1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Án Tiến Sĩ Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bắc Giang Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới Từ Năm 2010 Đến Năm 2020.Pdf

246 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Án Tiến Sĩ Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bắc Giang Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới Từ Năm 2010 Đến Năm 2020
Tác giả Hoàng Công Vũ
Trường học Trường Đại học Bắc Giang
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng, Xây Dựng Nông Thôn Mới
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 246
Dung lượng 3,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của nghiên cứu sinh và không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thự[.]

Trang 1

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của nghiên cứu sinh và không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Hoàng Công Vũ

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 10 1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và

những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 22

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ

TỈNH BẮC GIANG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN

2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh

Bắc Giang về xây dựng nông thôn mới 29 2.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Giang chỉ đạo xây dựng nông thôn mới 47

Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO ĐẨY

MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (2015 - 2020) 79 3.1 Những yếu tố mới tác động và chủ trương của Đảng bộ

tỉnh Bắc Giang về đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới 79 3.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Giang chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng

4.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây

4.2 Những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc

Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (2010 - 2020) 138

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Việt Nam là một nước nông nghiệp, do vậy nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong những năm tháng lầm than của dân tộc, phong trào yêu nước của nông dân chính là “bà đỡ” cho phong trào công nhân phát triển và là điều kiện thúc đẩy cho Đảng ra đời Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, giai cấp nông dân đã cùng với giai cấp công nhân và các giai tầng khác trong xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng lên làm cuộc cách mạng “long trời lở đất”, giành chính quyền về tay Nhân dân… Có thể nói trong những lúc khó khăn nhất, địa bàn nông thôn luôn là chỗ dựa của cách mạng,

là nơi bảo vệ, chở che, cái nôi cách mạng Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, nông nghiệp, nông dân, nông thôn chính là ba nhân tố góp phần quan trọng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng KT - XH (1986 - 1996) Tuy nhiên, sau một thời kỳ dài phát triển, đạt được những thành tựu to lớn, nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng dần bộc lộ những khó khăn, bất cập Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng đã ra Nghị

quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 - 8 - 2008 Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây là Nghị quyết quan trọng của Đảng, nhằm phát huy vai trò của nông

nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Nghị quyết xác định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghía,

trong đó: Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng NTM gắn

với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy

hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt Cụ thể hóa Nghị quyết 26-NQ/TW Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 16 - 4 - 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ- TTg Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM Tiếp đó, ngày 4 - 6 -

2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020

Bắc Giang là tỉnh trung du miền núi thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ, nơi

có nhiều tiềm năng lợi thế để xây dựng NTM Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước từ năm 2010 đến năm 2020, Đảng bộ tỉnh Bắc

Trang 5

Giang đã có nhiều sáng tạo trong đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương Nhờ đó, nhận thức của đa

số người dân về xây dựng NTM ngày càng được nâng cao; hạ tầng KT -

XH, được đầu tư, nâng cấp có chuyển biến rõ nét; diện mạo nông thôn đã đổi mới, khang trang, sạch, đẹp, văn minh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, vui chơi, giải trí và tăng hưởng thụ trực tiếp cho người dân; tạo tiền đề vững chắc đưa Bắc Giang hòa nhập vào sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình lãnh đạo xây dựng NTM của tỉnh Bắc Giang vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tập trung khắc phục: Sự chỉ đạo còn thiếu đồng bộ, có nơi chưa quyết liệt, sản xuất nông nghiệp còn phân tán, manh mún; cán bộ, công chức xã phụ trách về NTM đều là kiêm nhiệm, thường xuyên thay đổi nên ảnh hưởng đến việc theo dõi tại cơ sở… Thực tiễn đó rất cần được đầu tư nghiên cứu nhằm đánh giá đúng mức ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm để vận dụng trong thời gian tới

Trong thời gian qua đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về xây dựng NTM trên phạm vi cả nước nói chung, ở tỉnh Bắc Giang nói riêng được đề cập ở các cấp độ và phạm vi khác nhau Có những công trình phản ánh kết quả nghiên cứu, khảo sát về thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên phạm vi cả nước; có những công trình ghi lại kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại các hội thảo cấp quốc gia, quốc tế nhằm tìm kiếm kinh nghiệm, giải pháp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; có cả những sách chuyên khảo, đặc biệt là rất nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ bàn về xây dựng NTM ở Việt Nam nói chung cũng như từng địa phương cơ sở nói riêng đã được công bố Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách độc lập, có tính hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Đó chính là “khoảng trống” khoa học cần được khỏa lấp

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2020” làm luận án tiến

sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 6

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM

từ năm 2010 đến năm 2020; trên cơ sở đó đúc kết những kinh nghiệm có giá trị tham khảo trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM (2010 - 2020)

Hệ thống hóa, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020 qua hai giai đoạn

2010 - 2015 và 2015 - 2020

Nhận xét và đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM (2010 - 2020)

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo xây dựng NTM của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang từ năm 2010 đến năm 2020

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Lãnh đạo xây dựng NTM có nội hàm khá rộng bao gồm

nhiều nội dung với nhiều tiêu chí Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nghiên cứu sinh tập trung làm rõ chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM và quá trình chỉ đạo trên năm vấn đề cơ bản: (1) Thành lập BCĐ, công tác tuyên truyền, tổ chức các phong trào thi đua và công tác quy hoạch xây dựng NTM; (2) Chỉ đạo xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH; (3) Chuyển đổi mô hình, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nông thôn; (4) Phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, giảm nghèo và bảo vệ môi trường; (5) Xây dựng HTCT ở cơ sở, tăng cường công tác quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Về thời gian: Luận án lựa chọn mốc thời gian từ 2010 đến năm 2020 Năm

2010 là năm tỉnh Bắc Giang bắt đầu triển khai xây dựng NTM theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII (2010) Năm 2020 là năm tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Bắc Giang giai

Trang 7

đoạn 2010 - 2020 Tuy nhiên, để bảo đảm tính hệ thống và đạt được mục đích nghiên cứu, luận án có sử dụng một số thông tin có liên quan trước năm 2010

Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Đồng thời, để có cơ sở đối

chiếu so sánh, đề tài có sử dụng số liệu của một số địa phương khác như: Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Hòa Bình

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án thực hiện trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học Lịch sử Đảng, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:

Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ bối cảnh, quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020 qua 2 giai đoạn: 2010 - 2015 và 2015 - 2020

Phương pháp lôgíc dùng để làm rõ các bước phát triển chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020; rút ra ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và đúc kết kinh

Trang 8

nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng nhằm làm rõ chủ trương, luận chứng các mặt chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ cũng như thành tựu, hạn chế trong quá trình xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Giang giữa các giai đoạn; giữa tỉnh Bắc Giang với các địa phương khác; giữa tỉnh Bắc Giang với mặt bằng chung của cả nước

5 Những đóng góp mới của luận án

Góp phần hệ thống hóa, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Đưa ra những nhận xét có cơ sở về quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM (2010 - 2020) trên cả hai bình diện ưu điểm và hạn chế, làm rõ nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế

Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM (2010 - 2020)

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

7 Kết cấu của luận án

Kết cấu của đề tài gồm: Mở đầu, 4 chương (8 tiết), kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

Frans Ellits (1994), Agricultural Policy in Developing countries (Chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển) [216] đã cho rằng đầu tư, hỗ trợ của nhà

nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển vùng nông thôn, là động lực huy động sự tham gia đóng góp và thúc đẩy ý chí phát triển kinh tế của mỗi hộ gia đình, tạo động lực phát triển vùng nông thôn Để hỗ trợ của nhà nước đạt hiệu quả thì cần phải có một quy trình cấp vốn hợp lý, cần được quản lý chặt chẽ

World Bank (1998), Agricultural and Environment, Perspectives on Sustainable Rural Development (Nông nghiệp và môi trường, nhận thức về phát triển nông nghiệp bền vững) [221] đã khuyến cáo với các quốc gia đang

phát triển trong quá trình phát triển KT - XH ở khu vực nông thôn, phải đặc biệt coi trọng việc gắn kết hài hòa giữa phát triển sản xuất với giữ gìn và bảo

vệ môi trường, trong đó đặc biệt chú trọng đến bảo vệ môi trường: Nước, không khí, nước sạch và rừng Nghiên cứu cũng khẳng định các quốc gia muốn đạt được thành công trong phát triển KT - XH ở khu vực nông thôn phải đi theo hướng phát triển bền vững

Hanho Kim, Yong-Kee Lee (2004), Agricultural Policy Reform and Strucural Adjustment in Korea and Japan (Cải cách chính sách và điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp ở Hàn Quốc và Nhật Bản) [217] khi phân tích chính sách nông

nghiệp qua các thời kỳ ở Hàn Quốc và Nhật Bản cho rằng, cả hai nước này đều trải qua thời kỳ dài bảo hộ nông nghiệp và an ninh lương thực được đề cao, sau

đó là chuyển đổi mạnh mẽ hướng tới thị trường nhằm tăng năng suất lao động và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước, đồng thời phát triển khu vực nông thôn không còn chênh lệch quá xa so với thành thị Trong cả hai thời kỳ này, vấn

Trang 10

đề đầu tư các nguồn lực và tạo cơ chế quản lý các nguồn lực có ý nghĩa hết sức quan trọng để tạo động lực cho sự phát triển của khu vực nông thôn

Trịnh Cường (2012), “Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước

trên thế giới” [59] là bài viết đăng trong cuốn sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Vũ Văn Phúc (Chủ biên); tác giả khẳng

định: “Khu vực nông thôn đóng vai trò rất quan trọng tiến trình phát triển của bất

kỳ quốc gia nào trên thế giới” [59, tr 313] Chính vì vậy, phát triển nông thôn hiện nay đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới Tác giả nêu kinh nghiệm xây dựng NTM ở 4 quốc gia tiêu biểu như:

Kinh nghiệm xây dựng NTM của Mỹ: Chính phủ Mỹ có các khoản vốn

đầu tư lớn và tăng cường sử dụng lao động trình độ cao trong lĩnh vực nông nghiệp Chính phủ luôn quan tâm cải tiến máy móc nông nghiệp, giống, hệ thống tưới tiêu và kiểm soát sâu bệnh hiệu quả làm cho nông dân ngày càng thành công trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp” với những tập đoàn sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế hiện đại của Mỹ

Kinh nghiệm xây dựng NTM của Nhật Bản: Từ năm 1970, ở tỉnh Oita (miền Tây Nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển Phong trào “Mỗi làng, Một sản phẩm” Cho đến nay, phong trào ngày càng phát triển và thu được nhiều

thắng lợi rực rỡ, có sức lan tỏa không chỉ ở Nhật Bản mà còn có sức lôi cuốn với nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới quan tâm tìm hiểu và áp dụng Các nhà nghiên cứu, học giả Nhật Bản và thế giới vẫn tiếp tục nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm để có nhiều người, nhiều khu vực và nhiều quốc gia có thể áp dụng Phong trào trong chiến lược phát triển nông nghiệp

Kinh nghiệm xây dựng NTM của Hàn Quốc: Từ tinh thần của Phong trào

làng mới (SU) bắt đầu từ năm 1970 được xác định bằng ba tiêu chí: Cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) đã đưa đất nước Hàn Quốc từ một quốc gia đói nghèo vào những năm 1960 thành quốc gia có

bộ mặt nông thôn thay đổi hết sức kỳ diệu với các dự án phát triển cơ sở hạ

Trang 11

tầng nông thôn cơ bản hoàn thành Đến nay, phong trào cơ khí hóa, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả làm tăng nhanh năng suất, giá trị nông nghiệp

Kinh nghiệm xây dựng NTM của Thái Lan: Để thúc đẩy sự phát triển

bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở rộng các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro cho nông dân

Phạm Thị Thanh Bình (Chủ biên, 2018), Nghiên cứu so sánh chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc, Thái Lan, Israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam [12] Cuốn sách đề cập đến nhiều góc độ, vấn đề nổi lên trong quá

trình phát triển nông nghiệp bền vững của các quốc gia nêu trên về cơ sở lý luận và thực tiễn trong phát triển nông nghiệp bền vững Theo đó, khẳng định phát triển nông nghiệp bền vững tức là nâng cao chất lượng môi trường

và nguồn lực được dùng trong nông nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu nông sản cho con người và nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả thi

về kinh tế đi đôi với nâng cao chất lượng cuộc sống Mặc dù, tùy từng vùng, quốc gia và điều kiện nghiên cứu, chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững có khác nhau, nhưng các chỉ tiêu chung sử dụng

để đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp bền vững đều được nhìn nhận chung theo 3 chiều cạnh là KT - XH và môi trường Qua đó, các tác giả đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển nông nghiệp Việt Nam Đồng thời, các tác giả cũng gợi ý các giải pháp để phát triển nông nghiệp hướng tới việc đổi mới mô hình tăng trưởng, tiếp tục tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng phát triển bền vững gắn với xây dựng NTM

Bành Kiến Cường (2019), “Ra sức phát triển nông nghiệp hiện đại trên con

đường hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc” [59] là bài viết đăng trong

Trang 12

cuốn sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả

Vũ Văn Phúc (Chủ biên); đưa ra nội hàm và đặc trưng của nông nghiệp hiện đại

đó là: “Nông nghiệp hiện đại là loại hình nông nghiệp khác với nông nghiệp truyền thống, là nền nông nghiệp phát triển hiệu quả cao, lấy trụ cột là các biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại, phương thức quản lý kinh doanh hiện đại, đầu tư các yếu tố hiện đại” [59, tr 311] với đặc trưng là các chủ thể tổ chức sản xuất có

tổ chức; đưa khoa học kỹ thuật vào phương thức sản xuất; nhất thể hóa kinh doanh ngành nghề; đa nguyên hóa chức năng ngành nghề và phân bổ hóa các yếu

tố Từ đó, tác giả nêu ý nghĩa của việc đẩy nhanh phát triển nền nông nghiệp hiện đại nhằm bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế trong nông nghiệp của Trung Quốc và tăng thu nhập cho nông dân Từ đặc điểm của Trung Quốc tác giả đặt vấn đề hiện đại hóa nông nghiệp theo đặc sắc Trung Quốc với các giải pháp như: Lấy điều kiện vật chất hiện đại trang bị cho nông nghiệp; áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nông nghiệp; phát huy

hệ thống ngành nghề hiện đại để phát triển nông nghiệp; coi trọng ý tưởng hiện đại dẫn dắt nông dân và bồi dưỡng nông dân kiểu mới để phát triển nông nghiệp

1.1.2 Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

1.1.2.1 Các nghiên cứu chung về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Chu Hữu Quý (1996), Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam [61] tác giả khái quát thành tựu nông nghiệp, nông

thôn đạt được từ năm 1981 đến năm 1996, đồng thời nhấn mạnh vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn là nỗi trăn trở, suy tư của toàn xã hội Việt Nam Từ đó đặt ra yêu cầu phải có chiến lược phát triển đúng đắn thì nông nghiệp, nông thôn Việt Nam mới không có nguy cơ tụt hậu Do vậy, vấn đề đặt ra ở nước ta là chủ trương tiếp tục phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; đổi mới và phát triển KT - XH

Vũ Oanh (1998), Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa [56] Công trình gồm

Trang 13

16 vấn đề về đề tài nông nghiệp, nông thôn, nông dân, đề cập những vấn đề

có tính lý luận được thể hiện trong đường lối, chủ trương, chính sách, trong mỗi chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên những kinh nghiệm có tính tổng kết qua việc chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách nói trên, nhất là

từ sau khi tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Vấn đề bao trùm trong việc triển khai thực hiện có kết quả chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên từng lĩnh vực, từng địa bàn là các tổ chức đảng phải dày công tiến hành công tác vận động quần chúng, nông dân, thông qua các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội và cán bộ, đảng viên

Hồng Vinh (1998), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [206] Cuốn sách được hình thành trên cơ sở

tập hợp các bài viết, bài tham luận của các nhà nghiên cứu, các cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo về kinh tế, nông nghiệp ở các ngành, các cấp ở Trung ương và một số địa phương, cơ sở Tư tưởng nổi bật của các bài viết đều khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là con đường tất yếu để đưa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Do vậy, phải phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại [11], đã nhìn nhận một cách toàn diện lịch sử

phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam trong thế kỷ XX, nhất là 20 năm đổi mới Cuốn sách làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đặc biệt đã nêu được bối cảnh của sự phát triển nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng

Đặng Kim Sơn (2008), Công nghiệp hóa nông nghiệp - Lý luận thực tiễn

và triển vọng áp dụng ở Việt Nam [66] đã điểm lại một số học thuyết kinh tế

trong phát triển nông nghiệp như: Các lý thuyết phát triển nông nghiệp theo

Trang 14

giai đoạn, lý thuyết liên kết giữa các lĩnh vực kinh tế, lý thuyết về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường; giới thiệu thực tiễn thành công và thất bại của một số nền kinh tế châu Á điển hình như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc trong quá trình phát triển nông nghiệp và trong bối cảnh tiến hành công nghiệp hóa; từ đó tóm lược một số bài học kinh nghiệm và lý luận phát triển chính thức rút ra từ công nghiệp hóa; đề nghị về chính sách, cách tiến hành để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong giai đoạn tới

Phạm Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2009), Xây dựng mô hình nông thôn mới

ở nước ta hiện nay [69], khẳng định mô hình xây dựng NTM là tổng thể các đặc

điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, khác với mô hình nông thôn truyền thống ở tính tiên tiến về mọi mặt; qua đó phân tích chủ yếu ba vấn đề: Nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới; hình dung ban đầu về những tiêu chí của mô hình NTM; những nhân tố chính của của mô hình NTM như KT- XH, văn hóa, con người, môi trường Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM có nhiều mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách

Hồ Xuân Hùng (2011), Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và Nhân dân ta [41], đã khẳng định để Nghị quyết 26

đạt được mục tiêu đề ra về xây dựng NTM, cần phải có quyết tâm, nguồn lực

và thời gian để thực hiện Chương trình theo những nội dung: Xây dựng NTM

có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn; tăng thu nhập gấp 2 - 3 lần hiện nay… Tác giả cũng khẳng định Việt Nam xây dựng NTM trong điều kiện còn nhiều khó khăn nên phải lâu dài Công việc đó là sự nghiệp cách mạng mới lâu dài của toàn Ðảng và toàn dân; nhấn mạnh một số biện pháp và điều kiện nhằm thực hiện 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay

Trang 15

Lê Quốc Lý (2012), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn [50] khẳng định, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tiến trình CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp Cuốn sách nghiên cứu toàn diện về kết quả và quá trình tác động của tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, trong đó có những yếu tố hình thành nên diện mạo NTM

Vũ Văn Phúc (Chủ biên, 2012), Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn [59] gồm 33 bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ

quan Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng NTM với những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng NTM; thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam

Báo Nhân dân (2013), Gỡ khó cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn [10]

là tuyển tập 38 tác phẩm báo chí chọn lọc hưởng ứng Cuộc thi viết về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Các tác phẩm thuộc nhiều thể loại báo chí sinh động, đề cập đến mọi lĩnh vực của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang được

xã hội quan tâm Từ đó, các bài viết phân tích, đề xuất những giải pháp cùng Nhà nước và các ngành, các cấp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, góp phần thiết thực vào phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở nông thôn

Nguyễn Văn Quý (2018), “Xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa X của Đảng - Một số kết quả” [63] trên cơ sở đánh giá diện tích tự nhiên, lực lượng lao động của cư dân nông thôn tác giả luận giải chủ trương, đường lối phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM của Đảng và Nhà nước Từ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bài viết nêu kết quả bước đầu đạt được Bên cạnh đó bài viết cũng chỉ ra một số hạn chế cần tập trung khắc phục và đưa ra kiến nghị trên 10 nội dung cơ bản cần tập trung thực hiện để Chương trình tiến hành trên phạm vi cả nước đạt kết quả cao nhất theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa X đề ra

Trang 16

1.1.2.2 Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở các vùng miền, địa phương

Nguyễn Cao Chương (2012), Phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Quảng Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [18] Tác giả hệ thống

hóa lý luận về phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Tác giả khẳng định, vấn đề phát triển kinh tế nông thôn Quảng Bình cần phải được quan tâm Do đó cần phải nghiên cứu việc phát triển các doanh nghiệp nông thôn làm tăng giá trị sản xuất, để tạo việc làm tăng thu nhập cho nông dân Đồng thời phải tăng cường vai trò quản lý nhà nước, ban hành các cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông thôn phát triển trong đó cần quan tâm đến việc giảm các loại thuế, phí không cần thiết để giảm bớt gánh nặng cho nông dân Luận án góp phần vào hoạch định chính sách quản lý, khai thác tiềm năng nguồn lực, lợi thế cho phát triển kinh tế nông thôn

Nguyễn Viết Hưng (2012), “Thực trạng nông nghiệp, nông thôn Nam Định, các giải pháp và một số kinh nghiệm bước đầu trong thực hiện

Chương trình xây dựng nông thôn mới” [59] là bài viết đăng trong cuốn sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả

Vũ Văn Phúc (Chủ biên) Bài viết đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn tỉnh Nam Định, khẳng định mô hình NTM đang được triển khai và đạt được những kết quả bước đầu Bên cạnh những thành tựu đạt được, tác giả nêu một số khó khăn, tồn tại, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của những tồn tại và đúc rút 6 kinh nghiệm bước đầu quá trình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Nam Định và đưa 3 kiến nghị với Nhà nước, Chính phủ, Ban Bí thư Trung ương Đảng để Nam Định tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình MTQG xây dựng NTM ở Nam Định

Hà Hòa Bình (2012), “Vĩnh Phúc xây dựng nông thôn mới - kết quả

mô hình và những bài học kinh nghiệm” [59] là bài viết đăng trong cuốn

sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả

Trang 17

Vũ Văn Phúc (Chủ biên) khẳng định: “Vĩnh Phúc xác định “tam nông” có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung, mỗi địa phương nói riêng” [59, tr 451] Ngay từ năm 2006, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU “Về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống Nhân dân giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020” Tác giả khẳng định, đến năm 2012 Nghị quyết thực sự

đi vào cuộc sống, được Nhân dân phấn khởi đón nhận nên đã giành được nhiều kết quả, thành tựu trên các lĩnh vực Tuy nhiên, với nhiều kết quả đạt được tác giả cũng nêu những hạn chế trên các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Tỉnh Từ kết quả và hạn chế tác giả đúc rút 6 kinh nghiệm từ thực tiễn xây dựng NTM của tỉnh Vĩnh Phúc

Phạm Đức Kiên, Nguyễn Thị Nguyệt Ánh (2015), Xây dựng nông thôn mới

ở tỉnh Hưng Yên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [48], với dung lượng 326

trang, kết cấu 5 chương, tác giả đi từ những vấn đề chung; một số vấn đề lý luận, thực tiễn về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; tác giả đưa ra quan niệm về nông thôn, quan niệm về NTM nguyên tắc và nội dung xây dựng NTM trên cơ sở Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 - 6 - 2010 của Thủ tướng Chính phủ Từ vấn đề xây dựng NTM trên phạm vi cả nước, bằng các nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị, quyết định của Tỉnh, tác giả xây dựng bức tranh hoàn chỉnh về quá trình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Hưng Yên với những kết quả nổi bật và hạn chế Qua đó, cuốn sách nêu giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

Ngô Thị Lan Hương (2016), Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững từ năm 2001 đến năm 2013 [44]

Luận án tiến sĩ Lịch sử đã khẳng định: Trong những năm 2001 - 2013, Chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được Đảng bộ thành phố chú trọng, định hướng phát triển nông nghiệp bền vững đã được khởi động, khuyến khích phát triển nhằm xây dựng một nền nông nghiệp mới, tạo bộ mặt NTM Tuy đã đạt được những thành tựu bước đầu nhưng nông nghiệp Hà Nội đang phải đối

Trang 18

mặt với những thách thức to lớn Luận án làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng

bộ thành phố Hà Nội trong quá trình vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững vào thực tế của Thủ đô Khẳng định thành tựu, hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của Đảng bộ thành phố Hà Nội

Nguyễn Thị Hải Yến (2018), Phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [207], tác giả khẳng

định, ngành nông nghiệp Nghệ An đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và

ổn định Tuy nhiên, nông nghiệp Nghệ An vẫn có những hạn chế Từ những nhận định, đánh giá thực trạng, luận án đề xuất định hướng và những giải pháp

cơ bản nhằm phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại trong điều kiện hội nhập quốc tế

Nguyễn Trần Minh Trí (2018), “Thành công và bài học về xây dựng nông thôn mới ở Hà Nội” [97] sau hơn 10 năm (2006 - 2016), quán triệt nghiêm túc, tập trung chỉ đạo thực hiện tích cực, quyết liệt các Chương trình của Thành ủy Hà Nội khóa XV và XVI về phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM, nâng cao đời sống nông dân, công tác phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM có bước phát triển toàn diện, đạt được những thành tựu nổi bật Tính đến hết năm 2017 có “100% số xã hoàn thành các tiêu chí về quy hoạch; 95% xã đạt tiêu chí giao thông, 97% đạt tiêu chí thủy lợi ” [97, tr 91] Từ những kết quả đáng ghi nhận sau hơn 10 năm thực hiện các Chương trình tác giả rút ra ba bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo

1.1.2.3 Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang

Vũ Đức Trung (1996), Những định hướng cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Hà Bắc [98] Từ vị trí, vai trò phát triển nông nghiệp và

kinh tế nông nghiệp đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận chủ yếu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Bắc

Trang 19

(tỉnh Hà Bắc trước đây gồm 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh) Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Hà Bắc và sự phát triển kinh tế nông nghiệp Hà Bắc Luận án đưa ra định hướng và những giải pháp chủ yếu

cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Hà Bắc

Trần Sỹ Thanh (2014), “Bắc Giang xây dựng nông thôn mới thực trạng và những vấn đề đặt ra” [70] Sau thời gian triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, diện mạo nông thôn ở hầu hết các xã thuộc tỉnh Bắc Giang đã có nhiều khởi sắc Bên cạnh những thành tựu đạt được, tác giả bài viết cũng chỉ rõ những hạn chế và những vấn đề đặt ra để

có những chỉ đạo phù hợp “vì một nông thôn mới Bắc Giang có hình thức và nội dung tương thích và bền vững” [70, tr 98]

Đỗ Đức Hà (2014), “Phát huy vai trò của tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang” [29] đã khẳng định xây dựng NTM là nội dung quan trọng trong chính sách “tam nông”, có ý nghĩa hết sức to lớn, nhất là đối với tỉnh Bắc Giang, Tỉnh

có “trên 90% cư dân sống ở nông thôn, diện tích đất nông nghiệp chiếm 32,4%, đất lâm nghiệp chiếm 28,9%, lao động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản chiếm trên 68% lao động của Tỉnh” [29, tr 99] Để xây dựng NTM, tỉnh Bắc Giang xác định nhân tố quan trọng hàng đầu là phát huy mạnh mẽ vai trò của tổ chức đảng, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội Đây là bài học có giá trị của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng NTM

Trần Văn Khái (2014), “Xây dựng thương hiệu sản phẩm một nội dung quan trọng trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang” [46] đã khẳng định những thành công bước đầu của tỉnh Bắc Giang xây dựng được những thương hiệu sản phẩm nông nhiệp Theo đó, tác giả đưa ra sáu kinh nghiệm quý báu cho việc bảo vệ và phát triển thương hiệu bền vững nhằm tiếp tục xây dựng và phát huy thế mạnh các loại sản phẩm nông nghiệp, đặc

Trang 20

sản có thương hiệu, cung cấp ngày càng nhiều, bền vững cho thị trường trong nước và quốc tế những sản phẩm có chất lượng cao

Trần Thị Thúy (2016), “Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011 - 2015” [73] khẳng định xây dựng NTM là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM Bắc Giang đã đạt được nhiều kết quả Bên cạnh đó còn một

số hạn chế, đồng thời bài viết chỉ ra để nâng cao chất lượng trong xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Giang cần tiếp tục tuyên truyền về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong phát triển KT - XH; xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và cả HTCT, trong đó người dân là chủ thể trực tiếp

Thân Thị Huyền (2018), Phát triển nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang [42], đã phân tích, đánh giá được

những tiềm năng cũng như những thách thức của các yếu tố tác động đến phát triển và phân bố nông nghiệp ở tỉnh Bắc Giang Qua đó, đánh giá thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp ở Bắc Giang; đề xuất các giải pháp

về chính sách, khoa học kỹ thuật, vốn, thị trường, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, liên kết sản xuất, xây dựng và quảng bá thương hiệu nông sản, xây dựng chỉ dẫn địa lí nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trong quá trình xây dựng NTM hợp lý, hiệu quả thời gian tới

Bùi Văn Hải (2019), “Tỉnh Bắc Giang: Phát huy vai các tổ chức chính trị - xã hội trong vận động Nhân dân xây dựng nông thôn mới” [31] Bài viết khẳng định: Xây dựng NTM là chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, thực sự trở thành phong trào cách mạng mạnh mẽ, rộng khắp được cả HTCT và các tầng lớp Nhân dân tỉnh Bắc Giang nhiệt tình hưởng ứng, tích cực tham gia, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức chính trị - xã hội trong Tỉnh, với nhiều nội dung phong phú, đa dạng, thiết thực Nhiều phong trào, cuộc

Trang 21

vận động như: Phong trào “cứng hóa giao thông nông thôn”; Phong trào

“giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường nông thôn”; Phong trào “vận động nông dân dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu, sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn”; Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”… “có bước phát triển mới, chất lượng được nâng lên và ngày càng thiết thực và hiệu quả, có sức lan tỏa lớn, thu hút người dân tham gia” [31, tr 47] trong đó vai trò nòng cốt là các tổ chức chính trị - xã hội Bên cạnh kết quả đạt được từ các phong trào, bài viết đánh giá quá trình tham gia xây dựng NTM của các

tổ chức chính trị - xã hội các cấp của Tỉnh cũng bộc lộ những hạn chế Đồng thời, nhấn mạnh trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong vận động Nhân dân xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, bài viết đưa ra 6 mục tiêu, nhiệm vụ

1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

1.2.1 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài luận án

Về tư liệu

Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng NTM khá phong phú về thể loại, bao gồm: Sách, bài báo, tạp chí, báo cáo khoa học, luận án tiến sĩ, thể hiện sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước được khai thác, tiếp cận dưới nhiều góc độ, phạm vi, không gian, thời gian khác nhau Kết quả nghiên cứu của các công trình đã cung cấp cho nghiên cứu sinh những tư liệu quan trọng liên quan đến xây dựng NTM để nghiên cứu sinh kế thừa, vận dụng vào xây dựng luận án của mình

Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng NTM được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như Kinh tế, Chính trị,

Trang 22

Địa lý và sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, lôgíc Sự đa dạng trong phương pháp tiếp cận với nhiều mức độ

và phạm vi nghiên cứu khác nhau đã cung cấp cho nghiên cứu sinh kiến thức khá toàn diện về xây dựng NTM, giúp nghiên cứu sinh có cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu đa dạng hơn, với phương pháp phân tích, luận giải về xây dựng NTM trong mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác của đời sống nông thôn Tuy vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu về NTM được luận giải dưới góc độ kinh tế - chính trị học, xã hội học, địa lý chính trị Một số công trình đề cập đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng NTM, song còn ít, chủ yếu mang tính chất khái quát và chưa có tính hệ thống

Về nội dung

Các công trình khoa học được công bố đã làm rõ những vấn đề cơ bản sau:

Một là, luận giải, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nông nghiệp,

nông dân, nông thôn và xây dựng NTM

Các công trình nghiên cứu đã luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về NTM: Khái niệm, vị trí, vai trò, đặc trưng, các tiêu chí xây dựng NTM Một số công trình đã làm rõ thêm lịch sử hình thành và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và quan niệm về xây dựng NTM trên thế giới cũng như Việt Nam Một số công trình khác làm rõ về vị trí, vai trò, những vấn đề lý luận thực tiễn và tác động của xây dựng NTM đối với sự phát triển KT - XH của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường, củng cố tăng cương quốc phòng, an ninh

Hai là, làm rõ yêu cầu khách quan xây dựng NTM ở Việt Nam trong

tiến trình CNH, HĐH đất nước

Với nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau, các tác giả đã luận giải sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn, tính tất yếu khách quan về xây dựng NTM ở Việt Nam Vì vậy, đây là nguồn tư liệu quý, trực tiếp cung cấp cho tác giả

Trang 23

những tiền đề lý luận và cơ sở thực tiễn đúng đắn trong nhận thức về xây dựng NTM ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, giúp phát triển tư duy hệ thống, toàn diện và biện chứng trong nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Ba là, đánh giá thực trạng xây dựng NTM, từ đó đúc rút kinh nghiệm, đề

xuất phương hướng, giải pháp xây dựng NTM trên phạm vi cả nước và một số vùng miền, một số địa phương

Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình đã làm nổi bật tác động tích cực của xây dựng NTM đến đời sống KT - XH, bảo vệ môi trường, xây dựng HTCT và củng cố tăng cường quốc phòng, an ninh ở Việt Nam Một

số công trình đã khảo sát, đánh giá làm rõ kết quả về công tác quy hoạch, phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH, xây dựng cơ sở vật chất văn hóa và những tác động tích cực về KT - XH từ việc xây dựng NTM với hệ thống số liệu đa dạng, tin cậy và có tính thuyết phục cao Đồng thời, hầu hết các công trình đều có điểm tương đồng đánh giá hạn chế trong quá trình xây dựng NTM ở Việt Nam là: Chất lượng công tác quy hoạch chưa cao, cơ sở hạ tầng nông thôn chưa đồng bộ, tỷ lệ các xã đạt chuẩn còn hạn chế, nhiều tiêu chí xây dựng NTM khó

có khả năng hoàn thành, còn những khó khăn cần tháo gỡ Trên cơ sở đó, đề xuất nhiều giải pháp, kinh nghiệm nâng cao tính đồng bộ, có tính khả thi cao nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng NTM ở Việt Nam

Những công trình nghiên cứu về xây dựng NTM ở các địa phương cơ

sở tiếp tục khẳng định yêu cầu khách quan và vai trò quan trọng của xây dựng NTM với quá trình phát triển KT - XH ở mỗi địa phương Đồng thời, khắc họa bức tranh khá đa dạng về thực trạng xây dựng NTM với những định hướng, mô hình phát triển mang tính đặc trưng phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương Qua đó, gợi mở cho nghiên cứu sinh thấy rõ xây dựng NTM là hướng đi chiến lược, đã và đang thực hiện mang lại hiệu

Trang 24

quả KT - XH ở tất cả các khu vực địa lý, trên khắp lãnh thổ Việt Nam Những thành tựu, hạn chế và giải pháp, kinh nghiệm về xây dựng NTM ở các địa phương là những tư liệu quan trọng để nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng thể, đa chiều về xây dựng NTM ở Việt Nam

Bốn là, khái lược chủ trương của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông

thôn, cũng như hoạt động lãnh đạo của một số đảng bộ cơ sở về xây dựng NTM

Một số công trình bước đầu đã đề cập đến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng NTM Các công trình khái lược nội dung văn kiện và những văn bản mang tính chất chỉ đạo của Chính phủ cũng như các

bộ ngành liên quan về xây dựng NTM Những vấn đề trên chỉ dẫn nghiên cứu sinh phương pháp tiếp cận nội dung văn bản mang tính chất chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng NTM Tuy nhiên, do góc độ tiếp cận chủ yếu ở các ngành kinh tế, xã hội học nên các công trình chỉ mới dừng lại ở góc độ khái lược, giới thiệu văn kiện và định hướng nội dung, biện pháp thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng NTM ở Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu phản ánh hoạt động lãnh đạo của các đảng

bộ ở địa phương về xây dựng NTM; phân tích, luận giải khá thuyết phục sự mạnh dạn, sáng tạo của các địa phương trong hoạch định chủ trương, xác định

mô hình xây dựng NTM phù hợp với thực tiễn của địa phương và xu thế chung của cả nước Đây là nguồn tài liệu rất bổ ích đối với nghiên cứu sinh nhất là trong so sánh, đánh giá về chủ trương chính sách xây dựng NTM của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang với các đảng bộ ở các địa phương khác trong cả nước

Năm là, khái lược tiềm năng, thực trạng và giải pháp xây dựng NTM ở Bắc Giang

Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, một số công trình đã phân tích làm nổi bật đặc điểm tự nhiên, KT - XH, tạo ra những điều kiện thuận lợi và cả những khó khăn trong quá trình xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Giang Trong đó, cơ cấu hành chính, dân cư, đất đai, lao động cho thấy Bắc Giang là địa phương với đặc điểm nổi bật là kinh tế nông nghiệp, cư dân nông thôn và xã hội nông thôn

Trang 25

Một số công trình khái lược chủ trương, đánh giá thực trạng của Đảng

bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM; bước đầu tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chủ trương trên của Đảng bộ; đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng NTM Tiêu biểu là các công trình của tác giả Thân Thị Huyền, Trần Sỹ Thanh, Trần Thị Thúy

Kết quả nghiên cứu của các công trình đã cung cấp những thông tin khoa học quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa trong quá trình thực hiện

Mặc dù có nhiều công trình phân tích về thực trạng xây dựng NTM dưới nhiều khía cạnh, trong đó có công trình bước đầu khái lược chủ trương của Đảng

bộ tỉnh Bắc Giang đối với vấn đề trên Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, có tính hệ thống về chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Vì thế, vấn đề “Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2020” đang là “khoảng trống” khoa học trong nghiên cứu mà

nghiên cứu sinh đã lựa chọn làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

Một là, những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Để làm rõ vấn đề này, luận án tập trung phân tích tiềm năng, lợi thế cũng như thực trạng nông thôn tỉnh Bắc Giang trước năm 2010; những tác động của tình hình thế giới, trong nước đến quá trình xây dựng NTM tỉnh Bắc Giang; khái quát, hệ thống hóa chủ trương của Đảng về xây dựng NTM trong những năm 2010 - 2020

Hai là, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây

dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Để làm rõ nội dung trên, luận án tập trung sưu tầm, hệ thống hóa chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm

Trang 26

2020 trên các vấn đề cơ bản như: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang chỉ đạo tổ chức thực hiện xây dựng NTM trên các mặt: Thành lập BCĐ, công tác tuyên truyền, tổ chức các phong trào thi đua và công tác quy hoạch xây dựng NTM Chỉ đạo xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống Nhân dân Phát triển giáo dục, đào tạo, y tế và bảo vệ môi trường Xây dựng HTCT ở cơ sở, giữ gìn

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Khái quát kết quả đạt được, so sánh làm

rõ sự phát triển trong hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang qua hai giai đoạn 2010 - 2015 và 2015 - 2020 đồng thời so sánh với các địa phương thuộc các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc có nhiều điểm tương đồng

Ba là, ưu điểm, hạn chế trong lãnh đạo xây dựng NTM của Đảng bộ tỉnh

Bắc Giang từ năm 2010 đến năm 2020

Để có những nhận xét bảo đảm tính khách quan, trung thực về quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM (2010 - 2020), trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở hai chương mô tả lịch sử Đồng thời căn cứ vào các văn kiện, nghị quyết của Tỉnh ủy, các văn bản của HĐND, UBND, các sở, ban, ngành và các công trình nghiên cứu có liên quan trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; luận án tập trung làm rõ ưu điểm, hạn chế trong hoạch định chủ trương, chỉ đạo tổ chức thực tiễn và kết quả thực hiện xây dựng NTM của tỉnh Bắc Giang, nguyên nhân những ưu điểm, hạn chế

Bốn là, những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020

Từ thực tiễn quá trình nhận thức, hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực tiễn và những kết quả đạt được trong quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM, nghiên cứu sinh đúc rút những kinh nghiệm; phân tích, làm rõ nội dung và đề xuất hướng vận dụng kinh nghiệm trong thời gian tới

Trang 27

Kết luận chương 1

Xây dựng NTM là vấn đề quan trọng, thời sự hiện nay Vì thế, thời gian qua đã có rất nhiều công trình khoa học của tập thể, cá nhân, các nhà khoa học trong, ngoài nước quan tâm, nghiên cứu và được đề cập ở các cấp độ, phạm vi khác nhau Với số lượng công trình phong phú, các công trình đã bước đầu luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

và xây dựng NTM ở Việt Nam ở một số nước trên thế giới

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận án là tương đối toàn diện, giải quyết nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn xây dựng NTM trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam

Dù tiếp cận ở nhiều chuyên ngành, song các công trình cơ bản thống nhất khẳng định vị trí, vai trò, tác động của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với phát triển KT - XH Các nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng hoạt động, kết quả, những kinh nghiệm và giải pháp xây dựng NTM trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, khu vực

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu sinh đã

hệ thống hóa các tài liệu, khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình, chỉ

rõ những nội dung có thể tham khảo kế thừa; cũng như những vấn đề chưa được nghiên cứu làm rõ Vận dụng phương pháp luận sử học mácxít, căn cứ vào đối tượng, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học Lịch sử Đảng, nghiên cứu sinh đã xác định những vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết Vì

vậy, đề tài “Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2020” là đề tài không trùng lặp với các công trình đã

công bố Do đó, nghiên cứu và làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2010 đến năm 2020, trên cơ sở đó đúc kết kinh nghiệm, góp phần vào việc tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng NTM là việc làm cần thiết

Trang 28

Chương 2

CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG

VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (2010 - 2015)

2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

về xây dựng nông thôn mới

2.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng nông thôn mới

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc Bắc Bộ,

với diện tích 3.895,6km2 Tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ 220 - 21027’ vĩ Bắc,

105053’ - 1060

11’ kinh Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh

Vị trí của Bắc Giang nằm trên hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cạnh tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) rất thuận lợi cho việc phát triển và liên kết vùng Thành phố Bắc Giang cách Thủ đô Hà Nội 50km; cách cửa khẩu Hữu Nghị, Lạng Sơn 110km; cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km; cách cảng biển Hải Phòng và cảng biển nước sâu Cái Lân, Quảng Ninh 130km Từ đây có thể dễ dàng lưu thương với các tỉnh lân cận và các nước trong khu vực

Địa lý hành chính: Bắc Giang là vùng đất cổ, có bề dày lịch sử gắn bó

hữu cơ với cả nước trong quá trình dựng nước và giữ nước Trải qua các thời kỳ lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày nay có nhiều tên gọi và quy mô địa giới hành chính khác nhau Ngày 6 - 11 - 1996, Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh Tỉnh Bắc Giang chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 - 01 - 1997 Đến năm 2013, “Bắc Giang có 09 huyện, 01 thành phố; 229 xã, phường, thị trấn (203 xã, 10 phường, 16 thị trấn)” [16, tr 1]

Trang 29

Khí hậu: Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khu

vực Đông Bắc Việt Nam, một năm có bốn mùa rõ rệt

Rừng: Rừng của Bắc Giang có 110.600ha (trong đó rừng tự nhiện có

63.832,41ha, rừng trồng mới có 46.837,65ha) tập trung chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế

Tài nguyên đất: Bắc Giang có 382.200ha đất tự nhiên, bao gồm

123.000ha đất nông nghiệp, 110.000ha đất lâm nghiệp, 66.500ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại khoảng 82.700ha là các loại đất khác, trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn hơn cả khoảng 63,13% diện tích tự nhiên Bắc Giang có tiềm năng lớn về đất đai nhất là đồi rừng, có nhiều thuận lợi cho việc trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày hay chăn nuôi gia súc, gia cầm Địa lý tự nhiên Bắc Giang chia thành hai vùng: Vùng rừng núi và vùng Trung du Đó là điều kiện tốt cho một nền nông nghiệp phát triển phong phú, đa dạng Đến năm 2010,

ở Tỉnh đã hình thành những vùng trồng lúa, lạc, chè, thuốc lá, đậu tương

có năng suất chất lượng cao như huyện Việt Yên, Hiệp Hòa, Tân Yên Trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, Bắc Giang đã trở thành vùng quê nổi tiếng về vải thiều (Lục Ngạn), gà đồi (Yên Thế) góp phần xóa đói giảm nghèo đi đến ấm no, tạo nên sự trù phú của nhiều làng quê

Tài nguyên nước: Bắc Giang có nhiều sông ngòi, phân bố đều giữa các

vùng, Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua (sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu) với tổng chiều dài 347km, lưu lượng lớn và có nước quanh năm Ngoài ba con sông lớn trên Bắc Giang còn có hệ thống ao, hồ, đầm, mạch nước ngầm Lượng nước mặt, nước mưa, nước ngầm đủ khả năng cung cấp nước cho các ngành kinh tế và sinh hoạt

Điều kiện kinh tế - xã hội

Kinh tế: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc tỉnh

Bắc Giang đã đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, năng động sáng tạo nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả quan trọng khá toàn diện trên các lĩnh vực Tốc

độ tăng trưởng kinh tế đạt 9%/năm (2005 - 2010); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển

Trang 30

dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Nông nghiệp có bước phát triển khá, một số vùng sản phẩm hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn tiếp tục phát triển, là đơn vị dẫn đầu các tỉnh phía Bắc về rau, quả xuất khẩu Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp hàng hóa chưa gắn kết chặt chẽ với thị trường và công nghiệp chế biến, gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm; áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, cơ giới hóa trong nông nghiệp chưa mạnh Đến năm 2010 còn gần 70% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, do vậy, cần tập trung đầu tư thỏa đáng cho

nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với đẩy nhanh xây dựng NTM

Dân cư: Dân số toàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2011 là gần 1,6 triệu

người Mật độ dân số bình quân là 408,1 người/km2, cao hơn so với bình quân của khu vực và cả nước; dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm 90,4% dân

số Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 64,15% dân số, trong đó lao động được đào tạo nghề chiếm 31% “Cộng đồng dân cư ở Bắc Giang gồm 37 thành phần dân tộc anh em” [170, tr 1], trong đó người Kinh đông nhất (88%) Các dân tộc Nùng, Tày, Sán Chỉ, Sán Dìu, Hoa, Dao có dân số trên 1.000 người và 19 dân tộc khác có dân số dưới 1.000 người

Truyền thống: Nhân dân Bắc Giang có truyền thống lao động cần cù và

sáng tạo Lịch sử chứng minh vùng đất Bắc Giang cách đây hàng vạn năm đã có con người khai phá và sinh sống Quá trình đó để lại nhiều dấu ấn trong các câu chuyện mở làng, lập ấp và đã tạo nên những xóm làng trù phú, cổ kính ven các triền đê sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam Trải qua bao thế kỷ khai phá

và cải tạo, các thế hệ người Bắc Giang đã tạo ra những cánh đồng mầu mỡ suốt

từ xuôi lên miền núi để cấy lúa, trồng hoa màu và các loại cây ăn quả Từ quá trình lao động đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong phát triển, thâm canh nông nghiệp đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung lớn, có giá trị kinh tế cao Ngoài nghề nông, từ xa xưa, Bắc Giang đã hình thành những làng nghề thủ công truyền thống: Gốm Thổ Hà, rượu Làng Vân, bánh đa

Kế, đan lát Phúc Long, Phúc Tằng, rèn sắt Đức Thắng, Ninh Khánh, bún Đa

Trang 31

Mai Những mặt hàng thủ công của Bắc Giang khá nổi tiếng, không chỉ cung cấp cho Nhân dân trong vùng mà còn có mặt ở nhiều nơi trong cả nước

Văn hóa: Bắc Giang là mảnh đất có bề dày truyền thống văn hóa và hiếu

học Đây là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, là kết quả giao lưu và hội tụ với văn hóa của nhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Truyền thống văn hóa của Nhân dân Bắc Giang không ngừng phát huy, phát triển kết tinh sâu đậm trong tâm hồn, khí phách của mỗi người dân Bắc Giang Tự hào về truyền thống quê hương, đất nước, Nhân dân tỉnh Bắc Giang đã và đang ra sức quyết tâm xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc Bên cạnh đó, với đặc điểm địa hình chia cắt, đời sống vật chất, tinh thần ở các xã miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn nên phát sinh nhiều vấn

đề xã hội bức xúc về việc làm và thu nhập

Giáo dục: Chất lượng giáo dục toàn diện tiếp tục nâng lên; mạng lưới

các trường được bố trí hợp lý; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học được đầu tư nâng cấp theo hướng kiên cố, hiện đại và từng bước chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu học tập của người dân; đến năm 2010 “trường đạt chuẩn quốc gia đạt 60%” [81, tr 22] Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn tăng Xã hội hóa giáo dục, đào tạo tiếp tục được mở rộng Phong trào khuyến học, khuyến tài, gia đình, dòng họ hiếu học phát triển rộng khắp Giáo dục nghề được quan tâm; các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn mỗi năm dạy nghề cho khoảng 3 vạn lao động, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo tỉnh Bắc Giang đạt 33% Tuy nhiên, đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH, chất lượng nguồn lao động chưa cao; cơ cấu lao động chuyển dịch chậm

Với điều kiện tự nhiên, KT - XH cho thấy Bắc Giang có nhiều lợi thế trong sản xuất nông, lâm nghiệp; phát triển nền nông nghiệp hàng hóa có giá trị kinh tế cao và xây dựng NTM, tập trung vào những sản phẩm nông nghiệp

Trang 32

chủ lực đối với các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc nóng ẩm, Á nhiệt đới như vải thiều, rau chế biến, lúa thơm, gà đồi Mặt khác là Tỉnh có địa hình chia cắt, kết cấu hạ tầng KT- XH, nhất là giao thông, thủy lợi còn hạn chế; nông thôn phát triển chưa đồng bộ, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn còn chậm; phần lớn lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo Nông sản chủ yếu ở dạng

sơ chế, ít có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp Thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn khó khăn là những tác động tiêu cực trong xây dựng NTM Nhận diện đúng thuận lợi, khó khăn là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Bắc Giang quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề ra nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp xây dựng NTM sát hợp với đặc điểm của địa phương

2.1.1.2 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Giang trước năm 2010

Trước những tác động chi phối của các yếu tố, nhất là những khó khăn, thách thức đặt ra nhưng quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Giang vẫn đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho xây dựng NTM

Về thành tựu: Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trước năm 2010,

Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo

và đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Do đó tình hình nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Tỉnh có những bước phát triển: Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2005 - 2010 đạt 9%/năm; “tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 620.000 tấn; giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích nông nghiệp đạt 47 triệu đồng/ha/năm, tăng 1,8 lần so với đầu nhiệm kỳ” [82, tr 19] Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa được triển khai thực hiện có hiệu quả Tiếp tục duy trì, phát triển thương hiệu một số vùng, sản phẩm hàng hóa như: Vải thiều Lục Ngạn, gà đồi Yên Thế, rau chế biến, lạc giống và thương phẩm, lúa thơm hàng hóa, nguyên liệu gỗ Chăn nuôi

và thủy sản phát triển mạnh; đàn lợn 1,2 triệu con; đàn gia cầm 15,3 triệu con;

Trang 33

diện tích nuôi thủy sản 11.900ha, sản lượng đạt 20.000 tấn; tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 48,7% Kinh tế trang trại phát triển mạnh, có nhiều mô hình cho thu nhập cao, an ninh lương thực được đảm bảo

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề, dịch vụ nông thôn được khôi phục và phát triển, “toàn Tỉnh có gần 15 ngàn hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, 435 làng có nghề; trong đó có 33 làng nghề đạt tiêu chí làng nghề theo quy định” [82, tr 18]; tạo việc làm trên 2,1 vạn hộ gia đình Các thành phần kinh tế được tạo điều kiện phát triển; đã có thêm 2.549 trang trại so với năm 2001, đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp; các HTX nông nghiệp được chuyển đổi và hoạt động có hiệu quả hơn; đến năm 2010 cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp; công nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản đang có chiều hướng phát triển mạnh

Kết cấu hạ tầng KT - XH ở nông thôn được tăng cường: Cơ sở hạ tầng

về thuỷ lợi, giao thông, y tế, giáo dục, bưu chính viễn thông và các công trình văn hóa xã hội khác được đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi; đời sống vật chất và tinh thần của nông dân ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết quả khá, “tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 30,67% năm 2005 xuống còn 10% năm 2010” [82, tr 26], tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn tăng từ 82% lên 87% HTCT ở nông thôn được củng cố và tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững

Bên cạnh những thành tựu, trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2010, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn tỉnh Bắc Giang vẫn còn những hạn chế:

Một là, cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hợp lý

Trong nông nghiệp chủ yếu vẫn là trồng trọt; tỷ lệ giá trị của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp chưa cao; giá trị dịch vụ nông nghiệp, nông thôn nhỏ bé Diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tăng trưởng kinh tế của địa phương còn rất nhỏ

Trang 34

Hai là, ruộng đất ở nông thôn bị chia nhỏ, không phù hợp với yêu cầu của

việc sản xuất hàng hoá lớn, tập trung Hầu hết các khâu sản xuất đều làm thủ công, dẫn đến năng suất lao động ở nông thôn rất thấp Nguy cơ phát sinh các dịch bệnh còn cao

Ba là, tình trạng sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các

chất kích thích sinh trưởng không đúng quy trình kỹ thuật đã dẫn đến ô nhiễm môi trường, không đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá thấp

Bốn là, quá trình cơ giới hoá nông nghiệp và việc áp dụng các quy trình kỹ

thuật sản xuất tiên tiến còn diễn ra chậm, chưa tạo bước đột phá trong phát triển; chưa gắn kết giữa đơn vị chế biến với việc hình thành các vùng nguyên liệu

Năm là, kết cấu hạ tầng nông thôn tuy được tăng cường song chất lượng

còn thấp, thiếu đồng bộ Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch; chất lượng lưới điện, đường giao thông nông thôn, hệ thống trạm bơm và kênh mương xuống cấp nghiêm trọng nhưng chưa được đầu tư sửa chữa kịp thời Đời sống vật chất tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng núi, vùng ngoài đê;

tỷ lệ hộ nghèo cao; tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo còn thấp

Nguyên nhân của những hạn chế yếu kém trên là do: Một số cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, ban, ngành chưa tích cực, chủ động trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển nông nghiệp, nông thôn Một bộ phận nông dân vẫn còn tư tưởng bao cấp, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước; chưa thích ứng nhanh với cơ chế thị trường Cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân chưa đồng bộ, thiếu tính đột phá; tỷ lệ đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn còn thấp

Từ thành tựu và hạn chế nêu trên, vấn đề cấp thiết đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Bắc Giang là phải đổi mới tư duy về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, tạo bước đột phá trong cách nghĩ, cách làm của cấp ủy, chính quyền, trong xây dựng NTM, làm chuyển biến mạnh mẽ bộ mặt nông thôn tỉnh Bắc Giang, đáp ứng yêu cầu sự phát triển

Trang 35

2.1.1.3 Tình hình thế giới, trong nước và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới (2011 - 2015)

Tình hình thế giới, khu vực và trong nước

Thế giới: Đại hội XI (01 - 2011) của Đảng khẳng định: “Nước ta bước

vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường” [23, tr 27] Cụ thể: Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia

có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên buộc các quốc gia phải

có chính sách đối phó và phối hợp hành động Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Sau khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới bước vào giai đoạn phát triển mới

Khu vực: Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng

động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn mở ra

cơ hội phát triển mỗi nước Tuy vậy, khu vực này vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: Chính trị - an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội Hợp tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu ASEAN đang ngày càng khẳng định vai trò trung tâm trong một cấu trúc khu vực đang định hình nhưng cũng đang phải đối phó với những thách thức mới Tình hình thế giới, khu vực phức tạp, khó lường cùng với những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là thách thức không nhỏ cho sự phát triển KT - XH nói chung và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng, trong đó có Việt Nam

Trang 36

Trong nước: Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi

mới tiếp tục tạo tiền đề quan trọng để phát triển đất nước với những mục tiêu

cao hơn Đại hội lần thứ XI của Đảng (01 - 2011) khẳng định: “Những thành

tựu, kinh nghiệm của 25 năm đổi mới (1986 - 2011) đã tạo ra cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước” [23, tr 184] Giai đoạn 2011 - 2015 là giai đoạn kinh tế nước ta sẽ phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm; sẽ thực hiện nhiều hơn các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương; khắc phục những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực KT - XH, xây dựng Đảng và HTCT Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức to lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một

bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng” [23, tr 185] Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện

âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ

Tình hình thế giới, khu vực và trong nước nêu trên đã tác động đến xây dựng NTM của cả nước nói chung, tỉnh Bắc Giang nói riêng Toàn cầu hóa và

xu thế hợp tác khu vực cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ cũng như thành tựu của 25 năm đổi mới tạo ra thời cơ, thuận lợi mới cho xây dựng NTM Bắc Giang Tuy nhiên, trước những bất lợi của thiên tai, diễn biến bất thường của dịch bệnh, khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới cùng với những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực KT - XH của đất nước chưa được khắc phục làm cản trở đến quá trình xây dựng NTM của cả nước cũng như ở tỉnh Bắc Giang những năm 2010 - 2015

Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng NTM Chủ trương của Đảng: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của

Đảng xác định: “Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn Thực

Trang 37

hiện chương trình xây dựng NTM Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống

no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh” [21, tr 90] Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các

tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội

Cụ thể hóa chủ trương của Đại hội X, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X (5 - 8 - 2008), Đảng ra Nghị quyết 26-NQ/TW đã nêu một cách toàn diện về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn:

“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [7, tr 48]; là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT - XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

Nghị quyết 26/NQ-TW nhấn mạnh: Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong mối quan hệ mật

thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá

trình phát triển, xây dựng NTM gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch

vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc

tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

Trang 38

Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp xây dựng NTM Về xây dựng NTM được Đảng khẳng định:

“Xây dựng NTM là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn với nông nghiệp phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch” [22, tr 2] Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của cư dân nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ NTM

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

(bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định xây dựng NTM là nhiệm vụ quan

trọng trong định hướng phát triển KT - XH của đất nước Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: “Triển khai chương trình xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn

và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam” [23, tr 123]

Chương trình MTQG về xây dựng NTM của Chính phủ: Nhằm đưa

chủ trương của Đảng về xây dựng NTM vào cuộc sống, trong những năm

2010 - 2015, Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo như: Quyết định số

800/QĐ-TTg ngày 4 - 6 - 2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 Theo đó,

mục tiêu: “Đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới” [3, tr 11]; đồng thời khẳng định Chương trình MTQG xây dựng NTM là chương trình tổng thể

về phát triển KT - XH, chính trị, an ninh quốc phòng bao gồm 11 nội dung nhằm thực hiện 19 tiêu chí về NTM Nhằm hỗ trợ các địa phương hoàn thành tiêu chí về xây dựng NTM phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương, ngày 21 - 3 - 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

Trang 39

498/QĐ-TTg Bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng NTM là căn

cứ quan trọng để các địa phương trong cả nước, trong đó có Đảng bộ tỉnh Bắc Giang quán triệt, cụ thể hóa thành chủ trương lãnh đạo thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương

2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng nông thôn mới (2010 - 2015)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII (10 - 2010) xác định: “Thực hiện tốt Chương trình MTQG về xây dựng NTM Tiến hành quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH ở nông thôn đồng bộ theo hướng chuẩn NTM” [101, tr 48]

Cụ thể hóa chủ trương Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII, Nghị quyết số 145-NQ/TU ngày 14 - 7 - 2011 của Tỉnh ủy Bắc Giang

Về xây dựng NTM tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 đã đề ra quan điểm, mục tiêu,

nhiệm vụ, giải pháp xây dựng NTM như sau:

bộ tỉnh Bắc Giang xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả HTCT

Đồng thời, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở phải vào cuộc một cách quyết liệt, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra Từng cơ

Trang 40

quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng bộ và Nhân dân trong việc triển khai thực hiện xây dựng NTM

Hai là, “xây dựng NTM được triển khai có kế hoạch, tập trung, triển

khai đến đâu hoàn thành dứt điểm đến đó” [83, tr 3]

Xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cả nước cũng như của tỉnh Bắc Giang Để thực hiện thắng lợi các chương trình, mục tiêu

đề ra là một quá trình không dễ thực hiện, nhất là với tiềm lực và điều kiện hiện có của tỉnh Bắc Giang Chính vì vậy, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang xác định: Xây dựng NTM được triển khai có kế hoạch, tập trung, triển khai đến đâu hoàn thành dứt điểm đến đó

Ba là, “phát huy nội lực của cộng đồng dân cư là chính, chủ thể là các

nông hộ, lấy địa bàn xã là đơn vị xây dựng NTM” [83, tr 3]

Xây dựng NTM là quá trình liên tục, lâu dài, có điểm khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc Do đó phải làm chuyển biến cơ bản nhận thức của cán

bộ, đảng viên và Nhân dân về xây dựng NTM Đây chính là sự nghiệp của dân,

do người dân làm chủ thể xây dựng, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ để nâng cao tinh thần tự giác thực hiện Xác định rõ vai trò chủ thể phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xã hội để người dân hiểu và đóng góp sức người, sức của trong xây dựng NTM Các nội dung hoạt động xây dựng NTM phải được người dân bàn bạc dân chủ, công khai để quyết định và tổ chức thực hiện Các cấp, các ngành đóng vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, có cơ chế, chính sách hỗ trợ

2.1.2.2 Mục tiêu

Dựa trên những lợi thế của địa phương Đảng bộ tỉnh Bắc Giang xác định

mục tiêu chung: “Xây dựng nông thôn tỉnh Bắc Giang có kết cấu hạ tầng KT - XH

từng bước hiện đại” [83, tr 3]; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với phát triển đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an

Ngày đăng: 16/05/2023, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1998), Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1998
10. Báo Nhân dân (2013), Gỡ khó cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gỡ khó cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2013
11. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2007
12. Phạm Thị Thanh Bình (Chủ biên, 2018), Nghiên cứu so sánh chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc, Thái Lan, Israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Nhà xuất bản Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc, Thái Lan, Israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thanh Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Xã hội
Năm: 2018
13. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Giang, Phòng Chính trị (2016), Kế hoạch số 198/KH-PCT ngày 05/6/2016 Lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Giang chung sức xây dựng NTM, giai đoạn 2016 - 2020, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 198/KH-PCT ngày 05/6/2016 Lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Giang chung sức xây dựng NTM, giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Giang, Phòng Chính trị
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2016
14. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện năm 2017 và dự kiến một số nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện năm 2017 và dự kiến một số nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM năm 2018
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017
15. Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Sư đoàn 3 (2013), Công văn số 450/SĐ-DV ngày 23/10/2013 Về việc phối hợp thực hiện nội dung xây dựng NTM, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 450/SĐ-DV ngày 23/10/2013 Về việc phối hợp thực hiện nội dung xây dựng NTM
Tác giả: Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Sư đoàn 3
Năm: 2013
16. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 31/12/2013, Về việc điều chỉnh địa giới hành chính các phường Hoàng Văn Thụ, Ngô Quyền, Thọ Xương, các xã Xương Giang, Dĩnh Kế và thành lập 3 phường Xương Giang, Dĩnh Kế, Đa Mai thuộc thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 31/12/2013
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
17. Chính phủ (2016), Báo cáo số 383/BC-CP ngày 9/10/2016, Về việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM (giai đoạn 2010 - 2015), kế hoạch 2016 - 2020 gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiêp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 383/BC-CP ngày 9/10/2016
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
18. Nguyễn Cao Chương (2012), Phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Quảng Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ Kinh tế Chính trị, Viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Quảng Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Cao Chương
Nhà XB: Viện Khoa học xã hội
Năm: 2012
19. Công an tỉnh Bắc Giang, BCĐ Chương trình MTQG xây dựng NTM Công an Tỉnh (2013), Báo cáo số 01/BC-BCĐ (PV28) ngày 9/01/2013, Sơ kết 2 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM (2011 - 2012), Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 2 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM (2011 - 2012)
Tác giả: Công an tỉnh Bắc Giang, BCĐ Chương trình MTQG xây dựng NTM Công an Tỉnh
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2013
20. Phạm Ngọc Dũng (2011), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ lý luận đến thực tiễn Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ lý luận đến thực tiễn Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2008
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
24. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, BCĐ tổng kết (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, BCĐ tổng kết
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2015
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Văn phòng Trung ương Đảng
Năm: 2016
26. Phạm Đi (2016), Xây dựng NTM ở Việt Nam hiện nay (Nghiên cứu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng NTM ở Việt Nam hiện nay (Nghiên cứu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ)
Tác giả: Phạm Đi
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2016
27. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành tỉnh Đoàn Bắc Giang (2012), Báo cáo số 08 BC/TĐ ngày 30/10/2012, Kết quả thực hiện“Tuổi trẻ Bắc Giang chung sức xây dựng NTM”, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 08 BC/TĐ ngày 30/10/2012, Kết quả thực hiện“Tuổi trẻ Bắc Giang chung sức xây dựng NTM”
Tác giả: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành tỉnh Đoàn Bắc Giang
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2012
28. Nguyễn Tuấn Đức (2010), Những chính sách mới của Nhà nước phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chính sách mới của Nhà nước phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Nguyễn Tuấn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w