng hóa cách dạy học lịch sử hiện nay

Hai tác giả Jean – Marc Denommé và Madeleine Roy trong tác phẩm Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác (2000) cho rằng, hoạt động dạy học – giáo dục

là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố Người dạy (thầy) – Người học (trò) và môi

trường Trong đó, thầy giáo được ví như người dẫn lộ của đoàn leo núi Trò – người

thợ chính của quá trình kiến tạo nên trí tuệ, phẩm chất của mình để đạt đến mục tiêu

Môi trường được tổ chức cho thầy và trò tạo nên điều kiện thuận lợi cho công tác hoạt

động nhằm đạt đến mục tiêu Quan điểm trên đã gợi ý cho GV tận dụng tối đa hóa các điều kiện để làm phong phú các hình thức học tập của HS Đó cũng là những gợi ý để xác định hình thức dạy học, phương pháp dạy học, và các biện pháp sư phạm phù hợp khi sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong quá trình DHLS ở trường THPT

Robert J.Marzano - Debrra J.Pickering - Jane E.Pollock, trong cuốn Các phương pháp dạy học hiệu quả (Nguyễn Hồng Vân dịch, NXB GDVN, 2011) trên cơ sở tổng kết

kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu lí thuyết đã đưa ra quan điểm của mình về giáo dục không nên bó buộc trong khuôn khổ nào, tức không chỉ tiến hành trên lớp Đồng thời, giới

Trang 22

thiệu các PPDH đem lại hiệu quả như "Nhận ra sự giống và khác nhau", "Tóm tắt ghi ý chính", "Phương pháp khích lệ học tập và ghi nhận những cố gắng", "Bài tập về nhà và thực hành" Những phương pháp đó phát huy cao độ khả năng học tập của HS, nâng cao chất lượng giảng dạy của GV Mỗi PPDH đã chỉ cho GV những cách làm cụ thể để thực hiện công tác giảng dạy hiệu quả nhất Đó là những gợi ý quý báu cho NCS khi xác định các hình thức và PP sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

Thomas Armstrong trong cuốn Đa trí tuệ trong lớp học (Người dịch Lê Quang

Long, NXB GDVN, 2011) đi sâu nghiên cứu 8 loại "trí tuệ" của con người: Trí tuệ ngôn ngữ; Trí tuệ logic-toán học: Trí tuệ không gian; Trí tuệ hình thể động năng; Trí tuệ âm nhạc; Trí tuệ giao tiếp; Trí tuệ nội tâm; Trí tuệ tự nhiên học Thuyết Đa trí tuệ

đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm khuyến khích GV coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi HS: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi HS đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các em Tác giả đã tìm cách mở rộng phạm vi tiềm năng con người vượt ra ngoài chỉ số IQ, đó là sự gắn liền với khả năng "giải quyết vấn đề" và khả năng sáng tạo Đó là những gợi mở để chúng tôi xác định các biện pháp sư phạm phù hợp với đối tượng nhận thức trong khi khai thác DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS Di tích lịch sử đã gợi mở cho GV chúng tôi tạo môi trường học tập một cách thú vị cho HS

Robert J.Marzano - Jana S.Marzano - Debrra J.Pickering, trong cuốn Quản lí lớp học hiệu quả (Người dịch Phạm Trần Long, NXB GDVN, 2011) cho rằng, trong

ba vai trò của GV đứng lớp: lựa chọn biện pháp giảng dạy, thiết kế chương trình giảng dạy và áp dụng các biện pháp quản lí lớp học, thì quản lí lớp học là nền tảng Ba vai trò đó thể hiện toàn diện năng lực dạy học của GV Đó là cơ sở phương pháp luận đồng thời là PPDH để chúng tôi vận dụng trong quá trình tổ chức HS khai thác và sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội đạt hiệu quả

James H.Stronge trong cuốn Những phẩm chất của người GV hiệu quả (Người

dịch Lê Văn Canh, NXBGDVN, 2011) cho rằng, người GV có hiệu quả là tổng hòa của

"các tính cách của người GV như là một cá nhân bình thường" Đồng thời nhấn mạnh, người GV hiệu quả phải thực hiện tốt khâu quản lí và tổ chức lớp học; soạn bài và tổ chức giảng dạy; thực hiện giảng dạy; theo dõi sự tiến bộ và tiềm năng của HS Tác giả cũng định ra bảng tiêu chí đánh giá kĩ năng của người GV hiệu quả Kết quả nghiên cứu giúp GV vững vàng hơn trong xử lý các tình huống dạy học nói chung, khai thác và sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS nói riêng để đạt kết quả tốt nhất

Robert J.Marzano trong cuốn Nghệ thuật và khoa học dạy học (Người dịch

Nguyễn Hữu Châu, NXB GDVN, 2011) khẳng định, nghề dạy học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Mỗi GV phải tự xây dựng PPDH cụ thể cho HS của mình tại thời điểm thích hợp, không có một PPDH nào có thể áp dụng cho mọi đối tượng dạy học Theo đó, đòi hỏi năng lực của người GV phải luôn luôn đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng và khả năng nhận thức của HS Đồng thời, chỉ rõ cho GV những cách làm

Trang 23

cụ thể để thực hiện nội dung đó Đó là cơ sở để chúng tôi lựa chọn các PPDH tối ưu khi khai thác và sử dụng DTLSQGĐB trong quá trình DHLS ở trường THPT

Giselle O.Martin - Kniep trong cuốn Tám đổi mới để trở thành người GV giỏi (Người dịch Lê Văn Canh, NXB GDVN, 2011) đã trình bày những thủ thuật dạy

học cụ thể, gợi ý để GV vận dụng vào từng lớp học, với từng đối tượng nhận thức (giỏi, khá, trung bình, yếu) Điều đó đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng của người GV vì

GV khó có thể nuôi dưỡng được hoạt động học tập đích thực cho người học nếu bản thân người học lại không tham gia vào quá trình học tập Theo đó, mỗi GV có thể xây

dựng chương trình giảng dạy cho mình từ đó có thể vận dụng trong bài học nội khóa

và bài học ngoại khóa Tác giả nhấn mạnh việc sử dụng phương pháp đánh giá gắn với đời sống thực tế là một định hướng cho hoạt động dạy trong nhà trường, cần tạo điều kiện thuận lợi cho người học gắn việc học tập với thực tế Như vậy, trong trường hợp này DTLSQGĐB trở thành môi trường thực tiễn của hoạt động kiểm tra, đánh giá trong quá trình DHLS ở trường phổ thông Đây là gợi ý quý báu để chúng tôi thực hiện các hoạt động trải nghiệm với DTLSQGĐB tại Hà Nội để tạo cơ hội cho HS phát triển năng lực và phẩm chất của mình

Tác giả Bernd Meier (Đức) với tác phẩm Lý luận dạy học hiện đại (Bản dịch

Nguyễn Văn Cường, NXB Đại học Sư phạm, 2016) nghiên cứu sâu về lý luận dạy học hiện đại Tác giả đã đưa ra những quan điểm dạy học khác nhau như: dạy học phát triển kế thừa, dạy học điển hình, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án, dạy học theo tình huống, dạy học đóng vai, Các phương pháp đó đều hướng tới phát triển năng lực người học Đó là những kết quả nghiên cứu có giá trị để chúng tôi kế thừa, vận dụng trong quá trình xác định hình thức, biện pháp sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

1.2.1.2 Công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước

Khác với cách tiếp cận của các nhà quản lý và nghiên cứu văn hoá, các nhà giáo dục học và tâm lý học, các nhà giáo dục lịch sử ở Việt Nam đã nhìn nhận di tích lịch sử với góc độ là một nguồn kiến thức khoa học, một phương tiện trực quan đặc biệt và môi trường thực tiễn lí tưởng để tổ chức DH với nhiều hình thức khác nhau Các tài liệu giáo dục học, lí luận dạy học của các tác giả Việt Nam như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Lưu Xuân Mới, Phạm Bá Hoành, Nguyễn Hữu Châu cũng nghiên cứu sâu về quá trình dạy học Quan điểm thống nhất cho rằng dạy học bao gồm hai hoạt động gắn bó mật thiết với nhau: hoạt động dạy của thầy có chức năng kép: truyền đạt thông tin dạy và điều khiển hoạt động học; hoạt động học của trò có hai chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội (tiếp thu thông tin dạy của thầy) và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học của mình (tự giác, tích cực, tự lực) Cụ thể:

Trong giáo trình Giáo dục học (Tài liệu lưu hành nội bộ, Tủ sách ĐHSP Hà

Nội II, 1971), chỉ ra một trong năm phương châm giáo dục là lý luận gắn liền với thực tế; GV mỗi khi có điều kiện phải cho HS trực tiếp quan sát sự vật và hiện tượng thật Đối với sự vật và hiện tượng không trực tiếp quan sát được, GV có thể sử dụng đồ dùng trực quan để khôi phục lại hình ảnh của chúng cho HS quan sát Đồng thời, xác

Trang 24

định hình thức tổ chức giờ học tại nơi có di tích, sự kiện đang học (đối với môn Lịch

sử là địa điểm di tích); khẳng định tầm quan trọng của hoạt động tham quan ngoại khóa tạo điều kiện cho HS tiếp xúc trực tiếp với thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành những biểu tượng chính xác, khái niệm đúng đắn, cảm xúc chân thành, có ý nghĩa giáo dục lớn trong tình yêu đối với quê hương, tin tưởng ở khoa học, có ý nghĩa giáo dục to lớn Đó là những gợi ý quan trọng để chúng tôi đề xuất và vận dụng linh hoạt các hình thức và biện pháp sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong quá trình làm luận án

Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong giáo trình Giáo dục học (NXB

Giáo dục 1987) trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về giáo dục học, trong đó, đề

cập đến quy luật của quá trình dạy học - quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy và

học là quy luật cơ bản, nó phản ánh mối liên hệ tất yếu và bền vững giữa hai nhân tố

trung tâm, của quá trình dạy học: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Trong quan hệ đó, thầy đóng vai trò chủ đạo với tư cách là chủ thể tác động sư phạm đứng trước hai đối tượng điều khiển: HS và hoạt động nhận thức của nó Đặc biệt, đề cập đến các hình thức tổ chức dạy học và các loại bài học, cần vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, các phương pháp, phương tiện dạy học nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập nhận thức của HS Đồng thời khẳng định, đồ dùng trực quan nếu được sử dụng hợp lý và khéo léo giúp HS dễ hiểu, nhớ kiến thức lâu hơn Đó là những gợi ý quý báu để tác giả luận án vận dụng khi xây dựng cơ sở lí luận của đề tài Đặc biệt là, xác định hình thức, biện pháp sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội theo nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhận thức của HS

Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) “Giáo dục học” tập 1,2, NXB Đại học

Sư phạm Hà Nội, 2009 đã đi sâu nghiên cứu vấn đề về bản chất của quá trình DH và mối quan hệ biện chứng, thống nhất của các yếu tố trong quá trình dạy học như mục tiêu

DH, nội dung DH, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức DH, nhằm đạt tới những kết quả tối ưu trong quá trình giáo dục Đó là những nguyên tắc chung để chúng tôi vận dụng trong quá trình xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

Tác giả Phạm Viết Vượng trong các giáo trình Giáo dục học (2008), Giáo dục học đại cương (2013), đã trình bày những nội dung cơ bản của lý luận dạy học như

quá trình dạy học, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Tác giả cho rằng động lực của quá trình dạy học là việc giải quyết mâu thuẫn nội tại giữa một bên là nhu cầu nhận thức và bên kia là trình độ nhận thức của HS ở một thời điểm nhất định, GV là người tạo dựng các mâu thuẫn và bằng nghệ thuật sư phạm tổ chức cho người học giải quyết các mâu thuẫn đó bằng sự nỗ lực của bản thân Theo

đó, việc giảng dạy chỉ có hiệu quả khi GV giữ được vai trò chủ đạo trong tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS học tập Vai trò chủ đạo của GV chính là vai trò định hướng mục tiêu và đảm bảo chất lượng dạy học Đó cũng là những nguyên tắc dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học mà chúng tôi sẽ vận dụng linh hoạt trong quá trình làm luận án

Tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn Vấn đề GV – những nghiên cứu lí luận và

thực tiễn, đưa ra quan điểm “một hướng đổi mới đào tạo GV hiện nay là phải dạy HS

Trang 25

phương pháp học”, khẳng định chức năng cơ bản của người dạy là dạy cách học, chức

năng cốt lõi của người học là học cách học Một GV giỏi phải biết kết hợp nhuần nhuyễn hai hoạt động đó giữa thầy và trò trong quá trình dạy học Đó cũng là nguyên tắc dạy học cần được thực hiện triệt để ở trường phổ thông nói chung, khi sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong dạy học lịch sử nói riêng nhằm phát triển năng lực tự học, tự chủ; giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS

Trong cuốn Giáo dục học hiện đại - Những nội dung cơ bản của Thái Duy

Tuyên (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) tiếp tục khẳng định “trực quan là điểm xuất phát của DH”[144, tr.169] Trên cơ sở đó, tác giả bàn đến các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS dã chỉ rõ: kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, cần sử dụng các phương tiện DH, kiến thức phải được trình bày trong “dạng động”, dụng cụ trực quan có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú HS, cần sử dụng nhiều hình tổ chức DH khác nhau, trong đó có tham quan Do vậy, DTLSQGĐB là một loại phương tiện cần thiết trong dạy học lịch sử

Tác giả Nguyễn Thành Kỉnh trong bài viết Từ PPDH truyền thống đến phương

pháp sư phạm hợp tác (Tạp chí Giáo dục số 206 – kì 2-1/2009) đã tổng kết các PPDH

trong thực tiễn của nhà trường và trong lĩnh vực lí luận sư phạm, từ một hình thái “giáo

dục quyền uy” độc đoán, truyền thống chuyển sang chủ nghĩa “giáo dục tự nhiên” thế kỉ

XVIII, đến trào lưu hướng về người học “lấy HS làm trung tâm” và xu hướng một nền

“giáo dục hợp tác” đang được thể nghiệm hiện nay Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến PP

“sư phạm hợp tác” với ưu điểm là tập trung vào tác động qua lại giữa người dạy, người

học và môi trường tổ chức dạy học Đó vừa là nguyên tắc vừa là phương pháp để phát huy tính chủ động và sáng tạo của người học trong quá trình nhận thức nói chung, sử dụng DTLSQGĐB trong DHLS nói riêng

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về sử dụng di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

1.2.2.1 Công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài

Tác giả Đairi đã viết trong cuốn Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào, NXB

Giáo dục, Hà Nội, năm 1973, chỉ rõ “toàn bộ công tác DH sẽ vô cùng có lợi, nếu thầy

giáo hiểu môn học trên cơ sở tất cả những nguồn tư liệu có liên quan đến sự kiện ” và

chỉ rõ “Bản thân cơ chế hình thành kiến thức lịch sử đòi hỏi một khối lượng tài liệu sự

kiện phong phú, sáng sủa, giàu hình tượng, giàu cảm xúc, tài liệu đó đưa ra một bức tranh nguyên vẹn của hiện tượng nào đó” [33, tr.10] Đồng thời, nhấn mạnh, để hình

thành tư duy độc lập và tính tự lập của HS thì nên tổ chức học tập thực tế tại di tích lịch sử; đề xuất một số hình thức dạy học tại thực địa Đó là cơ sở phương pháp luận

để chúng tôi kế thừa và vận dụng linh hoạt trong quá trình xác định hình thức, phương pháp và cách thức tiến hành dạy học tại thực địa (nơi có DTLSQGĐB tại Hà Nội) đạt hiệu quả và có tính khả thi

I.Ia.Lecne với Phát triển tư duy HS trong dạy học lịch sử, NXB Moscow, 1982

(Tài liệu dịch lưu trữ tại thư viện ĐHSP Hà Nội) đã chỉ ra rằng dạy học có sử dụng đồ dùng trực quan sẽ là cơ sở để diễn ra sự tái hiện tri thức và phương pháp hoạt động Ông

Trang 26

khẳng định sự cuốn hút của phương tiện tạo hình trực quan có ý nghĩa rất quan trọng Tính trực quan là phương tiện cơ bản để hình thành kiến thức lịch sử Đồng thời, nêu lên các loại và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan Đó là những gợi ý quý báu cho chúng tôi khi sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học

Như vậy, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục lịch sử trên thế giới đều gián tiếp hoặc trực tiếp khẳng định vai trò của DTLS trong quá trình DHLS ở trường phổ thông; nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng các tài liệu về DTLS trong DHLS, nó

có giá trị hỗ trợ HS phát triển toàn diện - cung cấp tri thức, giáo dục đạo đức, tư tưởng

và phát triển k năng thực hành bộ môn DTLS là phương tiện trực quan, là môi trường

DH gắn liền thực tiễn, là nguồn kiến thức lịch sử khoa học, là một loại tài liệu lịch sử địa phương quan trọng cần vận dụng trong thực tiễn DH Trong đó, hình thức tổ chức

DH tại di tích góp phần hình thành tư duy độc lập và tính tự lập của HS Kết quả của các công trình trên không những khẳng định sự hợp lý, đúng đắn, khoa học và cần thiết trong hướng nghiên cứu của đề tài, mà còn góp phần xây dựng cơ sở lý luận trong quá trình thực nghiệm và ứng dụng thực tiễn của luận án

1.2.2.2 Công trình nghiên cứu của tác giả trong nước

Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu ngoài nước, vận dụng

sáng tạo vào đặc thù bộ môn, các nhà nghiên cứu về lý luận và phương pháp DHLS

trong nước đã bàn đến ý nghĩa, vai trò, các hình thức, phương pháp sử dụng di tích với

tư cách là nguồn kiến thức, là phương tiện DH trong DHLS ở trường phổ thông

Giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử qua các năm do các nhà nghiên cứu

lý luận DH bộ môn biên soạn đã đề cập sâu sắc đến vấn đề Luận án nghiên cứu:

Giáo trình Phương pháp dạy học Lịch sử, Tập 1, NXBGD năm 1976 do Phan

Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên đã nhấn mạnh 3 nguyên tắc cơ bản là: kết hợp việc DHLS với đời sống, đảm bảo tính trực quan và phát triển năng lực nhận thức của

HS Sử dụng di tích trong DHLS có thể đảm bảo hiệu quả việc thực hiện những nguyên tắc cơ bản nêu trên Tác giả khẳng định, biểu tượng về nền văn hoá vật chất

không những giúp HS hiểu rõ, chính xác lịch sử quá khứ, mà còn góp phần bồi dưỡng cho các em quan điểm Macxit về quy luật phát triển của lịch sử loài người

Giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử, Tập 2 (NXB Giáo dục Hà Nội,

1980) nhấn mạnh các nguyên tắc: học đi đôi với hành - trong đó yếu tố đầu tiên là quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng nghiên cứu, khẳng định một biện pháp quan trọng của việc DH gắn liền với đời sống là đưa tài liệu lịch sử địa phương, chất liệu cuộc sống hiện tại vào việc trình bày lịch sử quá khứ Trong trường hợp này, di tích với tư cách vừa là “đối tượng” nghiên cứu cần quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua đồ dùng trực quan), vừa là một loại tài liệu lịch sử địa phương cần thiết

hỗ trợ cho việc học tập của HS Đồng thời, khẳng định ý nghĩa và hướng dẫn cách thực hiện những giờ học tại thực địa với hình thức là một bài nội khóa hoặc công tác ngoại khóa Đây là những gợi ý trực tiếp quan trọng định hướng khi xây dựng cơ sở lí thuyết và xác định các biện pháp sử dụng DTLS trong DH bộ môn ở trường THPT

Cuốn Phương pháp dạy học lịch sử (NXB Giáo dục Hà Nội, 1992) do Phan

Trang 27

Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên (được tái bản có sửa chữa, bổ sung vào các năm 1998,1999, 2000, 2001) đã trở thành giáo trình chung cho các trường ĐHSP và CĐSP

trong cả nước Chương II viết về “Bộ môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông Việt Nam”

khi xác định những yêu cầu cơ bản đối với việc cải tiến DHLS, phải đảm bảo tính cụ thể của lịch sử, muốn vậy phải nhờ đến sự hỗ trợ của các phương tiện trực quan Trong chương V, các tác giả nêu rõ để hình thành cho HS năng lực tư duy và hành động thì một trong những biện pháp quan trọng để cụ thể hóa sự kiện lịch sử; khẳng định bài học tại thực địa, bảo tàng (bài học nội khóa) có giá trị lớn đối với HS So với giáo trình xuất bản năm 1980 việc tiến hành bài học tại thực địa đã được phân tích rõ hơn vai trò,

ý nghĩa, hướng dẫn cụ thể hơn cách thức tiến hành với những ví dụ cụ thể Đó là nguồn tài liệu quý để chúng tôi vận dụng linh hoạt vào quá trình đề xuất các biện pháp

sử dụng hiệu quả DTLSQGĐB tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử xuất bản năm 2002, gồm 02 tập do các

tác giả Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng viết (tái bản có bổ sung năm

2005, 2009, 2014 (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội) đã định hướng về nguyên tắc DH, trong đó nhấn mạnh đặc điểm của môn Lịch sử không thể trực tiếp quan sát các sự kiện nên đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu biết sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, là

phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử, giúp HS nắm vững quy luật

Di tích và tài liệu di tích là phương tiện trực quan quan trọng, là một trong những biện pháp hiệu quả tạo biểu tượng lịch sử trong DH bộ môn Sử dụng di tích là một trong những con đường, biện pháp phát triển tư duy và năng lực thực hành cho HS, khẳng định

ý nghĩa của hình thức DH tại di tích, nêu quy trình, điều kiện thực hiện, những lưu ý khi tổ chức DH tại DTLS Mặc dù nội dung của bộ giáo trình không đi sâu nghiên cứu về DTLS nói chung, DTLSQGĐB tại Hà Nội trong quá trình DHLS ở trường phổ thông nói riêng, nhưng những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở phương pháp luận vững chắc của đề tài Đồng thời, gợi mở những giải pháp trong quá trình nghiên cứu Luận án

Cùng với giáo trình, nhiều nội dung liên quan đến đề tài của chúng tôi được thể hiện phong phú trong các nghiên cứu chuyên khảo của đông đảo các nhà nghiên cứu

có uy tín trong giáo dục và DHLS ở Việt Nam Tiêu biểu:

Cuốn Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ

thông (NXB ĐHSP, 2008) do Phan Ngọc Liên chủ biên là tập hợp các bài nghiên cứu

của cán bộ khoa Lịch sử, trường ĐHSP Hà Nội, Viện chiến lược và Chương trình giáo dục, Vụ Giáo dục trung học Trong cuốn sách, nhiều bài viết đã trực tiếp liên quan đến

đề tài của chúng tôi Cụ thể:

Phan Ngọc Liên trong bài“Một số vấn đề về đổi mới dạy học lịch sử ở trường phổ thông” đã nêu rõ những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp và hình

thức tổ chức DH Trong đó cần tăng cường tính khoa học, tính cụ thể của sự kiện lịch

sử, nhân vật lịch sử, tổ chức cho HS tiếp cận nhiều hơn với các sử liệu Bài viết cũng

nhấn mạnh việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, thực hành bộ môn với các hoạt động như tham quan bảo tàng lịch sử cách mạng, nhà truyền thống, chiến trường xưa,

DH tại thực địa, nghiên cứu, học tập lịch sử địa phương

Trang 28

Các tác giả Đặng Văn Hồ và Nguyễn Thành Nhân trong bài viết “Tài liệu lịch

sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc” đã khẳng định tài liệu lịch sử địa

phương là phương tiện quan trọng để thực hiện phương thức DH gắn liền với thực tiễn, tài liệu được sử dụng vừa có ý nghĩa nhận thức, vừa là tài liệu hỗ trợ cho việc học tập

của HS ở các trường THPT

Tác giả Nguyễn Thị Côi với Bảo tàng lịch sử cách mạng trong dạy học lịch

sử ở trường phổ thông, NXBĐHQG, 1998, Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, 2006 là các

công trình quan trọng đề cập trực tiếp đến nhiều khía cạnh của đề tài Khi trình bày những yêu cầu đối với bài học LS, tác giả đã phân tích một số yêu cầu tạo cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài là phải đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, hình ảnh khi trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử để HS có biểu tượng chân thực, chính xác nhằm khơi dậy những cảm xúc sâu sắc của HS Muốn vậy, GV cần sử dụng đa dạng, kết hợp các nguồn kiến thức, tài liệu tham khảo… để bài giảng sinh động, giúp HS lĩnh hội bài tốt Cuốn sách tiếp tục khẳng định ý nghĩa của hoạt động tham quan, ngoại khóa trong việc phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa địa phương trong DHLS và có hướng dẫn chi tiết cho các hoạt động này

Tác giả Nguyễn Thị Kim Thành trong cuốn Bảo tàng, di tích – Nơi khơi nguồn cảm hứng dạy và học Lịch sử cho HS phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014 đã

trình bày khái quát về mối quan hệ giữa việc truyền thụ kiến thức lịch sử trong nhà trường với phương pháp tiếp cận mới trong việc dạy học lịch sử tại bảo tàng, di tích Trên cơ sở bám sát nội dung chương trình SGK, có sự cập nhật, bổ sung những vấn đề mới theo định hướng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, tác giả đề xuất một

hệ thống các chủ đề và tiểu chủ đề và những yêu cầu nhằm thực hiện các hiệu quả chủ

đề, tiểu chủ đề đó Đồng thời, đề xuất hình thức DHLS tại bảo tàng, di tích thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa Với cách làm của tác giả là những gợi ý quan trọng để chúng tôi tham khảo và vận dụng linh hoạt trong quá trình xác định hình thức, phương pháp và biện pháp sư phạm sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội hợp lí và hiệu quả

Năm 2014, tập hợp các bài khoa học thuộc chủ đề Đổi mới phương pháp DHLS trong Hội thảo khoa học quốc gia về DHLS ở trường phổ thông Việt Nam vào tháng

08/2012 tại Đà Nẵng đã được tuyển chọn xuất bản trong Đổi mới phương pháp dạy

học lịch sử (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2014) do tác giả Trịnh Đình Tùng chủ

biên Nhiều bài trong hội thảo đã bàn sâu và đưa ra nhiều giải pháp tích cực về việc sử

dụng DSVH trong DHLS Tiêu biểu là bài viết Dạy học lịch sử thông qua các di sản

của Phạm Mai Hùng Tác giả khẳng định, giáo dục thông qua các DS (văn hóa) là phương pháp có tính phổ biến ở mọi quốc gia, không phân biệt chính trị - xã hội, nó được hình thành từ rất sớm và luôn có tính kế thừa, duy trì, phát triển cho tương thích

với điều kiện cụ thể của từng quốc gia Ông nhấn mạnh, dạy và học lịch sử thông qua các DSVH là phương pháp trực quan, sinh động và thực sự có hiệu quả, là phương pháp

tối ưu không chỉ giúp cho HS củng cố, mở rộng các kiến thức đã được truyền thụ trên lớp mà còn bồi dưỡng trực tiếp cho các em năng lực cảm nhận cái đẹp, cái hay Đồng

Trang 29

thời, giúp HS tích lũy vốn sống, kỹ năng lao động, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, tôn trọng quá khứ để vững bước vào tương lai Đó là cơ sở để chúng tôi khẳng định giá

trị của DTLSQGĐB tại Hà Nội trong trong DHLS ở trường THPT

Tác giả Trần Thị Bích Liễu trong cuốn Dạy học phát triển năng lực sáng tạo cho

HS phổ thông: Lý thuyết và thực hành, (NXBĐHQGHN, 2016) đã nghiên cứu lí thuyết

và thử nghiệm thành công dạy học phát triển năng lực sáng tạo cho HS ở hai trường THCS và THPT của Hà Nội Đồng thời, hướng dẫn GV cách sử dụng công cụ sáng tạo trong dạy học thử nghiệm thành công ở năm môn học trong đó có môn Lịch sử dựa trên các bài dạy của SGK Cụ thể trong phần 3, mục 3.2, nhóm tác giả đã đưa ra khuyến nghị của Farr & Darling (2008) về sử dụng di tích lịch sử khi dạy học khám phá Tác giả đưa ra các công cụ giúp HS học lịch sử qua các câu hỏi khám phá, các bài tập suy luận khi xem tranh ảnh, các tài liệu, phim về di tích lịch sử được xây dựng và phát triển bởi đội ngũ các nhà giáo dục thuộc tổ chức quản lý các di tích và lưu trữ, Washington, DC (2008) Đây là những gợi ý thiết thực để chúng tôi tham khảo và vận dụng linh hoạt khi xác định các biện pháp sử dụng DTLSQGĐB trong DHLS ở trường THPT

Vấn đề sử dụng di tích trong DHLS cũng đã được nghiên cứu trong một số luận

án tiến sĩ Tiêu biểu là: “Sử dụng di tích lịch sử trong DHLS dân tộc ở trường THCS”

(Hoàng Thanh Hải); “Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong DHLS Việt Nam

trong giai đoạn 1919- 1975 ở trường THPT Thừa Thiên Huế” (Nguyễn Thành

Nhân); Nguyễn Thị Duyên năm 2018: “Tổ chức dạy học lịch sử Việt Nam (1919 -

2000) với di tích lịch sử tại địa phương ở trường THPT tỉnh Nghệ An”; Nguyễn Thị

Vân “Sử dụng di sản văn hóa tại địa phương trong DHLS Việt Nam, Lớp 10, trường

THPT tỉnh Thanh Hóa” Ở những mức độ khác nhau, các tác giả phân tích lý luận và

thực tiễn của việc sử dụng di tích trong DHLS, trong đó, chủ yếu vẫn tập trung vào các loại DSVH vật thể Đồng thời, xác định nội dung, đề xuất hình thức và các biện pháp

sử dụng để nâng cao hiệu quả bài học

Sử dụng di tích trong DHLS cũng được bàn đến trong nhiều bài báo, tiêu biểu

như: “Tổ chức hướng dẫn cho HS phổ thông tham gia các lễ hội xuân tại di tích lịch

sử” (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, 5/1997); “Giáo dục ý thức tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cho HS qua môn lịch sử” (Tạp chí Nghiên cứu giáo

dục, Số 308, 2013) Các bài viết trên đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc sử dụng di tích trong DHLS, là những gợi ý bổ ích cho đề tài

Nhận thức rõ giá trị và vai trò của DSVH nói chung, DTLS nói riêng, thực hiện chủ trương khuyến khích sử dụng DSVH trong DH, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch có công văn số 73/HD - BGDĐT - BVHTTDL ngày 16 tháng 01

năm 2013 về việc ban hành Hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông Tháng 10/2013 cuốn Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ

thông đã được biên soạn, trở thành tài liệu tập huấn cho GV toàn quốc về vấn đề này Tài

liệu đã xây dựng những vấn đề lý luận cơ bản cho việc sử dụng DSVH trong DH ở trường phổ thông nói chung, DH bộ môn LS nói riêng; làm rõ khái niệm, phân loại, ý nghĩa của

DS đối với hoạt động DH và giáo dục phổ thông, chỉ ra những DS thường được sử dụng,

Trang 30

các hình thức tổ chức DH và phương pháp sử dụng DS trong DH, quản lý sử dụng DS trong DH Sự chỉ đạo cụ thể của công văn liên ngành và tài liệu tập huấn đã hỗ trợ đắc lực cho công tác tập huấn GV trong toàn quốc, tạo bước chuyển biến tích cực trong đổi mới DH ở trường phổ thông Đồng thời, là định hướng để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài luận án

Tháng 5/2014 Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực HS (Môn Lịch sử cấp THCS và THPT) Đối với tài liệu dành cho cấp THPT, phần thứ 2 đã đi

sâu hướng dẫn DH theo định hướng phát triển năng lực trên cơ sở xác định các năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên biệt của môn LS cấp THPT Tài liệu cũng xác định phương pháp và hình thức tổ chức DH theo định hướng phát triển năng lực HS Trong đó nhấn mạnh DSVH, di tích lịch sử dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều

có thể sử dụng trong quá trình giáo dục Bộ môn LS có ưu thế trong việc sử dụng các

DSVH như là nguồn tri thức, phương tiện để DH Tài liệu cũng chỉ ra các DS thường

sử dụng trong DHLS, phương pháp, hình thức khai thác và sử dụng Đây là nguồn tư liệu quan trọng để chúng tôi vận dụng xây dựng cơ sở lí luận và đề xuất hình thức, phương pháp sử dụng DTLS trong luận án

Như vậy, các nguồn tài liệu trên đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề sử

dụng di sản nó chung và di tích lịch sử nói riêng trong dạy học ở trường phổ thông

Các công trình nghiên cứu này chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong dạy học lịch sử và cũng còn rất sơ lược, mới chỉ dừng ở một số nét khái quát, nhưng thực sự là những chỉ dẫn, những gợi ý rất quý báu, đặt nền móng cho chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài của mình

1.3 Nhận xét chung về các công trình đã công bố, những vấn đề luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu

1.3.1 Nhận xét chung

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu

về di sản, di tích lịch sử nói chung, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng với nhiều cách tiếp cận, ở những mức độ và khía cạnh khác nhau Có thể nói rằng, việc sử dụng các di tích lịch sử và di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử rất đa dạng và phong phú, nhất là theo quan điểm đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hình thức tổ chức, phương pháp dạy học, biện pháp sư phạm cụ thể khi sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Qua các công trình nghiên cứu nêu trên có thể nhận thấy, di tích lịch sử chính là một loại phương tiện dạy học đặc biệt có giá trị Ở phương diện là đồ dùng trực quan, di tích trở thành cơ sở để HS tái hiện kiến thức lịch sử, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm quý báu Đồng thời, góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy cho HS Ở phương diện là tài liệu học tập, di tích là loại tài liệu văn hoá quan trọng, giúp HS hiểu và nhận thức sâu sắc về văn hoá và truyền thống, về các chuẩn mực đạo đức xã hội; Ở phương diện môi trường học tập, di tích chính là những cơ

Trang 31

sở học tập thực tế, môi trường thực tiễn sống động, khắc phục việc học tập xa rời thực tế Những nghiên cứu quan trọng của các tác giả trong và ngoài nước đã góp phần khẳng định sự hợp lý, đúng đắn, khoa học và cần thiết trong hướng nghiên cứu của đề tài

1.3.2 Những vấn đề luận án kế thừa

Vấn đề sử dụng sử dụng di tích, di tích lịch sử - văn hóa nói chung, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT nói riêng đã được đề cập tới khá nhiều trong các công trình nghiên cứu Việc tiếp cận với các tài liệu trên đây

đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc củng cố và hệ thống hoá lại các vấn đề có liên quan tới đề tài của mình, trong đó có những vấn đề quan trọng như:

- Khẳng định bản chất của các khái niệm liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến

đề tài như “di tích”, “di tích lịch sử”, “di tích quốc gia đặc biệt”, “di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội”;

- Khẳng định giá trị, tầm quan trọng của việc sử dụng các phương tiện trực quan, tư liệu lịch sử nói chung, di tích lịch sử và di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng trong DHLS ở trường phổ thông, nhất là trong xu thế đổi mới hiện nay

- Cung cấp một hệ thống tư liệu quan trọng về các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội, định hướng cho việc xác định hình thức và biện pháp sử dụng hiệu quả các di tích trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT

- Xác định được một số nguyên tắc, lựa chọn được nội dung cơ bản, cũng như

đề xuất được một số hình thức, phương pháp dạy học và biện pháp sư phạm sử dụng

đồ dùng trực quan nói chung, di tích lịch sử nói riêng trong DHLS, gồm các phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Tuy nhiên, mặc dù đã đề cập khá nhiều đến di sản, di tích và di tích lịch sử quốc gia trong DHLS, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, tập trung và hệ thống về việc khai thác và sử dụng hệ thống di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong DHLS cho HS ở trường THPT Đây cũng chính là vấn đề, là mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài của chúng tôi hướng đến, nhằm giải quyết vấn

đề cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu

quả DHLS ở trường phổ thông hiện nay

1.3.3 Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu

Để thực hiện được nhiệm vụ đặt ra trên đây, trên cơ sở kế thừa các công trình liên quan đã đề cập tới, đề tài của chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung giải quyết những vấn

đề cơ bản sau đây:

- Đi sâu nghiên cứu bản chất của DTLSQGĐB nói chung, DTLSQGĐB tại Hà Nội nói riêng; tìm hiểu đặc điểm, các cách phân loại, đặc biệt là giá trị to lớn của các

di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội; khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng

di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

- Tiến hành khảo sát thực tiễn việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT làm cơ sở cho việc xác định nội dung, đề xuất hình thức tổ chức, phương pháp dạy học và biện pháp sư phạm sử dụng di tích lịch sử quốc

Trang 32

gia đặc biệt tại Hà Nội phù hợp với đối tượng nhận thức và điều kiện cho phép

- Làm rõ những căn cứ và lựa chọn được những nội dung cơ bản, cốt lõi của các di

tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội có thể sử dụng trong DHLS ở trường THPT

- Xác định hệ thống kiến thức lịch sử Việt Nam ở trường THPT có thể và cần

sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT

- Trên cơ sở vận dụng các quan điểm lý luận DH liên quan đến khai thác và sử dụng di tích lịch sử trong DHLS vào thực tiễn dạy học ở Hà Nội, đề tài xác định được các yêu cầu, lựa chọn hình thức tổ chức và các biện pháp sư phạm sử dụng di tích lịch

sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT dưới hai hình thức chủ yếu

là trực tiếp và gián tiếp tùy theo địa bàn và điều kiện địa phương

- Triển khai việc dạy học cụ thể theo lý thuyết đã nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT để rút ra các kết luận khoa học của đề tài

x x

x Trên cơ sở nghiên cứu tổng quát các công trình khoa học liên quan đến đề tài, chúng tôi đã tiếp cận nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài Đó là nguồn từ liệu về di tích lịch sử; di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội; tư liệu về lí luận day học nói chung, lí luận về phương pháp dạy học lịch sử nói riêng

và sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông Qua đó chúng tôi nhận thấy, giá trị to lớn của việc sử dụng di tích nói chung, DTLSQGĐB tại Hà Nội nói riêng trong dạy học và giáo dục lịch sử Đó là những nguồn tư liệu quý giá, hỗ trợ chúng tôi trong quá trình xây dựng cơ sở lí luận, cũng như định hướng xác định nội dung, hình thức, phương pháp sử dụng phù hợp và hiệu quả

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Vì vậy, đây là hướng

đi mới và có giá trị thực tiễn cao Để khai thác và sử dụng hiệu quả di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội, đòi hỏi GV phải nhận thức đúng bản chất, giá trị và tầm quan DT, từ đó biết vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp dạy học, biện pháp sư phạm theo định hướng phát triển năng lực HS trong dạy học bộ môn Đặc biệt là chú trọng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong một môi trường học tập lí tưởng ngoài nhà trường Với những di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội thực sự là một kho tàng tri thức khoa học

có giá trị lịch sử, văn hóa quý giá nếu GV biết khai thác và sử dụng trong dạy học lich sử thì

sẽ tạo hiệu quả rõ rệt Tuy nhiên công việc thống kê, khai thác “kho sử liệu” đó không hề dễ dàng GV cần thực sự hiểu biết sâu sắc về mội di tích, cụm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội và có kiến thức lí luận về bộ môn để khai thác hiệu quả phục vụ DHLS ở các nhà trường THPT Vấn đề này sẽ được chúng tôi giải quyết ở các chương sau của luận án

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TẠI HÀ NỘI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Trong phạm vi nghiên cứu của chương này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu bản chất của khái niệm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt; phân loại di tích lịch sử; khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử; khảo sát thực tiễn việc sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường THPT làm cơ sở cho việc xác định nội dung, hình thức, biện pháp khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn di tích lịch sử này vào dạy học lịch sử ở trường THPT

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Quan niệm về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

- Di tích

Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên, “Di” là “để lại”; “Tích” là “Dấu vết”; “ di

tích” là “Dấu vết xưa còn để lại”[60, tr433] Theo Từ điển tiếng Việt, “ di tích” là

“Dấu vết của người hoặc sự việc thời xưa hoặc thời trước đây còn để lại” [102, tr 410] Từ đó, có thể hiểu, di tích là những dấu vết còn lại của quá khứ do con người tạo

nên Các di tích phản ánh bức tranh sinh động những hoạt động của quá khứ, do con người tạo nên trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (lao động sản xuất, đấu tranh chống ngoại xâm, thiên tai; hoạt động cộng đồng về kinh tế, văn hóa và sáng tác nghệ

thuật…) Như vậy, Di tích là sản phẩm lao động của con người tạo ra trong quá khứ,

nên nó có giá trị lịch sử sâu sắc

Theo Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và Di chỉ (1964), Đại

hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc sư và K thuật gia về di tích lịch sử, Venice,

1964, được ICOMOS chấp nhận năm 1965 coi các DTLS như là những chứng nhân

sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa và coi các di tích cổ như là một di sản chung Hiến chương đã nhận định, DTLS không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc, mà bao gồm cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, phản ánh một sự kiện lịch sử nhất định Với tuyên bố của Hiến chương Quốc tế là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu bản chất của DTLS và giá trị của nó đối với nhân loại nói chung, Việt Nam nói riêng

Tại Hội nghị Quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ XVII ở Madrit (Tây Ban Nha) từ ngày 26/8 đến 2/9/1990 có báo cáo về vấn đề "Các nhà sử học và việc gìn giữ

các di sản văn hóa của nhân loại" Hội nghị đã khẳng định "Di tích lịch sử - văn hóa là

những di sản văn hóa quý hiếm của nhân loại, cần được bảo vệ và sử dụng đúng đắn

Di tích lịch sử đã và đang trải qua những hiểm họa đó là thời gian ngày càng lùi xa, thiên nhiên khắc nghiệt và cả sự vô ý thức của con người" Hội nghị đã nhấn mạnh khả năng sử dụng các di tích lịch sử thể hiện trình độ văn minh của xã hội đương thời Có

thể thấy, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của di sản được thế giới rất quan tâm

Trang 34

“Di tích” khác với “Di sản” Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên, “Di” là “Để

lại”; “Sản” là “Của cải”; “Di sản” là “Của cải giá trị của người chết, của đời trước để lại” [60, tr 433] Di sản là “Tài sản của người chết để lại”; là “Tài sản tinh thần hoặc tài sản vật chất do lịch sử để lại hoặc do thiên nhiên tạo ra” [102, tr 410] Như vậy,

“Di sản” và “ di tích” giống nhau ở chỗ, đều là sản phẩm do đời trước để lại, nhưng

“Di sản” là khái niệm rộng hơn, bao hàm cả “ di tích” Di sản gồm cả tài sản tinh thần

hoặc vật chất do con người sáng tạo nên hoặc do thiên nhiên tạo hóa, có thể là tài sản

của cá nhân hoặc tập thể để lại “ di tích” là những dấu vết còn lại của quá khứ do con

người tạo nên, chủ yếu mang tính tập thể và là tài sản chủ yếu về vật chất Trong phạm

vi của đề tài luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu về“ di tích lịch sử quốc gia đặc

biệt” nói chung, “ di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội” nói riêng, là một phần

quan trọng, tiêu biểu nhất của di tích và di tích lịch sử trên đất nước Việt Nam

- Di tích lịch sử

Di tích lịch sử là “dấu vết còn lại của một thời kì lịch sử đã qua di tích lịch sử

là đối tượng nghiên cứu của sử học, khảo cổ học” [75, tr.138] di tích lịch sử là một

biểu hiện cụ thể của di tích, là một khái niệm có nội hàm hẹp hơn di tích Có nghĩa là,

bất cứ DTLS nào trước hết phải là một di tích, nhưng không phải di tích nào cũng trở thành DTLS, mà nó chỉ trở thành DTLS khi di tích đó gắn liền sự kiện, nhân vật gắn liền với từng thời kì lịch sử, phản ánh tập trung, rõ nét bức tranh của quá khứ trong thời điểm đó Theo đó, di tích lịch sử là nguồn tư liệu gốc quý giá, phản ánh khách quan, chân thực bức tranh của quá khứ qua các thời kì phát triển của lịch sử nhân loại

và dân tộc Vì vậy, DTLS không chỉ là là đối tượng nghiên cứu của Sử học và Khảo cổ học, mà còn là đối tượng nghiên cứu của Giáo dục lịch sử với tư cách là nguồn sử liệu

khoa học phục vụ cho quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông

Luật Di sản văn hóa được kỳ họp thứ 9, QH khóa X thông qua gồm 7 chương,

74 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2002 Trong đó chương IV mục 1 điều 28 quy định “ di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) Ðịa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử

Điều 30 quy định Thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích “Thủ tướng Chính

phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.” Như vậy, DTLS là một phần của di sản văn

hóa vật thể Bởi vì, di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn

hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật,

bảo vật quốc gia Đây là một loại hình di sản văn hóa được thể hiện dưới hình thức vật

chất, khác với di sản văn hóa phi vật thể DTLS có những đặc điểm sau:

Trang 35

Thứ nhất, DTLS là những sản phẩm văn hoá tồn tại hữu hình, được biểu hiện

dưới dạng vật chất, là những minh chứng phản ánh trung thực lịch sử và thể hiện sự

sáng tạo của con người, nên rất gần gũi và gắn bó với cuộc sống của con người

Thứ hai, DTLS mang tính lịch sử sâu sắc Bởi vì, mỗi DTLS đều gắn với thời

gian, không gian, sự kiện, nhân vật lịch sử nhất định, nằm trong bối cảnh lịch sử cụ thể DTLS là sự phản ánh chân thực của đời sống xã hội trong từng thời điểm nhất định Vì vậy, nó có giá trị lịch sử sâu sắc, là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu và học tập lịch sử Qua đó, góp phần tái hiện bức tranh sinh động của quá khứ

Thứ ba, DTLS có tính cố định Tức là, mỗi DTLS đều gắn với một địa danh

nhất định, gắn liền với một địa phương nào đó Nó được tạo dựng bởi con người tại thời điểm nhất định Tính cố định của DTLS phản ánh giá trị khoa học của nó, có nghĩa là mỗi DTLS đều phản ánh một sự thực lịch sử nhất định gắn liền với con người

và địa phương nào đó Vì vậy, trong quá trình khai thác và sử dụng DTLS cần chú ý tính nguyên trạng của nó để đảm bảo tính khoa học, tránh tình trạng hiện đại hoá LS

Thứ tư, DTLS có tính giá trị to lớn Bởi lẽ, mỗi DTLS gắn liền với từng địa

phương, mỗi dân tộc, trong những thời điểm cụ thể của lịch sử, nên hệ thống DTLS phản ánh bức tranh toàn diện các lĩnh vực khác nhau của con người về lịch sử, văn hoá, khoa học Đó là nguồn sử liệu quý giá phản ánh quá trình phát triển của lịch sử dân tộc qua những thời kỳ khác nhau

Tóm lại, DTLS là những sản phẩm văn hoá tồn tại hữu hình, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học còn tồn tại đến ngày nay và là niềm tự hào của dân tộc

- Di tích lịch sử quốc gia

Từ khái niệm “di tích lịch sử” có thể hiểu, “di tích lịch sử quốc gia” là những di tích

lịch sử có giá trị tiêu biểu của quốc gia DTLS là sản phẩm vật chất do con người tạo nên, nó tồn tại ở khắp các địa phương trong cả nước, nhưng chỉ có DTLS phản ánh những sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiêu biểu, nổi bật gắn liền với tiến trình phát triển của dân tộc trong từng thời kì lịch sử mới trở thành “DTLSQG”

- Di tích quốc gia đặc biệt

Điều 29 Luật Di sản, năm 2002 ghi rõ: “Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có

giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia” Di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính

phủ kí quyết định công nhận trên cơ sở lựa chọn từ các di tích quan trọng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích quốc gia Tính đến giữa năm 2019, qua 9 đợt xếp hạng, Việt Nam có tổng số 106 di tích quốc gia đặc biệt, trong đó Hà Nội là địa phương sở hữu 16 di tích quốc gia đặc biệt và được chia thành các hạng mục như: Di tích lịch sử; Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ; Di tích lịch sử

và danh lam thắng cảnh; Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật; Di tích kiến trúc nghệ

thuật Những hạng mục này được gọi chung là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Trong

phạm vi của luận án chúng tôi chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu về những di tích quốc gia đặc biệt gắn liền với các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử cụ thể, tiêu biểu trong những thời điểm, những giai đoạn lịch sử nhất định và có giá trị to lớn trong quá trình dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay

Trang 36

- Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt

Từ khái niệm về di tích, di tích lịch sử, di tích lịch sử quốc gia và di tích quốc

gia đặc biệt chúng tôi cho rằng, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt (DTLSQGĐB) là di

tích quốc gia đặc biệt có giá trị tiêu biểu trên lĩnh vực lịch sử DTLSQGĐB trước hết

phải là những di tích quốc gia đặc biệt, được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xếp hạng trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng, tiêu biểu đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng DTLSQGĐB phản ánh đầy đủ các tiêu chí của một DTLSQG nhưng phải tiêu biểu, nổi bật, phản ánh rõ nét, khách quan, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử phát triển của dân tộc Vì vậy, DTLSQGĐB là niềm tự hào của dân tộc và là nguồn sử liệu quý giá, là môi trường dạy học lý tưởng, là công cụ đa phương tiện cho quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những DTLSQGĐB tại Hà Nội và khả năng vận dụng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT

- Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

Di tích quốc gia đặc biệt tại mỗi địa phương là một bộ phận của DSVH dân tộc,

phản ánh những giá trị lịch sử - văn hoá của dân tộc Từ bản chất của khái niệm DTQGĐB,

chúng tôi cho rằng, DTLSQGĐB tại Hà Nội là những DTLS tiêu biểu của Hà Nội được Thủ

tướng Chính phủ ra quyết định trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích quốc gia DTLSQGĐB tại Hà Nội không chỉ phản ánh đặc trưng riêng gắn liền với không gian địa lí, con người và lịch sử phát triển của

Hà Nội qua các thời kì, mà còn phản ánh những sự kiện, hiện tượng, các nhân vật tiêu biểu gắn liền với các giai đoạn, thời kì phát triển của quốc gia nói chung DTLSQGĐB tại Hà

Nội đáp ứng được đầy đủ các điều kiện, tiêu chí của một DTQGĐB và nằm trên địa bàn thành phố Hà Nội Vì vậy, DTLSQGĐB tại Hà Nội vừa mang nét riêng của địa phương, vừa chứa đựng những giá trị chung của dân tộc, phản ánh những nét tiêu biểu, điển hình của

lịch sử dân tộc, quốc gia qua các thời kì Đây là khái niệm được chúng tôi sử dụng xuyên

suốt, chi phối quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án

2.1.2 Quan niệm về sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Từ bản chất các khái niệm “DTLS”, “DTLSQGĐB”, chúng tôi cho rằng, sử

dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội là quá trình GV tổ chức, hướng dẫn, điều khiển HS tích

cực, chủ động, độc lập, sáng tạo tìm hiểu, khám phá và chiếm lĩnh kiến thức lịch sử thông qua khai thác, sử dụng hợp lí các DTLSGQĐB tại Hà Nội trong DHLS ở trường THPT Việc khai thác và sử dụng DTLSGQĐB tại Hà Nội có thể như một nguồn kiến thức và loại phương tiện trực quan đặc biệt, trong quá trình học tập, hoặc khai thác với

tư cách là nguồn sử liệu về DTLSQGĐB tại Hà Nội trong quá trình dạy học, hoặc xem

đó như môi trường dạy học lý tưởng qua đó thực hiện mục tiêu của bộ môn về kiến

thức, kĩ năng, thái độ và phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất của HS

Việc sử dụng di tích lịch sử trong quá trình dạy học nói chung và di tích lịch sử

quốc gia đặc biệt tại Hà Nội nói riêng có những đặc trưng cơ bản sau:

Trang 37

Một là, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt được coi là một nguồn kiến thức khoa

học, nó phản ánh trung thực, khách quan và toàn diện quá khứ lịch sử trong những thời điểm, giai đoạn nhất định Vì vậy, khai thác, sử dụng hiệu quả DTLSQGĐB tại Hà Nội giúp HS hiểu sâu sắc nội dung kiến thức lịch sử trong SGK

Hai là, việc sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội không tách rời quá trình dạy học

bộ môn Lịch sử ở trường THPT, mà chúng liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng bổ sung cho nhau Bởi vì, kiến thức lịch sử cơ bản được chọn lọc trong SGK là cơ sở quan trọng để GV lựa chọn DTLSQGĐB tại Hà Nội và hướng dẫn HS khai thác, sử dụng Qua đó, làm phong phú tri thức của bản thân HS về lịch sử

Ba là, di tích lịch sử nói chung, DTLSQGĐB tại Hà Nội nói riêng có ở xung

quanh chúng ta Do đó, trong quá trình DHLS, tùy thuộc vào nội dung, điều kiện của địa phương, khả năng nhận thức của HS, mà GV sử dụng linh hoạt nguồn tư liệu quý giá về DTLSQGĐB tại Hà Nội để tổ chức dạy học ở những mức độ khác nhau

Bốn là, dạy học và DHLS là những hoạt động có tính mục đích rõ ràng, chủ thể

của quá trình dạy học là HS Vì vậy, việc sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội phải hướng tới sự phát triển toàn diện của người học, phải đảm bảo mục tiêu dạy học và đối tượng học DTLSQGĐB tại Hà Nội được khai thác và sử dụng như phương tiện đặc biệt hỗ trợ hoạt động DHLS ở trường THPT Bởi vì, các DTLSQGĐB tại Hà Nội là bằng chứng chân thực về sự phát triển của lịch sử trong từng thời kì nhất định nên khai thác

và sử dụng hợp lí nguồn sử liệu này góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng DHLS ở trường phổ thông

Năm là, quá trình dạy học nói chung, DHLS ở trường THPT nói riêng là quá

trình phức tạp gồm nhiều yếu tố: mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, hình thức dạy học, PPDH, phương tiện dạy học, chương trình, SGK, hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, điều kiện dạy học, môi trường dạy học, kiểm tra, đánh giá… Mỗi yếu tố trên có một vai trò nhất định đối với quá trình dạy học ở trường phổ thông và chúng có mối quan hệ biện chứng, cùng tác động trực tiếp và hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên tính toàn diện, hệ thống và phát triển của quá trình dạy học Vì vậy, sử dụng DTLSQGĐB tại Hà Nội trong DHLS phải chú ý sự tác động của tất cả những yếu tố trên Ví dụ, sử dụng DTLSQGĐB để dạy học không thể tuỳ ý lựa chọn nội dung DTLS, mà phải căn cứ vào chương trình, SGK; điều kiện đáp ứng về phương tiện và điều kiện dạy học; phải căn cứ thời lượng của mỗi bài học để lựa chọn nội dung, hình thức và cách thức tiến hành cho phù hợp

Sáu là, dạy học là một quá trình nhận thức đặc thù, là sự kết hợp chặt chẽ giữa

hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, trong đó GV đóng vai trò chủ đạo của quá trình dạy học, là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, trọng tài, cố vấn, là người bạn của HS trong quá trình dạy học; HS đóng vai trò vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình nhận thức Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức và biết vận dụng kiến thức đã học vào thực

tiễn cuộc sống Vì vậy, sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội trong DHLS

Trang 38

không thể là quá trình làm việc đơn lẻ của thầy hoặc trò với DTLS, kể cả những hoạt động tự học của HS, mà quan trọng là GV phải định hướng, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ

HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức lịch sử qua khai thác nguồn tư liệu của DTLSQGĐB một cách hiệu quả Từ đó, phát triển k năng bộ môn, giáo dục đạo đức, tư tưởng HS và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường phổ thông

Như vậy, người GV cần nắm vững những đặc trưng trên để khai thác, sử dụng đúng hướng tài sản văn hoá quan trọng này nhằm đạt mục tiêu giáo dục và mục tiêu dạy học bộ môn Hà Nội là thủ đô của cả nước, là không gian sống gần gũi đối với HS, bởi vậy, di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội vốn là những giá trị rất quen thuộc với các em Sử dụng những giá trị này không chỉ đảm bảo tính khoa học, mà còn đảm bảo nguyên tắc sử dụng cái “cụ thể” để hiểu cái “trừu tượng”, cái gần gũi để hiểu cái khái quát, gắn lý thuyết với thực tế Qua đó góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực và bồi dưỡng phẩm chất tốt đẹp cho HS

2.1.3 Các loại di tích quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

Việc phân loại di tích nói chung, DTQGĐB tại Hà Nội nói riêng có vai trò quan trọng trong quá trình DHLS ở trường THPT Bởi lẽ, dựa vào các cách phân loại giúp

GV hiểu được đặc điểm, giá trị của từng loại di tích Từ đó, là cơ sở để GV lựa chọn loại hình di tích, xác định, nội dung và định hướng về hình thức, biện pháp khai thác,

sử dụng hiệu quả Việc phân loại di tích lịch theo các tiêu chí được quy định tại Điều

11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, có những loại di tích sau:

- Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân):

+ Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc

+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam

- Di tích khảo cổ: Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn

phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới

- Danh lam thắng cảnh: Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự

kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới

Việc xếp hạng di tích được quy định tại Điều 29 Luật Di sản văn hóa (ban hành

2012, sửa đổi và bổ sung năm 2009) Theo đó, di tích được xếp làm 3 hạng:

- Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương

- Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia

- Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Điều 30 của Luật Di sản quy định, thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích như sau: a) Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh;

Trang 39

b) Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định xếp hạng di tích quốc gia c) Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng DTQGĐB; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới

Như vậy, việc xếp hạng các loại di tích các cấp được quy định rất rõ Mỗi di tích khi xếp hạng phải dựa trên những tiêu chí chung mang tính nguyên tắc và qua nhiều lần xem xét và cuối cùng là các cấp có thẩm quyền ra quyết định Qua 10 đợt xếp hạng, cả nước có tổng số 106 DTQGĐB được xếp hạng, trong đó Hà Nội là địa phương sở hữu 16 DTQGĐB

Trong khuôn khổ Luận án, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu, tìm hiểu 10 di tích thuộc hạng mục di tích lịch sử; di tích lịch sử và khảo cổ; di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh; di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Còn 06 di tích quốc gia đặc biệt thuộc hạng mục di tích kiến trúc nghệ thuật (Đình Tường Phiêu, Đình Chèm, Đình làng So, Đình Kim Liên, Đền Sóc, Chùa Tây Phương) chúng tôi không chọn đưa vào khảo cứu để dạy học lịch sử ở trường THPT Nhóm 10 di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội mà luận án đi sâu nghiên cứu và vận dụng trong quá trình dạy học lịch

sử ở trường THPT bao gồm:

1 Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa

2 Khu di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng Thành - Thăng Long

3 Di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng

4 Di tích lịch sử Đền Hát Môn

5 Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn

6 Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu - Quốc Tử Giám

7 Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Thầy

để đi sâu nghiên cứu vì trước hết những di tích này đã được các cơ quan có thẩm quyền, chức năng là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội xếp hạng mục “di tích lịch sử”, hơn nữa, những di tích này gắn liền với những sự kiện tiêu biểu của lịch sử Hà Nội và dân tộc, cần thiết đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông, gồm cả chương trình hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành năm 2018 Bởi mỗi di tích trên là nguồn sử liệu quý giá cần được khai thác và sử dụng hiệu quả trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt

Trang 40

2.1.4 Đặc điểm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội

Hệ thống di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội là một phần di sản vật thể quốc gia bao gồm di tích, di vật và môi trường cảnh quan xung quanh DTLSQGĐB tại

Hà Nội mang đày đủ đặc điểm của di tích lịch sử, đồng thời phản ánh những nét đặc

trưng, riêng biệt của DTLS của thủ đô Hà Nội:

- Tính khoa học

Mỗi di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội là nguồn tư liệu lịch sử sống động, mang tính khách quan bởi tính hữu hình và vật chất của nó Tính khoa học, tính xác thực có thể hiểu là dấu ấn lịch sử hay yếu tố lịch sử được chứa đựng trong mỗi di tích Các yếu tố nguyên gốc chứa đựng trong các cổ vật, bảo vật, di vật như gạch ngói xây dựng, mộ táng, đồ dùng, vũ khí, đồ thờ tự, bia kí, gốm sứ… là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, những minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước dài lâu của cha ông và đó cũng là nguồn sử liệu khoa học, chính xác, quan trọng giúp cho các nhà khoa học cũng như các nhà giáo dục lịch sử trong quá trình nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử từ thời sơ sử tới các thời kỳ lịch sử sau này

Mỗi DTLSQGĐB tại Hà Nội đều liên quan mật thiết tới một hoặc những sự kiện trọng đại, nhân vật lịch sử điển hình có những đóng góp, ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển và tiến bộ của thủ đô Hà Nội nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung Từ Hùng Vương, đến Thục Phán, Hai Bà Trưng, Lý Công Uẩn, đến Lê Lợi và đến Hồ Chí Minh… Người GV lịch sử chỉ có thể giúp HS tạo biểu tượng tốt nhất, trung thực nhất

về những con người, những sự kiện lịch sử tiêu biểu đó trong không gian, bối cảnh di tích chân thực Từ đó, giúp HS hiểu sâu sắc cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và tác động tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại

Đời sống vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và cộng đồng trong xã hội Việt Nam phong kiến với nền kinh tế tiểu nông phản ánh rõ nét lên các DTLSQGĐB tại Hà Nội Mỗi di tích lịch sử còn ghi dấu lối sống, tín ngưỡng và tôn giáo của cộng đồng nơi có di tích đồng thời phản ánh kết quả của quá trình tiếp biến có chọn lọc các yếu tố văn hóa từ bên ngoài để tạo nên những giá trị văn hóa nội sinh Ngoài ra, DTLSQGĐB tại Hà Nội còn cho thấy những đặc điểm khác như bản sắc người Hà Nội, phong cách phương Đông, tâm hồn và lối sống Việt Nam

- Tính điển hình

Các DTLSQGĐB tại Hà Nội đều nằm rài rác trên các địa bàn thuộc nội và ngoại thành của thủ đô Hà Nội Mỗi DT không chỉ có giá trị của riêng địa phương Hà Nội, mà mang tính tiêu biểu của quốc gia dân tộc Tất cả các DTLSQGĐB tại Hà Nội đều phản ánh những sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiêu biểu của lịch sử dân tộc qua các thời kì của lịch sử Vì vậy, nó mang điển hình

Các DTLSQGĐB tại Hà Nội là một bức tranh phản chiếu chân thực những dấu mốc trên con đường phát triển của dân tộc Việt Nam Đó là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa – nơi lưu giữ dấu ấn thời kì hình thành và phát triển đầu

Ngày đăng: 16/05/2023, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
94. Phạm Đình Nhân, Lê Thị Thanh Hòa và Doãn Trình Đoàn Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam - Những gương mặt tiêu biểu, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam - Những gương mặt tiêu biểu
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
95. Đinh Văn Nhật (1976), "Đi tìm quê hương cũ của An Dương Vương Thục Phán", Nghiên cứu lịch sử (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm quê hương cũ của An Dương Vương Thục Phán
Tác giả: Đinh Văn Nhật
Năm: 1976
96. Nhiều tác giả (2009), Tổng tập nghìn năm văn hóa Thăng Long (gồm 4 tập), NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập nghìn năm văn hóa Thăng Long (gồm 4 tập)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2009
97. Đỗ Văn Ninh (1986), "Quốc Tử Giám – Hà Nội", Nghiên cứu lịch sử (3-4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc Tử Giám – Hà Nội
Tác giả: Đỗ Văn Ninh
Năm: 1986
98. Đỗ Văn Ninh (2001), Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội NXB Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội
Tác giả: Đỗ Văn Ninh
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
99. Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) (2007), Giáo trình Giáo dục học, Tập 1 NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2007
100. Guy Palmale (1982), Các phương pháp sư phạm NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp sư phạm
Tác giả: Guy Palmale
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 1982
101. Hoàng Phê (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2007
102. Nguyễn Vinh Phúc (1975), "Các cửa ô ở Hà Nội", Nghiên cứu lịch sử (160) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cửa ô ở Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Vinh Phúc
Năm: 1975
103. Nguyễn Vinh Phúc (2009), Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn
Tác giả: Nguyễn Vinh Phúc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
104. Nguyễn Vĩnh Phúc (2001), Sites, histoire et légendes autour d‟Hanoi NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sites, histoire et légendes autour d‟Hanoi
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phúc
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2001
105. Tạ Hòa Phương (2004), "Bóng dáng Thăng long quan phát hiện dấu tích cung điện thời Lý", Tạp chí Dạy và học ngày nay (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng dáng Thăng long quan phát hiện dấu tích cung điện thời Lý
Tác giả: Tạ Hòa Phương
Năm: 2004
107. Trần Hồng Quân (1992), "Đổi mới về nhận thức, vị trí, vai trò của giáo dục đào tạo", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục (số tháng 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới về nhận thức, vị trí, vai trò của giáo dục đào tạo
Tác giả: Trần Hồng Quân
Năm: 1992
108. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2009), Luật Di sản văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hóa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2009
109. Nguyễn Thị Chân Quỳnh Văn Miếu Thăng Long - Hà Nội, NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Miếu Thăng Long - Hà Nội
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
110. M. N. Sácđacốp (1970), Tư duy của HS, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy của HS
Tác giả: M. N. Sácđacốp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1970
112. Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam (2007), Văn hóa Quảng Nam, NXB Văn hóa Thông tin Quảng Nam, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Quảng Nam
Tác giả: Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin Quảng Nam
Năm: 2007
113. Sở văn hóa và thể thao Hà Nội (2015), Hỏi đáp về công tác quản lý di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội, UBND TP Hà Nội, Sở văn hóa và thể thao Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về công tác quản lý di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Sở văn hóa và thể thao Hà Nội
Năm: 2015
114. Nhật Tân (1963), "Khảo thêm về nhà bia Tiến sĩ và nhà bia Văn Miếu – Hà Nội", Nghiên cứu lịch sử (49) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo thêm về nhà bia Tiến sĩ và nhà bia Văn Miếu – Hà Nội
Tác giả: Nhật Tân
Năm: 1963
115. Văn Tạo (2006), Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam
Tác giả: Văn Tạo
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Mức độ sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Bảng 2.3. Mức độ sử dụng các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại Hà Nội (Trang 59)
Bảng 2.4. Mức độ hiệu quả khi sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Bảng 2.4. Mức độ hiệu quả khi sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt (Trang 60)
Bảng 2.7. Mức độ tổ chức các hoạt động ngoại khóa về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Bảng 2.7. Mức độ tổ chức các hoạt động ngoại khóa về di tích lịch sử quốc gia đặc biệt (Trang 62)
Hình 3.1. Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ Tịch - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.1. Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ Tịch (Trang 83)
Hình 3.2. Di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.2. Di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long (Trang 84)
Hình 3.4. Di tích thành Cổ Loa (Nguồn ảnh tác giả) - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.4. Di tích thành Cổ Loa (Nguồn ảnh tác giả) (Trang 90)
Hình 3.5. Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh hồ Hoàn kiếm và đền Ngọc Sơn - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.5. Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh hồ Hoàn kiếm và đền Ngọc Sơn (Trang 92)
Hình 3.7. Di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.7. Di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng (Trang 94)
Hình 3.9. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Thầy và khu vực núi đá Sài - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.9. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Thầy và khu vực núi đá Sài (Trang 96)
Hình 3.10. Di tích lịch sử Gò Đống Đa (quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.10. Di tích lịch sử Gò Đống Đa (quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) (Trang 97)
Hình 3.12. Di tích ảo Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 3.12. Di tích ảo Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Trang 110)
Bảng 4.5. Phân phối điểm kiểm tra sau thực nghiệm của các lớp TN và ĐC - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Bảng 4.5. Phân phối điểm kiểm tra sau thực nghiệm của các lớp TN và ĐC (Trang 147)
Bảng 4.6. Phân loại theo thang đánh giá kết quả sau TN lớp TN và ĐC - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Bảng 4.6. Phân loại theo thang đánh giá kết quả sau TN lớp TN và ĐC (Trang 148)
Bảng 4.11. Đánh giá của HS về hoạt động trải nghiệm - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Bảng 4.11. Đánh giá của HS về hoạt động trải nghiệm (Trang 154)
Hình 1                                Hình 2 - Sử dụng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tại hà nội trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông
Hình 1 Hình 2 (Trang 184)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w