1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học gdh theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm

209 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm
Tác giả Nguyễn Thị Tím Huế
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Trọng Rỹ, TS. Phạm Quang Tiến
Trường học Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục
Thể loại Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM NGUYỄN THỊ TÍM HUẾ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM Chuyên n

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ TÍM HUẾ

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội, 2018

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ TÍM HUẾ

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục

Mã số: 9 1 4 0 1 0 2

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS VŨ TRỌNG RỸ

2 TS PHẠM QUANG TIẾN

Hà Nội, 2018

Trang 3

Tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Trọng Rỹ, TS Phạm Quang Tiến, hai người Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Tôi cũng xin được chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến Phòng Quản lý khoa học đào tạo và Hợp tác quốc tế Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã tạo điều kiện và động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo và các em sinh viên ở các trường Cao đẳng Hải Dương, Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh, Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn, Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh đã tham gia và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thực nghiệm của luận án

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn những người thân trong gia đình đã quan tâm, ủng hộ, làm chỗ dựa vững chắc để tôi vững tâm hoàn thành nhiệm vụ

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày …tháng…năm 2018

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Tím Huế

Trang 4

Tôi cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ của nhiều nhà khoa học Tất cả các nguồn số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa được sử dụng

để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận án đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Trang 5

Trang

MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu……… 1

2 Mục đích nghiên cứu……… 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… 2

4 Giả thuyết khoa học……… 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 3

6 Phạm vi giới hạn của đề tài……… 3

7 Phương pháp nghiên cứu ……… 4

8 Những luận điểm cơ bản cần bảo vệ ……… 6

9 Những đóng góp mới của luận án……… 6

10 Cấu trúc của luận án……… 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC HỌC……… 8

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài…… 8

1.1.1 Bài tập, vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy học……… 8

1.1.2 Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học các môn học…… 12

1.1.3 Các nghiên cứu về năng lực, phát triển năng lực trong dạy học……… 18

1.1.4 Những nghiên cứu về xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực ……… 25

1.1.5 Nhận định chung……… 28

1.2 Khái niệm cơ bản……… 29

1.2.1 Bài tập……… 29

1.2.2 Xây dựng bài tập……… 31

1.2.3 Sử dụng bài tập……… 31

Trang 6

1.2.5 Năng lực dạy học……… 34

1.2.6 Phát triển năng lực dạy học……… 34

1.2.7 Xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy

1.3 Phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm thông qua dạy học môn Giáo dục học……… 37

1.3.1 Đặc điểm của sinh viên Cao đẳng Sư phạm……… 37

1.3.2 Năng lực dạy học cần hình thành, phát triển cho sinh viên Cao

1.3.3 Dạy học môn Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm……… 39 1.4 Bài tập Giáo dục học trong phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm ……… 47

1.4.1 Bài tập Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học 47

1.4.2 Yêu cầu của việc xây dựng bài tập trong dạy học Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học……… 65

1.4.3 Yêu cầu của việc sử dụng bài tập trong dạy học Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học……… 66 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và sử dụng bài

tập trong dạy học Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực

1.5.1 Chương trình đào tạo và kế hoạch đào tạo của nhà trường 67

1.5.2 Năng lực của giảng viên……… 67

1.5.3 Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, chính sách đãi ngộ của

Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Trang 7

2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng……… 71

2.1 1 Mục đích khảo sát……… 71

2.1.2 Đối tượng khảo sát, địa bàn khảo sát……… 71

2.1.3 Nội dung khảo sát……… 71

2.1.4 Phương pháp khảo sát……… 71

2.2 Kết quả khảo sát ……… 72

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giảng viên về xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm……… 72

2.2.2 Thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm 82 2.2.3 Thực trạng năng lực dạy học của sinh viên Cao đẳng Sư phạm……… 92

2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng và nguyên nhân……… 98

Kết luận chương 2……… 100

Chương 3 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ”………… 101

3.1 Đặc điểm học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS”…… 101

3.2 Nguyên tắc, qui trình xây dựng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm………… 107

3.2.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm………

104 3.2.2 Qui trình xây dựng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm……… 106

3.2.3 Minh họa hệ thống bài tập học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS” theo hướng phát triển năng lực dạy học………… 109

Trang 8

hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư

phạm……… 124

3.3.1 Nguyên tắc sử dụng bài tập Giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm………… 124

3.3.2 Qui trình sử dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm……… 127

3.3.3 Minh họa sử dụng bài tập học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS” theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm……… 129

Kết luận chương 3……… 132

Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 134

4.1 Khái quát về thực nghiệm sư phạm……… 134

4.1.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm……… 134

4.1.3 Đối tượng thực nghiệm……… 134

4.1.4 Kế hoạch, phương pháp tiến hành thực nghiệm……… 134

4.1.5 Tiêu chí và thang đo trong thực nghiệm……… 136

4.2 Thực nghiệm vòng 1……… 144

4.2.1 Mục tiêu……… 144

4.2.2 Tiến hành thực nghiệm vòng 1……… 144

4.2.3 Kết quả thực nghiệm vòng 1……… 144

4.3 Thực nghiệm vòng 2 ……… 150

4.3.1 Mục tiêu……… 150

4.3.2 Tiến hành thực nghiệm vòng 2……… 150

4.3.3 Kết quả thực nghiệm vòng 2……… 151

4.4 Nhận định chung về kết quả thực nghiệm sư phạm………… 157

4.4.1 Kết quả sau hai vòng thực nghiệm……… 157

4.4.2 Những yêu cầu để việc xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực đạt hiệu quả cao hơn……… 157

Trang 10

Viết tắt Viết đầy đủ

XD&SDBT Xây dựng và sử dụng bài tập

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 2.8. Mức độ sử dụng phương pháp dạy học của GV 90 Bảng 2.9 Khó khăn giảng viên gặp phải trong sử dụng bài tập 92 Bảng 2.10 Tự đánh giá năng lực dạy học của SV CĐSP 93 Bảng 2.11 Mức độ tự tin thực hiện nhiệm vụ dạy học ở trường phổ

thông của SV sau khi học xong GDH

Trang 13

Tên sơ đồ, hình vẽ Trang Hình 4.1 Biểu đồ biểu diễn tần suất hội tụ tiến của hai lớp

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

1.1 Trước thực trạng về đội ngũ nhà giáo ở trường phổ thông còn bất cập

về chất lượng, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết [dẫn theo Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 04/11/2013]; đặc biệt kết quả khảo sát 1.184 giáo viên thuộc 14 trường THCS của 7 tỉnh (thành phố) trên cả nước cho thấy, năng lực dạy học của giáo viên THCS đạt mức trung bình, theo thang 5 bậc [dẫn theo 62, Phan Trọng Ngọ (2016), “Năng

lực dạy học của giáo viên THCS”] Năng lực dạy học của giáo viên THCS chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến kết quả quá trình đào tạo giáo viên ở các trường Cao đẳng Sư phạm- cái nôi đào tạo giáo viên THCS - vẫn còn hạn chế Những hạn chế trong kết quả dạy học môn GDH ở trường CĐSP cũng

là một trong những nguyên nhân dẫn tới năng lực dạy học của SV CĐSP khi ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc dạy học ở trường THCS Để khắc phục những hạn chế trên, cần đổi mới đào tạo ở trường CĐSP theo hướng phát triển năng lực nhằm phát triển một lực lượng giáo viên có năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực phát triển nghề nghiệp; có thể thực hiện các nhiệm vụ dạy học và giáo dục một cách ổn định, phù hợp với các tiêu chuẩn đặt

ra trong nghề ở hàng loạt các bối cảnh hoặc các điều kiện nhất định của thực tiễn giáo dục phổ thông XD&SDBT trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học là một trong những con đường hình thành và phát triển năng lực dạy học cho SV CĐSP đáp ứng yêu cầu của thực tiễn dạy học ở trường phổ thông 1.2 Bài tập là những nhiệm vụ đặt ra cho sinh viên cần giải quyết, là phương tiện của giảng viên để tổ chức hoạt động nhận thức, kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức, rèn luyện kỹ năng nghề cho SV Tuy nhiên, trong dạy học GDH hiện nay ở trường CĐSP, GV vẫn chưa thường xuyên XD&SDBT Đồng thời hiệu quả của việc XD&SDBT chưa cao Kết quả là SV có thể hiểu kiến thức lý luận nhưng vận dụng kém, các kỹ năng dạy học được hình thành một cách rời rạc nên SV thường mơ hồ, lúng túng trước những nhiệm vụ dạy học của

Trang 15

giáo sinh ở trường phổ thông trong thời gian đi thực tập sư phạm cũng như khi

ra trường công tác Sự phát triển năng lực dạy học của SV chưa đáp ứng chuẩn năng lực đầu ra về năng lực dạy học Điều này do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến các nguyên nhân chính từ việc XD&SDBT của GV trong dạy học môn GDH, cụ thể:

Thứ nhất, GV chưa nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy học cho SV

Thứ hai, việc xây dựng bài tập chưa bám theo năng lực dạy học cần hình thành ở SV; nội dung bài tập chưa bám sát yêu cầu, đặc điểm, thực tiễn dạy học

ở trường phổ thông

Thứ ba, GV chưa khắc phục được những khó khăn khi sử dụng bài tập;, lúng túng khi sử dụng bài tập như là phương tiện gắn liền với phương pháp dạy học nên hiệu quả sử dụng bài tập chưa cao, kết quả học tập của SV chưa đáp ứng được chuẩn đầu ra về năng lực dạy học

Vì thế, trước thực trạng năng lực dạy học của giáo viên THCS, trước yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường sư phạm hiện nay, vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu XD&SDBT để phát triển năng lực dạy học cho SV trong dạy học GDH ở trường CĐSP Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và kỹ càng vấn đề này

Xuất phát từ những lý do trên, nhằm góp phần hình thành và phát triển năng lực dạy học cho SV sư phạm, nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên THCS tương lai, thực hiện thành công đổi mới giáo dục ở trường CĐSP, chúng tôi lựa

chọn và nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm”

Trang 16

Quá trình dạy học môn GDH ở trường CĐSP

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa bài tập với chuẩn đầu ra về năng lực dạy học và các thành tố của quá trình dạy học đặc biệt là nhiệm vụ dạy học, phương pháp dạy học GDH của GV

4 Giả thuyết khoa học

Nếu bài tập GDH được xây dựng và sử dụng dựa trên qui trình, nguyên tắc của việc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy học, bài tập đảm bảo các yêu cầu của bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học thì sẽ phát triển được năng lực dạy học cho SV đáp ứng chuẩn năng lực đầu ra

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xác định cơ sở lý luận của việc XD&SDBT trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng việc XD&SDBT trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học

5.3 Xác định nguyên tắc và qui trình xây dựng, sử dụng bài tập trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học

5.4 Xây dựng bài tập học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS” thuộc môn GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học cho SV ở trường CĐSP 5.5 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra, khẳng định hiệu quả của bài tập GDH được xây dựng theo hướng phát triển năng lực dạy học

6 Phạm vi giới hạn của đề tài

- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu XD&SDBT

học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS” thuộc môn GDH ở trường CĐSP Học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS” trong môn GDH có vai trò cung cấp những cơ sở lý luận dạy học và rèn luyện các kỹ năng dạy học tương ứng cho SV có thể học tiếp các học phần chuyên ngành khác và hoàn thành nhiệm vụ dạy học của giáo sinh ở trường THCS khi đi thực tập sư phạm

Trang 17

- Địa bàn khảo sát thực tế: Ở trường Cao đẳng Hải Dương, CĐSP Bắc Ninh,

CĐSP Lạng Sơn, CĐSP Điện Biên, CĐSP Quảng Ninh

- Đối tượng điều tra: Giảng viên, sinh viên CĐSP

- Thời gian khảo sát thực trạng: Năm học 2014-2015

- Thực nghiệm: Được tiến hành ở Trường Cao đẳng Hải Dương

- Thời gian thực nghiệm: Năm học 2014- 2015, 2015-2016

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Hệ thống là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các thành tố cấu thành có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau Các thành phần cơ bản trong cấu trúc của năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng

và thái độ Việc nghiên cứu phát triển năng lực cho người học không chỉ quan tâm tới ba thành tố cơ bản trên của năng lực mà đặc biệt chú ý tới việc rèn luyện

kỹ năng tổng hợp hay một hệ thống các kỹ năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong cấu trúc của năng lực chứ không phải là những kỹ năng rời rạc

Tiếp cận hoạt động - nhân cách: Quan điểm Tâm lý học hoạt động cho rằng tâm lý, nhân cách con người được hình thành và bộc lộ trong quá trình hoạt động Tính tích cực hoạt động của cá nhân quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển tâm lý của con người trong sử dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học cho SV CĐSP Bài tập GDH được sử dụng gắn liền với phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động của người học SV phải tự giác và tích cực hoàn thành bài tập dưới vai trò hướng dẫn của GV nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho bản thân

Tiếp cận đào tạo theo năng lực: Đào tạo theo năng lực thực chất là đào tạo theo chuẩn đầu ra Người học khi ra trường phải thực hiện được các nhiệm vụ trong một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nhất định mà họ được đào tạo Trong dạy học GDH, việc xác định hệ thống các năng lực cần hình thành cho SV phải dựa trên những yêu cầu của hoạt động dạy học ở trường phổ thông, yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS; dựa vào đó GV tiến hành xây dựng bài tập

Trang 18

GDH và sử dụng bài tập trong dạy học sao cho người học tự hoàn thành được bài tập, từ đó có thể hoàn thành một nhiệm vụ bất kỳ nào đó trong dạy học ở trường phổ thông Tiến hành đánh giá sự phát triển năng lực dạy học của SV theo những tiêu chí đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Để xây dựng cơ sở lý thuyết

cho vấn đề nghiên cứu của đề tài Cụ thể: Phân tích, so sánh, khái quát hoá, hệ thống hoá lý thuyết từ các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhằm thu thập những thông

tin về thực trạng xây dựng , sử dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học và kết quả thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp quan sát: Quan sát, ghi chép, nhận xét, đánh giá thực trạng sử

dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học và kết quả làm bài tập của SV trong thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi đối với GV và SV

để khảo sát thực trạng xây dựng, sử dụng bài tập GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn GV dạy học GDH và SV để

tìm hiểu nhận thức, thái độ của họ về những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu bài tập GDH

được các GV của các trường CĐSP xây dựng và sử dụng, nghiên cứu kết quả làm bài tập của SV

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Thu thập ý kiến của các GV dạy GDH

và các nhà khoa học nghiên cứu về GDH để tìm ra hướng nghiên cứu tối ưu nhất

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sử dụng bài tập học phần

“Hoạt động dạy học ở trường THCS” (thuộc môn GDH) theo hướng phát triển

Trang 19

năng lực dạy học nhằm khẳng định tính khả thi, hiệu quả của bài tập đã xây dựng

7.2.3 Các phương pháp bổ trợ

Sử dụng công thức thống kê toán học và phần mềm SPSS để phân tích định lượng các kết quả nghiên cứu

8 Những luận điểm cơ bản cần bảo vệ

8.1 Muốn hình thành và phát triển năng lực dạy học cho SV trong dạy học GDH đáp ứng yêu cầu thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, việc XD&SDBT phải dựa trên qui trình, nguyên tắc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy học; xây dựng bài tập phải xuất phát từ năng lực dạy học cần phát triển cho SV; bài tập được xây dựng phải đáp ứng yêu cầu của bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học

8.2 Trong dạy học GDH, việc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy học làm phương tiện hỗ trợ cho các phương pháp dạy học sẽ tích cực hoá hoạt động của người học, giúp hình thành và phát triển năng lực dạy học cho SV đáp ứng chuẩn đầu ra về năng lực dạy học

9 Những đóng góp mới của luận án

Luận án đã kế thừa những quan điểm của các tác giả đi trước đồng thời xác định được cơ sở lý luận của việc XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy học trong dạy học GDH Phần khung lý thuyết này của luận án bao gồm những khái niệm và quan điểm khoa học về bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học; đặc điểm của dạy học môn GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học ở trường CĐSP

Kết quả khảo sát thực trạng của luận án đã phản ánh được hạn chế trong nhận thức của GV dạy GDH ở trường CĐSP về XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực dạy học Qua phân tích nguyên nhân của thực trạng và kết quả thực trạng cho phép tác giả luận án nhận định việc XD&SDBT trong dạy học GDH ở trường CĐSP chưa hiệu quả Do đó cần thiết phải bồi dưỡng nhận thức

Trang 20

cho GV CĐSP về XD&SDBT trong dạy học GDH theo hướng phát triển năng lực dạy học

Đề xuất được nguyên tắc, qui trình xây dựng, sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học giúp cho GV dạy học GDH dễ dàng thực hiện việc XD&SDBT GDH đáp ứng yêu cầu của đổi mới đào tạo ở trường Sư phạm theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp

Thiết kế được các bài tập học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS” thuộc môn GDH theo qui trình đã đề xuất Xây dựng tiêu chí, công cụ đánh giá năng lực dạy học của SV trong đào tạo giáo viên THCS; minh họa sử dụng bài tậptheo hướng phát triển năng lực dạy học trong dạy học học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS” GV dạy GDH có thể sử dụng sản phẩm này như một tài liệu tham khảo hỗ trợ cho việc đổi mới phương pháp dạy học GDH theo hướng phát triển năng lực ở trường CĐSP

10 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm trong dạy học Giáo dục học

Chương 2 Thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Giáo dục học ở trường Cao đẳng Sư phạm

Chương 3 Xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm trong dạy học học phần “Hoạt động dạy học ở trường THCS”

Chương 4 Thực nghiệm sư phạm

Trang 21

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC HỌC

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Bài tập, vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy học

Vấn đề bài tập cũng như vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy học đã

được các nhà giáo dục sớm quan tâm nghiên cứu Thời cổ đại Hy Lạp, Socrate

(469 - 399 trước công nguyên) với câu nói nổi tiếng “Điều mà tôi biết là tôi không biết gì hết” đã luôn thôi thúc ông và mọi người đi tìm chân lí để giải quyết mâu thuẫn Trong khi tranh luận với mọi người, Socrate không bao giờ đi đến kết luận trước mà để người khác tự tìm ra cách giải quyết Như vậy, có thể xem đây như là nhiệm vụ, là bài tập mà người học, người đàm thoại với ông phải giải quyết Như thế, ông đã đề xuất những bài tập cho người học dưới dạng những câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề Dưới sự giúp đỡ của thầy, thông qua các câu hỏi mà học sinh có được tri thức mới [77,

Tr 40] Bài tập ở đây tồn tại dưới dạng các câu hỏi đã có sự gợi ý, có ý nghĩa giúp người học tìm ra những kiến thức mới, những chân lí mà trước đây người học chưa nhận ra hoặc nhận ra nhưng chưa được tỏ tường, sâu sắc Điều đáng lưu ý ở đây là bài tập chỉ thực sự có ý nghĩa khi người học phải tự tìm ra kiến thức mới thông qua việc tự giải quyếtcác mâu thuẫn chứ không phải chỉ nghe hoặc xem thầy giải quyết Thầy chỉ là người gợi ý, khuyến khích để trò tự tìm

kiếm chân lí thông qua giải bài tập

Vào thế kỷ XVIII, Petxtalodi (1746 – 1827) - nhà giáo dục Thuỵ Sĩ, một

xu hướng tiến bộ của giáo dục đầu thế kỉ XIX - cho rằng: “khả năng thực hiện những điều mà trái tim và khối óc đòi hỏi phần lớn là tuỳ thuộc vào kỹ năng hành động của con người Những kỹ năng ấy được hình thành là nhờ một hệ thống các bài luyện tập đặc biệt, có hệ thống và có mức độ khó khăn phức tạp tăng dần”[77, Tr 120] Bài tập ở đây giữ vai trò là cầu nối của quá trình hiện thực hoá những nhu cầu, ý tưởng của con người Làm bài tập sẽ giúp người học

Trang 22

có được những kỹ năng Các bài tập rèn luyện kỹ năng ở các mức độ khác nhau

sẽ hình thành những mức độ khác nhau của kỹ năng Thông thường, các kỹ năng được hình thành từ thấp đến cao, từ mức độ đơn giản đến phức tạp tuỳ thuộc vào yêu cầu, độ khó của bài tập Và việc bắt đầu rèn luyện một kỹ năng bao giờ cũng bắt đầu từ việc làm những bài tập đơn giản nhất Sự thành thạo và tính phức tạp của kỹ năng sẽ tăng lên trong quá trình người học hoàn thành những bài tập được xây dựng theo một hệ thống có số lượng, thể loại và độ khó tăng dần

Đến đầu thế kỉ XX, Maria Montessori (1870 – 1952) - Nhà giáo dục người

Ý nổi bật lên trong phong trào giáo dục tiến bộ diễn ra tại châu Âu và Mĩ thời kỳ này cho rằng, người học sẽ học tập tốt nhất thông qua thực hiện các nhiệm vụ cụ thể đề ra đi kèm với việc học Chương trình do bà thiết kế gồm “các bài tập hàng ngày trong cuộc sống” và khuyến khích tính tự giác, tinh thần trách nhiệm của người học trong quá trình luyện tập[93] Vai trò của bài tập được tác giả xem xét như là một điều kiện của kết quả học tập ở người học Kết quả học tập của người học sẽ không đạt ở mức cao nhất nếu họ không được làm các bài tập ngay trong việc học Bà cho rằng chính các bài tập và quá trình tập luyện của trẻ với các bài tập sẽ đánh thức được tính tự giác và tinh thần trách nhiệm của trẻ Có thể xem đây như là một khẳng định về vai trò của bài tập như là một phương tiện để giáo dục trẻ

I.Ia.Lecne với tác phẩm “Dạy học nêu vấn đề” [54] đã tổng kết những lý luận, đưa ra những nhận định cùng những ví dụ minh họa về hiệu quả thực tiễn của bài tập tình huống trong dạy học nêu vấn đề V.ÔKôn với cuốn “Những cơ

sở của việc dạy học nêu vấn đề” đã đúc kết những kết quả tích cực của công trình thực nghiệm hàng chục năm về dạy học nêu vấn đề, cung cấp nhiều tài liệu

cụ thể về các các thực nghiệm dạy học nêu vấn đề trong các môn toán, khoa học

tự nhiên, khoa học xã hội và môn kỹ thuật Cuốn sách cho người đọc biết rõ về cách tạo tình huống có vấn đề, nêu các câu hỏi và thuật lại tiến trình suy nghĩ của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên để giải đáp các câu hỏi nhằm giải

Trang 23

quyết vấn đề, đạt tới kiến thức mới một cách vững chắc, sâu sắc Điều kiện quyết định để phát triển tính độc lập tư duy cho người học là việc nắm tri thức mới bằng con đường giải quyết các vấn đề Các công trình nghiên cứu của I.Ia.Lecne, V ÔKôn đã nêu bật vai trò quan trọng của bài tập tình huống trong việc phát triển tính độc lập, sáng tạo của học sinh Đây là những công trình nghiên cứu rất có giá trị ứng dụng trong thực tiễn dạy học ở các loại hình trường khác nhau trên toàn thế giới Một lần nữa vai trò, ý nghĩa của bài tập lại được khẳng định trong các công trình nghiên cứu khoa học mang tầm ảnh hưởng rộng lớn

Vai trò quan trọng của các bài tập trong việc hình thành kiến thức mới được Jean Piaget (1896 - 1980) nhắc nhở rằng: Trẻ em không học cách thử nghiệm chỉ đơn giản bằng học cách giáo viên thao tác các thử nghiệm hoặc bằng cách làm các bài tập đã được tổ chức trước Trẻ em học bằng quá trình tìm kiếm

và nhầm lẫn, bằng cách làm việc chủ động và độc lập Hay có thể hiểu cần phải

tổ chức cho trẻ biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập

để trẻ có thể tự chiếm lĩnh kiến thức mới [93] Do đó bài tập chỉ có ý nghĩa hình thành kiến thức mới cho người học nếu người học tự mình giải quyết các bài tập Tất nhiên quá trình này rất cần có sự hỗ trợ của giáo viên

Nhà khoa học Nga E.X Rapaxsêvich quan niệm: Bài tập là các hình thức khác nhau về nội dung và khối lượng công việc hoạt động tự học của học sinh dưới sự chỉ dẫn của giáo viên Bài tập là một phần không thể thiếu của QTDH,

là phương tiện quan trọng để tích cực hoá hoạt động của người học Bài tập có vị trí trong tất cả các khâu của QTDH, từ khâu làm quen với tài liệu học tập, lĩnh hội tri thức mới, hình thành kỹ năng kỹ xảo, củng cố tri thức, vận dụng tri thức vào thực tiễn [ 102, Tr 223 - 224]

Tác giả Uman A I [dẫn theo103] cho rằng bất cứ một tài liệu học tập nào đều có thể trở thành bài tập khi nó chứa đựng những yếu tố sau:

- Những chỉ dẫn về đối tượng của hành động (điều kiện của bài tập)

Trang 24

- Mối liên hệ giữa hành động cần thực hiện với đối tượng của hành động Trong mối quan hệ đó luôn tiềm ẩn cách thức giải quyết bài tập

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Bài tập trở thành đối tượng hoạt động của một chủ thể khi nó làm nảy sinh ở người nào đó nhu cầu chọn và giải quyết nó [69, Tr 30] Như thế bài tập được hiểu là đối tượng của hoạt động học, mang những đặc điểm cuốn hút được chủ thể của hoạt động học, khiêu khích được trí tò mò của người học và kích thích họ giải quyết

Tác giả Phạm Minh Hạc [32] khi phân tích tác phẩm đầu tiên của tâm lý học – “Bàn về tâm hồn” - của A-rit-tôt, đã rút ra một kết luận sư phạm: Khi muốn dạy trẻ một tri thức nào đó phải làm sao cho trẻ vươn tới tri thức đó, hiểu được những đặc điểm cơ bản của tri thức đó Sau đó làm sao cho trẻ biến nó thành vốn riêng của bản thân, đưa tri thức ấy vào hệ thống các tri thức, kinh nghiệm đã lĩnh hội được trước đó, tức là có thể sử dụng tri thức đó vào một việc làm cụ thể Và câu hỏi “phải làm sao đó” được trả lời rất đơn giản: cho trẻ làm bài tập, lý giải một câu hỏi của cuộc sống Nhờ vậy mà có thể làm cho học sinh say sưa với tri thức, tức là hăng say học tập, tin vào điều học được Có thể nhận thấy bài tập ở đây có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong hoạt động học tập của học sinh Người giáo viên có thể sử dụng bài tập để mang lại cho học sinh những hiểu biết để làm được một việc cụ thể Đồng thời bài tập có thể giáo dục được tình cảm, niềm tin cho người học

Các tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà,Nguyễn Cảnh Toàn, Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, Thái Duy Tuyên…đều đã khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng, tính hiệu quả của bài tập, bài toán, câu hỏi trong quá trình dạy học Bài tập là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học Bài tập có vị trí đặc biệt quan trọng, là phương tiện dạy học đồng thời cũng hàm chứa nội dung dạy học Đặc biệt tác giả Thái Duy Tuyên

[83,Tr 224 ] đã chỉ rõ vai trò, ý nghĩa của bài tập nói chung và từng loại bài tập nói riêng đối với người học và tác dụng của nó đối với người dạy trong những ý

đồ về thiết kế phương phương pháp dạy học

Trang 25

Tác giả Phan Trọng Ngọ quan niệm: “Bài tập bao gồm các hoạt động của học viên được thực hiện theo yêu cầu của giáo viên, hướng đến việc củng cố những tri thức, kỹ năng , phương pháp hành động đã học” Tác giả đã đưa ra một số hình thức bài tập thông dụng được sử dụng trong dạy học như: đọc bài giảng hoặc tài liệu khác, chuẩn bị bài, chuẩn bị đề cương ôn tập, học theo đề cương ôn tập, ôn tập thường xuyên thông qua các loại bài kiểm tra Tác giả nhấn mạnh bản thân người học phải thực hiện các hoạt động nhằm củng cố vững chắc những nội dung học tập đã học Các hoạt động này luôn có vai trò định hướng dẫn dắt của giáo viên Thực hiện các hoạt động đó là người học đang giải quyết các bài tập dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo ý đồ của người dạy và nội dung yêu cầu của lĩnh vực học tập[61,Tr 310]

Theo tác giả Trần Văn Hà: Bài tập được xem là cầu nối giữa lý thuyết và thực hành, giải bài tập là quá trình đưa học sinh đến với tri thức mới, đồng thời vừa củng cố những tri thức đã học, rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề [29] Tác giả Vũ Văn Tảo cho rằng: “Năng lực giải quyết vấn

đề cần phải có khả năng làm rõ và khoanh vấn đề; xác định rõ nguồn gốc và những nội dung làm nảy sinh vấn đề; xử lý những ý kiến; những tranh luận bằng những cách thức gắn bó vấn đề; đề ra không chỉ những khả năng đáp ứng vấn đề được trình bày; mà còn có khả năng thấy được những vấn đề và nghĩ ra những chiến lược đáp ứng thích hợp ” [72] Có thể nhận thấy cây cầu nối (bài tập) để hình thành năng lực giải quyết vấn đề chắc hẳn đòi hỏi người học phải tự sải bước và tự khắc phục những khó khăn Giáo viên có thể là người bắc cầu (xây dựng bài tập) và hướng dẫn cho người học cách băng qua cây cầu đó (sử dụng bài tập) để chiếm lĩnh những giá trị mới hoặc củng cố lại giá trị của bản thân

1.1.2 Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học các môn học

John Dewey (1859 -1952) [93] đã từng kêu gọi giáo viên “tâm lí hóa” chương trình học bằng cách tạo ra một môi trường, trong đó những hoạt động của trẻ có thể chứa đựng cả những tình huống khó giải quyết Đây thực chất là một lời cảnh tỉnh cho những giáo viên chưa để tâm tới cũng như chưa đầu tư cho

Trang 26

việc XD&SDBT trong dạy học Người học phải có một môi trường để thể hiện bản thân Môi trường học tập không nên chỉ là những chân lí được nêu sẵn Người học có thể phải tự tìm ra kiến thức trong những tình huống khó giải quyết Người dạy khi xây dựng những bài tập chứa đựng những tình huống khó này phải căn cứ vào những đặc điểm tâm lý của người học, có tác dụng kích thích người học vượt qua được những khó khăn trong hoạt động

Ở Liên Xô (cũ), L.X Vugotxki (1896 – 1934) đưa ra quan điểm về vùng phát triển trí tuệ gần nhất và yêu cầu giáo viên phải xây dựng được những bài tập nhận thức hướng vào vùng phát triển gần nhất của học sinh Điều này có nghĩa rằng giáo viên phải thiết kế những bài tập và sử dụng các bài tập trong quá trình tổ chức hoạt động học của người học sao cho tác động vào đúng chỗ chuyển dịch giữa tiềm năng và hiện thực, tức là vùng cận phát triển của người học (được chi phối bởi đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân) Dạy học dựa vào vùng cận phát triển chính là biết cách và lúc đưa tay ra dìu dắt và động viên trẻ suy nghĩ, hành động, cùng với người học khuấy động vùng cận phát triển, mở rộng nó, kích hoạt nó, nắm tay trẻ lôi ra ngoài dựa vào nỗ lực của chính trẻ, khi

đó trẻ đạt được trình độ phát triển mới cao hơn [dẫn theo 46] Đây là một lý thuyết tiến bộ cho giáo viên trong dạy học nói chung và trong việc XD&SDBT nói riêng XD&SDBT dựa trên “Vùng phát triển gần nhất” của người học sẽ đem lại cho người học một trình độ phát triển mới không chỉ về kiến thức, kỹ năng mà cả về nhu cầu, động cơ học tập

Liên quan đến vấn đề lý luận của việc XD&SDBT, một số tác giả khác như Phạm Khắc Chương, Nguyễn Ngọc Bảo, Đinh Quang Báo, Thái Duy Tuyên đã đưa ra những cơ sở ban đầu của việc xây dựng các tình huống trong dạy học Tác giả đã bàn đến những cơ sở ban đầu trong việc thiết kế và sử dụng bài tập qua việc nêu lên những yêu cầu, nguyên tắc, qui trình để thiết kế bài tập và sử dụng bài tập Giải bài tập, giúp học sinh được thoả mãn về tri thức, rèn luyện các

kỹ năng , kỹ xảo, bồi dưỡng sự yêu thích môn học, phát triển tính chủ động, sáng tạo trong học tập Kết quả học tập của học sinh là cơ sở giúp giáo viên điều

Trang 27

chỉnh giờ dạy Tuy nhiên, vấn đề này còn ít được nghiên cứu về lý luận, do vậy các giáo viên trẻ thường gặp khó khăn khi muốn biên soạn một hệ thống bài tập cho một giờ lên lớp

Nghiên cứu vấn đề XD&SDBT cần phải kể đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả gần đây như:

Tác giả Tôn Thân (1995) với luận án: “Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài bài tập nhằm bồi dưỡng một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh khá và giỏi Toán ở trường THCS Việt Nam” Tác giả xác định những căn cứ xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập đồng thời làm rõ căn cứ đặc điểm bộ môn toán để xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm bồi dưỡng năng lực trừu tượng hoá, đề cao yêu cầu suy diễn logic chặt chẽ nhưng không coi nhẹ vai trò của suy đoán, thể hiện được sự kết hợp giữa cụ thể và trừu tượng Tác giả đã chủ biên hàng trăm cuốn sách bài tập nâng cao, phương pháp giải toán, vở bài tập toán… cho học sinh THCS

Trong lĩnh vực dạy học Ngữ văn có các luận án như: “Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh tiểu học ” của tác giả Lê Hữu Tỉnh (2001),

“Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học” của tác giả Xuân Thị Nguyệt Hà Các bài tập dành cho người học ở các bậc học từ phổ thông đến trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học rất đa dạng, phong phú Tương ứng với mỗi phân môn, mỗi trình độ, mỗi bậc học trong lĩnh vực văn học đều có các sách bài tập nhằm hỗ trợ người dạy và người học

Trong lĩnh vực dạy học môn Địa lí ở bậc phổ thông, hệ thống bài tập tự luận

và câu hỏi trắc nghiệm khách quan giúp cho việc đánh giá kết quả học tập địa lí dành cho học sinh các khối lớp 6-7-8-9-10-12 đã được tác giả Phạm Quang Tiến (Chủ biên) soạn thảo [82] và áp dụng tại hai trường THCS và THPT Thực nghiệm, đã góp phần vào việc đổi mới cách học và đánh giá kết quả học tập môn Địa lí của học sinh, cụ thể hoá chủ trương mà Bộ Giáo dục đưa ra trong những năm gần đây: Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học phải gắn liền với việc

Trang 28

đổi mới việc kiểm tra và đánh giá Các công trình nghiên cứu trên đã được tác giả công bố trên nhiều kỉ yếu hội thảo khoa học trong nước và quốc tế

Trong lĩnh vực bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục có nhiều tác giả quan tâm tới việc xây dựng và sử dụng các bài tập tình huống quản lý Tác giả Trần Văn Hà, Nguyễn Đình Chỉnh đều nhận định hệ thống tri thức, kỹ năng không chỉ chứa đựng trong các bài giảng mà chứa đựng một phần rất lớn trong hệ thống các bài tập tình huống quản lý giáo dục

Trong lĩnh vực Tâm lý học, bài tập trắc nghiệm tâm lý đã được các nhà tâm

lý học nghiên cứu và bộ trắc nghiệm gồm 50 bài tập dùng cho trẻ 3 – 11 tuổi được phát triển rộng rãi trên thế giớ từ 1905 của Alfred Binet và Theodre Simon Sau đó hệ thống bài tập này tiếp tục được các tác giả mở rộng về số lượng bài tập và độ tuổi Bài tập trắc nghiệm này có vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán sớm những trẻ chậm phát triển trí tuệ

Với nỗ lực đào tạo SV sư phạm nói chung, SV ngành Tâm lý – Giáo dục nói riêng, các nhà tâm lý học Việt Nam như: Trần Trọng Thuỷ (chủ biên), Ngô Công Hoàn, Bùi Văn Huệ, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Quang Uẩn đã viết cuốn “Bài tập thực hành Tâm lý học” năm 1990 trong đó có hơn 300 bài tập được xây dựng nhằm giúp người học ôn tập, củng cố những lý luận đã học và tập vận dụng những điều đã học trong giáo trình Tâm lý học vào việc giải quyếtnhững vấn đề thường nhật trong thực tiễn dạy học và giáo dục Các bài tập còn giúp SV rèn luyện những kỹ năng nghiên cứu, thực nghiệm tâm lý học cho các giáo sinh, bước đầu hình thành kỹ năng thiết kế, tổ chức và thực thi một đề tài nghiên cứu

về tâm lý học Hơn 300 bài tập được các tác giả xây dựng bao gồm 3 loại: Các bài tập nhằm ôn tập lý thuyết, các bài tập nhằm vận dụng lý thuyết vào việc giải quyếtmột số tình huống thực tế, các bài tập rèn luyện kỹ năng thực nghiệm, xử

lý kết quả thực nghiệm Có những bài tập dành riêng cho SV ham thích tâm lý học hoặc SV chuyên khoa tâm lý học Về sau này, có nhiều tác giả xây dựng các bài tập tâm lý dưới dạng bài tập tình huống nghề nghiệp

Trang 29

Trong lĩnh vực GDH tác giả Nguyễn Như An , Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đình Chỉnh nhận định công tác rèn nghề của SV có thể thực hiện qua nhiều con đường, một trong những con đường cơ bản là thông qua luyện tập các bài tập Với quan điểm trên, các tác giả Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đình Chỉnh đã biên soạn cuốn “Thực hành GDH” Cuốn sách đã được GV sử dụng tương đối phổ biến ở các trường đại học trong những năm 90 Nội dung tài liệu tập trung xây dựng loại bài tập thực hành có tính chất lý thuyết nhằm minh hoạ, khắc sâu, củng `cố những tri thức lý thuyết cho SV; loại bài tập tình huống giáo dục có tác dụng rèn luyện những kỹ năng nghề cho SV Cuốn sách là một tài liệu quan trọng khẳng định vai trò của bài tập GDH trong rèn kỹ năng nghề cho SV Sư phạm

Vào năm 2007, cuốn “Bài tập GDH” của tác giả Phạm Viết Vượng biên soạn làm tài liệu hỗ trợ GV và SV dạy và học môn GDH Các bài tập được xây dựng thành 4 loại: Hệ thống câu hỏi ôn tập và thảo luận giúp SV ôn tập và thảo luận nhóm để nắm vững lý thuyết đã học được sâu sắc nhất; các chủ đề hội thảo giúp SV tiếp cận được với phương pháp nghiên cứu khoa học ở trường sư phạm; câu hỏi trắc nghiệm giúp SV sử dụng để tự kiểm tra kiến thức đã và đang học; bài tập thực hành gợi ý cho SV luyện tập các kỹ năng giải quyết các công việc thực tế sẽ gặp phải trong công tác nghề nghiệp sau này

Trong những năm gần đây có những luận án tiến sĩ GDH nghiên cứu vấn

đề XD&SDBT như:

Luận án “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực hành trong quá trình bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng trường Mầm non” (2002) của tác giả Trần Thị Bích Liễu đã làm rõ được qui trình xây dựng hệ thống bài tập thực hành bao gồm 7 bước Tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề sử dụng hệ thống bài tập thực hành thông qua việc làm rõ qui trình sử dụng bài tập thực hành nói chung và qui trình sử dụng từng loại bài tập thực hành cụ thể Những phương pháp dạy học cần thiết phải sử dụng đối với mỗi loại bài tập cũng được tác giả nhắc tới nhưng chưa được nghiên cứu làm rõ Luận án là tài liệu tham

Trang 30

khảo cần thiết cho GV không chỉ trong công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý trường học mà cả trong đào tạo giáo viên ở trường Sư phạm

Tác giả Bùi Thị Mùi (2005) với luận án “Xây dựng và sử dụng tình huống

sư phạm để dạy học phần lý luận giáo dục ở các trường Đại học Sư phạm ” [58]

đã làm rõ khái niệm tình huống sư phạm và các yếu tố trong tình huống sư phạm

là khả năng sẵn có của chủ thể, điều chưa biết cần tìm và trạng thái tâm lý của chủ thể Luận án là một tài liệu tham khảo với những tình huống sư phạm hữu ích cho GV và SV Sư phạm trong dạy học phần lý luận giáo dục Việc xây dựng bài tập tình huống sư phạm đã có bóng dáng của quan điểm tiếp cận năng lực thể hiện ở chỗ tác giả đưa ra cơ sở phân loại nhóm các bài tập theo nhiệm vụ giáo viên phải làm ở trường phổ thông, tuy nhiên tác giả chưa quan tâm tới những kỹ năng cơ bản mà mỗi bài tập hướng tới rèn luyện cho SV; đồng thời những năng lực giáo dục cần phát triển cho SV cũng không được quan tâm nghiên cứu

Tác giả Phan Thị Lan Phương (2009) trong luận án “Xây dựng và sử dụng

hệ thống bài tập trong dạy học phần phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

ở trường CĐSP ” [67] đã đi sâu nghiên cứu đề xuất qui trình xây dựng và qui trình sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục cho SV CĐSP Luận án đã thành công trong việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo tiếp cận nội dung với những nguyên tắc và qui trình

cụ thể Mặc dù mục tiêu của việc XD&SDBT mà tác giả hướng tới là năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục được hình thành ở SV, nhưng năng lực này lại không phải là điểm xuất phát cho việc XD&SDBT Tuy nhiên, đây là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho các GV trong nghiên cứu XD&SDBT học phần theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp cho SV

Luận án “XD&SDBT tình huống học phần Lý luận dạy học ở trường CĐSP” (2009) của Vũ Thị Nguyệt [63] đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bài tập tình huống, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc XD&SDBT tình huống; xác định nguyên tắc, qui trình, điều kiện XD&SDBT tình huống trong quá trình dạy học Hệ thống bài tập tình huống của luận án là nguồn tư liệu bổ ích cho các

Trang 31

GV và SV sư phạm đặc biệt trong dạy và học học phần lý luận dạy học Tuy nhiên, do việc XD&SDBT vẫn đi theo hướng tiếp cận mục tiêu, tiếp cận nội dung cho nên luận án không chú ý đến hệ thống năng lực cần phát triển cho SV thông qua sử dụng bài tập tình huống Những kết quả thực nghiệm đã chứng tỏ giá trị sử dụng của bài tập đáp ứng mục tiêu và nội dung dạy học học phần Luận án “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học phần GDH ở trường Đại học” (2013) của tác giả Hồ Thị Dung [19] đã làm rõ hơn những vấn

đề lý luận về bài tập trong bối cảnh đào tạo theo tín chỉ Mặc dù quan điểm tiếp cận năng lực trong XD&SDBT chưa được tác giả làm rõ nhưng tính mục đích của hệ thống bài tập nhằm phát huy tính tích cực học tập của người học trong việc chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng và giá trị nghề nghiệp đã thể hiện được giá trị của hệ thống bài tập mà tác giả nghiên cứu xây dựng và sử dụng

1.1.3 Các nghiên cứu về năng lực, phát triển năng lực trong dạy học

Vào những năm 70 của thế kỉ XX, ở Mỹ và Canađa nổi lên một quan điểm

giáo dục Đào tạo theo năng lực thực hiện (Competency Basic Training), và nó

nhanh chóng trở lên phổ biến, lan rộng sang các nước khác trên thế giới như Anh, Úc, New Zealand, Nga…và nhiều nước châu Á như Singapore, Ấn Độ, Philippin… Các nhà giáo dục, đặc biệt là các cơ sở giáo dục đào tạo nghề của

Mỹ, Canađa quan tâm nghiên cứu nhiều vấn đề của đào tạo theo tiếp cận năng lực như soạn thảo chương trình dưới dạng module kỹ năng hành nghề, tích hợp chặt chẽ các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng cần cho người học; thay đổi các yêu cầu về giáo dục đào tạo và chương trình dạy học dựa trên năng lực thực hiện hơn là theo thời gian, sử dụng phương tiện dạy học hợp lý, cải tiến phương pháp dạy học [90] Đào tạo theo năng lực là phương thức đào tạo dựa vào khái niệm trung tâm là năng lực, coi đó vừa là khởi điểm vừa là mục tiêu cuối cùng của quá trình đào tạo Đào tạo theo năng lực hướng tới đầu ra là những cá nhân có thể thực hiện các hoạt động lao động một cách ổn định, phù hợp với các tiêu chuẩn đặt ra trong việc làm ở hàng loạt các điều kiện, bối cảnh nhất định [89]

Trang 32

Khái niệm năng lực (competency) ở Mỹ được hiểu là cái làm cho con người có thể làm được công việc của nghề đó, nó là thuộc tính cơ bản của một con người, nó dẫn đến sự thực hiện một cách hiệu quả và (hoặc) tốt trong một nghề Trong hoạt động học, khái niệm năng lực được sử dụng trong phạm vi quá trình học tập Điều này dẫn tới việc đánh giá năng lực thường dựa theo quá trình hoạt động trong lĩnh vực học tập hoặc lĩnh vực nghề nghiệp nhất định

Ở Australia, người ta hiểu năng lực (competence) là một cấu trúc gồm tất

cả các thuộc tính nhân cách tạo nên khả năng thực hiện thành thạo công việc Hay năng lực (competency) là khả năng thực hiện được các hoạt động trong nghề hoặc nhiệm vụ theo tiêu chuẩn mong đợi ở công việc Người có năng lực là người chiếm lĩnh được, có được những thuộc tính nhân cách cần thiết để thực hiện một công việc theo chuẩn tương ứng

Ở Việt Nam, các nhà tâm lý học cho rằng năng lực là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu, đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoạt động có kết quả [92]

Theo Nguyễn Đức Trí [89], năng lực bao giờ cũng gắn liền với một hoạt động, một công việc nào đó của nghề Năng lực liên quan đến nhiều mặt, nhiều thành tố cơ bản tạo nên nhân cách của con người, nó thể hiện sự phù hợp ở mức

độ nhất định của những thuộc tính tâm, sinh lí cá nhân với một hay một số hoạt động nào dó mà nhờ vậy con người thực hiện có kết quả các hoạt động ấy Chỉ

có thể thông qua sự thực hiện có kết quả các công việc trong nghề (phạm vi công việc chứ không chỉ là từng kỹ năng , từng công việc riêng rẽ của nó) mọi người khác mới có thể công nhận người đó có năng lực về hoạt động ấy

Tác giả Bernd Meir Nguyễn Văn Cường [17] cho rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm

vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng , kỹ xảo kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động

Trang 33

Vấn đề cấu trúc của năng lực cũng được các nhà khoa học giáo dục nghiên cứu theo những cách tiếp cận khác nhau Mô hình “Tảng băng trôi” là một trong các mô hình thể hiện được khá bản chất về năng lực, về mối liên hệ, quan hệ giữa các yếu tố nằm trong cấu trúc, yếu tố tự nhiên và xã hội, yếu tố ẩn tàng và yếu tố có thể quan sát được, yếu tố tình cảm và ý chí [100]

- Về bản chất, năng lực là khả năng chủ thể kết hợp một cách linh hoạt và

có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng, với thái độ, giá trị, động cơ… nhằm đáp ứng yêu cầu phức tạp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó có chất lượng trong một bối cảnh (tình huống) nhất định

- Về mặt biểu hiện, năng lực thể hiện bằng sự biết sử dụng các kiến thức,

kỹ năng , thái độ và giá trị, động cơ trong một tình huống có thực chứ không phải là sự tiếp thu các tri thức rời rạc, tách rời tình huống thực tiễn; là thể hiện trong hành vi, hành động và sản phẩm… có thể quan sát được, đo đạc được

- Về thành phần cấu tạo, năng lực được cấu thành bởi các thành tố kiến thức, kỹ năng , thái độ và giá trị, tình cảm và động cơ cá nhân, tư chất…

Xu hướng chung trong cách phân loại năng lực của các nước đều phân thành 2 loại chính: năng lực chung (general competence) và năng lực chuyên biệt (subject-specific competencies) [ 80]

Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội, như năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ

và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động… Các năng lực này đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau Chúng được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học và không chỉ các môn học mà còn ở các hoạt động giáo dục khác ở nhà trường, gia đình, các đoàn thể ,

xã hội Các tiêu chí xác định các năng lực cốt lõi được các nhà giáo dục ở các nước (OECD) đề xuất như sau: Phải cần thiết đối với tất cả mọi thành viên của xã hội; Phải tuân theo các giá trị văn hoá và kinh tế, đạo đức, và tập quán, qui ước

Trang 34

của xã hội; Bối cảnh áp dụng không riêng cho các phong cách sống cá biệt, mà là những tình huống phổ biến nhất mà người công dân sẽ gặp phải trong cuộc sống Các nước EU đều thừa nhận mỗi năng lực chung cần phải góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người

Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên

cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn của một môn học hay hoạt động nào đó Năng lực chuyên biệt ở SV sư phạm như: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực phát triển nghề nghiệp…Trong lĩnh vực môn học, năng lực chuyên biệt được hiểu là năng lực đặc thù môn học Ví dụ năng lực đặc thù môn Ngữ văn ở học sinh: Đọc diễn cảm hoặc tiếp nhận, cảm thụ thơ văn; tạo lập văn bản, năng lực sử dụng bản đồ hoặc năng lực sử dụng số liệu thống kê, năng lực cảm thụ nghệ thuật; năng lực thực hành sáng tạo nghệ thuật năng lực thiết

kế, năng lực lựa chọn, đánh giá và sử dụng công nghệ … Nhìn chung sự phân biệt giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cần thiết, tuy nhiên giữa hai loại năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, góp phần bổ sung cho nhau

và do vậy nhiều khi ranh giới giữa chúng thường bị nhòe mờ , không thật rõ ràng, minh bạch Các năng lực chung khi đi sâu vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể có thể trở thành năng lực riêng theo những yêu cầu đặc trung của lĩnh vực hoạt động ấy

Theo Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường [17], ở Đức người ta đưa ra mô hình cấu trúc chung của năng lực bao gồm 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn (Professional competency); Năng lực phương pháp (Methodical competency); Năng lực xã hội (Social competency); Năng lực cá thể (Induvidual competency) Mô hình cấu trúc năng lực này có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Và trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp

Trang 35

người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau Trong lĩnh vực nghề giáo viên, năng lực của giáo viên bao gồm các nhóm năng lực cơ bản: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực đánh giá, chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp

Những nghiên cứu về sự phát triển năng lực luôn gắn liền với những thành quả của những nghiên cứu về sự phát triển con người đặc biệt là các lý thuyết lớn như: Thuyết tiến hoá, thuyết trưởng thành, thuyết tâm lý giới tính, thuyết tâm lý xã hội, các thuyết phát triển nhận thức, các thuyết học tập, thuyết văn hoá, thuyết vai trò xã hội, thuyết các hệ thống tâm lý con người Trong đó các lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget, Vygotsky, lý thuyết thống nhất về học tập của nhà tâm lý học Mỹ Robert Glaser là những cơ sở khoa học trong nhiều nghiên cứu về đào tạo theo hướng phát triển năng lực [73]

Tâm lý học duy vật biện chứng đã tiếp nhận có phê phán những hạt nhân hợp lý từ các thành tựu đạt được của các lý thuyết phát triển đã được hình thành

và cho rằng: Phát triển là là sự biến đổi về chất của các hiện tượng tâm lý, là một quá trình thống nhất toàn vẹn, nó trải qua một loạt những giai đoạn kế tiếp nhau Mỗi giai đoạn được đặc trưng do những đặc điểm phát triển về thể lực, cơ cấu các quá trình, thuộc tính tâm lý và mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường xung quanh Sự phát triển đó diễn ra không bằng phẳng, đồng đều mà có những bước nhảy vọt

Theo quan điểm này thì phát triển năng lực là một quá trình lâu dài và phức tạp trải dài theo các giai đoạn lứa tuổi Đó là sự biến đổi mang tính tổ hợp các thành phần cấu tạo của năng lực như kiến thức, kỹ năng , tình cảm, ý chí, những giá trị… làm cho năng lực được hình thành hoặc đạt đến một mức độ mới Cách tiếp cận phát triển năng lực trong dạy học chính là giúp học sinh tiến dần trên con đường phát triển ngày càng phức tạp của năng lực Cách tiếp cận này tập trung vào việc xác định tính sẵn sàng đối với việc học và xác định khung nhận thức dựa trên vùng phát triển hiện tại.Sự phát triển của năng lực được phản ánh chủ yếu ở sự tiến bộ của kỹ năng trong sự liên kết với kiến thức, kỹ năng đã có

Trang 36

Như vậy sự phát triển năng lực được mô phỏng như là sự chuyển hoá về chất của kiến thức giàu có hơn, kỹ năng cao hơn, sự am hiểu sâu sắc hơn, động cơ bền vững hơn, thái độ tích cực hơn, ý chí mạnh mẽ hơn…

Những công trình nghiên cứu về phát triển năng lực trong những năm gần đây chủ yếu đi theo hai hướng: Phát triển năng lực chung và phát triển năng lực chuyên biệt cho người học Các nước Mỹ, Australia, Singapore… đã rất thành công trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới phương pháp dạy học theo nhằm phát triển năng lực chung cho người học Về phát triển năng lực chuyên biệt, đặc biệt ở Mỹ, các trung tâm giáo dục quốc gia về nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp ở Columbus, Ohio có cả một quá trình dài nghiên cứu soạn thảo chương trình dưới dạng module với 100 bộ module gốc dùng cho đào tạo giáo viên dạy nghề, giáo viên phổ thông và cho đào tạo nghề được quảng cáo

ở nhiều nước trên thế giới

Ở Việt Nam, bóng dáng của đào tạo theo hướng phát triển năng lực đã xuất hiện trong những năm vừa qua đặc biệt là trong lĩnh vực đào tạo nghề Đề tài cấp Bộ: Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề (B93-38-24) năm 1996 do Nguyễn Đức Trí chủ nhiệm đã đi đầu trong những nghiên cứu theo hướng này Gần đây, có nhiều luận án tiến sĩ nghiên cứu liên quan đến đào tạo theo hướng phát triển năng lực như: Nguyễn Thị Xuân (2007) nghiên cứu “Biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi làm quen với thiên nhiên nhằm phát triển năng lực quan sát”; Nguyễn Văn Hồng (2012) “Ứng dụng E-learning trong dạy học môn Toán lớp 12 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông”; Nguyễn Thị Hồng Gấm (2012) “Phát triển năng lực sáng tạo cho SV thông qua dạy học phân hóa vô cơ

và lý luận - phương pháp dạy học Hóa học ở trường CĐSP”; Nguyễn Như An (2012) “Phát triển năng lực giáo dục bảo vệ môi trường cho SV đại học sư phạm ngành giáo dục tiểu học”; Đinh Thị Hồng Minh (2013) “Phát triển năng lực độc lập sáng tạo cho SV đại học kĩ thuật thông qua dạy học Hóa học hữu cơ”…

Trang 37

Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm trong các đề tài khoa học của TS.Phạm Quang Tiến và các cộng sự tại Trung tâm nghiên cứu CNGD thuộc Viện KHGDVN đã cho thấy: Khoảng hai thập kỷ trở lại đây, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các công trình nghiên cứu về sáng tạo nhằm trả lời các câu hỏi như làm thế nào để phát triển và khai thác năng lực sáng tạo của học sinh và SV Tiêu biểu có các nghiên cứu của Amabile (1996), John-Steiner (1997), Runco và Richards (1997), Sternberg (1999), Amabile và Regina (1999), Degraff và Lawrence (2002), Paulus và Nijstad (2003), Unsworth (2001), Runco (2004) Napier và Nilsson (2008), Sáng tạo ngày càng được quan tâm nhiều hơn với tư cách một nguồn lực vô cùng lợi hại khi xem xét tới các vấn đề từ năng lực cạnh tranh của tổ chức tới quốc gia (Napier, Leonard và Sendler, 2006) và cộng đồng (Florida, 2002 và 2005; Kao, 2007) Ở Việt Nam, những hoạt động liên quan đến nâng cao năng lực sáng tạo của học sinh, SV mới bắt đầu vào hai thập niên cuối của thế kỉ XX

Những công trình nghiên cứu về phát triển năng lực dạy học phải kể tới: Bùi Thị Mai Đông với luận án “Một số thành tố tâm lý trong năng lực dạy học của người giáo viên tiểu học”( 2005); Tác giả đã tiến hành tìm hiểu thực trạng các thành tố tâm lý trí tuệ, tình cảm và ý chí trong năng lực dạy học của người giáo viên tiểu học Trên cơ sở đó tìm biện pháp tác động phù hợp nhằm phát huy vai trò của các thành tố tâm lý, góp phần nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học

Tác giả Trương Thị Thu Yến với luận án “Rèn luyện kỹ năng dạy học nhóm cho giáo viên tiểu học” (2012) đã đi sâu tìm hiểu về kỹ năng dạy học nhóm cũng như cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng dạy học nhóm cho giáo viên tiểu học Tác giả quan tâm nghiên cứu các biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học nhóm cho giáo viên tiểu học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường tiểu học

Tác giả Vũ Xuân Hùng [40] với luận án “Rèn luyện năng lực dạy học cho

SV đại học sư phạm kỹ thuật trong thực tập sư phạm theo tiếp cận năng lực thực

Trang 38

hiện” năm 2011 đã làm rõ được hệ thống năng lực dạy học của giáo viên dạy nghề bao gồm: Năng lực thiết kế dạy học; Năng lực tiến hành dạy; Năng lực kiểm tra, đánh giá; Năng lực quản lý dạy học Đồng thời tác giả của luận án cũng đã thành công trong việc xây dựng qui trình chung rèn luyện năng lực dạy học cho SV trong thực tập sư phạm theo tiếp cận năng lực thực hiện gồm 8 giai đoạn Kết quả nghiên cứu của luận án là một tài liệu quí đối với công tác đào tạo giáo viên dạy nghề ở trường Sư phạm kỹ thuật đặc biệt là trong tổ chức cho SV thực tập sư phạm Năng lực thành phần của năng lực dạy học mà luận án chỉ ra

và việc thiết kế các module dạy học tương ứng là rất cần thiết cho những nghiên cứu sau này về năng lực dạy học và những ứng dụng của nó trong đào tạo giáo viên ở các trường Sư phạm

1.1.4 Những nghiên cứu về xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng phát triển năng lực

Xây dựng bài tập là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trong dạy học môn học Phải đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 khi quan

điểm Giáo dục Đào tạo theo năng lực thực hiện lan rộng ở các nước có nền kinh

tế và giáo dục phát triển, cùng với những đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy học, vấn đề xây dựng bài tập theo tiếp cận năng lực được đặt ra Ia.Lecne (1977)

đã dày công nghiên cứu các bài tập tình huống trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của người học đồng thời giúp người học có thể giải quyếttốt những tình huống họ có thể gặp phải trong thực tiễn cuộc sống [54]

Dưới sự tác động của quan điểm giáo dục Đào tạo theo năng lực thực hiện,

các nhà giáo dục Nga xem xét vấn đề XD&SDBT cho học sinh là một nội dung quan trọng của lý luận dạy học, trong đó có Đa-nhi-lốp M.A, Xkatkin M.N trong cuốn “Lý luận dạy học ở trường phổ thông” (1980); Exipôp B.P trong cuốn

“Những cơ sở của lý luận dạy học”(1997), tập thể tác giả Vaxinleva J.I, Akhaian T.K, Ver Ê.A, Belajersep E.P và một số nhà giáo dục khác biên soạn cuốn sách

“Thực hành GDH” (1988) đều cho rằng chất lượng dạy học của các môn học rất cần thiết được nâng cao thông qua hệ thống bài tập với những yêu cầu và

Trang 39

phương pháp thực hiện bài tập có hiệu quả Các tác giả này đã rất quan tâm tới vai trò của bài tập đối với chất lượng dạy học của các môn học Tuy nhiên các bài tập và yêu cầu, phương pháp thực hiện bài tập chỉ để hướng tới việc học tốt môn học mà chưa hướng tới cái đích cuối cùng cần hình thành ở người học đó là năng lực thực hiện Và những năng lực thực hiện cần phải hình thành ở người học chưa có tác dụng chi phối quá trình XD&SDBT của các nhà giáo dục Điều

này cho thấy quan điểm Đào tạo theo năng lực thực hiện chưa hiện hình rõ

trong quan điểm, cách tiếp cận trong đào tạo nói chung, khi XD&SDBT nói riêng của các nhà giáo dục Nga thời gian này

Gần đây, tác giả N.V.Borđốpxkaia và A.A.Reean trong cuốn “GDH” (2000) [101] đã đưa ra hệ thống các bài tập khá đa dạng hướng tới rèn luyện những kỹ năng nghề nghiệp cho SV trong điều kiện xã hội có nhu cầu cao về năng lực nghề nghiệp của người lao động Tuy nhiên hệ thống bài tập này vẫn còn những hạn chế như: Các bài tập được xây dựng chưa có cơ sở lý luận, quan điểm tiếp cận rõ ràng nên nó chỉ có ý nghĩa hình thành các kỹ năng rời rạc mà chưa gắn kết với việc hình thành những kiến thức lý thuyết Những chỉ dẫn cần thiết cho người giáo viên khi sử dụng các bài tập gắn liền với các phương pháp dạy học cũng chưa được tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên có thể thấy hệ thống bài tập này là một thành quả lao động nghiêm túc thể hiện sự đổi mới về phương pháp dạy học GDH theo hướng tiếp cận năng lực trong đào tạo giáo viên

Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [64] chủ nhiệm đề tài “XD&SDBT thực hành môn GDH theo tiếp cận phát triển năng lực để rèn luyện kỹ năng nghề cho SV ĐHSP” mã số B2010-17-254 năm 2011, đã tổng quan được những nghiên cứu

về XD&SDBT thực hành môn GDH theo tiếp cận năng lực Hệ thống hoá và phát triển được những lý luận cơ bản về xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực hành môn GDH theo theo tiếp cận năng lực để rèn luyện các kỹ năng nghề cho SV ở các trường ĐHSP Phân tích đánh giá thực trạng việc xây dựng và sử dụng các bài tập thực hành môn GDH ở các trường ĐHSP hiện nay Xây dựng

Trang 40

được hệ thống bài tập thực hành môn GDH theo tiếp cận năng lực Các bài tập thực hành GDH mà đề tài đã xây dựng được là một nguồn tư liệu tham khảo quí giá cho GV và SV các trường Sư phạm Tác giả của đề tài xác định những yêu cầu để sử dụng có hiệu quả hệ thống bài tập đã xây dựng, đặt ra vấn đề xây dựng

hệ thống bài tập làm công cụ, phương tiện để các giáo viên có thể tổ chức hoạt động của người học; việc sử dụng như thế nào hệ thống bài tập thực hành để có hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và nghệ thuật sư phạm của người giáo viên Tuy nhiên do đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu loại bài tập thực hành nên chưa phản ánh hết được những đặc điểm của bài tập nói chung theo hướng phát triển năng lực Có thể nói đề tài đã chứng minh rõ nhận định: Tầng thứ nhất (tầng làm) trong cấu trúc của năng lực người giáo viên được phát triển ở SV Sư phạm thông qua giải quyết hệ thống các bài tập thực hành

Tác giả Trần Thị Hương [48] trong luận án “XD&SDBT thực hành rèn kỹ năng hoạt động giáo dục trong dạy học GDH ở Đại học Sư phạm” (2004) cho

rằng kỹ năng sư phạm là thành phần thiết yếu tạo nên năng lực sư phạm của người giáo viên do đó quá trình hình thành năng lực sư phạm phải thông qua rèn luyện các kỹ năng sư phạm cụ thể Ở đây, kỹ năng sư phạm được hiểu là khả năng thực hiện có kết quả một hệ thống các thao tác của hoạt động sư phạm trên

cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm sư phạm phù hợp với những mục đích và điều kiện nhất định Kỹ năng sư phạm là một hệ thống bao gồm những

kỹ năng chuyên biệt nhiều tầng bậc và được chia thành 2 nhóm lớn: nhóm kỹ năng nền tảng và nhóm kỹ năng chuyên biệt Kỹ năng dạy học và kỹ năng giáo dục là hai hệ thống kỹ năng của nhóm kỹ năng chuyên biệt Thành công của luận án ở chỗ tác giả đã xác định được qui trình XD&SDBT thực hành trong dạy học GDH Luận án là một tài liệu tham khảo hay cho những nghiên cứu về XD&SDBT theo hướng phát triển năng lực Các bài tập thực hành được xây dựng rất có giá trị trong việc rèn luyện những kỹ năng giáo dục cơ bản của năng lực sư phạm Tuy nhiên, mục đích của việc XD&SDBT vẫn chỉ là hướng tới rèn

Ngày đăng: 16/05/2023, 15:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An (1992), “Giải bài tập tình huống Sư phạm”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 11, Tr 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải bài tập tình huống Sư phạm
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu giáo dục
Năm: 1992
2. Nguyễn Như An (1993), Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên lớp về môn GDH và qui trình rèn luyện các kỹ năng đó cho SV khoa Tâm lý – Giáo dục, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên lớp về môn GDH và qui trình rèn luyện các kỹ năng đó cho SV khoa Tâm lý – Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Như An
Năm: 1993
3. Babanxki I.K (1986), GDH, Trường Đại học Sư phạm, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDH
Tác giả: Babanxki I.K
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm
Năm: 1986
4. Đặng Quốc Bảo, Đinh Thị Kim Thoa (chủ biên) (2005), Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Đinh Thị Kim Thoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
5. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1993 – 1996 cho giáo viên phổ thông trung học, Bộ Giáo dục & đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: Bộ Giáo dục & đào tạo
Năm: 1995
6. Nguyễn Ngọc Bảo – Nguyễn Đình Chỉnh (1989), Thực hành GDH, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành GDH
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đình Chỉnh
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1989
7. Đinh Quang Báo – Phan Đức Duy, (1994) ‘Tạo tình huống Sư phạm bằng các bài tập để dạy môn phương pháp dạy học sinh học”, Tạp chí giáo dục,Số 4,Tr23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo tình huống Sư phạm bằng các bài tập để dạy môn phương pháp dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo, Phan Đức Duy
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 1994
9. Bộ Giáo dục và đào tạo, Qui định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên Trung học phổ thông, Ban hành kèm theo Thông tư số 30/2009/TT- BGDDT ngày 22 tháng 10 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên Trung học phổ thông
10. Bộ Giáo dục và đào tạo (2013), Dự thảo qui chế đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong hoạt động đào tạo giáo viên phổ thông, http://www.moet.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo qui chế đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong hoạt động đào tạo giáo viên phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2013
11. Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Hướng dẫn đánh giá, xếp loại GV trung học, theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT, ngày 09 tháng 02 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đánh giá, xếp loại GV trung học
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2010
12. Bộ Giáo dục và đào tạo (2007), Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2007
13. Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Điều lệ Trường tiểu học, Ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Trường tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2010
14. Lê Thị Hoài Châu, Lê Văn Tiến, Nguyễn Văn Vĩnh (1999), Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, ĐHQG TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động
Tác giả: Lê Thị Hoài Châu, Lê Văn Tiến, Nguyễn Văn Vĩnh
Nhà XB: ĐHQG TP. HCM
Năm: 1999
15. Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Bài tập tình huống quản lí giáo dục, NXBGD 16. Vũ Quốc Chung (chủ biên) (2007), Phương pháp dạy học toán ở tiểu học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập tình huống quản lí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1995
17. Nguyễn Văn Cường – Bernd Meier (2014), Lý luận dạy học hiện đại, NXBĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Nhà XB: NXBĐHSP
Năm: 2014
18. Nguyễn Văn Cường – Bernd Meier (2005), Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới (Tài liệu hội thảo - tập huấn), Bộ giáo dục và đào tạo - Dự án phát triển giáo viên THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới (Tài liệu hội thảo - tập huấn)
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Nhà XB: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2005
19. Hồ Thị Dung (2013), Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học học phần GDH ở trường Đại học, Luận án tiến sĩ GDH, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học học phần GDH ở trường Đại học
Tác giả: Hồ Thị Dung
Nhà XB: Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
20. Nguyễn Văn Đản (2012), Tổ chức hoạt động học, NXBGD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động học
Tác giả: Nguyễn Văn Đản
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
Năm: 2012
21. Đanhilốp M.A, Xkatkin M.N (1980), Lý luận dạy học ở trường phổ thông, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: Đanhilốp M.A, Xkatkin M.N
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1980
22. Hà Thị Đức (1993), “Những yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập về nhà cho SV”, Tạp chí giáo dục, Số 9, Tr24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu đối với việc thiết kế bài tập về nhà cho SV
Tác giả: Hà Thị Đức
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w